Những quan điểm chính trị được Mác và Ăngghen nêu ra là kết quả của quá trình tư duy lý luận, thừa kế những tinh hoa của các nhà tư tưởng, các nhà chính trị lỗi lạc của nhân loại, kết hợp với quá trình tham gia vào thực tiễn đấu tranh cách mạng sôi động của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Muốn tìm hiểu những quan điểm tư tưởng của một thời đại nào đó trước hết phải xuất phát từ những điều kiện kinh tế xã hội của thời đại đó. Mác và Ăngghen đã sống và hoạt động trong những điều kiện kinh tế xã hội (chủ yếu là các nước Tây Âu và Bắc Mỹ)
Trang 1TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ MÁC - LÊ NINn
MỞ ĐẦU
Mục đích yêu cầu: Nắm vững những nguyên tắc mác-xít cơ bản về
chính trị và vận dụng chúng vào việc nhận thức các vấn đề lý luận chính trị,vào việc nhận thức và giải quyết những vấn đề chính trị thực tiễn của côngcuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam
Nội dung của chuyên đề:
1 Tư tưởng chính trị Mác - Lênin - sự hình thành và phát triển
2 Tư tưởng Mác - Lênin về chính trị và chính trị tư sản
3 Tư tưởng Mác - Lênin chính trị vô sản
4 Đặc điểm của tư tưởng chính trị Mác - Lênin
5 Một số luận điểm chính trị chủ yếu của Mác - Lênin
1 TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN - SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
1.1 Hoàn cảnh lịch sử của sự hình thành tư tưởng chính trị Mác - Lênin
Những quan điểm chính trị được Mác và Ăngghen nêu ra là kết quả củaquá trình tư duy lý luận, thừa kế những tinh hoa của các nhà tư tưởng, các nhàchính trị lỗi lạc của nhân loại, kết hợp với quá trình tham gia vào thực tiễnđấu tranh cách mạng sôi động của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.Muốn tìm hiểu những quan điểm tư tưởng của một thời đại nào đó trước hếtphải xuất phát từ những điều kiện kinh tế - xã hội của thời đại đó Mác vàĂngghen đã sống và hoạt động trong những điều kiện kinh tế - xã hội (chủyếu là các nước Tây Âu và Bắc Mỹ) sau đây:
(1) Chủ nghĩa tư bản đã chiến thắng chế độ phong kiến lỗi thời, giànhđược chính quyền từ tay giai cấp phong kiến quý tộc, nhờ sức mạnh của kinh
tế với việc lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ mà giành được thắng lợi vềchính trị, chính quyền nhà nước đã thuộc về giai cấp tư sản (Nêu khái quát vèmột số cuộc cách mạng tư sản tiêu biểu như Hà Lan, Anh, Mỹ và Pháp)
Trang 2(2) Sự hình thành thị trường thế giới, sự phát triển tự do cạnh tranh, cáccuộc khủng hoảng kinh tế, sự phát triển và sự tập trung sản xuất, sự tăngcường bóc lột, áp bức đối với giai cấp vô sản
(3) Cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản có sự phát triển mạnh
mẽ Giai cấp công nhân ngày càng tỏ ra là một lực lượng chính trị độc lập,tách rời khỏi sự chỉ đạo, thao túng của giai cấp tư sản, tiến hành đấu tranhchống lại chính kẻ thù của giai cấp mình chứ không còn đấu tranh chống lại
"kẻ thù của kẻ thù mình" như trước nữa Các cuộc đấu tranh độc lập đầu tiêncủa giai cấp vô sản ở các trung tâm công nghiệp của Pháp, Anh, Đức ngay từđầu đã mang tính chính trị
Ở Pháp có các cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt Li-ông (1831-1834).1831: Từ bãi công biến thành khởi nghĩa đấu tranh vũ trang Thành lập các
Ủy ban công nhân giám sát hoạt động của thị trưởng 1834: Cuộc khởi nghĩalần thứ hai ở Li-ông, đòi thành lập nước Cộng hòa dân chủ và bảo đảm "cácquyền tự nhiên"cho nhân dân lao động
Ở Anh Phong trào Hiến chương nêu ra 6 yêu sách về chế độ bầu cửmới Thoạt đầu thành phần xã hội của phong trào không đồng nhất (côngnhân lực lượng chính, cùng tham gia có bộ phận cấp tiến tiến của giai cấp tưsản và tiểu tư sản) Trong hoàn cảnh đấu tranh quyết liệt của phong trào,những thành phần tư sản rút lui ra khỏi phong trào Thời kỳ từ 1836 đến 1842
đã đựơc Mác đánh giá là thời kỳ đấu tranh tự giác nhất của giai cấp công nhântrong phong trào Hiến chương Ph.Ăngghen nhận định rằng trong phong trào
đó, "toàn bộ giai cấp công nhân đứng dậy chống giai cấp tư sản, tiến côngtrước hết vào chính quyền của giai cấp tư sản, tiến công vào bức tường phápluật mà giai cấp tư sản dùng để bảo hộ mình (Ph.Ăngghen, Tình cảnh củagiai cấp lao động ở Anh - C.Mác-Ph.Ăngghen, Toàn tập, T2, Nxb Chính trịQuốc gia, Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.611-612) Lênin nhận xét, đó là "phongtrào cách mạng - vô sản to lớn đầu tiên, thật sự có tính chất chính trị."
Ở Đức có cuộc khởi nghĩa của thợ dệt Công nghiệp Xi-lê-di năm 1844
là cuộc đấu tranh độc lập đầu tiên của giai cấp công nhân Đức Mặc dù cuộckhởi nghĩa lúc đầu dường như chỉ mang hình thức đấu tranh kinh tế nhưng ýnghĩa của cuộc khởi nghĩa lại là ở chỗ giai cấp công nhân Đức đã có "ý thứcgiác ngộ giai về bản chất của giai cấp vô sản"
Các cuộc khởi nghĩa của giai cấp công nhân phản ánh sự bắt đầu của mộtquá trình giai cấp vô sản nhận thức được sức mạnh của mình về vật chất và tinhthần, đã trở thành một lực lượng chính trị độc lập chống lại giai cấp tư sản
Trang 3Các cuộc khởi nghĩa nói nên trên đã chứng minh cho công nhân thấyrằng sức mạnh của họ là ở sự đoàn kết, ở sự thống nhất Kết quả thực sự củanhững cuộc đấu tranh này chủ yếu không chỉ là những kết quả về mặt kinh tế,
mà là "sự đoàn kết ngày càng rộng của những người lao động", là sự trưởngthành của giai cấp vô sản về mọi mặt, đưa cuộc đấu tranh của họ ngày càngtrở thành cuộc đấu tranh chính trị Mác nhận xét: "Để đánh giá đúng ý nghĩacủa các cuộc bãi công và các tổ chức liên minh của công nhân, chúng takhông phải được để cho mình bị lừa dối bởi cái vẻ bề ngoài không đáng kểcủa những kết quả kinh tế mà các cuộc bãi công đem lại mà, trước hết, phảichú ý đến những ảnh hưởng tinh thần và chính trị của chúng (C.Mác, Chínhsách của Nga đối với Thổ Nhĩ Kỳ - C Mác-Ph.Ăngghen, Toàn tập, Toàn tập,T.9, Nxb Chính trị Quốc gia, Sự thật, Hà Nội, 1993, tr.224)
Sự phát triển của phong trào đã nảy sinh một nhu cầu tất yếu, cần cómột lý luận - một hệ thống quan điểm chính trị chỉ ra cho một giai cấp côngnhân cần phải đấu tranh như thế nào, đấu tranh vì cái gì, mục đích trước mắt
và mục tiêu lâu dài của cuộc đấu tranh đó là gì
1.2 Cuộc đấu tranh về lý luận chính trị của C Mác, Ăngghen và Lênin
1.2.1 C Mác, Ph Ăngghen và cuộc đấu tranh chống các trào lưu tư tưởng chính trị phong kiến, tư sản, tiểu tư sản núp dưới ngọn cờ CNXH
Chủ nghĩa vô chính phủ (một trong những người sáng lập chủ nghĩa vô
chính phủ là Pruđông Pie Giôdép, 1809 - 1865, nhà hoạt động chính trị tiểu tưsản, người Pháp (xem “Sự khốn cùng triết học” của C Mác trả lời cuốn “Triếthọc về sự khốn cùng của ông Pruđông”và khuynh hướng vô chính phủ củaphái Dân tuý Nga, phái phủ nhận chủ nghĩa Mác, phủ nhận chuyên chính vôsản, do Bacunin (1814 - 1876) đứng đầu):
Phản đối các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân từ bãi công đến đấutranh chính trị giành chính quyền từ tay giai cấp tư sản
Phủ nhận hoàn toàn sự cần thiết tất yếu của cuộc đấu tranh chính trị củagiai cấp vô sản
Muốn biến trật tự xã hội tư bản thành trật tự xã hội công bằng bằngviệc cải cách những quan hệ trao đổi, xoá bỏ những mâu thuẫn của trật tựTBCN, tiến tới xây dựng một trật tự xã hội mới - một xã hội bao gồm nhữngngười sản xuất hàng hóa nhỏ độc lập, liên kết với nhau bởi một hệ thống traođổi trực tiếp và công bằng
Trang 4Chủ nghĩa cộng sản không tưởng thế kỷ XIX (Vâytơlinh Vinhem, 1808
- 1871, nhà lý luận đầu tiên của Đức về CNXH không tưởng thé kỷ XIX):Chủ trương giai cấp vô sản cần tiến hành cuộc cách mạng bằng sự nổi loạn tựphát, từ đó đi tới một xã hội cộng sản chủ nghĩa công bằng "Lý trí" "bảntính", "công lý" kết hợp tôn giáo có thể dấy nên sự nổi dậy của quần chúng.Kêu gọi thực hiện chủ nghĩa cộng sản ngay lập tức
Quan điểm của Lui Bơlăng (L.Ôguýtxtơ, 1805 - 1881, một trong hai đạibiểu công nhân trong chính phủ lâm thời tư sản sau cách mạng tháng hai năm
1848 ở Pháp): Chủ trương xoá bỏ ách bóc lột TBCN bằng con đường mưuphản của một số người có tinh thần cách mạng Trong điều kiện của CNTB cóthể thực "Tổ chức lao động" và xây dựng CNXH dưới hình thức các xưởngquốc gia và các loại hội sản xuất của công nhân và thợ thủ công Ảo tưởng về
"CNXH không giai cấp"và "chính sách không giai cấp"
Mác và Ăngghen chỉ rõ những lý luận trên:
(1) "Một lý luận chưa thành thục thích ứng với một nền sản xuất TBCNchưa thành thục, với những quan hệ giai cấp chưa thành thục”
(2) “Phương pháp giải quyết những vấn đề xã hội còn bị che dấu trongquan hệ kinh tế chưa phát triển, cho nên nó chỉ có thể phát minh, sáng tạo ra
bằng cái đầu" (Cả 2 ý trên xem: C.Mác-Ph.Ăngghen, Tuyển tập, Tập I, II, Sự
thật, Hà Nội, 1971, tr.145)
(3) Những quan điểm phản ánh nguyện vọng của giai cấp vô sản cònchưa phát triển Lý luận trên chưa có mối quan hệ chặt chẽ với giai cấp côngnhân và phong trào công nhân
(4) Mới thấy sự cần thiêt phải xoá bỏ bất bình đẳng, nhưng chưa biếtphải làm thế nào Không hiểu vai trò, sứ mệnh lịch sủ của giai cấp vô sản Cáctrào lưu tư tưởng trên thực chất là phủ nhận đấu tranh giai cấp của giai cấp vôsản, phủ nhận sự cần thiết phải có Đảng cộng sản
(5) Mác và Ăngghen phê phán toàn diện những quan điểm triết học,quan điểm kinh tế và những kết luận chính trị rút ra từ những quan niệm trên
và chứng minh rằng trong cuộc đấu tranh chống tư bản, giai cấp vô sản phảiđược tổ chức lại thành một giai cấp độc lập và phải tiến hành cuộc đấu tranhchính trị chống lại giai cấp tư sản
Các giai đoạn hình thành hệ thống tư tưởng lý luận chính trị của Mác,Ăngghen qua ba giai đoạn, (1) từ trẻ đến 1848 - giai đoạn hình thành, (2) từ
Trang 51848 đến 1871 Công xã Pari giai đoạn phát triển, (3) từ 1871 đến cuối đời giai đoạn có những bổ sung và phát trển
-1.2.2 V.I Lênin và cuộc đấu tranh bảo vệ, phát triển tư tưởng chính trị của chủ nghĩa Mác
(1) V.I.Lênin (1870-1924) đã bảo vệ thành công chủ nghĩa Mác, chủ
nghĩa xã hội khoa học trước những xuyên tạc, những sự phản bội của chủ
nghĩa xét lại và chủ nghĩa cơ hội đủ mọi loại trong thời kỳ CNTB tự do cạnh
tranh đã chuyển sang CNTB độc quyền lũng đoạn nhà nước và CNĐQ vàocuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và là thời kỳ của cách mạng vô sản:
Phê phán và vạch trần những mưu toan tầm thường hóa chủ nghĩa Mác,
làm mất đi sinh khí khoa học và ý nghĩa cách mạng của chủ nghĩa Mác bởi
quan niệm giáo điều, chủ nghĩa kinh nghiệm, tính thực dụng thiển cận, tính phô trương hình thức
(2) Lênin là người đầu tiên, đã từ lý luận khoa học mác - xít tiến hànhthành công cuộc Cách mạng tháng Mười và xây dựng nhà nước XHCN đầutiên trên thế giới - mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử nhân loại
(3) Lênin là người đã khai phá và thể nghiệm lý thuyết "phát triển rútngắn" tới CNXH trong thực tiễn, là tác giả của "chính sách kinh tế mới"thaythế "quá độ trực tiếp" sang "quá độ gián tiếp" tới CNXH phù hợp với hoàncảnh và trình độ của các nước chưa phát triển Xác định việc chuyển nhiệm
vụ trọng tâm chuyển từ đấu tranh lật đổ sang đấu tranh xây dựng, mà trọngtâm là phát triển kinh tế - chính trị có nghĩa là biểu tập trung của kinh tế Pháttriêrn kinh tế, nâng cao năng suất lao động là cái quyết định thắng lợi của chế
độ chính trị XHCN
(4) Lênin là một nhà cách tân vĩ đại đầu tiên trong lịch sử CHXH hiệnthực, là một kiểu mẫu về nhận thức, vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác mộtcách khoa học và cách mạng, đặc biệt là về mặt chính trị
(5) Những tư tưởng, quan niệm, những sự phân tích và bình luận của
Lênin về chính trị bao quát trên hai phương diện của cùng một vấn đề Đó
chính là cuộc đấu tranh giai cấp, tiến hành cách mạng chính trị để giành quyền lực về tay giai cấp công nhân và việc giai cấp công nhân cùng với quần chúng lao động đấu tranh để giữ vững và thực thi quyền lực của mình trong quá trình xây dựng CNXH.
Trang 6Tư tưởng chính trị của Lênin có một giá trị và ý nghĩa đặc biệt cả về haiphương diện lôgíc và lịch sử, bởi nó gắn liền với cách mạng tháng Mười, vớiCNXH hiện thực, với thời đại lịch sử mới, với xu hướng và triển vọng củabước quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN mà các dân tộc đang lựa chọnnhư một tất yếu lịch sử.
2 TƯ TƯỞNG MÁC - LÊNIN VỀ CHÍNH TRỊ VÀ CHÍNH TRỊ TƯ SẢN 2.1 Quan niệm của Mác - Lênin về chính trị
Chính trị, tiếng Hy lạp là politika, có nguồn gốc từ chữ polis, có nghĩa lànhà nước, thành bang Chính trị là việc giải quyết trực tiếp hoặc gián tiếp nhữngvấn đề có liên quan đến lợi ích của các giai cấp, tầng lớp hoặc nhóm xã hội
Từ thời cổ đại nhiều nhà tư tưởng lớn ở cả phương Đông và phươngTây đã để tâm suy nghĩ và trăn trở về chính trị, cố gắng làm sáng tỏ bản chấtcủa nó Từ thực tế lịch sử, người cổ đại giải thích các hiện tượng chính trị mộtcách lý tưởng hóa về những hình thức, tổ chức chính trị một cách hoàn thiện
và cân đối Chính trị là lĩnh vực hoạt động nhằm định hướng việc điều hànhcác hoạt động phức tạp của quốc gia, chính trị là cai trị
Trong đêm trường trung cổ khi thần quyền câu kết với thế quyền thốngtrị xã hội, thì chính trị được coi là lãnh địa riêng của giáo hội và tầng lớp quítộc phong kiến Người ta đã giải thích chính trị dưới các lớp vỏ bọc của tôngiáo trừu tượng và phi lịch sử Tham gia vào các hoạt động chính trị, chỉ có thể
là những người giàu có, giới thượng lưu và tinh hoa trong xã hội Nhân dânlao động không thể tham gia vào các công việc chính trị, công việc nhà nước
Sự phân chia xã hội thành các tầng lớp, giai cấp, đẳng cấp giàu nghèo là do ýChúa Nhà nước không gì khác hơn là sản phẩm của sự sáng tạo của đấng Tốicao
Đến thời đại Phục Hưng và Ánh Sáng (các thế kỷ XVII - XVIII) thếquyền - quyền lực thế tục được giải phóng khỏi thần quyền Theo đó, Nhànước - nội dung chủ yếu của chính trị - được coi là sản phẩm do chính conngười tạo nên thông qua các khế ước xã hội Giai cấp tư sản, một mặt, đề caochính trị trừu tượng như là sự tham gia của tất cả mọi người vào các hoạtđộng chính trị; mặt khác, lại ra sức đề cao và chiếm đoạn bằng được quyềnđộc tôn giải quyết các vấn đề chính trị Theo đó, chỉ giai cấp tư sản mới có đủ
Trang 7năng lực và phẩm chất giải quyết các vấn đề chính trị Nhân dân lao động,trên thực tế, vẫn đứng ngoài các sinh hoạt chính trị
Chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời đưa lại cách đánh giá khoa học về chính trị:
Trên thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử cũng nhưnhững kinh nghiệm lịch sử của Công xã Pari và Cách mạng tháng Mười Nga,
đã lý giải một cách khoa học nguồn gốc và bản chất chính trị và nhà nướctrong mối quan hệ biện chứng với quá trình phát triển của xã hội
Sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự xuất hiện chế độ tư hữu vàphân hóa giai cấp cuối thời đại nguyên thủy đã làm cho nhà nước xuất hiện.Nhà nước - sản phẩm của những mâu thuẫn xã hội không thể điều hòa - vừavừa thực hiện quyền lực công cộng nhằm duy trì xã hội trong vòng trật tự,vừa là công cụ thực hiện chức năng giai cấp (khống chế đối kháng giai cấp)
Chính trị, về bản chất, là các quan hệ giai cấp, là sự tham gia vào cáccông việc của nhà nước, vào việc quy định những hình thức, nhiệm vụ và nộidung của hoạt động nhà nước
Nội dung của chính trị thể hiện ở chế độ chính trị - xã hội, nhà nước,quản lý xã hội, giai cấp và đấu tranh giai cấp, quan hệ quốc gia - dân tộc vàquốc tế
Cuộc đấu tranh vì quyền lực chính trị giữa các giai cấp đối kháng tạonên cốt lõi của chính trị Sự phát triển đa dạng và phức tạp của đời sống xãhội đã dẫn đến việc hình thành kiến trúc thượng tầng và làm xuất hiện cácthiết chế chính trị như nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội khác
Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp trong việc giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước Chính trị còn là việc giải quyết các mối quan hệ về lợi ích giữa các quốc gia dân tộc
Chính trị là vấn đề của xã hội từ khi có giai cấp đến khi còn giai cấp.Chính trị là hình thức đặc biệt và đặc trưng của hoạt động xã hội có giai cấp.Nhu cầu về lợi ích của các giai cấp, tầng lớp xã hội là cái quy định nội dungcủa các lợi ích chính trị
Mác - Lênin đã nội dung giai cấp và đấu tranh vào phạm trù chính trị
Chính trị là một phạm trù lịch sử:
Trang 8Sự xuất hiện và tiêu vong của chính trị là một hiện tượng lịch sử Tronglịch sử đã có một thời kỳ không có chính trị (trạng thái tiền chính trị) khi xãhội chưa có giai cấp, nhà nước Tương lai, khi xã hội không còn giai cấp vànhà nước thì không còn chính trị.
Các xã hội có giai cấp và nhà nước gắn chặt với chính trị, có chính trị.Các xã hội không có giai cấp thì không có và không còn chính trị
Chính trị, nhà nước của giai cấp vô sản là tự tiêu vong
Chính trị có quan hệ với:
Tư tưởng và hệ tư tưởng của một giai cấp nhất định - giai cấp thống trị.Truyền thống lịch sử, văn hoá, đặc điểm dân tộc, tôn giáo, dân tộc vàthời đại
2.2 Quan niệm Mác - Lênin về chính trị và nhà nước tư sản
(1) Nhà nước (trong đó có nhà nước tư sản) về bản chất là công cụthống trị xã hội của một giai cấp, là "một bộ máy của một giai cấp này dùng
để trấn áp một giai cấp khác, điều đó, trong chế độ cộng hòa dân chủ cũnghoàn toàn giống như trong chế độ quân chủ” (C.Mác và Ph Ăngghen Toàntập, tập 22 Nxb CTQG-ST H 1995 Tr 290-291)
(2) Việc xác định bản chất giai cấp của chính trị và nhà nước có ý nghĩachống lại các quan điểm duy tâm, tôn giáo về chính trị và nhà nước như là sựthống trị trừu tượng hay nhà nước trừu tượng của đa số; chống lại các quanđiểm tư sản về nhà nước siêu giai cấp, nhà nước thịnh vượng chung, phúc lợichung v.v
(3) Lý luận mác-xít đã chỉ ra các mặt tiến bộ, hạn chế và cải tạo có phêphán các quan điểm tư sản, duy tâm về nhà nước và pháp quyền C Mác làngười đã phê phán tính vô căn cứ của triết học pháp quyền của Hêghen trongviệc bào chữa, tán dương Nhà nước quân chủ Phổ như là sự thể hiện bản chấtcủa nhà nước nói chung và sự phát triển cao nhất của xã hội, coi nhà nước là
cơ thể đạo đức tối cao và xã hội công dân là sự tự tha hóa của nhà nước
Theo Người, “Nền cộng hòa đã trần tục hóa những cái mà các nền quânchủ kia đã thần thánh hóa Nó đã bỏ những danh hiệu thần thánh của nhữnglợi ích của giai cấp thống trị, mà thay chúng bằng những danh hiệu riêng, tưsản” (C.Mác và Ph Ăngghen Toàn tập, tập 7 Nxb CTQG-ST H 1993 Tr.108)
Trang 9(4) Từ phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, C Mác kết luận: nhànước cũng như pháp luật được hiểu không phải do chúng, cũng không phải do
sự phát triển chung của tinh thần nhân loại, mà bắt nguồn từ những điều kiệntồn tại vật chất
Xã hội loài người phân chia thành các giai cấp là theo các quan hệ kinh
tế Giai cấp nào nắm quyền lực trong kinh tế thì sẽ nắm quyền thống trị trongchính trị - nắm nhà nước và pháp quyền Muốn thay đổi được nhà nước vàpháp quyền phải thay đổi từ cac quan hệ kinh tế, trước hết là quan hệ sở hữu
Muốn chuyển nhà nước và pháp quyền tư sản thành nhà nước và phápquyền của nhân dân lao động thì phải thay đổi từ quan hệ kinh tế, trước hết làthay thế chế độ tư hữu TBCN về TLSX thành chế độ công hữu
(5) “Vậy, nhà nước quyết không phải là một quyền lực từ bên ngoài ápđặt vào xã hội Nó cũng không phải là cái “hiện thực của ý niệm đạo đức”, là
“hình ảnh và hiện thực của lý tính” như Hêghen khẳng định” (C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập, tập 21 Nxb CTQG-ST H 1995 Tr 252)
(5) Tính hiện thực của nhà nước chỉ có thể bảo đảm trước hết bằng nộidung kinh tế, vì “Quyền không bao giờ lại có thể ở một mức cao hơn chế độkinh tế và sự phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định”(C.Mác và Ph Ăngghen Toàn tập, tập 19 Nxb CTQG-ST H 1995 Tr 36)
(6) Trong chế độ tư bản, về lý thuyết, pháp luật quy định và bảo vệquyền tự do và dân chủ đối với công dân, nhưng trên thực tế chỉ có một bộphận công dân tức giai cấp tư sản mới có các điều kiện thực hiện Bởi vì “Giaicấp đó giải phóng toàn thể xã hội, nhưng chỉ trong trường hợp giả định rằngtoàn thể xã hội cũng ở trong địa vị của giai cấp đó, nghĩa là phải có tiền vàhọc thức chẳng hạn, hoặc có thể kiếm được tiền và học thức theo ý muốn”(C.Mác và Ph Ăngghen Toàn tập, tập 1 Nxb CTQG-ST H.1995.Tr 584)
Lý luận mác-xít trong khi nhấn mạnh bản chất giai cấp vẫn đề cao chứcnăng xã hội của nhà nước.“Chức năng xã hội là cơ sở của sự thống trị chínhtrị, và sự thống trị chính trị cũng chỉ kéo dài chừng nào nó còn thực hiện chứcnăng xã hội đó của nó” (C.Mác và Ph Ăngghen Toàn tập, tập 20 Nxb CTQG-
ST H 1994 Tr 253)
(7) Lý luận mác-xít phê phán quan điểm tư sản cho rằng pháp luật làcái áp đặt từ bên ngoài và từ bên trên vào xã hội; pháp luật thực định do nhà
Trang 10nước đưa ra là bản sao của pháp luật tự nhiên Nó khẳng định pháp luật là ýchí của giai cấp thống trị, mà nội dung của nó do những điều kiện sinh hoạtvật chất của giai cấp ấy quy định “Pháp luật phải lấy xã hội làm cơ sở, phápluật phải là sự biểu hiện của lợi ích và nhu cầu chung của xã hội do mộtphương thức sản xuất vật chất nhất định sản sinh ra, mà không phải là do ýmuốn tùy tiện của một cá nhân” (C.Mác và Ph Ăngghen Toàn tập, tập 6 NxbCTQG-ST H 1993 Tr 332-333)
Pháp luật chỉ là việc nói lên hay ghi lại quyền lực của các mối quan hệkinh tế Chế độ kinh tế qui định tính chất và hình thức của hệ thống pháp luật.Với quan niệm này, nhận thức duy tâm siêu hình về pháp luật đã được khắc phụctriệt để Các quan hệ kinh tế và xã hội sản sinh ra các quan hệ pháp lý, chứkhông phải ngược lại như quan niệm tư sản Pháp luật là hiện tượng xã hộiđồng thời xuất hiện cùng với nhà nước đáp ứng yêu cầu quản lý của xã hội.Quan niệm này là một bước tiến so với quan niệm cho rằng pháp luật có trướcnhà nước
Cần phải đặt nhà nước dưới pháp luật, theo Ph Ăngghen, thì mới ngănngừa được sự chuyển hóa của nhà nước "từ chỗ là công bộc của xã hội thànhông chủ đứng trên đầu xã hội” ( V.I Lênin - Toàn tập, tập 33 Nxb Tiến Bộ,Matxcơva 1976 Tr 95) “Tự do là ở chỗ biến nhà nước, cơ quan tối cao vào
xã hội, thành một cơ quan hoàn toàn phụ thuộc vào xã hội” (C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập, tập 19 Nxb CTQG-ST H 1995 Tr 46)
(8) Chỉ ra thực chất của:
Dân chủ tư sản, bầu cử tư sản, nghị viện tư sản
- Nhà nước tư sản, tam quyền phân lập trong nhà nước tư sản
- Chính trị tư sản
(9) Khẳng định CNTB, nền chính trị tư sản tất yếu diệt vong, CNXH,chính trị XHCN tất yếu thay thế CNTB
3 TƯ TƯỞNG MÁC - LÊNIN VỀ CHÍNH TRỊ VÔ SẢN
3.1 Tư tưởng về đấu tranh giành quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước của giai cấp vô sản
Mục tiêu: Mác cùng với Ăngghen và sau này là Lênin xây dựng nên cả một hệ thống khoa học vạch ra một thời đại mới trong lịch sử nhận thức và hoạt động giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng nhân loại, giải phóng
Trang 11con người trong cuộc đấu tranh chống tư bản, giai cấp vô sản phải được tổ
chức lại thành một giai cấp độc lập và phải tiến hành cuộc đấu tranh chính trịchống lại giai cấp tư sản
Giải phóng lực lượng sản xuất bao hàm nội dung giải phóng con ngườitrong lực lượng sản xuất đó, đại diện cho lực lượng sản xuất đó và cũng cónghĩa là giải phóng cho số đông, cho nhân dân lao động
Giải phóng lực lượng sản xuất tạo ra sự phát triển, và phát triển vì đa sốcon người (nhân dân lao động) là thực chất tư tưởng của các tác giả kinh điểnmác-xít về cách mạng xã hội của giai cấp vô sản
Xuất phát điểm và mục đích đấu tranh chính trị của giai cấp vô sản giảiphóng nhân loại cần lao bị áp bức, bóc lột và nô dịch Tư tưởng chính trị Mác
- Lênin vạch ra tất yếu lịch sử và vận dụng tất yếu đó để giải phóng nhân loạitrong hiện thực
Lý luận của Mác là lý luận về sự phát triển và phát triển vì con người.Không thấy con người đâu cả trong chủ nghĩa Mác là cách hiểu sai hoặcxuyên tạc tư tưởng của Mác về xã hội
Con đường:
(1) Trước hết, giai cấp vô sản phải trở thành giai cấp - dân tộc, phảigiành lấy dân chủ, phải giành lấy quyền lực nhà nước
Đấu tranh chính trị - đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và giai cấp
tư sản tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản Thừa nhận tất yếu này là hòn đáthử vàng của chủ nghĩa Mác - Lê nin
Đấu tranh kinh tế (tự phát) - hình thức thấp của đấu tranh giai cấp (tuyrất cần thiết) nhưng phải dẫn đến đấu tranh chính trị (tự giác) - hình thức caocủa đấu tranh giai cấp
Khi loại hình quan hệ kinh tế thống trị không còn phù hợp, cản trở sựphát triển của lực lượng sản xuất thì một thời kỳ cách mạng xã hội, mà trướchết là cách mạng chính trị bắt đầu
Chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội
(2) Dùng quyền lực chính trị để từng bước đoạt lấy quyền lực kinh tế
Sử dụng quyền lực nhà nước tác động đến việc thay đổi, xây dựng nhữngquan hệ kinh tế mới hướng vào giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất
Trang 12Tất yếu của vận động lịch sử, trước hết là tính tất yếu kinh tế dẫn đếnđấu tranh chính trị, chống lại sự thống trị của quan hệ tư bản, giành lấy quyềnlực nhà nước về tay những người đại diện cho lực lượng sản xuất, tức giai cấp
vô sản cùng với toàn thể nhân dân lao động
Chế độ chính trị nào ưu việt hơn, trước hết nó phải tạo ra năng suất laođộng cao hơn chế độ xã hội mà nó vượt qua
Lực lượng của cách mạng vô sản:
Giai cấp vô sản có sứ mệnh lịch sử lật đổ CNTB và xây dựng CNXH
và CNCS
Giai cấp vô sản phải trưởng thành từ giai cấp kinh tế thành giai cấpchính trị Giai cấp công nhân tự phát phải trở thành giai cấp công nhân cáchmạng Giai cấp công nhân tự phát chỉ dẫn đến chủ nghĩa công đoàn (chủnghĩa công liên - Lênin) Giai cấp vô sản phải được trang bị, được giác ngộbởi lý luận cách mạng - CNXH khoa học (Xem “Làm gì?” của Lênin)
Giai cấp vô sản phải tổ chức được chính đảng của giai cấp mình trên cơ
sở những nguyên tắc của CNXH khoa học
Liên minh công - nông và vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân
Phương thức và nghệ thuật giành chính quyền của giai cấp vô sản:
Tình thế và thời cơ chính trị, phương pháp giành chính quyền chínmuồi dần (do quy luật khách quan chi phối và vai trò của nhân tố chủ quan,tranh thủ thời gian, thời cơ giành chính quyền)
Với hai phương thức bạo lực (chính trị, quân sự) và hoà bình (mới cónhững mầm mống) Trong đó, bạo lực là bà đỡ cho mọi xã hội mới đang đượcthai nghén trong lòng xã hội cũ Không tuyệt đối hoá một khả năng nào Mỗithời đại nổi lên những khả năng khác nhau
Nghệ thuật thoả hiệp, thoả hiệp, theo nghĩa hẹp, là liên quan đến đấutranh giành quyền lực giữa các lực lượng đối kháng nhau (chính trị) Thoảhiệp, theo nghĩa rộng, là nhân nhượng, chờ đợi trong nội bộ của những người
có chung lợi ích (xã hội)
Thoả hiệp là một yêu cầu khách quan, do tương quan lực lượng chínhtrị, tương quan lực lượng giai cấp quyết định Thoả hiệp thể hiện phương
Trang 13pháp luận biện chứng mác xít, phân tích cụ thể một thình hình cụ thể Thoảhiệp do tính phức tạp của chính trị quy định, do nội dung của chính trị (kháiniệm chính trị mác xít) quy định
Thoả hiệp, chủ yếu, được xem xét trong cách mạng giành chính quyền cách mạng chính trị Thoả hiệp còn diễn ra trong quá trình xây dựng xã hộimới Chính sách kinh tế mới của Lênin thể hiện sự thoả hiệp giữa giai cấpcông nhân (đảng, nhà nước) với các tầng lớp, giai cấp tiểu nông, tiểu thương,trong đó có mang lại lợi ích cho cả công nhân, nông dân và tiểu thương, phục
-vụ CNXH Từ bỏ con đường quá độ trực tiếp (chính sách cộng sản thời chiến)
đẻ chuyển sang quá độ gián tiếp lên CNXH
Thoả hiệp trong đối kháng giai cấp và không đối kháng giai cấp - trongnội bộ một công đồng dân tộc, nội bộ xã hội
Thoả hiệp là hình thái cụ thể của khoa học và nghệ thuật chính trị Tínhkhoa học khoa học thể hiện ở lôgic, ở quy luật của chính trị, ở chiến lược cáchmạng - là cái bất biến Tính nghệ thuật thể hiện ở sách lược, sự khôn khéo,mềm dẻo, linh hoạt - là cái vạn biến
Thoả hiệp là sự chấp nhận những giải pháp đau đớn trong khi giảiquyết những nhiệm vụ to lớn và phức tạp của chính trị
Thoả hiệp có hai loại lâu dài và tạm thời Cả hai loại thoả hiệp này đòihỏi không bao giờ được hy sinh lợi ích cơ bản, mục tiêu lý tưởng của cáchmạng (Thực tế cải tổ ở Liên xô, Đông Âu là bài học phản diện nổi bật)
Thoả hiệp có nguyên tắc là thoả hiệp không từ bỏ lợi ích căn bản, lâudài Thoả hiệp chỉ là sự nhượng bộ cho kẻ thù một cái gì đó - lợi ích tạm thời,cục bộ, không căn bản Thoả hiệp khi lực lương cách mạng còn non yếu nhằmtạo, tranh thủ thời gian tập hợp, xây dựng lực lượng cách mạng Người cáchmạng giữ thế chủ động Thể hiện tính quyết đoán, thận trọng Nắm vững vàchớp thời cơ
Thoả hiệp vô nguyên tắc là từ bỏ, bán rẻ hoặc xâm phạm cơ bản lợi íchcăn bản, phản bội mục tiêu lý tưởng (cố ý hay vô tình): làm tan rã lực lượngcách mạng (kể cả Đảng), làm tổn hại niềm tin của quần chúng, đồng loã với
kẻ thù