SÔNG HỒNG VỚI HÀ NỘI TIẾP CẬN TỪ CÁCH NHÌN TỔNG QUAN ĐẾN VIỆC QUY HOẠCH HỢP LÝ (BÁO CÁO KHOA HỌC)SÔNG HỒNG VỚI HÀ NỘI TIẾP CẬN TỪ CÁCH NHÌN TỔNG QUAN ĐẾN VIỆC QUY HOẠCH HỢP LÝ (BÁO CÁO KHOA HỌC)SÔNG HỒNG VỚI HÀ NỘI TIẾP CẬN TỪ CÁCH NHÌN TỔNG QUAN ĐẾN VIỆC QUY HOẠCH HỢP LÝ (BÁO CÁO KHOA HỌC)SÔNG HỒNG VỚI HÀ NỘI TIẾP CẬN TỪ CÁCH NHÌN TỔNG QUAN ĐẾN VIỆC QUY HOẠCH HỢP LÝ (BÁO CÁO KHOA HỌC)SÔNG HỒNG VỚI HÀ NỘI TIẾP CẬN TỪ CÁCH NHÌN TỔNG QUAN ĐẾN VIỆC QUY HOẠCH HỢP LÝ (BÁO CÁO KHOA HỌC)SÔNG HỒNG VỚI HÀ NỘI TIẾP CẬN TỪ CÁCH NHÌN TỔNG QUAN ĐẾN VIỆC QUY HOẠCH HỢP LÝ (BÁO CÁO KHOA HỌC)SÔNG HỒNG VỚI HÀ NỘI TIẾP CẬN TỪ CÁCH NHÌN TỔNG QUAN ĐẾN VIỆC QUY HOẠCH HỢP LÝ (BÁO CÁO KHOA HỌC)SÔNG HỒNG VỚI HÀ NỘI TIẾP CẬN TỪ CÁCH NHÌN TỔNG QUAN ĐẾN VIỆC QUY HOẠCH HỢP LÝ (BÁO CÁO KHOA HỌC)SÔNG HỒNG VỚI HÀ NỘI TIẾP CẬN TỪ CÁCH NHÌN TỔNG QUAN ĐẾN VIỆC QUY HOẠCH HỢP LÝ (BÁO CÁO KHOA HỌC)SÔNG HỒNG VỚI HÀ NỘI TIẾP CẬN TỪ CÁCH NHÌN TỔNG QUAN ĐẾN VIỆC QUY HOẠCH HỢP LÝ (BÁO CÁO KHOA HỌC)
Trang 1SÔNG HỒNG VỚI HÀ NỘI TIẾP CẬN TỪ CÁCH NHÌN
TỔNG QUAN ĐẾN VIỆC QUY HOẠCH HỢP LÝ
Sinh viên: Lê Thị Hồng Phượng
Phạm Thị Tám Hương Nguyễn Thị Ngọc Anh
K54 Địa lý
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Trong những năm gần đây, khi con người ngày càng có ý muốn khai thác và can thiệp sâu hơn vào dòng chảy tự nhiên của sông Hồng thì những vấn đề cấp thiết liên quan đến
sự phát triển bền vững của cả khu vực đồng bằng Bắc Bộ và đặc biệt là khu vực Hà Nội nơi đoạn sông Hồng chảy qua càng trở nên cần kíp hơn bao giờ hết
II MỤC TIÊU:
- Phân tích được những ưu điểm và hạn chế của sông Hồng dựa trên cái nhìn tổng quan
về không gian và thời gian địa lý của con sông
- Từ những phân tích đó đưa ra định hướng sử dụng hợp lý các ưu điểm và khắc phục các hạn chế phục vụ cho sự phát triển bền vững của khu vực đồng bằng châu thổ Bắc Bộ
- Tiếp cận chi tiết đoạn sông Hồng qua khu vực Hà Nội, phân tích tính khả thi của các dự
án về quy hoạch hai bên bờ sông Hồng dựa trên cơ sở địa lý tổng quan, phát triển lâu dài
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Tìm kiếm tài liệu tham khảo, các công trình nghiên cứu liên quan đến sông Hồng, đồng bằng châu thổ Bắc Bộ và khu vực Hà Nội với những dự án quy hoạch ven sông
- Có thể kết hợp đi khảo sát thực địa để có tư liệu rõ hơn về đặc điểm địa chất, địa mạo của con sông
Trang 2…
IV SÔNG HỒNG - MỘT CÁCH NHÌN TỔNG THỂ:
1 Khái quát về lưu vực sông Hồng:
Lưu vực: Sông Hồng bắt nguồn từ cao nguyên bazan thuộc huyện Nguy
Sơn-Vân Nam-Trung Quốc ở độ cao 1776m, chảy qua Lào và Việt Nam với tổng diện tích tự nhiên khoảng 169.000km2 Phần lưu vực nằm ở VN chiếm diện tích lớn nhất khoảng 51,3% (87.840 km2) với chiều dài khoảng 328km, phần lưu vực nằm
ở TQ chiếm 48% và phần qua Lào là 0,7% Đây là con sông lớn thứ 2 (sau sông Mêkong) chảy qua VN đổ ra biển Đông Sông Hồng được hình thành từ 3 nhánh sông chính là sông Đà, sông Lô, sông Thao.phần hạ lưu có sông Thái Bình cũng được hình thành từ 3 nhánh sông lớn là sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam Hai hệ thống sông này được nối với nhau bằng sông Đuống và sông Luộc tạo thành lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình
Lưu vực sông dốc chung theo hướng TB-ĐN, địa hình phần lớn là đồi núi, chia cắt mạnh, khoảng 70% diện tích ở độ cao trên 500m, độ cao bình quân lưu vực khoảng 1090m về mặt hình thái có thể chia lưu vực sông Hồng – Thái Bình thành những khu vực chính:
Vùng thượng lưu và trung lưu: khoảng 55% diện tích lưu vực sông Hồng có cao
trình trên 1000m đối với lãnh thổ VN,gồm các dãy núi và cao nguyên là chính.Các dãy núi đều có độ cao thấp dần từ B xuống N &từ T sang Đ khiến cho lưu vực có
độ dốc chung theo hướng TB – ĐN Phía tây được giới hạn bởi các dãy núi cao trên 1800m ở biên giới V-Lào: đỉnh Pusilung (3076m), đỉnh Pudendinh (1886m), đỉnh Pusansao (1877m) Phía đông được giới hạn bởi cánh cung Ngân Sơn – Yên Lạc với những đỉnh cao trên 1500m Các cao nguyên có thể kể đến như cao nguyên Sơn La, Mộc Châu, Bắc Hà, Đồng Văn độ cao trung bình lưu vực sông ngòi ở đây lớn:sông Đà 965m, sông Lô 884m, sông Thao: 547m, sông Lục Nam 207m độ
Trang 3chia cắt sâu lớn dẫn đến độ dốc bình quân lưu vực lớn phổ biến ở mức 10% - 15% , trong đó sông Lô có độ dốc lưu vực lớn nhất (1,8m/km), tiếp đến sông Đà (1,5m/km), sông Thao, sông Thương, sông Cầu, sông Lục Nam
Vùng hạ lưu: hạ lưu sông Hồng kết hợp với hạ lưu sông Thái Bình đã tạo thành
đồng bằng sông Hồng-Thái Bình (hay còn gọi là đồng bằng châu thổ Bắc Bộ) được tính từ Việt Trì đến cửa sông chiếm hơn 70% diện tích toàn lưu vực có độ cao từ 0,4-9m Vùng đồng bằng này được phù sa của 2 hệ thống sông trên bồi đắp, địa hình bằng phẳng, hơi nghiêng ra phía biển theo hướng TB-ĐN Trong vùng có đến 58,4% diện tích có cao trình mặt đất thấp hơn 2m, ở độ cao này hoàn toàn bị ảnh hưởng bở thủy triều nếu không có hệ thống đê biển & đê cửa sông Hơn 72% diện tích có độ cao thấp hơn 3m – hoàn toàn bị ảnh hưởng bởi nước biển nếu xảy ra lũ cấp 9 vào lúc triều cường Các tỉnh : HP, TB, NĐ, HNam, NB có trên 80% diện tích có cao trình thấp hơn 2m Dọc theo các con sông có đê bao bọc nên đồng bằng
bị chia cắt thành những vùng trũng và các vùng đất ngoài đê do thường xuyên được phù sa bồi đắp nên có độ cao cao hơn trong đê từ 3-5m, vùng cửa sông giáp biển có nhiều cồn cát và bãi phù sa
Về địa chất: thì lưu vực này được xác định là có quá trình phát triển địa chất lâu
dài và mạnh mẽ theo các tài liệu nghiên cứu cho biết địa tầng đoạn sông chủ yếu gồm chủ yếu 2 loại:(1)trầm tích lòng sông :các tầng hạt thô màu vàng nhạt, lớp thực vật chưa phân hóa hết, phía trên có lớp phù sa nông; (2) tầng bồi tích đồng bằng (chủ yếu là bờ của dòng sông): phần lớn là tầng đất sét cát dày 0,8-1m Địa chất được cấu tạo bởi nhiều nham thạch khác nhau:sản phẩm của núi lửa trong quá trình xâm nhập của magma, phiến trầm tích phân bố với tầng đá vôi dày hàng nghìn mét, trong đó thành phần diệp thạch và sa diệp thạch chiếm diện tích lớn Lưu vực sông Hồng-Thái Bình nằm trong miền kiến tạo lớn là Đông Bắc và miền kiến tạo Tây Bắc Bộ mà ranh giới giữa các miền là đứt gãy sông Hồng Trong lưu vực phát triển nhiều hệ thống đứt gãy lớn như hệ thống đứt gãy sông Hồng, sông
Trang 4Chảy, sông Lô, Lai Châu-Điện Biên…ngoài ra trong vùng còn phát triển hàng loạt các đứt gãy song song theo hướng TB-ĐN
Về thủy văn: dòng chảy trên lưu vực sông Hồng-Thái Bình được hình thành từ
mưa và khá dồi dào Tổng lượng dòng chảy đạt 135 tỷ m3 trong đó 61,1% lượng dòng chảy sinh sản tại VN (82,54 tỷ m3), còn lại là sinh sản trên lãnh thổ TQ Tuy nhiên do địa hình chia cắt và yếu tố thời gian nên lượng mưa phân bố không đều trên từng phần của lưu vực và theo thời gian Trong 3 nhánh lớn của sông Hồng thì sông Đà có lượng dòng chảy lớn nhất (khoảng 42%), sông Thao có diện tích lưu vực xấp xỉ sông Đà lại có lượng dòng chảy nhỏ nhất( 19%), trong khi sông Lô có diện tích lưu vực nhỏ nhất lại có lượng dòng chảy đáng kể đứng thứ 2 sau sông Đà Lưu lượng nước thay đổi cũng khá lớn: năm nhiều nước nhất so với năm ít nước nhất gấp 1,7 đến 2,2 lần ở sông Hồng; ở sông Thái Bình thì từ 3 đến 4,6 lần
Quan tâm hơn đến chế độ nước lũ của sông Hồng thì nước lũ sông Hồng mang tính chất lũ của sông miền núi, lên xuống nhanh, biên độ lớn Lũ trên lưu vực do nhiều yếu tố gây nên: do mưa nhiệt đới, loại hình khí hậu khí hậu (áp thấp, front, dải hội tụ nhiệt đới, bão…) Trong mùa lũ khi trên 1 sông trong hệ thống sông có
lũ thì các sông kia cũng có lũ song thường khác nhau về quy mô và thời gian xuất hiện đỉnh lũ Do chế độ mưa trên lưu vực biến đổi cả về không gian và thời gian nên lũ trên hệ thống sông cũng có tính chất phân kỳ rõ rệt: thường là từ tháng 6 đến tháng 10, mùa lũ lớn thường vào tháng 8 (45% số năm có lũ lớn vào tháng 8) và những trận lũ đặc biệt đã xẩy ra toàn vào tháng 8 như trận lũ lịch sử năm 1969, năm 1971 Cường xuất lũ cũng lên khá nhanh: ở sông Đà 5-7m/ngày, ở hạ lưu sông:0,5-1,5m/ngày, ở thượng du sông Thái Bình có thể đạt tới 1-2m/giờ Biên độ mực nước lớn: lên 10m đối với sông lớn, đặc biệt lên 31,1m ở Lai Châu (s.Đà),13,1m ở HN (s.Hồng)…
Trang 5Một dạng dòng chảy nữa cũng cần quan tâm đó là dòng chảy rắn (phù sa) Lượng phù sa của hệ thống sông Hồng-Thái Bình rất lớn: 114-115.106 tân/năm (số liệu đoạn sông Hồng qua Sơn Tây năm 1958-1990) gấp 5 lần so với lượng phù sa sông Meekong, trong đó lượng phù sa của sông Đà chiếm 46,5%, sông Thao chiếm 33,5 %, sông Lô chiếm 9,9 % còn lại là các lưu vực sông khác Lượng phu
sa tập trung vào mùa lũ là chính (chiếm 90%), độ đục lớn nhất của sông vào mùa
lũ có thể lên trên 10kg/m3 Phù sa sông Hồng rất màu mỡ chứa nhiều vôi và bazo
2 Sông hồng với Hà Nội:
Sông Hồng chảy trong miền đồng bằng châu thổ độ dốc không cao theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, đường chảy lại không thẳng như ở Thượng lưu, mà lại ngoằn ngoèo uốn khúc Hai bên bờ, chỗ uốn khúc,vào mùa nước về nước chảy xiết xói vào một bên bờ cuốn trôi theo đất cát, nhưng để lại đọng cát phù sa bên
bờ đối diện gây hiện tượng bờ bên lở bên bồi Như thế, lòng sông từng thời kỳ lại
có sự thay đổi, bãi cát mới nổi lên ở bên này bị chuyển sang bờ bên kia, hoặc
những bãi cát mới nổi lên ở giữa dòng sông, mấy năm sau lại không thấy nữa
Trang 6 Khúc sông Hồng qua Hà Nội cũng có hiện tượng như thế, thí dụ như ở thượng lưu và hạ lưu đoạn sông chảy qua khu vực nội thành Chỗ phía Bắc nay là bãi An Dương - Phúc Xá chỉ trong một thế kỷ tình hình lòng sông đã có nhiều biến động Cuối thế kỷ 18, thuyền chở đá vào được sát chân đê cung cấp đá cho các lò nung vôi Thạch Khối Sang nửa đầu thế kỷ sau bãi cát đã ngăn lối thuyền chở nguyên liệu nung vôi vào chân đê
1929 - Do dự can thiệp của con người, dòng chảy chính của sông Hồng uốn
theo hướng Đông Nam, khiến chỉ có bên Gia Lâm là bị xói mòn và ở bên bờ sông phía Hà Nội thì bị cát bồi dần Năm 1920 trở đi bãi cát ngoài đê dọc bờ sông coi như ổn định An Dương – Phúc Xá là một bãi cát rộng, dài đến chân cầu Long Biên Bãi Giữa đã tách rời với bãi An Dương - Nghĩa Dũng Con lạch cũ thành một dòng chảy phụ của sông Hồng và có tên là Sông Trong Phía dưới Đồn Thuỷ do dòng Sông đi lệch về phía Đông nên bãi cát được bồi thêm, dần rộng ra
1943 -Bờ sông Hồng bên phía Hà nội tạm ổn định, cát bồi hàng năm
1985 – Sau 42 năm khu đất bãi phía Hà Nội ngày càng bồi đắp dài và rộng ra
Nhiều công trình được xây dựng trên khu đất ngoài đê suốt từ Chèm đến bến Phà Đen kể cả Bãi Giữa cũng thành một cụm dân cư Năm 1975, dân Bãi Giữa dời hết sang Gia Lâm…
Theo đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu, xu hướng biến đổi của sông Hồng hiện nay là quá trình xâm thực ngang, theo đó xói lở các bãi bồi cao và bồi tụ các bãi bồi thấp Dọc sông Hồng trong khu vực Hà Nội có thể chia Thành 3 đoạn chính sau:
+ Đoạn Thượng Cát - Nhật Tân dài khoảng 10km, có dòng chảy khá thẳng từ
Tây sang Đông, bãi bồi bên bờ Nam hẹp và có nơi đang diễn ra quá trình xói lở
Trang 7Các bãi khu Đại Mạch, Tầm Xã rộng khoảng 1.800m, dài từ 4-5km bị chia cắt bởi các dòng chảy nhỏ
+ Đoạn Nhật Tân - bến Phà Đen dài khoảng 10km Dòng chảy theo hướng Tây
Bắc - Đông Nam mở rộng hơn so với đoạn trên, nhiều bãi bồi ven lòng, bãi giữa bị chia cắt bởi những dòng chảy nhỏ Bãi giữa từ cầu Long Biên đến cầu Chương Dương đang có hiện tượng xói lở mạnh
+ Đoạn Phà Đen - Vạn Phúc dài 14km, dòng chảy gần theo hướng Bắc - Nam,
lòng uốn khúc gây xói lở ở Đông Dư, Bát Tràng, Duyên Hà
Trong địa phận Hà Nội, sông Đuống có lòng hẹp, mặt khác lại là nơi dẫn nước
từ sông Hồng sang sông Cầu nên hiện tại đang có xu hướng đào sâu lòng
Lún đất do khai thác nước ngầm: Khai thác nước ngầm ở Hà Nội bắt đầu từ đầu thế kỷ XX và ngày càng tăng nhanh Lún đất Thành phố được nghiên cứu từ năm 1998 với việc xây dựng 32 mốc đo lún Các kết quả cho thấy trong 6 năm (1998-2004) khai thác nước dưới đất làm lún mặt đất mạnh nhất ở khu vực Thành Công (47,32mm/năm), rồi đến Pháp Vân (23,06mm/năm), Hạ Đình (20,57mm/năm)
Trải qua bao thời kỳ lịch sử xây dựng và phát triển, cho đến nay ở Hà Nội hình Thành 2 khu vực rõ rệt được phân định bởi dòng sông Hồng Khu vực phía Bắc sông Hồng gồm các huyện: Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn, có diện tích rộng và điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho xây dựng công nghiệp và đô thị, song hiện nay kinh tế chưa phát triển, dân số ít, mật độ dân số thấp, kinh tế chưa phát triển, văn hóa - xã hội vẫn còn hạn chế Khu vực phía Nam sông Hồng (gồm 7 quận, 2 huyện) có những đặc điểm tương phản rõ rệt: diện tích bằng nửa khu vực phía Bắc, song dân số gấp hơn 2 lần, kinh tế khá phát triển, là trung tâm chính trị hành chính
Trang 8Quốc gia và trung tâm văn hóa cũng như trung tâm giao dịch quốc tế của cả nước Một trong những nguyên nhân cơ bản tạo ra khác biệt này là do dòng sông Hồng
có chế độ Thủy văn phức tạp đã ảnh hưởng đến giao thông và chi phối quan điểm xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội,an ninh quốc phòng
Để quy hoạch phát triển, mở mang đô thị về phía Bắc, hình Thành Thủ đô hai bên sông trong tương lai vài chục năm tới, việc tiên quyết là xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị (cầu qua sông, xe điện ngầm, đường sắt trên cao, hệ thống cấp thoát nước ) đòi hỏi phải nghiên cứu đầy đủ các quy luật và cơ chế biến động lòng dẫn sông Hồng làm cơ sở tin cậy để đề xuất các quy hoạch và giải pháp tối ưu nhằm khai thác sử dụng bền vững đoạn sông này Trước mắt là chỉnh trị ổn định dòng chảy, thoát lũ tốt hơn, bố trí lại các điểm dân cư ngoài đê, khai thác sử dụng hợp lý quỹ đất hai bên bờ sông theo hướng cải thiện và bảo vệ môi trường sinh thái
3 Vai trò của sông Hồng:
Hệ thống sông Hồng là tác nhân quan trọng nhất trong sự hình thành và biến đổi vùng đất Thăng Long xưa và nay Sông Hồng là một con sông lớn nhất ở miền Bắc nước ta Khi chưa có đập Thuỷ điện Hòa Bình, hàng năm nó tải ra biển khoảng
122 tỷ m3 nước và 114 triệu tấn phù sa Trải qua thời gian lâu dài, chính sông Hồng đã tạo nên một đồng bằng phù sa màu mỡ và rộng lớn cho cả Bắc Bộ nói chung và phần lớn Hà Nội nói riêng Nó còn cung cấp một lượng nước khổng lồ cho công tác thủy lợi đối với các tỉnh đồng bằng sông Hồng Nhưng từ sau khi có đập Thủy điện Hoà Bình trên sông Đà, lượng nước cũng như lượng bùn cát bị giảm
đi gần một nửa Tuy nhiên, do chế độ thuỷ văn thay đổi theo mùa: mùa mưa thừa nước gây ra lũ lụt, mùa khô ít nước gây khó khăn cho việc tưới nước phục vụ nông nghiệp Theo quy luật tự nhiên, dòng sông Hồng cũng thường xuyên thay đổi, trong đó đáng chú ý là sự phân nhánh trong quá trình hình thành và phát triển đồng bằng châu thổ của nó Ngoài ra, sau này trong quá trình khai thác, sông Hồng và
Trang 9các nhánh của nó trong phạm vi Hà Nội và các tỉnh lân cận còn có những thay đổi
do tác động của con người
4 Dự án quy hoạch thành phố hai bên sông Hồng qua thủ đô Hà Nội
Theo dự án, Hà Nội sẽ kè đê dọc theo phần sông Hồng chạy qua thành phố, với chiều dài mỗi bên sông trên 40 km, đồng thời xây dựng đường ven sông Hồng theo
đê hiện có và đê mới Hai bên bờ sông sẽ là các công trình giúp người dân tiếp cận sông, trong đó sẽ có các tuyến đường đi bộ và các bậc thang Nhờ phần đê mới kè, thành phố sẽ có thêm khoảng 2.050 ha đất phát sinh trong đó khoảng 1.500 ha sẽ dành để phát triển đô thị
Phân bố 4 khu vực đô thị ven sông Ảnh: DOHWA
Khu vực 1: từ Chèm đến cầu Thăng Long
Trang 10Khu vực 2: từ cầu Thăng Long đến cầu Chương Dương
Trang 11Khu vực 3: từ cầu Chương Dương đến cầu Thanh Trì
Khu vực 4: từ cầu Thanh Trì đến Bát Tràng
Trang 12Dự án này vấp phải sự phản đối của các nhà khoa học, những phản đối này chủ yếu là dựa trên sự khác nhau giữa sông Hồng và sông Hàn cũng như một số con sông khác chảy qua các thủ đô một số nước châu Âu Đồng thời cũng là những
ý kiến về vấn đề trị thủy con sông khi quy hoạch dự án