Bởi lẽ, từ khi có con người và xã hội loài người thì những mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên, con người với chính bản thân mình luôn nảy sinh và do vậy, "Đ
Trang 1Nho giáo, còn gọi là đạo Nho hay đạo Khổng là một hệ thống đạo đức, triết học xã hội, triết lý giáo dục và triết học chính trị do Khổng
Tử đề xướng và được các môn đồ của ông phát triển với mục đích xây dựng một xã hội thịnh trị Nho giáo rất có ảnh hưởng tại ở các nước châu Á là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc và Việt Nam
Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc, Đức Khổng Tử (sinh năm 551 trước Công nguyên) phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó Chính vì thế mà người đời sau coi Khổng
Tử là người sáng lập ra Nho giáo
Thời Xuân Thu, Đức Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục kinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ kinh Sau khi Đức Khổng
Tử mất, học trò của ngài tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra Đại Học Sau đó, cháu nội của Khổng Tử
là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách Mạnh Tử Bốn sách sau được gọi là Tứ Thư và cùng Ngũ Kinh hợp lại làm 9 bộ sách chủ yếu của Nho giáo và còn là những tác phẩm văn chương cổ điển của Trung Quốc Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần), Khổng giáo hay "tư tưởng Khổng-Mạnh"
Mục tiêu của Nho giáo là phát huy tính thiện của con người, khiến người dân biết bỏ ác theo thiện, giúp mọi người đạt đến trình độ
Trang 2đạo đức cao nhất Để làm được điều này mỗi người phải không ngừng rèn luyện nhân cách và đạo đức của bản thân Sách Đại Học viết: "Đạo học lớn cốt để phát huy đức sáng, đức tốt đẹp của con người, đổi mới khiến lòng dân bỏ cũ theo mới, bỏ ác theo thiện, khiến mọi người đạt đến mức độ đạo đức hoàn thiện nhất Có hiểu được phải đạt đến mức
độ đạo đức hoàn thiện nhất thì mới kiên định chí hướng Chí hướng kiên định rồi, tâm mới yên tĩnh Tâm yên tĩnh rồi, lòng mới ổn định Lòng ổn định rồi, suy nghĩ sự việc mới có thể chu toàn Suy nghĩ sự việc chu toàn rồi, mới có thể xử lý, giải quyết công việc được thỏa đáng Vạn vật đều có đầu có đuôi, có gốc có ngọn Vạn sự đều có bắt đầu và kết thúc Biết làm cái gì trước cái gì sau, tức là đã tiếp cận nguyên tắc của đạo rồi"
Nho giáo chủ trương giáo hóa mọi tầng lớp trong xã hội từ bậc quân vương đến kẻ thứ dân sao cho ai ai cũng thấm nhuần đạo học của thánh hiền, phát huy tính thiện sẵn có của bản thân, tự mình sửa đổi, rèn luyện cho tốt đẹp hơn Nho giáo khuyến khích người có học dạy cho người ít học, người có đạo đức cảm hóa kẻ vô đạo, cải tạo xã hội, đem văn minh truyền bá khắp nơi Khổng Tử muốn đến đất Cửu Di để
ở, có người nói "Ở đó quá lạc hậu, làm sao mà ở được " Khổng Tử nói
"Có người quân tử ở đó, làm gì còn lạc hậu nữa " Đây là tư tưởng nhập thế của Nho gia, khác với tư tưởng xuất thế lánh đời của Phật gia hay Đạo gia Khổng Tử nói: "Đạo không thể xa lánh người Nhưng có người muốn thực hành đạo mà lại xa lánh người, như vậy thì không thể thực hành được đạo Cho nên người quân tử dùng cái đạo lý vốn sẵn
có ở người để giáo dục người, lấy cải sửa làm chính, giáo dục mãi cho đến khi thành người mới thôi Cũng như ta trau chuốt cán rìu vậy, trau chuốt đến mức thành cán rìu mới thôi Người ta có lỗi mà biết sửa là được rồi, không xa lánh họ nữa"
Luân lý và đạo đức của Nho giáo bao trùm lên toàn bộ cuộc sống của con người, từ chính trị đến các vấn đề văn hóa - xã hội Cũng
Trang 3giống như học thuyết chính trị, học thuyết luân lý và đạo đức của Nho giáo lấy đạo Nhân làm gốc Theo đạo đức và luân lý của Nho giáo thì cái đạo làm người thông thường trong thiên hạ có năm bậc Nó phản ánh năm mối quan hệ phổ biến trong xã hội loài người Đó là các mối quan hệ: Vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em và bạn bè Để có thể xử lý tốt năm mối quan hệ đó, con người cần phải có năm cái đức thông thường - đó là: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín Những nguyên tắc đạo đức của Nho giáo như nhân, lễ, nghĩa, trí, tín vừa là chuẩn mực để điều chỉnh hành vi của con người, vừa là những biện pháp để bảo đảm cho chính trị, nhân nghĩa được thực hiện Bởi vậy, Nho giáo không đưa ra định nghĩa nào về khái niệm "Đạo làm người", nhưng qua các tác phẩm kinh điển, qua tư tưởng của các Nho gia có thể thấy, khái niệm "Đạo làm người" đã được Nho giáo đi sâu khai thác
"Đạo làm người" là khái niệm được hình thành từ rất lâu, nhưng ngày nay, luận bàn về nó không phải là một điều đã cũ, cổ hủ Bởi lẽ,
từ khi có con người và xã hội loài người thì những mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên, con người với chính bản thân mình luôn nảy sinh và do vậy, "Đạo làm người" luôn vận hành Ngày nay, khi xã hội càng phát triển, trình độ nhận thức của con người không ngừng được nâng cao, mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp thì "Đạo làm người" lại càng được chú ý hơn bao giờ hết
Khi bàn đến "Đạo làm người", Nho giáo nhấn mạnh đến “Đạo nhân”, "Đạo làm người" Theo nghĩa đó, “Đạo làm người” được hiểu là nguyên tắc chính trị, là quy phạm đạo đức và luân lý, là đạo lý trị quốc
và xử thế của con người Nói cách khác, đạo làm người được hiểu là đường lối, nguyên tắc đạo đức mà con người có bổn phận gìn giữ và tuân theo trong đời sống Đó là nhân sinh quan, là quan niệm sống trong sạch, thuận theo lẽ phải
Trang 4Nguyên tắc chính trị là tư tưởng chỉ đạo việc trị quốc, bình thiên
hạ, phản ánh hệ tư tưởng của giai cấp cầm quyền Quy phạm đạo đức, luân lý theo quan niệm của Nho giáo chính là tam cương, ngũ thường, trung hiếu, tam tòng, tứ đức,… Đạo làm người của Nho giáo bao quát các mối quan hệ trong xã hội ở một phạm vi rất rộng Một người có đạo đức, có “đạo làm người” là cơ sở để người đó thực hiện tốt mối quan hệ trong quan hệ với tự nhiên, trong ứng xử xã hội, ứng xử với chính bản thân mình theo danh phận
Nho giáo gọi con người đạt được các chuẩn mực đó là “người quân tử”, “đấng trượng phu” Với Khổng tử, người quân tử không thuần túy chỉ địa vị xã hội của người đó, mà chủ yếu chỉ phẩm chất đạo đức mà người đó đạt được Ông cho rằng, “Tề Cảnh Công có một ngàn cỗ xe bốn chỗ nhưng sau khi chết, dân không thấy có công đức gì
mà khen Bá Di và Thúc Tề chết đói ở chân núi Thú Dương, nhưng đến nay dân hãy còn ca ngợi “Thành bất dĩ phú, diệc chi dĩ dị” (thật chẳng
vì giàu, chỉ vì đức lạ) Có lẽ là nói về điều này chăng”
Nho giáo là học thuyết rất chú trọng đến đạo đức con người, trong đó có đạo đức trong ứng xử với chính bản thân mình Với nguyên tắc đạo đức này, Nho giáo coi trọng sự nghiêm khắc trong việc
tu thân, tích đức
Theo Nho giáo, người quân tử đối với mình trước hết phải làm những việc khó, sau mới được hưởng thành quả (Nhân giả tiên nan; nhi hậu hoạch; khả vị nhân hỹ Đến đời Tống, Phạm Trọng Yêm cho rằng, người khổ trước thiên hạ, vui sau thiên hạ là người có nhân Khác với những người bất nhân, người quân tử, nhân đức là người luôn vui vẻ sống trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù đó là vinh hoa hay đói nghèo, túng thiếu Họ không bị phú quý, danh lợi, giàu sang làm lung lạc
Khi đề cập đến mẫu người quân tử, Khổng Tử thường đưa ra những tiêu chuẩn khác nhau, song chung quy lại, người quân tử phải
Trang 5đạt được chín điều sau: (1) Nhìn thì phải để ý nhìn sao cho sáng; (2) Nghe thì phải lắng tai nghe cho rõ ràng; (3) Sắc mặt phải giữ cho ôn hòa; (4) Tướng mạo thì phải giữ cho khiêm cung; (5) Nói năng phải giữ bề trung thực; (6) Làm việc phải trọng sự kính cẩn; (7) Có điều nghi hoặc thì phải hỏi han; (8) Khi giận thì nghĩ đến sự hoạn nạn có thể xảy ra; (9) Thấy lợi thì phải nghĩ tới điều nghĩa Theo Khổng Tử, chín điều này phải có sự hài hòa với nhau mà ông gọi là “trung dung”
Để đạt được những điều này, trước hết người quân tử phải rèn luyện được 5 đức cơ bản: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín Đây cũng là tư tưởng xuyên suốt đạo làm người của Nho giáo nói riêng, hệ thống tư tưởng Nho giáo nói chung Người quân tử, theo Nho giáo, phải biết giữ đức nhân của mình, có thể vì nhân mà sát thân chứ không thể vì thân mà hại nhân Để gìn giữ đức nhân, người quân tử phải tự kiềm chế mình
để tuân theo lễ tiết của xã hội, để vững vàng, trầm tư như núi trước mọi thử thách của cuộc đời “Khắc kỷ phục lễ vi nhân”, tức là điều gì không hợp với lễ thì đừng nhìn, đừng nghe, đừng nói, đừng làm Theo Khổng Tử, là người ai cũng có nỗi sợ hãi của mình, bản thân ông cũng nói nhiều đến chữ “sợ” (úy); nhưng không có chỗ nào, ông khuyên người ta tham sống sợ chết cả Ngược lại, ông còn khuyên người có nhân và chí khí thì phải biết chọn cái chết một cách xứng đáng:
“Người có chí khí và người có đức nhân không tham sống mà hại người Họ phải xả thân để thành nhân” Để đạt được tất cả những phẩm chất đạo đức đó, để hành động như một người quân tử giúp đời, Khổng
Tử cho rằng, người quân tử phải luôn lấy “tu thân” làm đầu Tu thân là
cơ sở để xây dựng nhân cách cho mình, để hành đạo giúp đời (tề gia, trị quốc, bình thiên hạ)
Nhân là đạo đức căn bản nhất của con người; nó bao hàm trong mình mọi đức tính Do vậy, người có nhân đồng nhất với người hoàn thiện nhất, người quân tử “Người có đức nhân là người phải nghiêm trang, tề chỉnh, rộng lượng, khoan dung, đức tín, lòng thành, siêng
Trang 6năng, cần mẫn và biết thi ân với năm đức (cung, khoan, tín, mẫn, huệ).
Đó cũng là người biết yêu người đáng yêu, biết ghét người đáng ghét Người có đức nhân cũng là người có đức lễ, vì biểu hiện ra bên ngoài của nhân là lễ (khắc kỷ phục lễ vi nhân) Ở phạm vi quốc gia, lễ được hiểu là việc tuân theo kỷ cương phép nước và các chuẩn mực đạo đức
xã hội Nghĩa được các nhà Nho đặt trong mối quan hệ với lợi Họ có
xu hướng coi nhẹ lợi mà chỉ chú trọng nghĩa Khổng Tử cho rằng,
“quân tử hiểu rõ về nghĩa, tiểu nhân hiểu rõ về lợi” Do vậy, Khổng Tử hay khuyên điều nghĩa, cho nghĩa là một điều căn bản để lập thân, việc
gì hợp với nghĩa thì làm, không hợp thì bỏ Lễ, Tín và Nghĩa gắn bó chặt chẽ với nhau: “Người quân tử lấy nghĩa làm gốc, theo lễ mà thực hiện, nói ra bằng lời khiêm tốn và hoàn thành bằng thái độ thành thực Như vậy thật là quân tử Mạnh Tử còn bài xích lợi hơn, ông chỉ thấy
có nghĩa mà không có lợi Nhà vua chỉ nói điều nhân nghĩa, hà tất phải nói tới lợi Trí là trí tuệ, là tri thức, hiểu biết của người quân tử, là cơ
sở để hành sự Người hoàn thành, đạt được việc tu thân là người làm tròn, làm đúng phận sự của mình (chính danh) Trên cơ sở làm tròn phận sự của mình mà mở rộng ra việc làm tròn phận sự, nhiệm vụ của mình đối với người khác trong mọi mối quan hệ
Yêu cầu của Nho giáo về tiêu chuẩn đạo đức để con người tu thân
là rất toàn diện Không những đề cao tinh thần tu thân, bản thân Khổng
Tử còn là một tấm gương về tu thân Ông muốn cả xã hội tu thân để tạo thành một “vương quốc của người quân tử” Quan niệm của Nho giáo về đạo làm người trong quan hệ đối với bản thân cho đến nay vẫn còn những giá trị nhất định, giúp chúng ta rèn dũa bản thân, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, sống đúng danh phận của mình
Trong xã hội, con người phải duy trì đồng thời nhiều mối quan hệ khác nhau, như quan hệ kinh tế, quan hệ chính trị, quan hệ luân lý đạo đức, quan hệ tôn giáo, quan hệ gia đình , trong đó quan hệ kinh tế là cái đóng vai trò cơ bản Nhưng ngay từ sơ kỳ, các nhà Nho đã không
Trang 7quan tâm đến quan hệ kinh tế, cũng không quan tâm đến các quan hệ pháp luật, tôn giáo Họ tuyên bố: “Trong xã hội, mọi nghề nghiệp đều
là thấp kém, duy chỉ có nghề đọc sách là cao quý” (Vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao) Vì vậy, sự tập trung của các Nho gia chủ yếu vào lĩnh vực chính trị, đạo đức, điều này phù hợp với đường lối đức trị, với quan niệm cho rằng chính trị, đạo đức quyết định sự an nguy của triều đình, sự ổn định của xã hội
Khổng Tử là người đầu tiên nêu lên mối quan hệ giữa con người với con người, giữa “kỷ” (mình) và “nhân” (người) Với ông, nguyên tắc đối xử giữa người với người là xem người cũng như mình, cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người (thi chư kỷ nhi bất nguyên, diệc vật thì ư nhân), mình muốn làm nên thì giúp người làm nên, mình muốn thành đạt thì giúp người thành đạt (kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân) Với quan niệm về “kỷ” và “nhân” này, Khổng
Tử đã khẳng định tư tưởng đạo đức coi trọng con người của Nho giáo
Mạnh Tử đã khái quát mối quan hệ của con người trong xã hội thành 5 mối quan hệ cơ bản, đó là: quân - thần (vua - tôi), phụ - tử (cha - con), phu - phụ (chồng - vợ), trưởng - ấu (người lớn tuổi - người nhỏ tuổi, anh - em), bằng hữu (bạn bè) Cơ sở của mỗi mối quan hệ đã được Mạnh Tử thuyết minh rõ ràng: “Cha con thì có tình thân ruột thịt, vua tôi thì có nghĩa, chồng vợ thì có khách biệt, lớn tuổi và ít tuổi thì
có thứ tự, bạn bè thì có điều tín” (phụ tử hữu thân, quân thần hữu nghĩa, phu phụ hữu biệt, trưởng ấu hữu tự, bằng hữu hữu tín) Mạnh
Tử gọi năm mối quan hệ đó là “nhân luân”, có nhà Nho gọi đó là “ngũ luân” Đó là năm mối quan hệ được coi là tiêu biểu cho các mối quan
hệ xã hội lúc bấy giờ Các mối quan hệ này dần dần quy về 3 mối quan
hệ Đó là quan hệ vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, còn gọi là “Tam cương” Đây được coi là những mối quan hệ giường mối, làm trụ cột của xã hội phong kiến Trung Quốc từ thời Hán trở đi
Trang 8Thứ nhất, trong mối quan hệ vua - tôi, đạo đức và luân lý Nho giáo đòi hỏi phải có sự ứng xử qua lại của cả hai bên Đó là vua phải biết đối xử với bề tôi, tôn trọng và quý mến bề tôi; còn bề tôi phải biết giữ đạo trung khi thờ vua Nếu không làm được điều đó thì hậu quả tất yếu là bề tôi giết vua Bởi lẽ, nếu “vua mà coi bề tôi như tay chân, ắt
bề tôi sẽ coi vua như bụng dạ Vua mà coi bề tôi như chó ngựa, ắt bề tôi sẽ coi vua như kẻ qua đường Vua mà coi bề tôi như bùn rác, ắt bề tôi sẽ coi vua như kẻ cướp người thù” “Trung”, theo Nho giáo, đó là phải biết giúp cho vua đi vào con đường đạo đức, dồn hết tâm trí để làm việc nhân “Trung” là không được dối gạt vua và cũng không sợ làm mếch lòng vua “Trung” cũng tức là phải biết đặt lợi ích của đất nước (cũng có nghĩa là của nhà vua) lên trên hết, phải biết đem đạo lý
mà thờ vua, việc gì có ích cho nước, có lợi cho dân thì giúp cho vua làm “Trung” còn có nghĩa là, một mặt, phải biết can gián vua khi vua làm những việc trái với đạo lý; mặt khác, không được vào hùa theo vua khi vua lầm lỗi, không được đón trước ý xấu của vua rồi khêu gợi cho vua lầm lỗi Vào hùa với vua khi vua lầm lỗi hoặc khêu gợi cho vua lầm lỗi là bất trung “Trung” cũng có nghĩa là cung và kính “Người nào nhắc nhở những việc khó để vua làm, thì người ấy có nết cung; người nào bày tỏ điều thiện đức, ngăn cản việc tà khuất, thì đối với vua, người ấy có đức kính Còn kẻ nào nói vua ta chẳng có sức làm thiện làm nhân, kẻ ấy làm hại vua vậy” Như vậy, để vua tôi thuận hòa,
bề tôi cần phải có đức trung trong mọi công việc được vua giao Ngược lại, vua cần phải giữ lễ trong việc sai xử bề tôi, nghĩa là không được dựa vào quyền hành và thân thế mà đối xử với bề tôi Lễ ở đây còn có nghĩa là vua phải biết tôn trọng người hiền tài, phải biết lắng nghe lời can gián của bề tôi “Bề tôi can gián thì vua theo, nói phải thì vua nghe, ơn huệ thấm xuống dân Bề tôi vì một lẽ gì đó mà phải bỏ nước ra đi, ắt vua sai người hộ tống đến miền cương giới Trước đó, vua còn có lời gửi gắm người quan cũ của mình tới vị vua trong nước
Trang 9mà người sắp đến Quá 3 năm mà người chẳng trở về, chừng đó vua mới lấy lại ruộng đất và dinh thự của người Đó gọi là ba việc có lễ của vua đối với bề tôi”
Quan hệ vua - tôi, theo Nho giáo, ngoài chiều thuận còn có chiều nghịch Đức trung ở Nho giáo cũng có sự quyền biến Nho giáo đòi hỏi người quân tử cần phải biết mình đang phục vụ ông vua nào Nếu là phục vụ một ông vua mà kẻ bề tôi can gián không nghe, nói phải không theo và ơn huệ thì không thấm được xuống dân, một ông vua mà
vì một lẽ gì đó, bề tôi phải bỏ nước ra đi thì bị bắt giữ lại, nếu đi thoát được thì lại tìm mọi cách gây khó khăn, làm cho bề tôi phải khốn khổ
ở nơi mới đến, một ông vua mà ngay trong ngày bề tôi ra đi đã cho tịch thu hết ruộng nương nhà cửa, một ông vua như thế đối với bề tôi chỉ còn là giặc cướp, cừu thù Đã là giặc cướp cừu thù mà còn trung, thì
đó là ngu trung Do đó, theo Nho giáo, nếu vua bạo ngược, sẵn sàng ra lệnh giết kẻ sĩ vô tội, thì quan đại phu nên bỏ nước mà đi, giết dân vô tội thì kẻ sĩ nên liệu mà dời chân
Thứ hai, trong mối quan hệ cha – con, Nho giáo đòi hỏi người làm cha phải có đức tính nhân từ, người làm con phải có đức hiếu đễ Theo Nho giáo, hiếu là để thờ cha mẹ; nó là gốc của đức nhân Khi nói tới đức nhân tức là nói đến lòng yêu thương người, mà muốn yêu thương người thì trước hết phải biết yêu thương cha mẹ mình, anh em mình Nho giáo cho rằng, người mà không biết yêu thương cha mẹ lại
có thể đem lòng yêu thương người khác là điều không thể có được Vì thế, suy đến cùng, đạo của vua cũng là ở đức hiếu đễ “Trong những người có nết hiếu, nết đễ, ít ai ưa trái nghịch với bề trên Đã không ưa trái nghịch với bề trên, lại thích gây ra những cuộc phản loạn, người như vậy ta chưa từng thấy Cho nên bậc quân tử chuyên chú vào việc gốc Cái gốc được vững tốt, tự nhiên đạo lý bắt đầu từ đó mà sinh ra Vậy làm người mà biết giữ gìn nết hiếu, nết đễ, tức là biết nắm lấy cái gốc đó” Đối với Nho giáo, hiếu là cái đạo phải làm của mỗi con người
Trang 10sống trong xã hội Trong xã hội, việc phải làm đầu tiên của mỗi người
là cần chịu khó học tập, rèn luyện bản thân để có thể “lập thân, hành đạo, nêu cao thanh danh đến đời sau để làm vinh hiển cho cha mẹ” Như vậy, hiếu đòi hỏi người làm con phải: Thứ nhất, có trách nhiệm làm cho cha mẹ mình được xã hội tôn trọng, mà chỗ làm cho cha mẹ được tôn trọng chí cực, không gì bằng đem cả thiên hạ mà phụng dưỡng cha mẹ Thứ hai, giữ được địa vị của ông cha, làm theo lễ của ông cha, tấu nhạc như ông cha, kính những người mà ông cha trọng, mến những người mà ông cha yêu, thờ người thác như thờ người sống, trọng người đã qua như trọng người đang tồn tại Để làm được như vậy, theo Khổng Tử, khi “cha còn sống phải xem xét chí của cha; cha chết rồi xem việc làm của cha, ba năm không thay đổi những lời cha đã dạy, như thế có thể gọi là hiếu vậy” Thứ ba, biết phụng dưỡng cha mẹ khi cha mẹ còn sống Điều đó có nghĩa là khi phụng dưỡng cha mẹ thì phải có sự kính cẩn, phải có lễ Khổng Tử chỉ rõ: “Đời nay hễ thấy ai nuôi được cha mẹ thì người ta khen là người có hiếu Nhưng những con thú như chó ngựa thì người ta cũng nuôi Cho nên nuôi cha mẹ mà chẳng kính trọng thì có khác gì nuôi thú vật” Vì thế, việc phụng dưỡng cha mẹ là phải biết kính cẩn, chăm sóc cha mẹ Khi cha mẹ còn sống thì không được đi chơi xa và có đi đâu cũng phải có phương hướng nhất định; phải biết giữ gìn thân thể mình để báo đáp công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ Khi cha mẹ đã mất, phải chôn cất cho có lễ, cúng tế cũng phải giữ cho đủ lễ Theo Mạnh Tử, “Phụng dưỡng cha mẹ khi sinh tồn, đó chưa kể là việc lớn lao hơn hết của kẻ làm con Tống táng cha mẹ cơn tử biệt, đó mới là việc trọng đại hơn hết của người hiếu tử” Trong việc tang, theo Tử Du, chỉ có điều này là gốc: lòng đau thương chí cực
Một mặt chỉ rõ nội dung của hiếu; mặt khác, Nho giáo cũng chỉ
rõ những việc làm được coi là sự bất hiếu và đáng bị cả xã hội lên án Những điều được Nho giáo xem là bất hiếu gồm có: “Tay chân không