1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH TRỊ học SO SÁNH CHÍNH TRỊ tư bản CHỦ NGHĨA và xã hội CHỦ NGHĨA

54 837 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 370 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đảng cộng sản lãnh đạo quân đội là một nguyên tắc cơ bản trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản. Đó là nhân tố quyết định sự trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của quân đội cách mạng.Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, tùy thuộc vào yêu cầu, tình hình nhiệm vụ của cách mạng và tình hình mọi mặt của đất nước, của quân đội, sự biến động của tình hình quốc tế và khu vực trong từng thời kỳ, ĐCSVN đều luôn có những giải pháp đúng đắn và kịp thời để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Chính vì vậy, từ ngày thành lập đến nay, sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội luôn được giữ vững, đảm bảo cho quân đội ta hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Trang 1

Nhìn theo góc độ của chính trị học với tư cách là khoa học nghiêncứu về chính trị từ các sự kiện và các quá trình chính trị trong đời sốngchính trị đến các quan hệ chính trị trong thể chế và bộ máy thực hiện quyềnlực nhằm phát hiện ra bản chất và các quy luật vận động của chính trị thìchính trị học so sánh nghiên cứu các vấn đề chính trị xoay quanh cặp phạmtrù không gian và thời gian chính trị.

Quan niệm nghiên cứu truyền thống cho đến nay vẫn còn đượcthừa nhận là ở chỗ, chính trị học so sánh thường được hiểu là Địa chính trị.Mỗi sự kiện, tình huống chính trị xuất hiện ở dân bao giờ cũng gắn với một

sự xác định hết sức mật thiết và chặt chẽ về tính thời gian của chúng, tức là

ở vào thời điểm nào Thời gian chính trị làm rõ tính lịch sử cụ thể, tính hiệnthực của không gian chính trị và ngược lại, không gian chính trị quy địnhvùng vận động, diễn biến của thời gian chính trị Nói tới không gian chínhtrị là đã bao hàm trong đó cả yếu tố thời gian Vì lẽ đó, chính trị học sosánh thường được hiểu là khoa học nghiên cứu về Địa chính trị Đối tượngnghiên cứu so sánh ở đây là các vùng, các khu vực chính trị khác nhautrong đời sống chính trị thế giới, trong các quan hệ chính trị khác nhau giữacác quốc gia - dân tộc với các quan hệ chính trị quốc tế

Chính trị học so sánh nghiên cứu những sự khác biệt, những mâuthuẫn đồng thời cả những điểm tương đồng trong chính trị thuộc về nhữngthể chế, những chế độ chính trị - xã hội tồn tại ở các nước, các khu vực, cácvùng khác nhau trên thế giới

Trang 2

Việc nghiên cứu này làm sáng tỏ hiện trạng và xu hướng của đờisống chính trị, của sự vận động chính trị đang diễn ra trên thế giới, đánh giá

về bản chất và những ảnh hưởng chi phối của các hệ tư tưởng chính trị, các

mô hình thể chế và tổ chức chính trị trong thực tế gắn với từng thời đại,từng giai đoạn phát triển của lịch sử trên cơ sở đó, chính trị học so sánh mô

tả và phân tích vai trò, vị trí và những tác động của chính trị trong đời sống,đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, trong lĩnh vực xã hội gắn với các quan hệ

xã hội của con người, với các phong trào chính trị thực tiễn của quần chúng

vì mục tiêu phát triển

Chính trị là sản phẩm của lịch sử phát triển xã hội từ khi có giai cấp

và Nhà nước Đó là lĩnh vực của các quan hệ giai cấp, quan hệ giữa các lựclượng, các tập đoàn xã hội trong cuộc đấu tranh vì lợi ích và quyền lực vốnmâu thuẫn, xung đột, thậm chí đối lập nhau Nó liên quan trực tiếp tới chế

độ sở hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội và thể chế Nhà nước đểthực hiện quyền lực Nếu kinh tế là căn nguyên sâu xa của chính trị, là nộidung vật chất, hiện thực của đấu tranh chính trị thì Quyền lực và thể chếthực hiện quyền lực là vấn đề trung tâm của đấu tranh chính trị, của cáccuộc Cách mạng chính trị với tư cách là các cuộc Cách mạng xã hội

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác nhấn mạnh rằng, chính quyền(Nhà nước) là vấn đề cơ bản của các cuộc Cách mạng Điều đó đúng vớimọi hình thái lịch sử của các cuộc cách mạng, kể cả cách mạng vô sản dogiai cấp vô sản và quần chúng lao động tiến hành hướng vào đối tượng phủđịnh của nó là thể chế quyền lực tư sản và chế độ tư bản chủ nghĩa thốngtrị, tiến tới CNXH với tư cách là một chế độ xã hội mới

Do đó, ngoài việc nghiên cứu sự biến đổi lịch sử của các thể chếchính trị nói chung, chính trị học so sánh mác xít đặc biệt quan tâm nghiêncứu về thể chế chính trị tư sản tức là nền chính trị TBCN trong lịch sử sinhthành, phát triển của nó, luận chứng cái lô gích tất yếu phải phủ định nóbằng cách mạng vô sản và sự cần thiết tất yếu phải thay thế nó bằng thể chếchính trị của giai cấp Vô sản cách mạng, tức là nền chính trị XHCN

Trang 3

CNXH khoa học, một trong ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mácđược xem như lý luận chính trị của chủ nghĩa Mác đã xác định đối tượngnghiên cứu của nó không phải là mọi hình thái kinh tế - xã hội nói chung

mà chỉ tập trung nghiên cứu hình thái TBCN nhằm làm sáng tỏ tính tất yếucủa sự vận động cách mạng vô sản để phủ địch chính CNTB mà sự vậnđộng này đã được chuẩn bị cả vật chất và tư tưởng ngay trong lòng chế độTBCN

Trong "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" (1848), tác phẩm đánh dấu

sự thành thục của chủ nghĩa Mác, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ, chínhgiai cấp tư sản và chế độ TBCN đã rèn vũ khí để giết chết mình ngoài ýmuốn của nó, đó là giai cấp vô sản - Con đẻ của nền sản xuất vật chất Đạicông nghiệp, của phương thức sản xuất TBCN Các ông đã rút ra kết luậnmang ý nghĩa dự báo là: Sự diệt vong của giai cấp Tư sản và thắng lợi củagiai cấp vô sản đều là một tất yếu lịch sử như nhau Kết luận này đã vàđang tiếp tục được kiểm chứng, được xác nhận bởi lịch sử thế giới hiện đại

Nó đóng vai trò dẫn đường về thế giới quan khoa học và phương pháp luậnkhoa học không chỉ cho CNXH khoa học mà còn cho chính trị học và cáckhoa học chính trị mác xít

Ở đây, cần lưu ý rằng, dù có mối liên hệ rất mật thiết và trực tiếpvới CNXH khoa học nhưng chính trị học mác xít không tự đồng nhất nóvới bộ phận thứ 3 này của chủ nghĩa Mác Trong tính độc lập (dù là tươngđối) của nó với tư cách là một khoa học, chính trị học mác xít nghiên cứu

lô gích của quá trình xóa bỏ quyền lực chính trị của giai cấp tư sản, của ách

áp bức thống trị của CNTB thông qua thể chế chính trị của nó, lô gích của

sự xuất hiện, hình thành, phát triển quyền lực chính trị của giai cấp vô sản

và nhân dân lao động trong cách mạng vô sản, trong sự nghiệp xây dựngthể chế chính trị XHCN và CNXH nói chung

Nếu xét về mặt lịch sử, kể từ những mầm mống, những sự manhnha của nó thì CNTB đã có một lịch sử 500 năm mà dấu hiệu mầm mốngcủa nó đã bắt đầu tư thée kỷ XV ở châu Âu với thời đại Phục hưng Đây làmột thời đại đặc biệt đã để lại dấu ấn sâu đậm của nó vào lịch sử văn ninh

Trang 4

nhân loại với sức mạnh giải phóng cá nhân, khẳng định tự do cá nhân,quyền sống và sức mạnh sáng tạo của con người, chống lại sự hà khắcchuyên chế của sự thống trị phong kiến Trung cổ Tây Âu suốt 900 năm màlịch sử gọi là 900 năm của đêm trường Trung cổ, (từ TK V đến TK XIV).Thời đại phục hưng này như là bước chuẩn bị tư tưởng lý luận và tinh thầncho sự ra đời của mẫu người cá nhân Tư sản, của chủ nghĩa nhân văn Tưsản với ý nghĩa phủ định ý thức hệ phong kiến Trung cổ và những xiềngxích tư tưởng giam hãm con người trong tăm tối ngu dân và những sự đàn

áp bằng quyền lực chuyên chế phong kiến liên minh với nhà thờ, giáo hội,

mở đường cho sự giải phóng tinh thần, khẳng định tự do các nhân

Thời đại phục hưng là màn đạo đầu của cách mạng tư sản sau nàynhằm xác lập địa vị lịch sử và quyền uy của giai cấp Tư sản thống trị Tiếp

đó, lịch sử còn biết đến thời đại khai sáng hay còn gọi là thế kỷ ánh sãngcũng diễn ra trên mảnh đất châu Âu (TK XVII, XVIII) với sự hình thành vàtruyền bá những giá trị của tư tưởng duy lý, của sức mạnh trí tuệ khoa học,của tinh thần pháp luật, của ý thức công dân, của Nhà nước pháp quyền Tưsản gắn với tên tuổi của Mông tet skiơ, Vonte, Rút Xô

Cũng như thời đại Phục Hưng, môtụ thời đại khổng lồ đẻ ra nhữngcon người khổng lồ về mọi phương tiện: Trí tuệ, tài năng, cá tính sáng tạo,phẩm hạnh như đánh giá của Ăngghen, Thời đại khai sáng là bước độtphá cách mạng của giai cấp tư sản đang lên về mặt tư duy lý luận và ý thứcchính trị xã hội của hệ tư tưởng và ý thức tư sản

Cả hai thời đại đó đã tạo nên bước ngoặt trên địa hạt tư tưởng lýluận mà giai cấp tư sản đã chuẩn bị và thực hiện trong hàng thế kỷ như là

sự dọn đường cho việc xác lập quyền lực tư sản trong thực tiễn Và, về mặtkhách quan, với tư cách là một giai cấp đang lên, đại diện cho xu thế cáchmạng vào thời đại bấy giờ, những sự chuẩn bị này của giai cấp tư sản, củaCNTB là có ý nghĩa tích cực, là một đóng góp vào tiến bộ lịch sử Đồngthời với những sự kiện bước ngoặt ấy, sự ra đời và phát triển của nền kinh

tế, của phương thức sản xuất TBCN đã vượt lên và phủ định phương thứcsản xuất phong kiến lạc hậu cùng với thể chế quyền lực của phong kiến đã

Trang 5

trở nên quá thời về mặt lịch sử Chính cuộc cách mạng kỹ thuật ở thế kỷXVIII, thay thế kỹ thuật thủ công bằng Đại công nghiệp cơ khí đã đánh dấumột trình độ phát triển bước ngoặt về lực lượng sản xuất của xã hội tư sản.

Mác - Ăngghen đã từng nhấn mạnh rằng, sự phát triển của sản xuất

và kinh tế TBCN đã thúc đẩy sự phát triển các nhu cầu của xã hội Ở cáithế kỷ quan trọng này, giai cấp tư sản và phwong thức sản xuất TBCN của

nó đã thúc đẩy sự phát triển tri thức khoa học, kỹ thuật còn hơn cả hàngtrăng trường Đại học Nó tạo ra một khối lượng tri thức bằng tất cả các thế

kỷ trước đây cộng lại Cùng với những cuộc cải biến cách mạng đó, giaicấp tư sản đã tiến hành các cuộc cách mạng tư sản với nghĩa là cách mạng

xã hội để tấn công những đòn quyết liệt vào thể chế phong kiến, để xác lập

và khẳng định vai trò thống trị của quyền sở hữu tư sản và quyền lực chínhtrị tư sản, hình thành Nhà nước tư sản, pháp luật tư sản và chế độ TBCNnói chung Tiếp theo các cuộc cách mạng tư sản ở Hà Lan, ở Anh, Đại cáchmạng tư sản Pháp 1789 là một cuộc cách mạng chính trị điển hình của giaicấp tư sản Cũng như Tuyên ngôn chính trị của giai cấp tư sản ở Mỹ 1776,Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền 1789 ở Pháp là một thành quả vĩ đạicủa cách mạng tư sản Thế kỷ XVIII đánh dấu sự phát triển khẳng định củaCNTB trên cơ sở phủ định chế độ phong kiến, chủ nghĩa phong kiếnchuyên chế Chính giai cấp tư sản và CNTB đã tỏ rõ bằng cả ý chí, quyềnlực và sức mạnh thực tế của nó khi đoạn tuyệt triệt để với các thế lực phongkiến cổ truyền để định hình nó với tư cách là lực lượng thống trị, là một chế

độ xã hội, bao gồm cả thể chế kinh tế lẫn thể chế chính trị

Đến thế kỷ XIX, thế kỷ mà Mác - Ăngghen trực tiếp quan sát,nghiên cứu như một sự giải phẫu cái cơ thể kinh tế - xã hội tư sản côngnghiệp này, CNTB đã biểu hiện ra như một CNTB tự do cạnh tranh Từđây, giai cấp tư sản đã không còn giữ được vai trò tích cực và tiến bộ banđầu của mọi giai cấp cách mạng nữa Nó, trong khi nắm lấy quyền lực kinh

tế và chính trị đã dần dần bộc lộ những hạn chế và mâu thuẫn từ bản châtscủa nó, một bản chất không thể tự thay đổi mà chỉ có thể bị phủ định

Trang 6

Từ cuối thế kỷ XIX trở đi, CNTB tự do cạnh tranh đã phát triểnthành CNTB độc quyền lũng loạn, thành chủ nghĩa đế quốc Chế độ TBCN

đã được xác lập ở nhiều nước ở phương Tây và giai cấp tư sản đã nắmđược quyền lực thống trị của nó cả kinh tế lẫn chính trị trong khi ở phươngĐông và châu Á vẫn còn trong vòng ảnh hưởng của quyền lưcj thống trịchuyên chế phong kiến Ở thời kỳ này, tác động và ảnh hưởng của CNTBTây Âu và châu Á vào các châu lục khác trên thế giới đã dẫn tới sự xuáathiện khuynh hướng tư sản trong việc lựa chọn các biện pháp cải cách đểphát triển ở các nước này, đã hình thành những cơ sở ban đầu của kinh tế

tư bản và giai cấp tư sản Mặt khác, các nước tư bản, đế quốc Tây Âu đãtiến hành các cuộc xâm lược thực dân, mở rộng thị trường, khai thácnguyên liệu và tìm kiếm nguồn nhân công rẻ mạt, biến vùng đất rộng lớnnày thành thuộc địa của chúng, áp đặt ở đó các chế độ thực dân, phụ thuộc,

lệ thuộc để bóc lột kinh tế, áp bức chính trị và nô dịch tinh thần đối với cácdân tộc thuộc địa

Có thể nói, trước khi bùng nổ cuộc Cách mạng tháng Mường ở Nganăm 1917, thế giới vẫn ở trong sự thống trị của CNTB, CNĐQ và CNTD.Với lịch sử phát triển hàng mấy thế kỷ (đặc biệt là từ thế kỷ XVIII trở đi).CNTB đã từng đặt ách bóc lột và thống trị giai cấp vô sản và quần chúnglao động các dân tộc không chỉ ở chính quốc mà còn ở các thuộc địa rộnglớn trên thế giới Các cuộc cách mạng tư sản đã đưa giai cấp tư sản lên địa

vị của giai cấp thống trị Chế độ sở hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất

ra thể chế chính trị tư sản đã có một thời gian dài để hình thành, củng cố vàphát triển trên thực tế trong khi CNXH vẫn chưa ra đời với tư cách là mộtchế độ xã hội Cho đến đầu thế kỷ XX, vào năm 1917, khi cuộc cách mạng

vô sản ở Nga nổ ra và thắng lợi, khai sinh ra nước Nga Xô Viết và xâydựng, chế độ XHCN thì một bước ngoặt mới, một thời đại mới của lịch sử

đã mở ra thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH Mặc dù vậy, sự xuất hiện vàphát triển của CNXH như một chế độ xã hội kiểu mới, một hình thái kinh tế

- xã hội mới thay thế CNTB, về căn bản vẫn là một xu hướng vận động củalịch sử chứ chưa phải là một hiện thực phổ biến

Trang 7

Chế độ XHCN đã ra đời sau Cách mạng tháng Mười nhưng mới làmột nước duy nhất, mới là đơn nhất trong khi CNTB đã từng là một hệthống thế giới.

Giai cấp tư sản ở các nước TBCN với thế lực kinh tế của nó cũngvới thời gian lịch sử đã tích lũy được rất nhiều ri thức và kinh nghiệm trongquản lý cả kinh tế lẫn chính trị, trong khi đó giai cấp vô sản Nga (và lựclượng tiên phong của nó là Đảng Cộng sản) sau thắng lợi của cách mạngchính trị chỉ vừa mới bắt tay vào quản lý với rất nhiều bỡ ngỡ, sự thiếu hụttri thức và kinh nghiệm Cuộc bao vây của 14 nước tư bản và đế quốcphương Tây đối với nước Nga Xô Viếte ngay khi nó vừa mới ra đơì, nhữngkhó khăn chồng chất của chính quyền cách mạng trong bối cảnh của nộichiến và chiến tranh can thiệp từ bên ngoài, của khủng hoảng và lạm pháttrong thời kỳ bắt buộc phải áp dụng chính sách cộng sản thời chiến đã nóilên điều đó

Cho đến sau đại chiến thế giới lần thứ hai (1939-1945) khi một loạtnước ở Đông Âu tiến theo con đưoừng XHCN và sau đó là ở khu vực châu

Á với Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên xác lập chế độ XHCN, cũngnhư ở Cu Ba vào những năm 60 thì CNXH mới trở thành một hệ thốngthế giới, đối diện trực tiếp với hệ thống TBCN Đây là thời kỳ trật tự thếgiới ở trong sự đối đầu hai cực với sự hiện diện của hai hệ thống đối lậpnhau về chế độ sở hữu (kinh tế), chế độ chính trị và hệ tư tưởng Trật tự thếgiới này tồn tại trong vòng hơn 4 thập kỷ cho đến khi chế độ XHCN ở Liên

Xô và Đông Âu sụp đổ vào đầu thập kỷ 90

Hiện nay CNXH không còn là một hệ thống nữa mà chỉ còn ở mộtnước cụ thể

Hình thái một cực và đa cực đang xuất hiện sau sự biến này

Có một thực tế là, so với lịch sử 500 năm của CNTB, thì lịch sử củaCNXH hiện thực còn là rất mới mẻ, chưa đầy 100 năm tính từ Cách mạngtháng Mười cho tới nay

Trang 8

Các nước tư bản ở trình độ phát triển cao như Mỹ, Cộng hòa Liênbang Đức, Anh, Pháp, Nhật Bản và một loạt nước tư bản phát triển khác ởBắc Âu cũng như nhiều nước công nghiệp đang phát triển kinh tế - xã hộitheo mô hình TBCN với thể chế chính trị tư sản từ nửa sau thế kỷ XX đãnhanh chóng tận dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học kỹthuật và công nghệ hiện đại, ứng dụng nó vào sản xuất và phát triển cao.Trong khi đó, các nước XHCN do chậm phát triển và ứng dụng những hànhtựu của cuộc cách mạng KHKT này, hơn nữa lại vấp phải những hạn chế

do điểm xuất phát thấp của lực lượng sản xuất, lạc hậu về cơ sở vật chất kỹthuật và trình độ quản lý, mô hình kinh tế kế hoạch hóa và tập trung quanliêu với phương thức quản lý hành chính - mệnh lệnh và cơ chế bao cấp,bình quân kéo dài nên chậm phát triển, rơi vào tình trạng trì trệ, không khaithác được một cách có hiệu quả những tiềm năng và động lực nội tại củachính mình Sau thất bại của cải tổ và những sự biến xảy ra ở Liên Xô vàĐông Âu, CNXH đang ở vào thời kỳ thoái trào tạm thời Các nước XHCNcòn lại đang phải nỗ lực vượt bậc, tự vượt lên trong cải cách và đổi mới,thay đổi mô hình, cơ chế và chính sách để khắc phục khủng hoảng, giữvững ổn định và tiến tới phát triển

Lênin đã từng nhấn mạnh rằng, xét đến cùng, năng suất lao động lànhân tố quyết định để CNXH có thể chiến thắng CNTB, CNTB đã chiếnthắng chế độ phong kiến bởi tạo ra được một năng suất lao động xã hội cao.Cũng như vậy, CNXH chỉ có thể phủ định được CNTB, khẳng định tính ưuviệt của mình bằng cách tạo ra mọt kiểu tổ chức sản xuất và quản lý xã hộisao cho có năng suất lao động xã hội cao hơn hẳn so với CNTB Đây làđiểm mấu chốt để nâng cao mức sống cải thiện đời sống, phát triển nhu cầucủa đa số dân cư Đó là về kinh tế, Lênin còn nhấn mạnh, CNXH phảichứng tỏ tính ưu việt thuộc về bản chất của mình ở chỗ xây dựng được mộtthể chế chính trị dân chủ, một nền dân chủ đầy đủ, thực chất của số đông,đảm bảo thực hiện quyền lực của nhân dân lao động thông qua nhà nướckiểu mới mà ngày nay chúng ta thường gọi là nhà nước của dân, do dân và

vì dân, nhà nước dân chủ - pháp quyền XHCN Đây chính là một trongnhững trọng điểm và cốt yếu nhất của chính trị XHCN

Trang 9

Tư tưởng trên đây của Lênin ngày nay đang còn nguyên tính thời sựcủa nó, đang là những chỉ dẫn quan trọng đối với tiến trình đổi mới, pháttriển và hiện đại của CNXH.

Thực tế lịch sử cũng đã cho thấy, khủng hoảng trong quá trình pháttriển là một hiện tượng phổ biến ở nhiều quốc gia - dân tộc trên thế giớithuộc những khu vực khác nhau, những chế độ xã hội khác nhau với trịnh

độ và tính chất khác nhau Những cuộc khủng hoảng đó và những nước lâmvào cuộc khủng hoảng đó cũng không như nhau và giống nhau về bản chất

và xu hướng

Trong những thập kỷ gần đây, dưới tác động của cách mạng khoahọc - kỹ thuật - công nghệ với gia tốc ngày càng mẽ, với xu hướng quốc tếhóa nền kinh tế thế giới và sự xuất hiện các vấn đề toàn cầu, hầu hết cácnước đều chịu sức ép của khủng hoảng hoặc rơi vào tình trạng khủnghoảng, suy thoái thực sự Khủng hoảng chu kỳ đã từng diễn ra trong hệthống TBCN và cacns trong hệ thống này, kể cả các nước tư bản phát triểncao đã phải thường xuyên có những điều chỉnh, cải cách để tồn tại Mâuthuẫn căn bản của phương thức sản xuất TBCN giữa tính chất xã hội hóangày một sâu sắc của LLSX với chế độ sở hữu tư nhân TBCN trong CNSX

là mâu thuẫn thuộc về bản chất của xã hội tư bản mà các thế lực của giaicấp tư sản nắm quyền thống trị không thể tự nó giải quyết được Nó là cănnguyên sâu xa của khủng hoảng TBCN Song bằng những chính sách điềuchỉnh và trình độ linh hoạt trong quản lý, các nhà nước và chính phủ tư sản

đã có thể làm dịu những khủng hoảng, xung đột đó, đã có thể làm cho chế

độ sở hữu tư sản thông qua những giải pháp cải cách tiếp tục tìm được một

sự phù hợp nào đó với nền sản xuất xã hội hóa rộng lớn CNTB ngày nayvẫn còn khả năng và tiềm lực để phát triển và thể chế chính trị của nó vẫn

có thể tồn tại được, dù khủng hoảng vẫn thường xuyên xảy ra và là bạnđồng hành trong lịch sử phát triển của CNTB

Cùng với cuộc khủng hoảng của CNTB, trong những thập kỷ vừaqua, lịch sử thế giới còn chứng thực tình trạng khủng hoảng của các nướctheo khuynh hướng xã hội - dân chủ, kể cả những nước mà trào lưu này

Trang 10

phát triển mạnh, Đảng xã hội - dân chủ đã từng giành được vai trò cầmquyền và đã có những thời kỳ hưng thịnh như Cộng hòa liên bang Đức,Thụy Điển và một số nước ở Tây Âu, Bắc Âu khác.

Về thực chất phong trào xã hội - dân chủ là một trào lưu chính trị cótính chất cải lương xã hội, nó dựa trên những phương án điều chỉnh, cảicách kinh tế - xã hội trong khuôn khổ chế độ TBCN, làm cho CNTB tồn tạivới một diện mạo mới, hình thức mới, thích nghi và phù hợp với sự pháttriển của thế giới ngày nay chứ không đi tới mục tiêu xóa bỏ CNTB bằngcách mạng Mô hình xã hội - dân chủ mà những thủ lĩnh của ờp này đưa ravới hy vọng thiết kế một "con đường thứ ba - không cộng sản" với một sựhỗn dung hệ tư tưởng sau khi cảm thấy "giải thể hệ tư tưởng", "phi chính trịhóa" là không thực tế, mong muốn chuyển hóa xã hội tư bản thành một thứ

"CNTB nhân dân", biến thể chế chính trị tư sản hiện tồn thành "một nhànước phúc lợi chung", nhờ đó thay đổi bản chất của CNTB, CNTB tựchuyển hóa thành CNXH dân chủ, thành các giá trị dân chủ, nhân đạo,mang bộ mặt con người, đạt được công bằng xã hội là sự biện hộ tinh vicho sự tồn tại của CNTB

Xã hội - dân chủ và CNXH dân chủ là một biến thể đồng dạng phốicảnh của CNTB Dù không phủ nhận một số nhân tố hợp lý mà đó có ýnghĩa tiến bộ trong việc tìm tòi những biện pháp, chính sách cải cách đemlại một số lợi ích (dù tạm thời) cho dân chúng, dù phong trào xã hội - dânchủ có một tổ chức q mạnh (Quốc tế XHCN) và đã từng có ảnh hưởngtrong cơ sở xã hội nhưng về căn bản, khuynh hướng và trào lưu này hướngmục tiêu vào sự bảo vệ CNTB, duy trì CNTB chứ không phải đi tới CNXH

Khủng hoảng của xã hội - dân chủ phản ánh mâu thuẫn không thểgiải quyết được của bản thân phong trào và lực lượng này Những người xãhội - dân chủ trong vị thế chính trị - xã hội của mình đã tự đặt mình vàonhững mâu thuẫn, những nghịch lý hai mặt mà có thể dẫn tới bế tắc, mấttính triển vọng lịch sử Khi muốn biểu thị mình đại diện cho lợi ích xã hộicông cộng, cho quyền lợi của dân chúng, họ khôngt hể vượt qua giới hạn tưsản của họ Muốn thỏa mãn nhu cầu giải phóng lao động, họ tất yếu vấp

Trang 11

phải rào chắn của quyền lực kinh tế - chính trị tư sản và họ buộc phải dừnglại trước sức mạnh của thể chế tư sản Kết cục là họ không thể không thỏahiệp, không nửa vời, mang tính chất cải lương, không tưởng Giải pháp về

"Tam giác quyền lực" thông qua thương lượng, hợp tác giữa Nhà nước(giới chủ) với lao động và các tổ chức nghiệp đoàn, xét đến cùng không thểgiải quyết triệt để lợi ích của lao động vì nó không được làm tổn hại tới lợiích giới chủ mà thực chất là các thế lực tư sản, là sự an toàn của thể chế,của chế độ TBCN

Còn khi biểu thị mình theo lăng kính lợi ích và quyền lực tư sản thìnhững người xã hội - dân chủ không còn có thể đứng trên mọi giai cấp, mọilực lượng để chỉ vì xã hội phúc lợi chung, vì lợi ích cộng đồng nói chung.Tính chất tư sản, cải lương và không tưởng của họ đã làm cho họ mất dần

cơ sở xã hội và sự ủng hộ của chúng, nhất là tầng lớp dưới

Rõ ràng, trong thời đại ngày nay, phương án lựa chọn chính trị

"Con đường thứ ba, không cộng sản" là không thể trở thành hiện thực

Song đề phát triển của thế giới - CNTB và CNXH vẫn không thayđổi cuộc khủng hoảng của trào lưu xã hội - dân chủ chứng thực cho kếtluận ấy

Như vậy, đời sống chính trị đương đại của thế giới từ nửa sau thế

kỷ XX, nhất là ở thập kỷ cuối thế kỷ này cho thấy tính phổ biến của các sựkiện, các tình huống khủng hoảng cùng những khác biệt của nó

Nhận diện và cắt nghĩa một cách khách quan bản chất và xu hướngcủa khủng hoảng ở các chế độ chinhs trị, các mô hình xã hội đó là mộttrong điểm đáng chú ý của chính trị so sánh Ở đây, nổi bật tương quan sosánh giữa hệ thống TBCN và hệ thóng XHCN Về mặt lịch sử, việc so sánhhai hệ thống chính trị (TBCN và XHCN), hai chế độ chính trị của nó, hainền chính trị, hai loại hình thể chế chính trị đó chỉ đặt ra từ khi xuất hiệnCNXH hiện thực, từ khi xuất hiện hệ thống XHCN

Ngày nay, dù hệ thống XHCN không còn tồn tại theo nghĩa đầy đủ

và chặt chẽ về mặt tổ chức, nhưng CNXH với tư cách là một chế độ xã hội

Trang 12

vẫn tồn tại Các nước XHCN vẫn đang tiếp tục đổi mới, cải cách để pháttriển mà vị trí của nó trong đời sống chính trị quốc tế là không thể phủ nhậnđược.

Ngay cả Liên Xô (cũ) và Đông Âu tuy đã thay đổi thể chế, đã ápdụng giải pháp tư nhân hóa và thị trường tự do theo mô hình TBCN nhưng

cơ sở xã hội của CNXH, khuynh hướng phát triển XHCN chưa phải đãhoàn toàn mất hoặc nó vẫn là một khả anưng thực tế, tức là vẫn đang khôngngừng diễn ra cuộc đấu tranh lựa chọn con đường phát triển là CNXH

Nghiên cứu so sánh chính trị TBCN và chính trị XHCN vẫn là đốitượng nghiên cứu của chính trị học so sánh thời kỳ đương đại

Cuộc khủng hoảng của các nước XHCN chỉ là khủng hoảng ngoạihình phát triển trong khi khủng hoảng TBCN thực sự là khủng hoảng về cơcấu xét trên tổng thể xã hội đến cac slĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội.Khủng hoảng của xã hội - dân chủ báo hiệu tình thiếu triển vọng và sự phásản không tránh khỏi của đường lối cải lương tư sản, tính chất ảo tưởng vàkhông tưởng của những biện minh cho sự tồn tại vĩnh viễn của CNTb hòngloại bỏ CNXH khoa học trong việc lựa chọn con đường phát triển của lịch

sử thế giới ngày nay

Theo đó, CNTB dù đã phát triển tới trình độ của CNTB hiện đạinhư hiện nay và vẫn còn tiềm lực để tiếp tục phát triển nhưng nó khôngphải là chế độ có triển vọng lâu dài, bền vững Nó không thể giải quyết triệt

để những vấn đề mà nhân loại đã từng đặt ra nhằm giải phóng GCCN vàlao động các dân tộc khỏi ách áp bức bóc lột, tiến tới tự do, công bằng vàbình đẳng thực sự CNXH tuy đang phải vượt qua thời kỳ thoái trào tạmthời nhưng thông qua đổi mới để xác lập mô hình phát triển mới sẽ bướcvào một thời kỳ mới đầy triển vọng Nó là sự lựa chọn tất yếu, khách quancủa lịch sử, của tất cả các dân tộc trên thế giới

II CHÍNH TRỊ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA TRONG BƯỚC CHUYỂN TỪ CNTB CỔ ĐIỂN SANG CNTB HIỆN ĐẠI

1 Bước chuyển từ CNTB cổ điển sang CNTB hiện đại

Trang 13

Trong lịch sử tư tưởng mác xít đã có nhiều cuộc tranh luận vềCNTB đặc biệt là những biến đổi của CNTB trong hình thức CNTB hiệnđại.

Các cuộc tranh luận này của giới nghiên cứu mác xít tuy cùng đứngtrên lập trường quan điểm của chủ nghĩa Mác nhưng ý kiến lại có không ít

sự khác biệt Điều đó phản ánh sự phức tạp trong quá trình nhận thức, đánhgiá về CNTB Nổi bật ở hai giai đoạn chuyển tiếp trong lịch sử phát triểncủa CNTB:

- Bước chuyển từ CNTB tự do cạnh tranh sang CNTB lũng loạn vàođầu thế kỷ XX

- Bước chuyển từ CNTB lũng đoạn (độc quyền tư nhân) sangCNTB độc quyền Nhà nước bởi sự kết hợp chặt chẽ giữa các công ty tưbản lũng loạn với Nhà nước TBCN từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai

Đó chính là những bước kèm theo những biến đổi lịch sử từ CNTB

Cổ điển sang CNTB hiện đại Cuộc tranh luận hiện nay vẫn tiếp tục diễn raxoay xung quanh phạm trù CNTB hiện đại

Trong các cuộc tranh luận trước đây, tuy ý kiến còn khác nhau,thậm chí có những kiến giải trái ngược nhau song đều thống nhất được ởmột điểm căn bản: CNTB tuy có thay đổi hình thái của nó nhưng khôngthay đổi về bản chất

Hiện nay vấn đề tranh luận đã đi xa hơn thế rất nhiều Vấn đề trungtâm được đặt ra là: Với CNTB hiện đại, CNTB có còn là CNTB nữa haykhông hay nó đang tự vượt lên, tự phủ định?(1)

Một số nhà nghiên cứu về kinh tế TBCN ở nước ta đã nhận xétrằng, CNTB hiện đại, về bản chất là CNTB độc quyền Nhà nước, là giaiđoạn mới, giai đoạn phát triển cao trong lịch sử phát triển của nó Nó khôngphải giai đoạn nhỏ trong giai đoạn CNTB độc quyền tư nhân với 5 đặcđiểm đã được Lênin tổng kết trong tác phẩm "CNĐQ - giai đoạn tột cùng

(1) CNTB hiện đại - Những tìm kiếm mới, T.T KHXH, II 1992.

Trang 14

của CNTB" Đây là giai đoạn lịch sử mới về chất so với giai đoạn độcquyền tư nhân(2).

Để nhận biết CNTB hiện đại, nhất là những đặc điểm kinh tế chính trị và những mâu thuẫn của nó cần phải đạt nó trong lịch sử hìnhthành và phát triển của CNTB nói chung

-Có hai giai đoạn lớn trong lịch sử phát triển của CNTB: giai đoạnCNTB cổ điển và giai đoạn CNTB hiện đại

Giai đoạn CNTB cổ điển mang đặc trưng đầy đủ và điển hình nhất

về sự chiếm hữu và thống trị của tư bản tư nhân, về sự bóc lột tàn bạo laođộng làm thuê CNTB cổ điển bao gồm ba giai đoạn nhỏ: manh nha (từgiữa thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, khoảng 250 năm): Chế độ phong kiến tan

rã, tích lũy nguyên thủy, tư bản thương nghiệp và công trường tư bản pháttriển mạnh Giai đoạn manh nha này là bước chuẩn bị cho sự ra đời và

thống trị của phương thức sản xuất TBCN Tự do cạnh tranh: Từ giữa thế

kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (khoảng 150 năm) Đây làlúc PTSX tư bản chủ nghĩa giành thắng lợi ở các nước tiên tiến Âu - Mỹvới cách mạng công nghiệp và nền đại công nghiệp cơ khí, các xí nghiệp

do cá nhân nhà tư bản chiếm hữu và kinh doanh, sức sản xuất phát triểnmạnh mẽ, PTSX tư bản chủ nghĩa được xác lập và thống trị thế giới

Độc quyền tư nhân: Từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX tới chiến

tranh thế giới thứ hai kết thúc (khoảng 50 năm) Đây là thời kỳ các hìnhthức tổ chức độc quyền phát triển mạnh, xuất khẩu tư bản ra nước ngoài vàcác cường quốc tư bản thực hiện chính sách thực dân tàn bạo, xâm chiếmthuộc địa

Trong tất cả các giai đoạn nêu trên của CNTB cổ điện, "Máu và bùnhơ" thật sự đã thấm vào mọi lỗ chân lông của nó(1)

Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay (Đã có 1/2 thế kỷ) vàcòn tiếp tục trong thời kỳ sau là thời kỳ của CNTB hiện đại Đặc trưng nổibật của CNTB hiện đại là sự xuất hiện chức năng mới của Nhà nước như(2) CNTB hiện đại, TIII, ST, II, 1995, tr.143.

(1) CNTB hiện, T.III, ST, II 1995, tr 143.

Trang 15

một trung tâm điều tiết vĩ mô, như người tổ chức đời sống kinh tế - xã hộicùng các yếu tố phủ định tính tư nhân TBCN khác, phản ánh sự quá dộ từCNTB sang CNXH Có thể coi CNTB độc quyền Nhà nước là giai đoạnđầu tiên của CNTB hiện đại Dĩ nhiên, CNTB sẽ không tự tiến hóa lênCNXH Do mâu thuẫn cơ bản của CNTB là mâu thuẫn giữa xã hội hóa cao

độ của sản xuất với chiếm hữu tư nhân TBCN vèe tư liệu sản xuất nên từbản chất của nó, CNTB không th4ẻ tự phủ định mình Nó phải bị phủ địnhbởi chính lực lượng xã hội mà nó tạo ra ngoài ý muốn Đó là giai cấp vôsản cách mạng đại diện cho tính chất tiên tiến của lực lượng sản xuất xãhội Cách mạng xã hội vẫn là một tất yếu phổ biến để chuyển xã hội lênmột hình thái mới Chỉ có điều, trong bối cảnh và xu hướng thế giới ngàynay với sự tác động của cách mạng KHKT - công nghệ, với những biến đổicủa CNTB ở trình độ hiện đại, hình thức cách mạng xã hội sẽ có nhiều thayđổi

Vậy CNTB hiện đại có những đặc điểm kinh tế cơ bản nào, biểuhiện những mâu thuẫn nào và xu hướng lịch sử của nó ra sao? Những vấn

đề đặt ra trên đây cần được biến đổi trong thể chế chính trị tư sản, tức làtrong nền chính trị TBCN

Có thể khái quát đặc điểm kinh tế cơ bản của CNTB hiện đại nhưsau:

Thứ nhất, CNTB hiện đại bắt đầu sự vận động của nó trên một cơ

sở vật chất kỹ thuật mới về chất - cơ sở vật chất - kỹ thuật của xã hội sau

nó đang được hình thành

Máy tính điện tử xuất hiện trong cao trào cách mạng khoa học công nghệ sau chiến tranh đã đưa nền đại sản xuất cơ khí của CNTB tự docạnh tranh bước vào giài đoạn tự động hóa đồng bộ Các phát minh khoahọc trực tiếp dẫn đến việc hình thành các nguy lý công nghệ mới, biến khoahọc công nghệ thành sức sản xuất hàng đầu Phương thức lao động thay đổi

-có tính cách mạng Lao động trí óc -có vai trò ngày càng quan trọng đối với

sự phát triển LLSX của xã hội Sở hữu trí tuệ trong tương quan với sở hưu

tư bản và sở hữu quyền lực có vị trí và vai trò ngày càng tăng lên

Trang 16

Với chất lượng cao của cơ sở vật chất - kỹ thuật, hệ thống sản xuấtcủa xã hội đang thay đổi căn bản, từ các yếu tố sản xuất (sức lao động,công cụ lao động, đối tượng lao động ) đến cơ cấu sản xuất, hình thức tổchức, phương thức quản lý.

Thứ hai, Nhà nước phát triển chức năng mới như một trung tâm

điều tiết vĩ mô, như người tổ chức đời sống kinh tế - xã hội Đặc điểm nàyphản ánh chức năng kinh tế của Nhà nước tư bản hiện đại đồng thời là biểuhiện trực tiếp những sự biến đổi của nền chính trị TBCN

Nhà nước kết hợp chặt chẽ và thường xuyên như một tất yếu kinh tếvới tư bản độc quyền, điều kinh tế - xã hội bằng một hệ thống các biệnpháp kinh tế, hành chính, luật pháp

Thứ ba, Hệ thống tài chính, tín dụng, ngân hàng phát triển mạnh mẽchưa từng có, ảnh hưởng quan trọng tới điều tiết vĩ mô của Nhà nước

Tư bản tài chính và tập đoàn tài chính có nhiều thay đổi Các cơquan tài chính và ngân hàng ngày càng chuyên nghiệp hóa, hiện đại và lớnmạnh Các tập đoàn truyền thống diễn ra sự phân hóa sâu sắc, màu sắc dântộc giảm dần Pháp nhân có cổ phiếu ngày càng nhiều Hoạt động nghiệp

vụ của các ngân hàng lớn đã vượt qua ranh giới quốc gia, xuất hiện cácngân hàng xuyên quốc gia

Thứ tư, Các tổ chức độc quyền tư nhân vẫn tồn tại và có xu hướng

phát triển với quy mô lớn, hoạt động kinh doanh cũng vượt qua giới hạnngành nghề, quốc gia, trở thành các công ty xuyên quốc gia Nhà nước vừaủng hộ vừa hạn chế, điều tiết các tổ chức này nhằm hạn chế độc quyền, tạomôi trường cạnh tranh để kích thích tăng trưởng kinh tế, tận dụng các thànhquả khoa học - công nghệ mới

Thứ năm, Đầu tư ra nước ngoài phát triển mạnh mẽ chưa từng thấy.

Nhờ đó, thế giới thực sự bước vào quá trình toàn cầu hóa sản xuất Phâncông quốc tế ngày một sâu sắc, đời sống kinh tế được quốc tế hóa Buônbán, đầu tư, xuất khẩu lao động, chuyển nhượng kỹ thuật, hoạt động tài

Trang 17

chính, trao đổi thông tin, trao đổi nhân viên diễn ra mạnh mẽ, có tính chấtquốc tế.

Trong bước chuyển của CNTB từ cổ điển sang hiện đại, quan hệkinh tế truyền thống lấy quốc gia làm cơ sở đã bị thay đổi thành quan hệkinh tế quốc tế, các quốc gia - dân tộc phải gia nhập vào đời sống quốc tếnhư một tất yếu, trước hết từ tất yếu kinh tế

Thứ sáu, các tổ chức kinh tế quốc tế, các tập đoàn kinh tế khu vựchình thành, kinh tế các nước trở nên phụ thuộc lẫn nhau đòi hỏi hoạt độngkinh tế quốc tế phải có trật tự và quy tắc Đã ra đời và phát triển các cơquan kinh tế quốc tế như "Hiệp định chung về thuế quan và thương mại",

"Quỹ tiền tệ quốc tế", "Ngân hàng thế giới" Nhóm G7 (Hội nghị cấp caocủa 7 nước tư bản phát triển) như một cơ chế phối hợp can thiệp, điều tiếttrong cạnh tranh

Đấu tranh về lợi ích và quyền lực diễn ra gay gắt trong việc giànhthị trường, mở rộng thuộc địa; Thỏa hiệp, hợp tác trong cạnh tranh quyếtliệt là một hướng chủ đạo trong quan hệ các nước tư bản phát triển

Thứ bảy, các nước tư bản phát triển không ngừng bóc lột và không

chế các nước đang phát triển Mở rộng phạm vi ảnh hưởng thông qua cácbiện pháp kinh tế như xuất khẩu tư bản, viện trợ, chuyển nhượng kỹ thuậtnhằm khai thác các nước đang phát triển, biến các nước này thành thịtrường tiêu thụ hàng hóa, cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu Mặt khác, tínhtùy thuộc vào nhau tăng lên do tác động của KHKT, giao lưu, hội nhập Cơhội cho các nước đang phát triển rút ngắn đang tăng lên nhưng cũng cókhông ít nguy cơ thua thiệt

Đó là bảy đặc điểm kinh tế cơ bản của CNTB hiện đại

Như đã nói trên, mâu thuẫn cơ bản của CNTB là mâu thuẫn giữa xãhội hóa sản xuất với phương thức chiếm hữu tư nhân TBCN, mâu thuẫn cơbản này nảy sinh cùng sự ra đời của CNTB, tồn tại và phát triển ngày mộtgay gắt hơn trong quá trình phát triển của chế TBCN

Trang 18

Nhưng có một thực tế là, quan hệ sản xuất TBCN cũng đang khôngngừng được điều chỉnh để phù hợp với sức sản xuất phát triển Từ cạnhtranh tự do tới độc quyền là một điều chỉnh lớn trong QHSX tư bản chủnghĩa Từ độc quyền tư nhân tới độc quyền nhà nước lại là một lần điềuchỉnh lớn và thay đổi sâu hơn Tất cả những điều chỉnh lớn và thay đổi ấyđều diễn ra trong khuôn khổ của CNTB Nó có thể làm dịu bớt mâu thuẫn

và phát triển được kinh tế - xã hội trong một thời kỳ nào đó chứ không thểgiải quyết tận gốc mâu thuẫn cơ bản của CNTB

Mâu thuẫn trong CNTB hiện đại có những hình thái biến đổi rõ rệt,

có mâu thuẫn dịu đi mà cũng có mâu thuẫn lại gay gắt, phức tạp hơn

Ví dụ: "Khủng hoảng chu kỳ kinh tế dịu bớt nhưng khủng hoảng cơcấu lại trở nên trầm trọng, gay gắt Hiện tượng này có mối quan hệ chặt chẽvới sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế Có mấy biểu hiện đáng lưuý: lạm phát thường xuyên, thất nghiệp gia tăng, thâm hụt tài chính, nhữngmón nợ khổng lồ đối với Nhà nước, với tư nhân tăng lên, mất cân đối trongmậu dịch quốc tế cũng gia tăng Những khủng hoảng cơ cấu này lại kết hợpvới khủng hoảng chu kỳ làm tăng lên sự phức tạp trong sự vạan động kinh

tế TBCN

- Mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp giữa tư sản và vô sảncũng có những biến đổi Do NSLĐ nâng cao, do nhà nước thực hiện chínhsách thu nhập và bảo hiểm nên đời sống của công nhân và lao động cóđược cải thiện, mâu thuẫn có phần dịu đi nhưng không có nghĩa là GCTSkhông còn là giai cấp bóc lột nữa Có điều, CNTB đã không áp dụng nhữngbiện pháp bóc lột tàn bạo công nhân và vô sỉ như trước đây mà tinh vi hơnnhiều, mức độ bóc lột cũng không hề giảm nhẹ đi

Hơn nữa, bản thân GCCN trong các nước TBCN phát triển ngàynay cũng có những thay đổi (học vấn cao, kỹ thuật hiện đại, làm việc trongmôi trường tự động hóa, gần với lao động trí óc của trí thức và các chuyêngia kỹ thuật, có một bộ phận còn tham gia vào quyền sở hữu ) Mức sốngtrung lưu hóa đã trở thành phổ biến Tầng lớp trung gian mới phần lớn từ tríthức cấu thành đang gia tăng, họ có một vị thế nhất định trong đời sống xã

Trang 19

hội, quan hệ giữa GCTS - GCCN và tầng lớp trung gian này là vấn đề rấtđáng phải nghiên cứu để tìm ra những giải pháp và hình thức moứi trongcuộc tranh cho dân chủ và CNXH trong điều kiện CNTB hiện đại(1).

- Ngoài ra còn phải nói tới mâu thuẫn giữa các tổ chức độc quyền,giữa các nước tư bản với nhau, trong cạnh tranh quốc tế không còn là phânchia thị trường, xâm chiếm thuộc địa mà là giành ưu thế trong thực lực kinh

tế, KHKT - công nghệ, trong khống chế quyền lực

CNTB hiện đại là một thực thể kinh tế - xã hội (bao gồm cả chínhtrị và tư tưởng) phức tạp đang tồn tại trong thế giới ngày nay Nghiên cứu,đánh giá về nó không chỉ có các học giả mác xít mà còn có các học giaphương Tây đứng trên quan điểm, lập trường tư sản Họ cũng đưa ra nhữngkiến giải khác nhau Cần thiết phải lưu ý tới những lập luận này thông quanhững đại diện tiêu biểu của nó để có thêm những cứ liệu trong việc nhìnnhận CNTB hiện đại và tìm hiểu những vấn đề đang đặt ra của chính trị học

so sánh giữa CNTB với CNXH Có thể xem xét hai loại quan điểm sauđây:

- Loại quan điểm thứ nhất, đại diện là I.S.chumputer ông cho rằng,những thành tựu của hệ thống TBCN đã cho phép nó tránh được giả thuyết

về sự sụp đổ dưới áp lực của những thất bại kinh tế, song chính thắng lợicủa CNTB sẽ đục khoét các thể chế xã hội bảo vệ nó và tất yếu tạo ranhững điều kiện mà trong đó nó không thể nào sống sót và xác định rằngCNXH như một người kế thừa tiến định Trong kết luận này có phần kháchquan, gần gũi với mác xít Nhưng I.S chumpeter cũng cho rằng, CNTB sẽ

tự tiêu vong, không cần đến các giải pháp cách mạng mà chỉ cần áp dụngnhững iện pháp "sửa chữa", "cải cách" nó là đủ Có không ít người tánthành quan niệm đó Đó là chỗ khác căn bản, khác về nguyên tắc với quanđiểm mác xít về con đường và giải pháp lịch sử đối với CNTB

Loại quan điểm thứ hai, với đông đảo các nhà tư tưởng và kinh tế tưsản Họ cho rằng, CNTB đã "cải biến" thành một thứ "CNTB mới nào đó"khác hẳn với CNTB cũ, hoặc một dạng "phi CNTB", thậm chí là "CNXH".(1) CNTB hiện thực, T.III, ST, H 1995, tr.124 - 130.

Trang 20

Theo họ, xã hội phương Tây đã là xã hội công nghiệp, hậu công nghiệpsiêu công công nghiệp, hậu tư bản Hoặc cũng có thể gọi nó là xã hội tiêudùng lại chúng, hỗn hợp Nhà nước phúc lợi chung Hoặc cũng có thể gọicái đã biến đổi đó là CNXH dân chủ, CNXH tham dự, CNXH quỹ hưu trí,CNXH thị chính, CNXH mới(1).

Từ đây, có thể phân chia ra các dạng đánh giá khác nhau

- Xã hội phương Tây (CNTB hiện đại) vẫn mang đặc trưng kinh tế

- xã hội căn bản của CNTB: Sở hữu tư nhân, sự thống trị độc quyền, lao

động làm thuê Nhưng đó là xã hội siêu công nghiệp, thông tin, là "làn sóngthứ 3" của phát triển, A.Toffler tiêu biểu cho khuynh hướng này

- Đó là xã hội không phải "phi TBCN" nhưng cũng không phải XHCN

mà là xã hội hậu công nghiệp Tiêu biểu cho cách đánh giá này là J.K

Galbraith Ông gọi nước Mỹ là "Nhà nước công nghiệp mới"

- Đó là xã hội XHCN nhưng không phải XHCN mà những người

XHCN chính thống (chỉ những người mác xít) hình dung Công bằng xã hội

có thể đạt được mà không cần làm cuộc cách mạng trong sở hữu, tiêu biểucho nhóm này là Hi ro pi baba (Nhật Bản) và những người xã hội dân chủ

- Đó là xã hội có nền kinh tế hỗn hợp, cả "bàn tay vô hình"

(invisible hand) và "bàn tay hữu hình" (visible hand) đều có vai trò quyếtđịnh, tồn tại "cạnh tranh hợp lý", "đọc quyền hợp lý", "thất nghiệp hợplý" Tiêu biểu là Panl A.Samuelson(2)

Những quan điểm và lập luận nêu trên đều đánh giá cao tiến bộKHKT - công nghệ trong xã hội tư sản nhưng đã bị thổi phồng một cáchcực đoan, tách nó khỏi sở hữu Họ không đề cập tới tính tất yếu của cải tạocách mạng về sở hữu Họ đứng trên quan điểm kỹ trị, quyết định luận kỹthuật để nhận thức bản chất xã hội, các quan hệ xã hội, cơ cấu giai cấp - xãhội của xã hội TBCN

Hạn chế do đối với họ là tất yếu dù trong những kiến giải của họcũng có một phần sự thật

(1) Sđd, tr 154 - 159.

(2) Sđd, tr 154 - 159.

Trang 21

Mặc dù vậy, về khách quan, họ đã khẳng định được những tính tấtyếu của sự phát triển kinh tế - xã hội trong các nước tư bản Đó là: cáchmạng hóa không ngừng LLSX là điều kiện tồn tại tất yếu của CNTB; để sửdụng những LLSX mới được tạo ra trên cơ sở thành tựu cách mạng KHKT

- công nghệ, CNTB tất yếu phải điều chỉnh trong QHSX nhằm làm dịuxung đột, giảm những mất cân đối mang tính tàn phá của nền kinh tế vànhững bất bình đẳng xã hội có nguy cơ chấn động xã hội; sự phát triểnTBCN tất yếu tạo ra những mâu thuẫn Mục tiêu và các phương tiện thựchiện mục tiêu luôn đối chọi nhau; CNTB hiện đại ở các nước tư bản pháttriển cao đã đạt tới giới hạn mà những khẩu hiệu tự do, bình đẳng, bác ái.Dân chủ nhân quyền đã không để lại ở lời nói suông mà phải được thể hiệntrong đời sống

Chính ở đó, CNTB đã ở vào tính quá độ lịch sử Một chế độ xã hộiphủ định, thay thế nó đang chín muồi dần trong lòng CNTB hiện đại(1)

2 Thể chế chính trị tư sản và chinh strị TBCN trong CNTB hiện đại

Chính trị là một hiện tượng lịch sử, một phạm trù lịch sử Cănnguyên sâu xa của chính trị là kinh tế nhưng chính trị không bao giờ là sảnphẩm thụ động của kinh tế Ngay từ khi xuất hiện và chừng nào còn tồn tạithì chính trị bằng cách này hay cách khác đều có tác động trở lại với kinh

tế, thông qua sự tác động tới kinh tế mà chính trị tác động tới xã hội

Luận điểm của Lênin, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế vàchính trị không thể không giữ vị trí hàng đầu đối với phương hướng pháttriển kinh tế đã lột tả một cách sâu sắc biện chứng giữa kinh tế và chính trị

Nguyên lý này mang ý nghĩa quy luật phổ biến đối với mọi nềnchính trị, mọi thế chế chính trị mà tiêu biểu hơn cả là chính trị TBCN vớithể chế chính trị tư bản và chinhs trị XHCN với thể chế chính trị kiểu mớicủa GCCN cầm quyền lãnh đạo

Trước hết, ta xem xét nền chính TBCN với thể chế chính trị tư sảntrên những vấn đề sau đây:

(1) Sđd, tr 154-156.

Trang 22

2.1 Bản chất của chính trị TBCN

Cũng như mọi nền chính trị khác, chính trị TBCN là nền chính trị

mang đậm nét bản chất giai cấp Đó là bản chất giai cấp tư sản, giai cấp

nắm quyền kiểm soát kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư sản tức chế độchiếm hữu tư nhân TBCN về các tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội Nó

là chủ sở hữu lợi ích kinh tế, đồng thời là chủ sở hữu quyền lực chính trị,biểu hiện tập trung nhất là quyền lực Nhà nước

Dù ở trình độ nào - cổ điển hay hiện đại, chính trị TBCN cũngkhông xa rời mục đích và chức năng của nó là công cụ và phương thức duytrì bảo vệ lợi ích và quyền lực của giai cấp tư sản, nổi bật ở lợi ích vàquyền lực của giới chủ tư sản

Cả trong thời kỳ đang đi lên, khi tấn công vào thể chế quyền lựccủa giai cấp phong kiến chuyên chế để tự khẳng định vị thế thoóng trị củamình để mở đường phát triển sức sản xuất và tạo dựng quan hệ sản xuấtTBCN, cũng như trong bước chuyển từ tự do cạnh tranh sang lũng đoạn,độc quyền tư nhân và độc quyền Nhà nước, giai cấp tư sản luôn luôn phảinhân danh và xã hội, nhân danh ý chí và quyền lực công cộng để thực hiệnmục tiêu của nó Bóc lột thặng dư giá trị sức lao động của vô sản làm thuênhằm thu lợi nhuận tối đa và chiếm hữu quyền lực nhà nước như mộtphương thức đảm bảo lợi ích kinh tế của nó

Khi phải dùng tới Nhà nước để điều chỉnh QHSX cho thích ứng vớisưcsx xã hội hóa, khi phải có những cải cách trong chính sách, cơ chế quản

lý và pháp luật mà về khách quan có đem lại một số kết quả hữu hiệu nào

đó cho dân chúng trong xã hội thì xét về cơ bản, GCTS chủ yếu là lợi ích

và quyền lực của nó Ngay diễn tiến của nền dân chủ tư sản cũng vậy Đây

là nền dân chủ ở trình độ hiện đại mà thực chất là dân chủ bao cấp hữu sản,cho những kẻ có của, giàu có, có thể lực và quyền uy không bước tiến củanền dân chủ tư sản, một mặt là sự thể hiện và khẳng định quyền lực tư sản,trình độ tổ chức thực thi quyền lực ấy của GCTS, mặt khác là kết quả đấutranh đòi dân sinh, dân chủ của quần chúng lao động, đem lại những tiến bộ

xã hội nhất định trong nền văn minh tư sản Ở một mức độ nhất định,

Trang 23

GCTS phải tính đến lợi ích xã hội, đem lại một cací gì đó cho các thànhviên của xã hội công dân, của nhà nước pháp quyền tư sản nhưng trong kếtquả ấy, cái chủ yếu, xu hướng chủ đạo vẫn là hướng tới phục vụ cho GCTSthống trị.

Thể chế chính trị tư sản, chế độ chính trị trong các nước TBCN dù

có mang theo những hình thức biến đổi nào thì suy đến cùng nó vẫn phục

vụ cho giai cấp tư sản cầm quyền, vẫn nhằm vào bảo vệ trật tự tư sản, tạo

sự ổn định và độ an toàn cho sự tồn tại của pTSX TBCN, của tư bản (từ cácnhà tư bản cá biệt đến giai cấp các nhà tư bản nói chung trong xã hội)

Pháp luật tư sản dù có khẳng định những ư tưởng, những giá trịchuẩn mực về tự do, bình đẳng, bác ái, dù có ra sức gây ấn tượng về bảo vệquyền tự do, nhân quyền và dân quyền, dù có nhấn mạnh tới mọi thànhviên của xã hội công dân và mọi công dân của Nhà nước pháp quyền đềubình đăngr trước pháp luật nhưng trên thực tế vẫn chỉ hướng vào phục vụcho một tầng lớp nhấtđịnh, đó là các nhà tư bản Nó chỉ củng cố cả mặtpháp lý lẫn trong thực tiễn những đặc quyền tư sản mà thôi Đối với GCCN

và đa số dân chúng trong xã hội, chính trị TBCN đã tỏ rõ một khoảng cách,một sự không ăn khớp giữa những tuyên bố pháp lý về quyền với hiệntrạng thực tế với đủ mọi cách hanj chế những quyền đó

Những tuyên bố, tuyên ngôn đầy tính nhân văn đối với con người

đã từng xuất hiện không ít trong các văn kiện tư sản song trên thực tế nóchỉ hướng đích vào con người cá nhân tư sản, chủ tư bản, còn đối với quầnchúng lao động thì thường bị cắt xén bằng đủ mọi hình thức tinh vi

Tính trừu tượng trong những biểu đạt về các giá trị dân chủ, tự docông bằng, bình đẳng cho con người, cho mọi công dân thật ra chỉ nhằmlàm lấp khuất đi một cách có dụng ý bản chất giai cấp tư sản của đường lốichính trị tư sản, cốt xoa dịu những xung đột, hoặc tạo một nhận thức mơ

hồ, những ảo tưởng, ngộ nhận trong quần chúng về chính trị tư sản

Có thể nói, cơ sở kinh tế của chính trị tư sản và chế độ chính trị

TBCN nói chung là chế độ sở hữu tư nhân do GCTS nắm quyênf chi phối

Trang 24

Cơ sở tư tưởng của nó là chủ nghĩa cá nhân và tự do tư sản, biểu hiện thành

thế giới quan, nhân sinh quan và hệ tư tưởng của GCTS thống trị

Cơ chế thực hiện của nó chính là dân chủ tư sản mà đối tượng phục

vụ của nó chỉ là tầng lớp giàu có trong xã hội

Thiết chế thực hiện quyền lực và công cụ bảo vệ quyền lực của nó

chính là Nhà nước và Pháp luật tư sản hiện hành

Bản chất của CNTB, của chính trị TBCN không thay đổi cho dù trảiqua lịch sử, nó đã nhiều lần biến đổi về hình thức, điều chỉnh về mô hình,phương thức, biện pháp tổ chức quản lý

Do trình độ phát triển cao của nó, do những hướng đích đầy tiónhthực tiễn và cả thực dụng nữa, GCTS đã thông qua thể chế và chính sáchcủa nó tạo nên một nền chính trị phục vụ có hiệu quả cho mục đích kinh tế

vì lợi ích của nó

Những biến đổi các mô hình nhà nước tư sản và sự chú trọngthường xuyên tới các công nghệ chinh strị kết họp với huy động sức mạnhcủa các phương tiện thông tin tuyên truyền mà GCTS rất có ý thức sử dụng,tận dụng cho thấy vai trò, tác dụng và hiệu quả thực tiễn của chính trị tưsản đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và duy trì chế độ của giai cấp tưsản

Trong lịch sử phát triển của nó chính trị TBCN có các nước tư bảnphát triển đã từng bộc lộ khốt í những tính chất phản đônông nghiệp, thựcdân xâm lược khi chúng huy động sức mạnh của cả thể chế lẫn công ***phương tiện, chính sách, luật pháp và tuyên truyền vào việc gây chiếntranh, xâm chiếm thuộc địa, can thiệp vào công việc nội bộ của các nướckhác Nó cũng đã từng truyền bá và thực hiện những chính sách phân biệtchủng tộc, kỳ thị dân tộc, bao vây cấm vận đối với các nước có phản ứngkhông chịu lệ thuộc vào chúng

Đó còn là nền chính trị chứa đựng không ít những sự lừa mị tư sản,những hành động trấn áp phản dân chủ đối với dân chúng trong nước khi

Trang 25

phong trào đấu tranh của công nhân, lao động và xã hội nói chung đe dọatrực tiếp tới sự ổn định và an toàn của chế độ TBCN.

Đặc biệt là, trong một thời kỳ dài, trong sự đối đầu của trật tự haicực (TBCN - XHCN), nền chính trị TBCN đã bộc lộ không ít những mưutoan lẫn hành động chống phá các phong trào cách mạng, các khuynhhướng tiến bộ, dân chủ, chống CNXH, chống cộng sản, gieo rắc tâm lý và

ý thức thù địch, chia rẽ giữa các dân tộc

Còn ngày nay, trong nỗ lực cản trở các phong trào đấu tranh giảiphóng vì mục tiêu độc lập và dân chủ, vì hòa bình và tiến bộ, vì sự phụchồi và phát triển của CNXH, chính trị TBCN thông qua các Nhà nước, cácchính phủ tư sản đã ra sức đưa kịch bản "diễn biến hòa bình" và "chủ nghĩathực dân công nghệ" thâm nhập vào các nước, các dân tộc, nhất là các nướcXHCN đang tiến hành đổi mới như nước ta hòng lật đổ, phá hoại CNXH từbên trong, hòng giành lấy ưu thế trong đời sống quốc tế

2.2 Thể chế và hệ thống chính trị TBCN trong điều kiện của CNTB hiện đại

Nói một cách tổng quát thì, thể chế chính trị tư sản được đặc trưngbởi chế độ (nền) dân chủ tư sản và Nhà nước pháp quyền tư sản Đó là nềndân chủ dành cho giai cấp tư sản, cho những người giàu có, có của cải, tàisản và có thế lực trong xã hội TBCN Đây không phải là nền dân chủ dànhcho số đông dân chúng trong xã hội mà chỉ dành cho một tầng lớp, một bộphận nhỏ trong cộng đồng dân cư đang sở hữu hầu hết các nguồn của cảivật chất tạo ra thực lực kinh tế của một quốc gia ***** làm cho họ có thểchiếm hữu tới 95% của cải xã hội với những số vốn là tài sản khổng lồ nằmtrong các ngân hàng, các công ty, các tập đoàn sản xuất kinh doanh, cáchãng *** quốc gia Còn lại tuyệt đại đa số các tầng lớp dân cư từ lao động,viên chức thường, các chuyên viên kỹ thuật, cho đến chuyên gia, trí thức -

mà trong số họ dù có thể có cổ phần, cổ phiếu đi nữa - cũng chỉ đại diệncho sự ít ỏi 5% còn lại nguồn lực của cải xã hội Cái gọi là "đồng sở hữu"

mà các học giả tư sản thường tuyên truyền, biện minh cho sự thay đổi bảnchất của CNTB tuyệt nhiên không gây nên một thế lực ảnh hưởng nào tới

Trang 26

chế độ sở hữu TBCN - cái giá đỡ vật chất của chế độ chính trị - xã hội vàquyền lực của GCTS.

Nền dân chủ tư sản vẫn biểu hiện lợi ích và quyền lực của GCTS làchủ yếu cho dù trong lịch sử phát triển ở trình độ hiện đại với không ítnhững sự cải biến của nó, nền dân chủ này cùng với Nhà nước tư sản cũngphải đáp ứng đến một mức độ nhất định những nhu cầu và yêu cầu dân chủcủa xã hội, của các công dân Điều này xuất phát từ những đòi hỏi kháchquan ngoài ý muốn của lực lượng thống trị xã hội Dù thế nào, thể chế

chính trị tư sản, nền dân chủ và Nhà nước tư sản muốn tồn tại thì phải tồn

tại trong xã hội, muốn thực hiện lợi ích và quyền lực cho mình thì bắt buộc phải tính đến những đòi hỏi phổ biến của xã hội công dân, xã hội dân sự về những quyền tự nhiên của con người như tự do, dân chủ, bình đẳng (mà

phần nhiều chỉ được thừa nhận trên pháp lý còn thường bị cắt xén, hạn chếtrong thực tế)

Hơn nữa, những thành quả mà dân chúng có thể được hưởng từ nềndân chủ tư sản và Nhà nước pháp quyền tư sản không tự nhiênm có nếukhông phải là từ đấu tranh của dân chúng qua các phong trào xã hội gâysức ép với thể chế

Đó là sự thật trên thực tế Tuy vậy, khách quan mà xét, dân chủ tưsản là một trình độ phát triển cao và hiện đại so với các thể chế chính trị

dân chủ khác trước CNXH Nó thực sự là một nấc thang điển hình đánh dấu

những iến bộ căn bản của thể chế trong tiến trình lịch sử dân chủ của nhânloại Chế độ phong kiến chuyên chế, bạo ngược, về căn bản là đối lập, xa lạ

với dân chủ, tự do Nó là một chế độ xã hội về nguyên tắc là ít hàm lwongj

dân chủ nhất Vua là quyền lực bao trùm, là quyền uy tối thượng Quyền

lực đó được đồng nhất với chân lý và được trao truyền theo dòng dõi củaVương triều quý tộc Khi nó thâu tóm vào cá nhân một người (Vua, Hoàngđế) thì áp đảo xã hội là một sức mạnh chuyên chế Chế độ ấy cho đến cuốithế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX đã bị tàn lụi trong cơ cấu tổ chức quyền lựcchính trị ở châu Âu và từ đó, quyền lực của GCTS, nền dân chủ tư sản bắtđầu được thay thế, được khẳng định

Trang 27

Dân chủ tư sản dù mang bản chất GCTS, thuộc sở hữu của GCTSnhưng nó đã mở đường cho sự giải phóng cá nhân, khẳng định con người

cá nhân tư sản, xác lập quan hệ trực tiếp công dân với xã hội công dân thay

cho xã hội thần dân kiểu phong kiến, công dân với Nhà nước pháp quyền thay cho Nhà nước chuyên chế của phong kiến.

Sức mạnh của lý trí, của luật pháp và sự phát triển của khoa học, sự

mở rộng và nâng cao mặt bằng dân trí của xã hội nhờ những bước tiến vềhọc vấn, học thức của các công dân qua con đường giáo dục của nhà trường

tư sản đã đem lại luồng sinh khí tinh thần và đời sống trí tuệ - văn hóa cho

xã hội tư sản thay cho chế độ phong kiến với những hà khắc của trật tựđẳng cấp

Từ khi GCTS nắm được quyền lực nhà nước và xây dựng nên thểchế chính trị tư sản, nên dân chủ tư sản đã như môi trường chính trị - xã hội

để khẳng định lợi ích - quyền lực của GCTS đồng thời thừa nhận về pháp

lý những lợi ích, quyền, nghĩa vụ của các công dân tự do Nó đã áp dụngtrên thực tế - dù bị hạn chế - những quyền của con người, của công dân để

được tồn tại, được phát triển Pháp luật đã kiểm soát, điều tiết việc thực

hiện những quyền đó và mọi thành viên trong xã hội công dân tư sản ít nhấtcũng có thể dựa trên các nguyên tắc, điều khoản của luật pháp tư sản màhoạt động và tranh đấu Những vấn đề thuộc quyền như học tập, việc làm,

tự do tư tưởng, biểu tình, bãi công, yêu sách trong khuôn khổ trật tự tư

sản và trong giới hạn của luật pháp tư sản, con người ta có thể đòi hỏi

trong tư cách pháp lý là công dân củ nhà nước, của xã hội

Với các tổ chức và thiết chế, với các công cụ và phương tiện ngàycàng hoàn hảo được đưa vào quản lý, nền DCTS và nhà nước pháp quyền

tư sản đã chú trọng tạo ra thói quen, nề nếp, tập quán (thường thông quacác biện pháp kiểm tra, điều tiết, cưỡng bách ) tôn trọng pháp luật, trật tự,

kỷ cương đối với các công dân một cách phổ biến Tạo ra ý thức xã hội tôntrọng luật pháp, tạo ra đời sống tinh thần và văn hóa xã hội theo tinh thầnluật pháp, đưa nó vào lối sống, nếp sống hàng ngày nơi công cộng, trongcác quan hệ, ứng xử giữa các công dân với Nhà nước, với xã hội - Đó là

Ngày đăng: 18/12/2016, 22:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w