- Đặc điểm: • Một người bán, nhiều người mua • Vắng mặt người sản xuất hàng hóa thay thế cùng loại với công ty độc quyền • Nhà độc quyền có được quyết định giá bán nhưng vẫn bị cầu thị
Trang 1A LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường là nơi diễn ra hành vi trao đổi giữa người bán và người mua hay bản chất chính là sự kết hợp giữa cung và cầu; trong đó, bên cung ứng sản phẩm muốn tối đa hoá lợi nhuận còn bên tiêu thụ muốn tối đa hoá lợi ích thu được từ sản phẩm họ mua Trên thị trường xuất hiện nhiều dạng thức khác nhau do sự khác biệt hành vi trao đổi mua bán như : thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường độc quyền, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo( bao gồm cạnh tranh độc quyền và độc quyền tậpđoàn) Cạnh tranh hoàn hảo được mô tả là mẫu kinh tế thị trường lý tưởng vì đem lại hiệu quả kinh tế cao, nơi mà không có người sản xuất hay người tiêu dùng nào có quyền hay khả năng khống chế giá thị trường, làm ảnh hưởng đến giá cả Đối lập với nó là thị trường độc quyền thuần tuý, bao gồm độc quyền bán và độc quyền mua, và độc quyền bán được cho là phổ biến hơn Ở Việt Nam, dưới chế
độ xã hội chủ nghĩa, độc quyền bán tồn tại trong những hàng hóa quan trọng, chủ yếu do nhà nước quản lí như điện, nước, đường sắt mà ví dụ tiêu biểu chính là Tập đoàn điện lực Việt Nam EVN, đơn vị duy nhất trong nước được quyền mua bán và
phân phối điện năng Với đề tài “Lý thuyết về độc quyền bán – liên hệ với nền kinh tế Việt Nam hiện nay ”, chúng ta sẽ đi sâu vào làm rõ vấn đề này.
B NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Khái niệm về thị trường độc quyền bán
- Định nghĩa: Thị trường độc quyền bán là thị trường trong đó chỉ có một người bán duy nhất và có nhiều người mua
- Đặc điểm:
• Một người bán, nhiều người mua
• Vắng mặt người sản xuất hàng hóa thay thế cùng loại với công ty độc quyền
• Nhà độc quyền có được quyết định giá bán nhưng vẫn bị cầu thị trường
và các điều kiện kỹ thuật chi phối
• Rào cản lớn gây khó khăn khi muốn rút lui hay gia nhập vào thị trường
2 Nguyên nhân dẫn đến độc quyền bán
- Đạt được tính kinh tế của quy mô
Trang 2- Bằng phát minh sáng chế (bản quyền) cho phép nhà sản xuất có được vị trí độc quyền về bán một loại sản phẩm hoặc một quy trình công nghệ mới trong một khoảng thời gian nhất định
- Kiểm soát các yếu tố (đầu vào) sản xuất tức là sở hữu một loại đầu vào (nguyên liệu) để sản xuất ra một loại sản phẩm nào đó
- Quy định của Chính phủ cho phép một DN nào đó được độc quyền bán một loại hàng hóa hay dịch vụ trên thị trường
3 Sự vận hành của doanh nghiệp độc quyền bán
- Đường cầu của DN độc quyền bán
• Do DN là nhà sản xuất duy nhất trên thị trường nên đường cầu của nó là đường cầu của thị trường Và đường cầu của thị trường chính là đường doanh thu bình quân (AR)
• Đường cầu của DN độc quyền bán dốc xuống về phiá bên phải và tuân theo luật cầu
- Đường doanh thu cận biên của DN độc quyền bán
• Khi đường cầu dốc xuống thì giá và doanh thu bình quân luôn lớn hơn doanh thu cận biên vì tất cả các đơn vị đều bán ở cùng một giá Như trong hình vẽ, nếu muốn tăng sản lượng bán ra từ Q1 tới Q2 thì nhà độc quyền phải giảm giá cho toàn bộ các đơn vị bán ra từ P1 xuống P2 Điều này khiến cho doanh thu có thêm được từ mỗi đơn vị sản phẩm sẽ giảm đi Vì thế, đường doanh thu cận biên (MR) luôn nằm dưới đường cầu (D) trừ điểm đầu tiên
• Chứng minh theo phương pháp đại số:
Đường cầu của DN độc quyền là 1 đường thẳng có dạng:
Doanh thu biên của DN được xác định như sau:
Như vậy, biểu diễn trên đồ thị đường doanh thu biên có độ dốc gấp 2 lần độc dốc đường cầu và có cùng điểm cắt với trục tung
- Quyết định sản lượng của doanh nghiệp độc quyền bán
Nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận
2
Trang 3• Giả định DN độc quyền này đang sản xuất tại mức sản lượng thấp Q1 Trong trường hợp này chi phí biên (MC) nhỏ hơn doanh thu biên (MR) Nếu DN tăng mức sản lượng bán thì phần doanh thu tăng thêm sẽ lớn hơn so với chi phí phát sinh thêm,
và do đó lợi nhuận sẽ tăng lên Vì vậy, khi chi phí biên nhỏ hơn doanh thu biên,
DN có thể tăng lợi nhuận bằng cách tăng sản lượng
• Trong trường hợp DN độc quyền đang sản xuất tại mức sản lượng cao Q2, tại đó chi phí biên (MC) lớn hơn doanh thu biên (MR) Lúc này, nếu DN giảm sản lượng thì chi phí tiết kiệm được sẽ lớn hơn phần doanh thu mất đi Vì vậy, khi chi phí biên lớn hơn doanh thu biên DN có thể tăng lợi nhuận bằng cách giảm sản lượng
• Cuối cùng, DN độc quyền điều chỉnh mức sản lượng cho tới khi đạt tới Q*, tại điểm này, doanh thu biên bằng chi phí cận biên và được xác định bằng cách lấy giao của đường doanh thu cận biên (MR) với đường chi phí cận biên (MC) Trong hình 2, điểm giao này là điểm I
• Đường cầu cho thấy mối quan hệ giữa mức giá mà khách hàng sẵn lòng trả và lượng hàng hóa được bán ra Vì vậy, sau khi nhà độc quyền đã xác định được mức sản lượng mà tại đó doanh thu biên bằng chi phí biên, họ sẽ sử dụng đường cầu để tìm ra mức giá cao nhất mà họ có thể bán hết sản lượng đó Trong hình 2, mức giá
mà DN độc quyền đạt được mức lợi nhuận tối đa là điểm P*
Qua hình vẽ ta còn thấy, với thị trường độc quyền, mức giá cao hơn chi phí biên:
Lợi nhuận của DN độc quyền bán
ATC A
P *
MR
Q 2
Q *
Q 1
(h.2)
Trang 4Vậy Hình chữ nhật được gạch chéo trong h.2 biểu diễn lợi nhuận ( của DN Chiều cao của hình (cạnh AB) bằng giá độc quyền trừ đi tổng chi phí bình quân (P – ATC), cũng chính là lợi nhuận bình quân thu được trên mỗi sản phẩm bán ra Chiều ngang của hình (cạnh BC) là sản lượng bán ra (Q*) Do đó, diện tích ABCP* chính là tổng lợi nhuận mà doanh nghiệp độc quyền thu được
Quy tắc định giá
Để tối đa hóa lợi nhuận thì doanh nghiệp độc quyền phải sản xuất tại mức sản lượng Q*, tại đó MR = MC Suy ra:
Sức mạnh độc quyền
Chỉ số Lerner L=(P – MC)/P = - (1/E d ) là chỉ số để đo sức mạnh độc quyền,
thể hiện khả năng bán cao hơn bao nhiêu so với giá tại chi phí cận biên MC
Mất không vì độc quyền bán
4
Hãng cạnh tranh hoàn hảo không có sức mạnh thị trường hãng buộc phải đặt giá bằng chi phí cận biên Trong khi đó hãng độc quyền lại có thể bán cao hơn giá tại điểm
PMC, có nghĩa là bán tại điểm A (giá P*) thay
vì tại điểm I
Q
Q * MR
(h.2)
Độc quyền gây tổn thất chung, trước hết là tổn thất đối với người tiêu dùng
Bởi, nếu thị trường là cạnh tranh hoàn hảo thì giá và sản lượng sẽ là PB và QB Nhưng với thị trường độc quyền bán thuần túy, thì giá và sản lượng là PA và QA, tức là mức giá cao hơn và sản lượng thì ít đi Hậu quả là một phần thặng dư tiêu dùng ) và một phần thặng dư sản xuất bị mất không – không rơi vào tay ai cả
gọi là phần phúc lợi bị mất không từ sức mạnh độc quyền
Phần thặng dư tiêu dùng bị mất
A
P *
Phần thặng dư
sản xuất bị
mất
I
Trang 5 Định giá với sức mạnh độc quyền
• Phân biệt giá cấp một – Phân biệt giá hoàn hảo: áp đặt các mức giá khác nhau cho từng khách hàng khác nhau tùy theo khả năng chi trả của họ
• Phân biệt giá cấp hai: áp đặt mức giá khác nhau cho mỗi khối lượng sản phẩm khác nhau Khi khách hàng tăng sản lượng mua thì khả năng chi trả của họ giảm đi, nên giá bán sẽ giảm dần tương ứng
• Phân biệt giá cấp ba: áp đặt giá bán khác nhau với từng nhóm khách hàng khác nhau
• Phân biệt giá theo thời kì: cách định giá này có mối quan hệ chặt chẽ với phân biệt giá cấp ba Ở đây người tiêu dùng được chia ra thành các nhóm khác nhau với hàm cầu khác nhau và đặt các giá khác nhau ở những thời điểm khác nhau
• Đặt giá cao điểm: đặt mức giá cao trong những thời kì cao điểm – những khoảng thời gian nhất định trong ngay hoặc trong năm khi mà cầu về một hàng hóa, dịch vụ tăng nhanh
- Trong độc quyền bán không có đường cung:
Vì nhà độc quyền chính là người quyết định mức giá bán cũng như mức sản lượng để cung cấp cho thị trường
Trên thực tế, các quyết định về mức sản lượng của các nhà độc quyền luôn gắn liền với đường cầu của họ Vì hình dạng của đường này sẽ quyết định hình dạng của đường doanh thu biên – cũng chính là đường giúp xác định được mức sản lượng mà tại đó lợi nhuận của doanh nghiệp độc quyền được tối đa hóa
II LIÊN HỆ THỰC TIỄN
Tổng công ty Điện lực Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 562/QĐ-TTg ngày 10/10/1994 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở sắp xếp lại các đơn vị thuộc Bộ Năng lượng; tổ chức và hoạt động theo Điều lệ ban hành kèm theo Nghị định số 14/CP ngày 27/1/1995 của Chính phủ Đến ngày 25/6/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 975/QĐ-TTg về việc chuyển Công ty mẹ - Tập
MR
(h.3)
Trang 6đoàn Điện lực Việt Nam (gọi tắt là EVN) thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thuộc sở hữu Nhà nước
Ngành điện Việt Nam chủ yếu do EVN cung cấp, sản lượng của EVN chiếm 74% lượng điện sản xuất, chiếm 100% về truyền tải và 94% về phân phối điện trên
cả nước Có thể thấy đây chính là một minh chứng điển hình cho “độc quyền bán thuần túy” ở Việt Nam
1 Nguyên nhân dẫn đến độc quyền của EVN
- Chính sách của Nhà nước đã tạo nền tảng cho thế độc quyền của EVN.
Ngành điện là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọm của nước ta Tuy nhiên, do vốn đầu tư ban đầu rất lớn, không phải một doanh nghiệp nào cũng có thể
dễ dàng tham gia xây dựng kinh doanh trong thị trường này Vì thế, ngành điện nước ta ngay từ đầu đã được Nhà nước đầu tư cơ sở nền tảng, giao trách nhiệm cho một doanh nghiệp duy nhất quản lý
Trong thời gian dài, Việt Nam chỉ có duy nhất một doanh nghiệp độc quyền quản lý gần như tuyệt đối trong các lĩnh vực sản xuất, xây dựng mạng lưới, truyền tải, phân phối điện năng,…đến người tiêu dùng
- Bên cạnh đó, do ngành điện là ngành độc quyền tự nhiên Có “lợi thế của người đầu tiên” và có nguồn vốn từ nhà nước nên EVN sở hữu toàn bộ hệ thống đường dây tải điện trên cả nước, hệ thống các công ty bán lẻ như Công ty Điện lực
Hà Nội hay Công ty Điện lực Hồ Chí Minh,… Do đó khi các công ty khác muốn đầu tư vào ngành này thì cần có nguồn vốn mới rất lớn, chủ yếu là đầu tư vào cơ sở
hạ tầng và mạng lưới phân phối điện Chính vì thế mà nó đã tạo ra rào cản cho các công ty khác tham gia vào ngành này
- Một phần do tư duy quản lý của Nhà nước: vẫn dung túng cho tình trạng độc quyền, cho phép tập đoàn phát triển những lĩnh vực khác mà quên mất việc tập trung vào lĩnh vực kinh doanh cốt lõi của mình
2 Cách Tập đoàn Điện lực Việt Nam tăng lợi nhuận
Gần như độc quyền trên thị trường bán buôn, bán lẻ và đường dây tải, EVN không có lý do gì phải làm hài lòng khách hàng Người dùng điện hoặc phải tìm đến nó, hoặc tự sản xuất điện Là một nhà độc quyền, EVN có quyền xác định mức
6
Trang 7sản lượng điện cung cấp là bao nhiêu, tối thiểu cũng tới mức làm cung – cầu cân bằng Nói cách khác nếu nó sản xuất được 10 MW, nó sẽ tăng giá tới mức mà nhu
cầu điện còn đúng 10 MW Thậm chí nó có thể tự đóng cửa một số nhà máy điện
không hiệu quả để tiếp tục giảm nguồn cung điện xuống và gây sức ép tăng giá lên hơn nữa
Theo lý thuyết, để tối đa hóa lợi nhuận của mình người sản xuất phải sản xuất một lượng sản phẩm mà tại đó doanh thu cận biên bằng chi phí cận biên Tuy nhiên, việc xác định sản lượng này trên thực tế không phải là một vấn đề dễ dàng, nhất là đối với các tổng công ty có quy mô lớn như Tập đoàn Điện lực Việt Nam
Vì vậy, em xin đi vào phân tích chính sách áp đặt giá của EVN – đây cũng là một công cụ hữu hiệu của nhà độc quyền nhằm chiếm dụng thặng dư của người tiêu dùng và chuyển sang cho người sản xuất, tăng lợi nhuận của mình
Chính sách định giá điện của EVN
- Hiện nay, EVN đang áp dụng bậc thang giá điện, kết hợp giữa phân biệt giá cấp hai, phân biệt giá cấp ba và đặt giá cao điểm.
• Phân biệt giá cấp ba: EVN đã phân người tiêu dùng thành những nhóm đối tượng như: các ngành sản xuất; các khối hành chính sự nghiệp (bệnh viện, nhà trẻ, mẫu giáo, trường phổ thông, chiếu sáng công cộng,…); các nhà kinh doanh; hộ gia đình sinh hoạt,…
• Phân biệt giá cấp hai: EVN áp đặt giá điện bán lẻ cho từng khối lượng điện tiêu thụ Tuy nhiên, không giống những hàng hóa khác, người tiêu dùng mua càng nhiều thì giá sẽ càng giảm, bởi điện là hàng hóa thiết yếu, không thể thiếu trong cuộc sống sinh hoạt và sản xuất của người dân, chỉ cần mất điện, mọi hoạt động dù của hộ gia đình cho đến các công ty, xi nghiệp đều bị đình trệ, nên nhu cầu về điện luôn tăng
Và người tiêu dùng dùng càng nhiều điện thì càng phải trả nhiều tiền
• Đặt giá cao điểm: giá bán điện luôn được quy định theo thời gian trong ngày gồm giờ bình thường, giờ cao điểm và giờ thấp điểm
Với cách định giá không bỏ sót như vậy, EVN dường như đã thâu tóm gần hết thặng dư của người tiêu dùng vào túi mình
- Gần đây, EVN còn đề xuất những kịch bản giá mới như giảm sô
lượng bậc thang giá điện hay giữ một mức giá chung cho tất cả nhóm khách hàng,…
Phân tích một ví dụ như sau:
Trang 8Theo thống kê của EVN, với mức tiêu dùng điện trên 300kWh/tháng,
cả nước chỉ có 8,63% số hộ (bình quân năm 2013-2014) và mức sử dụng trung bình
550 kWh/hộ/tháng Trong đó, riêng nhóm hộ dân có thu nhập cao nhất, với mức tiêu dùng trên 400kWh lại chỉ chiếm 4,63% số hộ trên cả nước Mức tiêu thụ điện của các hộ này lên tới 728kWh/hộ/tháng Còn lại, hơn 91% là những hộ tiêu dùng diện dưới 300kWh/tháng Trong đó, hộ dùng 100kWh/tháng đa phần là thuộc hộ nghèo, hoặc có thu nhập thấp chiếm tới 47,59% số hộ gia đình trên cả nước 15,17% số hộ cả nước chỉ dùng dưới 50kWh/tháng
Mức tiêu dùng điện phổ biến nhất là mức từ trên 100 kWh đến 300 kWh/tháng, chiếm 43,78% số hộ tiêu dùng điện
8
Trang 9Như đề án của EVN phân tích, nếu rút gọn biểu giá điện về 3 bậc thang theo kịch bản mỗi bậc cách nhau 100kWh, các hộ dùng ở mức 76kWh trở xuống lại bị tăng gần 1.000 đồng/tháng Các hộ dùng từ 107- 233,88kWh/tháng cũng sẽ bị tăng tiền điện như dùng 110kWh bị tăng 460 đồng/tháng, dùng 150kWh
bị tăng 5.300 đồng/tháng, dùng 200kWh sẽ bị tăng 11.350 đồng/tháng Trong khi
đó, những hộ giàu hơn, thì càng dùng nhiều, lại càng được hưởng lợi như dùng 300kWh được lời thêm 22.150 đồng/tháng, dùng 400kWh được giảm 16.750 đồng/tháng và dùng 500kWh sẽ được giảm tới 19.750 đồng/tháng
Nếu như giá điện rút gọn về 4 bậc thang với các mốc 50-150-200-400kWh, những hộ dùng điện 80kWh/tháng sẽ bị tăng 4.110 đồng/tháng, dùng 100kWh sẽ bị tăng 6.850 đồng/tháng, dùng 150kWh thì bị tăng thêm 1.050 đồng/tháng Tiếp đến, các hộ dùng tới 280kWh thì bị tăng 1.890 đồng/tháng, dùng 300kWh bị tăng 3.550 đồng/tháng Ngược lại, các hộ dùng nhiều điên hơn hẳn sẽ được lời, như dùng 350 kWh sẽ được giảm 5.350 đồng, dùng 400kWh hay 500kWh cũng sẽ được giảm tới 14.250 đồng
EVN luôn giữ được lợi nhuận
EVN rất khéo khi sắp xếp lại cơ cấu giá điện tới 6 kịch bản, trong đó 1 kịch bản đồng giá và 5 kịch bản chia lại bậc thang, nhưng dù ở kịch bản nào thì doanh thu, dựa trên sản lượng khoảng 148 tỷ kWh vẫn không bị giảm EVN sẽ vẫn đạt con số 71.919 tỷ đồng năm 2015 Câu chuyện tăng hay giảm ở đây là thuộc về các nhóm khách hàng Nếu nhóm này được giảm tiền điện thì có nghĩa, nhóm khác
sẽ phải tăng tiền điện lên
3 Được và mất từ độc quyền điện
- Không thể phủ nhận sự độc quyền trong ngành điện của EVN đã mang lại
cho thị trường điện Việt Nam những lợi ích đáng kể:
• Thống nhất hệ thống phân phối điện trên cả nước, thông qua đó đảm bảo được sự đồng nhất chất lượng của cơ sở hạ tầng ngành điện
• Tập trung được nguồn lực:
Điều chỉnh được lượng sản xuất điện ở mỗi vùng vì khống chế được bên bán điện
Không tốn chi phí cạnh trạnh, tiết kiệm ngân sách vì khống chế được bên mua điện
Trang 10 Tránh lãng phí nguồn lực trong việc xây dựng cơ sở vật chất
• Dễ dàng hơn cho hôạt động quản lý của Chính phủ
- Bên cạnh đó, sự độc quyền của EVN cũng gây nên những hệ lụy không nhỏ:
• Tình trạng cắt điện dường như đã trở thành bệnh kinh niên của ngành điện, thậm chí là cắt điện không báo trước Một con số được nêu ra: trong năm 2007, khu công nghiệp Trà Nóc đã phải chịu 275 lần cắt điện đột xuất Việc cắt điện không báo trước này đã kéo theo một loạt những hậu quả nghiêm trọng, khiến hoạt động sản xuất bị trì trệ, các xí nghiệp, nhà máy thiệt hại không nhỏ, hôạt động sinh hoạt của người dân thì bị đảo lộn, khốn đốn
• Là “ông lớn”, EVN chèn ép những doanh nghiệp khác EVN độc quyền ngành điện, là người tự định ra giá thu mua cho các nhà máy sản xuất điện trong nước cũng như thu mua điện ở nước ngoài (Trung Quốc) Do bị chèn ép giá, giá thu mua của ngành điện đưa ra thấp hơn so với giá thành sản xuất nên nhiều nhà máy sản xuất điện năng không phải do Tập đoàn đầu tư bị thua lỗ, cuối cùng phải bán chuyển nhượng lại toàn bộ cổ phần cho EVN Báo đài cũng đã phản ánh nhiều về vấn đề này nhưng chưa có câu trả lời của ngành điện
• Tác hại từ kinh doanh ngoài ngành: Mặc dù, EVN luôn thông báo rằng không đủ vốn chi phí sản xuất, nhưng vẫn có thể đầu tư được vào những ngành khác Và khi đầu tư không hiệu quả thì những khoản lỗ sẽ được Nhà nước bù vào hoặc lại hạch toán vào giá điện Lỗ do “biếu không” đơn vị khác cả chục nghìn tỉ đồng…đã khiến cho giá thành bán điện còn bao gồm cả giá thành xây biệt thự, sân tennis…Còn ngược lại, trong trường hợp lãi thì không ai biết… Chính những hoạt động đầu tư không minh bạch trong khi lĩnh vực cốt yếu của mình thì lại không vận hành tốt đã khiến EVN mất đi lòng tin của người tiêu dùng cả nước
C KẾT THÚC
Ở Việt Nam, do nền kinh tế còn non trẻ nên chưa có doanh nghiệp nào giành được thế độc quyền bằng con đường tự do cạnh tranh mà hầu hết phải nhờ những quyết định mang tính hành chính Các ngành công nghiệp công ích như điện, nước, xăng dầu, thông tin liên lạc, một số kênh phát thanh, truyền hình, được bảo hộ hay độc quyền bởi nhà nước vì chúng có vai trò quan trọng đối với an ninh quốc gia hoặc ảnh hưởng đến thiết lập chính trị Do đó, mặc dù độc quyền đang được ngăn chặn ở các quốc gia trên thế giới để hướng tới nền kinh tế thị trường cạnh tranh hoàn hảo nhưng ở Việt Nam, không thể phủ nhận vai trò hay xóa bỏ hoàn
10