Trong suốt quá trình hình thành, tồn tại và phát triển hơn hai nghìn năm qua, Phật giáo đã kế thừa nhiều thành tựu văn hóa của nhân loại và để lại những giá trị riêng có của nó. Phật giáo có những đóng góp làm nên bản sắc văn hóa độc đáo của không ít các quốc gia, dân tộc nơi nó du nhập. Ở Việt Nam, Phật giáo đã đồng hành cùng dân tộc qua bao thăng trầm, biến động của lịch sử; đã hoà nhập vào nếp sống, suy nghĩ của bao thế hệ người dân. Trong suốt tiến trình lịch sử ấy, điều không thể phủ nhận được rằng, Phật giáo là một trong những thành tố quan trọng góp phần làm nên bản sắc văn hóa dân tộc, là một phần không thể thiếu trong nền văn hóa Việt Nam. Phật giáo đã để lại dấu ấn trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, nó tác động, ảnh hưởng sâu sắc tới tâm lý, tình cảm, lối sống, ứng xử, phong tục tập quán… trong đó có những ảnh hưởng khá đậm nét và góp phần hình thành những giá trị, chuẩn mực đạo đức của người Việt Nam.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong suốt quá trình hình thành, tồn tại và phát triển hơn hai nghìn nămqua, Phật giáo đã kế thừa nhiều thành tựu văn hóa của nhân loại và để lạinhững giá trị riêng có của nó Phật giáo có những đóng góp làm nên bản sắcvăn hóa độc đáo của không ít các quốc gia, dân tộc nơi nó du nhập Ở Việt Nam,Phật giáo đã đồng hành cùng dân tộc qua bao thăng trầm, biến động của lịchsử; đã hoà nhập vào nếp sống, suy nghĩ của bao thế hệ người dân Trong suốttiến trình lịch sử ấy, điều không thể phủ nhận được rằng, Phật giáo là mộttrong những thành tố quan trọng góp phần làm nên bản sắc văn hóa dân tộc, làmột phần không thể thiếu trong nền văn hóa Việt Nam Phật giáo đã để lạidấu ấn trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, nó tác động, ảnh hưởng sâusắc tới tâm lý, tình cảm, lối sống, ứng xử, phong tục tập quán… trong đó cónhững ảnh hưởng khá đậm nét và góp phần hình thành những giá trị, chuẩnmực đạo đức của người Việt Nam Là thành viên trong cộng đồng dân tộcViệt Nam, được sinh ra, nuôi dưỡng và lớn lên từ nhiều vùng văn hóa khácnhau, TNQĐ cũng không nằm ngoài quá trình ảnh hưởng đó của tư tưởngĐĐPG Quá trình ảnh hưởng tư tưởng ĐĐPG đến đạo đức TNQĐ diễn ra trênhai bình diện, có những tác động tích cực và cả những tác động tiêu cực
Là một bộ phận ưu tú của thanh niên Việt Nam, TNQĐ có vai trò tolớn, là lực lượng đang trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt NamXHCN Họ là nguồn lực rất quan trọng trong sức mạnh chiến đấu của quânđội ta Xây dựng, bồi dưỡng và phát triển đạo đức TNQĐ về thực chất là xâydựng, bồi dưỡng và phát triển ĐĐCM cho mỗi TNQĐ; chính là trực tiếp giáodục và rèn luyện tạo nên một thế hệ TNQĐ có chất lượng ngày càng cao vềchính trị, đạo đức, văn hóa, sức khỏe, lối sống và lý tưởng cao đẹp, sẵn sàngchiến đấu, hi sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân
Trang 2Thanh niên quân đội hiện nay luôn kiên định với mục tiêu độc lập dântộc và chủ nghĩa xã hội, trung thành với Đảng, với Tổ quốc, gắn bó mật thiếtvới nhân dân; đã và đang kế tục xứng đáng, phát huy bản chất, truyền thốngtốt đẹp của dân tộc, của Đảng, của quân đội; hăng hái trong học tập, huấnluyện và công tác Tuy nhiên, trong TNQĐ vẫn còn một bộ phận non yếu vềđạo đức, lối sống do chịu ảnh hưởng bởi những hạn chế trong tư tưởngĐĐPG Sự ảnh hưởng này không chỉ đối với TNQĐ theo Phật giáo, gốc Phậtgiáo mà ở cả những thanh niên không có đạo, dẫn tới hoàn thành nhiệm vụ ởmức thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của TNQĐ hiện nay Nhữngảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng ĐĐPG không chỉ cản trở đến việc xây dựng,giáo dục, bồi dưỡng, phát triển ĐĐCM ở TNQĐ, mà còn ảnh hưởng trực tiếpđến xây dựng môi trường văn hóa, đạo đức lành mạnh ở các đơn vị; ảnhhưởng đến kết quả xây dựng đơn vị vững mạnh, toàn diện Vì vậy, vấn đề đặt
ra là cần phải làm thế nào để khai thác, phát huy tối đa những ảnh hưởng tíchcực của tư tưởng ĐĐPG, đồng thời hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của nó
Do vậy, tìm hiểu tư tưởng ĐĐPG và nghiên cứu những ảnh hưởng của nó đếnđạo đức TNQĐ hiện nay là vấn đề cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn
Từ những lý do trên đây, tác giả chọn vấn đề “Ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức Phật giáo đến đạo đức Thanh niên Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn của mình.
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Phật giáo là một tôn giáo lớn, đã có quá trình tồn tại, đồng hành cùngdân tộc ta hàng nghìn năm qua Nghiên cứu Phật giáo và nghiên cứu ảnhhưởng của tư tưởng ĐĐPG đến đời sống đạo đức con người Việt Nam nóichung và đời sống đạo đức quân nhân nói riêng từ lâu đã thu hút được sựquan tâm của nhiều nhà khoa học cả trong và ngoài quân đội Các công trìnhnghiên cứu tiếp cận vấn đề trên từ các góc độ khác nhau, có thể tóm lược
Trang 3thành những hướng nghiên cứu cơ bản với những công trình nghiên cứu cơbản sau đây:
Nghiên cứu Phật giáo như một bộ phận cấu thành lịch sử tư tưởng Việt Nam: Mấy vấn đề về Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam, gồm nhiều
bài viết của Viện Triết học [54], trình bày về mối quan hệ giữa Phật giáo vàolịch sử tư tưởng Việt Nam, về tính chất của Phật giáo Việt Nam
Lịch sử tư tưởng Việt Nam, (tập1) do Nguyễn Tài Thư chủ biên [38] Trong
công trình nghiên cứu này, các tác giả trình bày lịch sử hình thành của tưtưởng Việt Nam từ thời nguyên thủy đến thế kỷ XVIII, trong đó có đề cập sâuđến nhiều vấn đề về Phật giáo và triết học của các thiền sư thời Đinh, Tiền Lê,
Lý, Trần; sự phê phán Phật giáo ở cuối thế kỷ XIV; cũng như đi sâu phân tích
tư tưởng Phật giáo các thế kỷ XVI, XVII, XVIII Tư tưởng Phật giáo Việt Nam, của Nguyễn Duy Hinh [17], trình bàyPhật giáo đại cương, nghiêncứu nội dung tư tưởng Phật giáo Việt Nam Chỉ ra đặc điểm Phật giáo ViệtNam được hình thành trên cơ sở tín ngưỡng, tâm linh của cư dân bản địa cótiếp thu tôn giáo ngoại nhập
Nghiên cứu tìm hiểu Phật giáo trong lịch sử phát triển của nó:
Việt Nam Phật giáo sử luận, (3 tập) của Nguyễn Lang [26],trình bày lịch sửcủa Phật giáo Việt Nam qua các thời kì, kiến thức về giáo lí của Đạo Phật
cũng như các vị thiền sư, cư sĩ trong từng giai đoạn lịch sử Lịch sử Phật giáo Việt Nam, do Nguyễn Tài Thư chủ biên [37] Công trình nghiên cứu này, các
tác giả trình bày lịch sử hình thành của Phật giáo Việt Nam, sự phát triển củaPhật giáo Việt Nam qua các thời kỳ và chỉ rõ tư tưởng đạo gắn với đời, đặcbiệt gắn với đời sống văn hóa dân tộc; khẳng định vị trí, vai trò của Phật giáođối với đời sống của nhân dân Việt Nam, nhất là đời sống tinh thần
Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam, (2 tập) của Nguyễn Hùng Hậu [16].
Trang 4Tác giả đã khái quát những nét cơ bản về quá trình du nhập, cũng như ảnhhưởng của Phật giáo đến dân tộc Việt Nam
Nghiên cứu Phật giáo trong mối quan hệ và sự ảnh hưởng của nó đối với đời sống văn hóa, tinh thần dân tộc: Hồ Chí Minh với Phật giáo
Việt Nam (1945 – 1954), do Phùng Hữu Phú chủ biên [34] Trong công trình
nghiên cứu này, các tác giả đã trình bày những quan điểm, tư tưởng cơ bảncủa Hồ Chí Minh trong mối quan hệ với Phật giáo – Dân tộc Đặc biệt, đã làm
rõ những triết lý Phật giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thể hiện sự tiếp thutinh hoa văn hóa nhân loại, văn hóa phương Đông, trong đó có những giá trị
nhân bản, sâu sắc của Phật giáo Phật giáo với văn hóa Việt Nam, của
Nguyễn Đăng Duy [8] Tác giả đã nghiên cứu sự du nhập và mở rộng củaPhật giáo ở Việt Nam Phân tích tư tưởng Phật giáo Việt Nam Sự ảnh hưởngcủa Phật giáo đến văn hóa hữu hình, văn hóa tinh thần, văn học nghệ thuật,văn hóa đạo đức… trong đó đã phân tích khá sâu sắc ảnh hưởng của Phật giáo
đến văn hóa, đạo đức của người Việt Nam Ảnh hưởng của những tư tưởng triết học Phật giáo trong đời sống văn hóa tinh thần ở Việt Nam, Luận án tiến
sĩ triết học của Nguyễn Hữu Tuấn [47] Tác giả trình bày những tư tưởng triếthọc chủ yếu của Phật giáo và sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam Phântích những ảnh hưởng của tư tưởng triết học Phật giáo đối với một số lĩnh vựctrong đời sống của người Việt Nam như: văn hóa và văn hóa tinh thần, trong
hệ tư tưởng và lịch sử dân tộc, trong nghệ thuật và đạo đức dân tộc Trên cơ
sở đó đưa ra các giải pháp cơ bản nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cựccũng như hạn chế ảnh hưởng mặt tiêu cực của những tư tưởng triết học Phật
giáo đến đời sống văn hóa tinh thần ở Việt Nam hiện nay Ảnh hưởng của tín ngưỡng tôn giáo đến đời sống tinh thần quân nhân ở đơn vị cơ sở trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ triết học của Lê Đại Nghĩa [32].
Tác giả đã trình bày thực chất quá trình ảnh hưởng của tín ngưỡng tôn giáo
Trang 5đến đời sống tinh thần quân nhân ở đơn vị cơ sở QĐNDVN hiện nay Phântích thực trạng và dự báo xu hướng ảnh hưởng cũng như yêu cầu khách quanđòi hỏi khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng tôn giáo đến đời sốngtinh thần của quân nhân ở đơn vị cơ sở hiện nay Từ đó, nêu nên một số địnhhướng, nguyên tắc và đề xuất những giải pháp khắc phục ảnh hưởng tiêu cựccủa tín ngưỡng tôn giáo đến đời sống tinh thần quân nhân ở đơn vị cơ sởQĐNDVN hiện nay
Nghiên cứu về đạo đức Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống đạo đức xã hội Việt Nam: công trình nghiên cứu Đạo đức học Phật giáo,
do Hòa thượng Thích Minh Châu giới thiệu [5], gồm những bài tham luận củanhiều tác giả, đã nêu những cơ sở và nhiều phạm trù ĐĐPG, phân tích và làm
rõ thêm những nội dung của các phạm trù này như: giới, hạnh, nguyện, thiện,
ác… Lý thuyết nhân sinh qua kinh tạng Pàli, của Hòa thượng Thích Chơn Thiện
[35] Đây là một luận án tiến sĩ được dịch ra tiếng Việt và in thành sách Nộidung cơ bản đó là, tác giả lấy thuyết duyên sinh, ngũ uẩn của Phật giáo làm
cơ sở để lý giải nhân tính Từ nhân tính theo nhãn quan của Phật giáo, tác giảmuốn góp phần phát hiện và xây dựng lối sống, đạo đức cho con người hiện
đại Luận án tiến sĩ triết học Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong đời sống đạo đức của xã hội Việt Nam hiện nay, của Tạ Chí Hồng [19] Tác giả
làm rõ vị trí, vai trò tư tưởng của ĐĐPG, những cơ sở triết lý trực tiếp củaĐĐPG: Phật giáo đặt trọng tâm vào con người; Phật giáo xây dựng đạo đứctrên nền tảng của thuyết nghiệp; Phật giáo xây dựng đạo đức trên nền tảngcủa triết lý vô ngã, để lý giải câu hỏi vì sao con người hay chúng sinh có thểgiải thoát; Phật giáo cũng đề cao tinh thần của từ bi, trí dũng Trong luận án,tác giả cũng làm rõ quá trình du nhập, ảnh hưởng của ĐĐPG trong đời sống
đạo đức Việt Nam cả truyền thống và hiện tại Luận án tiến sĩ triết học Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đến đạo đức con người Việt Nam, của tác giả
Trang 6Đặng Thị Lan [24] Tác giả đã bàn về những quan điểm của chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức tôn giáo và vai trò của đạo đức tôngiáo trong đời sống xã hội Trình bày những nội dung cơ bản của ĐĐPG Tácgiả cũng phân tích khá rõ nét quá trình Phật giáo du nhập vào Việt Nam, chỉ
ra những đặc trưng cơ bản của ĐĐPG Việt Nam cũng như sự dung hợp giữaĐĐPG với đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam Trên cơ sở phân tíchvai trò của ĐĐPG đối với việc xây dựng và hoàn thiện đạo đức con ngườiViệt Nam hiện nay; phân tích thực trạng đạo đức ở nước ta Chỉ ra sự ảnhhưởng của ĐĐPG đến việc hình thành ý thức và việc điều chỉnh hành vi đạođức của con người Việt Nam hiện nay Từ đó, tác giả dự báo xu hướng pháttriển của Phật giáo ở Việt Nam và những biến đổi của đạo đức Phật giáo, nêunên những giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế, mặt tiêu cực củaĐĐPG đối với việc xây dựng đạo đức con người Việt Nam hiện nay
Ngoài các công trình nghiên cứu đã trình bày ở trên, còn có nhiều cáccông trình khoa học, nhiều bài viết đăng trên Tạp chí Triết học nói về sự ảnh
hưởng của Phật giáo đến tư tưởng, đạo đức… của dân tộc như: Một số ảnh hưởng của Phật giáo trong lối sống của người Việt Nam hiện nay, của Nguyễn Quang Trường [50]; Phật giáo với lối sống của người Việt Nam hiện nay, của Hoàng Thị Lan [25]; Đạo làm người trong triết lý nhân sinh Phật giáo, ý nghĩa của nó đối với xã hội Việt Nam hiện nay, của Nguyễn Thị Thọ [36]; Ảnh hưởng của Phật giáo Việt Nam trong phát huy các giá trị văn hóa
và đạo đức dân tộc, của Hoàng Minh Đô [13].
Nghiên cứu về đạo đức cách mạng ở các đối tượng cụ thể trong quân đội có: Luận án Phó Tiến sĩ khoa học quân sự:“Tự giác hóa quá trình hình
thành, phát triển đạo đức cộng sản trong quân đội nhân dân Việt Nam” của
Nguyễn Tiến Bình [3] Đã luận giải, chứng minh một cách sâu sắc vai tròngày càng tăng của nhân tố đạo đức trong sức mạnh chiến đấu của quân đội
Trang 7và các đặc điểm tác động đến sự hình thành, phát triển đạo đức cộng sản củaquân đội Tác giả đã đề xuất giải pháp trong tự giác hóa quá trình hình thành,phát triển đạo đức cộng sản chủ nghĩa trong quân đội ta Luận án tiến sĩ triết
học Phát triển đạo đức cách mạng ở thanh niên Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình hiện nay, của Nguyễn Hùng Oanh [33] Tác giả trình bày
ĐĐCM ở TNQĐ; vai trò của ĐĐCM đối với TNQĐ hiện nay; những đặctrưng bản chất và một số vấn đề có tính quy luật trong phát triển ĐĐCM ởTNQĐ Tác giả đã phân tích sâu sắc tình hình cũng như nêu nên một số yêucầu cơ bản trong phát triển ĐĐCM ở TNQĐ hiện nay Từ đó, đề xuất một hệthống các giải pháp cơ bản để phát triển ĐĐCM ở TNQĐ hiện nay
Có thể nói, các công trình nghiên cứu đã trình bày trên đã xem xét,đánh giá Phật giáo trên nhiều phương diện khác nhau, cả những giá trị tíchcực và những mặt tiêu cực Mỗi công trình nghiên cứu, luận án, bài viết ở cáckhía cạnh và mức độ khác nhau đều trực tiếp hoặc gián tiếp bàn về sự ảnhhưởng của triết học Phật giáo nói chung và tư tưởng ĐĐPG nói riêng đến đờisống văn hóa tinh thần, đời sống đạo đức của con người Việt Nam; những vấn
đề ĐĐCM… Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu mộtcách cơ bản, hệ thống dưới góc độ triết học về ảnh hưởng và đặc điểm ảnhhưởng của tư tưởng ĐĐPG đến đạo đức thanh niên QĐNDVN hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu của đề tài
Luận chứng làm rõ ảnh hưởng của tư tưởng ĐĐPG đến đạo đức
TNQĐ Đề xuất giải pháp cơ bản nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực,hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng ĐĐPG đến đạo đức TNQĐhiện nay
Trang 8* Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Tiếp cận, chỉ ra nội dung cơ bản của tư tưởng ĐĐPG và đặc điểm ảnh
hưởng của tư tưởng ĐĐPG đến đạo đức TNQĐ hiện nay
- Đánh giá đúng thực trạng ảnh hưởng của tư tưởng ĐĐPG đến đạo đứcTNQĐ hiện nay
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạnchế những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng ĐĐPG đến đạo đức TNQĐ hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Những khía cạnh bản chất về ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức Phật
giáo đến đạo đức thanh niên quân đội
*Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Vấn đề nghiên cứu được giới hạn ở sự ảnh hưởng của tư tưởng ĐĐPGđến đạo đức TNQĐ từ năm 2007 đến nay
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Cơ sở lý luận của đề tài: là hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, đạo đức tôn giáo, về đạo đức
và ĐĐCM; các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam; các chỉ thị, nghị quyếtcủa Quân ủy Trung ương về công tác tôn giáo; về công tác giáo dục chính trị,
tư tưởng, đạo đức đối với thanh niên nói chung và TNQĐ nói riêng
* Cơ sở thực tiễn của đề tài: là đời sống văn hóa, đạo đức và thực tiễn
ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống tinh thần, đạo đức TNQĐ; thực tiễnxây dựng và phát triển ĐĐCM của TNQĐ Luận văn còn dựa vào các vănkiện, báo cáo của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, của Tổng cục Chínhtrị về TNQĐ, của một số đơn vị trong quân đội; số liệu điều tra, khảo sát vềTNQĐ của một số công trình khoa học có liên quan và số liệu điều tra, khảosát của chính tác giả
Trang 9* Phương pháp nghiên cứu của đề tài: sử dụng phương pháp luận của
triết học Mác – Lênin mà trực tiếp là phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch
sử để nghiên cứu, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thểkhác như: lôgíc và lịch sử; phân tích và tổng hợp; khái quát hóa và trừu tượnghóa; phương pháp chuyên gia; phương pháp điều xã hội học
6 Ý nghĩa của đề tài
Góp phần làm rõ những giá trị, hạn chế của tư tưởng ĐĐPG Chỉ ranhững ảnh hưởng của tư tưởng ĐĐPG đến đạo đức TNQĐ hiện nay Từ đó,
đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực,hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng ĐĐPG đến đạo đức TNQĐhiện nay Ngoài ra, đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiêncứu, giảng dạy ở các nhà trường quân đội
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, kết luận, kếtcấu đề tài gồm 2 chương, 4 tiết
Trang 10Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO ĐẾN ĐẠO ĐỨC THANH NIÊN
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM 1.1 Tiếp cận triết học về tư tưởng đạo đức Phật giáo và đánh giá ảnh hưởng của nó đến đạo đức Việt Nam truyền thống
1.1.1 Tiếp cận triết học về tư tưởng đạo đức Phật giáo
Theo truyền thuyết, người sáng lập Phật giáo là thái tử, tên là Siddhàrta(Trung Quốc dịch là Tất Đạt Đa), họ là Cồ Đàm, con trai của vua Tịnh Phạn, vuamột nước nhỏ ở bắc Ấn Độ nay thuộc nước NêPan Được sinh ra trong hoàn cảnhđặc biệt, hơn nữa lại là con độc nhất, do đó vua và hoàng hậu rất yêu quý Tất Đạt Đa.Ngay từ nhỏ Tất Đạt Đa đã được sống trong môi trường giàu sang, tuổi trẻ khôngđược rời hoàng cung, chỉ sử dụng thời gian vào việc giải trí, yến tiệc, học hành, lễbái tế tự Tất Đạt Đa không hề thấy và cũng không hề biết những gì đen tối, cựcnhọc, xấu xa, bất hạnh đang xảy ra xung quanh mình, thậm trí cũng không ngờ rằngtrong cuộc đời lại có cảnh đói khát, bệnh tật, già yếu và chết chóc bi thương
Năm 17 tuổi, Ngài được vua cha cho kết duyên cùng công chúa Gia-du-đà-ra,sau đó sinh được người con trai tên là Ra–hầu–la Kể từ đó, Tất Đạt Đa mới cóđiều kiện tiếp xúc với xã hội hiện thực Thiên tính Ngài vốn nhân từ, hay thươngxót hết thảy mọi vật Theo truyền thuyết, lý do dẫn đến bước ngoặt trong tâmhồn trí tuệ đầy nhạy cảm của Tất Đạt Đa là những cảnh tượng gặp bất ngờ tạibốn cửa ra vào hoàng cung Tất Đạt Đa tận mắt nhìn thấy một cụ già còm cõi,một người bị bệnh tật giày vò, và sau đó là cảnh một người chết đau thương Lầnđầu tiên Tất Đạt Đa nhận thấy rằng bệnh tật, già yếu và cái chết là những điềubất hạnh, bị kịch cho tất cả con người Cuối cùng Tất Đạt Đa gặp một tu sĩnghèo với nét mặt dung dị, thanh thản khác thường và rồi Ngài quyết định noitheo vị tu sĩ ấy Ngài đã rời bỏ hoàng cung, từ chối cuộc sống giàu sang và
Trang 11quyền lực để đi tu vào năm Ngài 19 tuổi Sau sáu năm tu tập, thiền định ở núiTuyết Sơn mà vẫn chưa trở thành chính quả Qua thực tế tu hành Tất Đạt Đanhận ra rằng: con đường đúng đắn phải là “trung đạo”, con đường tự mình đàosâu suy nghĩ để nhận thức chân lý, con đường dẫn đến yên tĩnh và sự bừng sángcủa tâm hồn, trí tuệ Chính vì vậy, Tất Đạt Đa đã từ bỏ tu khổ hạnh và đi vào tưduy trí tuệ Sau 49 ngày thiền định dưới gốc cây Bồ Đề, cuối cùng Ngài đã giácngộ được chân lý, thấu hiểu được bản chất của tồn tại, nguồn gốc của khổ đau vàcon đường giải thoát chúng sinh Ngài lấy hiệu là Buddha Người ta gọi ông làSakya-muni (Trung Quốc dịch là Thích Ca Mâu ni) có nghĩa là “nhà hiền triết sứSakya” Từ đó, Ngài chu du khắp lưu vực sông Hằng truyền bá đạo của mình.Theo truyền thống, ông được cho là sinh năm 563 tr.CN, sống khoảng 80 năm.Sau khi ông chết, các thế hệ học trò của ông đã tiếp tục phát triển tư tưởng củaông, xây dựng thành một hệ thống tôn giáo – triết học lớn, có ảnh hưởng ở Ấn
Độ và từ đó, lan ra nhiều vùng trên thế giới, có ảnh hưởng lớn đến đời sống tinhthần và lịch sử văn hóa của nhiều nước phương Đông, trong đó có Việt Nam
Kinh điển Phật giáo rất đồ sộ, gồm ba bộ phận gọi là Tam tạng (Tripitaka),gồm: Kinh (Sùtra), được coi là ghi lại lời Phật thuyết pháp Luật (Vinaya), tức làgiới điều mà giáo đoàn Phật giáo phải tuân theo Luận (Sàtras), tức là các tác phẩmluận bàn, chú giải các vấn đề Phật giáo của các học giả, cao tăng về sau này bàn vềKinh, Luật của Phật Các giáo lý của Phật giáo được thâu tóm trong học thuyết
“Tứ diệu đế” nghĩa là bốn chân lý tuyệt diệu, thiêng liêng mà mọi người phải nhậnthức được Chân lý thứ nhất là Khổ đế: Phật giáo đã khái quát toàn bộ cuộc sốngcủa cả đời người vào bốn chữ “đời là bể khổ” và cái khổ của cuộc đời được thâutóm trong “Bát khổ” Chân lý thứ hai là Nhân đế: Phật giáo chỉ ra nguyên nhân củamọi sự khổ đau Có nhiều nguyên nhân dẫn con người tới khổ đau, song tựu trunglại có ba nguyên nhân cơ bản đó là: “Tham, Sân, Si” Những nguyên nhân ấy kếthợp với “duyên khởi” hình thành thuyết “Thập nhị nhân duyên” Chân lý thứ ba là
Trang 12Diệt đế: Phật giáo khẳng định cái khổ có thể tiêu diệt được, có thể chấm dứtđược luân hồi bằng cách tiêu diệt các nguyên nhân sinh ra sự khổ đau ấy Chân
lý thứ tư là Đạo đế: Phật giáo đưa ra con đường giải thoát, diệt khổ mà thực chất
là tiêu diệt vô minh Cách thức ấy cần phải học là: Giới, Định, Tuệ Có tám giảipháp chính Phật gọi là “Bát chính đạo” để tiêu diệt khổ đau của con người
Phật giáo với tư tưởng cơ bản là tiếng nói chống lại chế độ phân biệt đẳngcấp, tố cáo bất công, đòi tự do và bình đẳng xã hội, nói lên khát vọng giải thoátcon người khỏi những bi kịch của cuộc đời Đồng thời, Phật giáo cũng nêu caothiện tâm, từ bi, bác ái như là những tiêu chuẩn đạo đức cơ bản của đời sống xãhội Phật giáo về bản chất không phải là một học thuyết về đạo đức Bởi lẽ, Phậtgiáo không bàn riêng về đạo đức, không có kinh, sách chuyên bàn về đạo đức.Tuy nhiên, trong giáo lý của mình, Phật giáo nhấn rất mạnh về đạo đức, cho nên
có thể gọi đây là một học thuyết về đạo đức Xét ở góc độ nhận thức và thựchành giáo lý theo tinh thần Phật giáo, thì ĐĐPG là cái nền để con người làmphương tiện cụ thể để thực sự thoát khỏi tất cả những ràng buộc, đạt đến sự giải
thoát Đạo đức cũng là cái nền để giữ gìn và phát triển Phật pháp Chính vì vậy, tư tưởng đạo đức Phật giáo là trung tâm có vai trò quan trọng nhất trong Phật giáo
* Nội dung cơ bản của tư tưởng đạo đức Phật giáo
Giống như các tôn giáo khác, Phật giáo cũng có một hệ thống các chuẩnmực và giá trị đạo đức nhằm điều chỉnh ý thức và hành vi đạo đức của các tín đồ.Những chuẩn mực, giá trị đạo đức này, ngoài giá trị đặc thù là bảo vệ niềm tin tôngiáo thiêng liêng, còn đề cập đến những chuẩn mực đạo đức mang tính nhân loạinhư: hướng thiện, tránh xa cái ác, trung thực, nhân ái… Giáo sư Nguyễn Hữu Vuicho rằng: “Trong hệ thống những giá trị chuẩn mực tôn giáo, ngoài những điềukhuyên răn, cấm đoán tạo nên nội dung riêng của đạo đức tôn giáo còn có nhữngđiều khuyên răn, cấm đoán không hề có nội dung tôn giáo, mà biểu hiện các mốiquan hệ thuần túy trần thế” [55, tr 44] Qua khảo cứu nhận thấy rằng, hầu hết các
Trang 13kinh điển của Phật giáo đều bàn và hàm chứa tư tưởng đạo đức Chẳng hạn, tưtưởng về nhân sinh quan trong “Tứ diệu đế” có ý nghĩa về giáo dục đạo đức chocon người rất lớn Những chuẩn mực đạo đức cơ bản của Phật giáo đặt ra trongNgũ giới, Thập Thiện để các tín đồ thực hiện, có giá trị như những chuẩn mực đạođức góp phần duy trì nếp sống đạo đức trong sáng, lành mạnh mà bất kỳ một xãhội văn minh nào cũng cần có Thuyết nhân quả, nghiệp báo của Phật giáo có ýnghĩa nhất định trong việc cổ vũ con người hướng thiện, cảnh báo những hành viphi đạo đức của con người trong xã hội Với Luật nhân quả người ta tìm thấy ởđây một đạo lý, một lối sống đạo đức đáng ngợi ca, vì nó đã “chống tư tưởng phụcthù, chống tư tưởng oán ghét, chống hằn học – một thứ “đạo đức Phật giáo tỏ rađẹp quá, người quá” [15, tr 247] Lối sống trong Lục độ, Lục hòa mà cốt lõi làsống hòa hợp, vị tha dựa trên sự tự giác cũng là lối sống mà xã hội ta đang hướngtới… Song cần thấy rằng, Phật giáo là một tôn giáo với tính chất phản ánh hư ảocủa nó cho nên bên cạnh những giá trị tích cực, tư tưởng ĐĐPG còn bộc lộ nhữnghạn chế nhất định Bằng việc thông qua những quan niệm, chuẩn mực, quy tắcđược thể hiện trong giáo lý, giáo luật mà ĐĐPG thực hiện chức năng điều chỉnhhành vi con người phù hợp với thế giới quan và nhân sinh quan Phật giáo Chính
vì vậy, có thể quan niệm: tư tưởng đạo đức Phật giáo là toàn bộ những quan niệm, những quy tắc, chuẩn mực đạo đức, được thể hiện trong giáo lý, giáo luật nhằm điều chỉnh hành vi của con người theo thế giới quan và nhân sinh quan Phật giáo.
Trong toàn bộ giáo lý, giáo luật của Phật giáo, tư tưởng về đạo đức rấtrộng lớn Với khả năng hạn chế của tác giả và phạm vi của luận văn cũng không chophép có thể bàn đến mọi khía cạnh, mọi vấn đề liên quan đến tư tưởng ĐĐPG, màchỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề cơ bản được thể hiện sâu sắc và có ảnh hưởngmạnh mẽ đến đạo đức của con người Việt Nam nói chung và TNQĐ nói riêng
Đạo đức Phật giáo gắn liền với tư tưởng về “giải thoát” Mục đích cao
nhất của Phật giáo là chủ trương giải thoát con người Giải thoát là cơ sở để hình
Trang 14thành nên những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức Ý thức, hành vi và những quan
hệ của con người được coi là có đạo đức khi nó phục vụ giải thoát Mức độ phục
vụ cho giải thoát là những thang bậc để xác định những giá trị đạo đức, xác địnhnhững cái gì liên quan đến hạnh phúc, lương tâm và danh dự…của con người.Xuất phát điểm của tư tưởng giải thoát trong triết lý Phật giáo là bắt nguồn từ nỗikhổ của con người Nhiệm vụ, mục đích tối cao của sự giải thoát trong triết lý Phậtgiáo là tu học, trau rồi trí tuệ, xóa bỏ vô minh, mê ngộ của con người, đạt tới sựgiác ngộ, với cái tâm sáng tỏ, nhận ra chân bản tính của mình và thực tướng củavạn vật, từ đó dập tắt được ngọn lửa ái dục, thoát khỏi mọi khổ não của cuộc đời
Tư tưởng giải thoát được trình bày trong “Tứ diệu đế”, Phật giáo cho rằngđời người là bể khổ và nguyên nhân hàng đầu của khổ là do vô minh Do vôminh nên con người bị ngũ dục (năm thứ ham muốn: danh vọng, tiền tài, sắc đẹp,
ăn uống, ngủ nghỉ) che lấp mất phật tính, bị nô lệ hóa Để giải thoát, Phật giáokhuyên con người hãy sống theo phật tính, phát huy phật tính vốn có Phật giáo
đã tạo cho con người niềm tin, động viên con người hãy tận dụng thời gian trongcuộc đời của mình để nỗ lực, tu tâm, tu thiện, tích đức Mặc dù tư tưởng giảithoát của Phật giáo còn có hạn chế đó là sự giải thoát mang tính chất cá nhân,thoát tục, yếm thế trên cơ sở tự giải thoát Tuy nhiên, nếu đặt đúng thời điểm lịch
sử ra đời của Phật giáo thì tư tưởng này vẫn có những giá trị tiến bộ nhất định.Triết lý Phật giáo thể hiện tính nhân bản ở chỗ tin tưởng vào khả năng của conngười, chỉ cho con người con đường và phương pháp đi tới hạnh phúc, an vui
Đạo đức của Phật giáo là đạo đức bình đẳng, không phân biệt đẳng cấp, không kỳ thị giữa người với người Phật giáo công nhận quyền bình đẳng
giữa con người với con người, đó chính là tiếng nói của đa số quần chúng laođộng trong xã hội Ấn Độ cổ đại nhằm phản kháng lại chế độ phân biệt đẳngcấp ngặt nghèo Tinh thần triệt để bình đẳng là một điểm tiến bộ quý giá củaPhật giáo Đức Phật đã từng tuyên bố: không có đẳng cấp trong dòng máu
Trang 15cùng đỏ, không có đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn, con người ta sinh
ra không phải đã mang sẵn trong bào thai dây chuyền ở cổ hay dấu tin – catrên trán Lời nói đó coi như một tuyên ngôn của Phật giáo chống lại sự bấtcông trong một xã hội phân biệt đẳng cấp đến cùng cực
Vấn đề bình đẳng nam nữ cũng được đề cập đến trong Phật giáo Phậtgiáo tôn trọng phẩm giá, nhân cách người phụ nữ, có thể nói đây là tư tưởngbình đẳng, dân chủ xưa nhất trong lịch sử nhân loại, nó không chỉ bao hàmtrong giáo lý mà đã được thể hiện trong thực tế Đức Phật đã cho phép thànhlập Giáo hội Tỳ kheo ni (Nữ tu sĩ), đây được coi như là một đoàn thể đầu tiêncủa phụ nữ, hơn nữa, Ngài cũng từng nói: trong hàng phụ nữ có người còn tốthơn đàn ông Như vậy, giữa xã hội Ấn Độ cổ đại đầy rẫy những bất công, hủtục như: người phụ nữ bị khinh rẻ, ruồng bỏ, bị cưỡng ép, buôn bán làm trò tiêukhiển cho đàn ông thuộc giới quyền quý thì Phật giáo đã đi ngược lại tràolưu, tư tưởng lạc hậu đó không chỉ bằng lời nói mà còn bằng hành động, qua đóchúng ta mới thấy hết được giá trị nhân văn sâu sắc trong Phật giáo Điều này,hoàn toàn trái ngược với Nho giáo, trong xã hội phong kiến người phụ nữ bịtrói buộc bởi lễ giáo phong kiến hà khắc Đạo Hồi ra đời sau Phật giáo rất lâu
mà tư tưởng bình đẳng nam nữ là một vấn đề mà họ không chấp nhận
Bình đẳng của tất cả mọi người về mặt nghiệp báo, luân hồi Không phânbiệt giàu nghèo, địa vị cao thấp, tuổi tác, mọi người đều căn cứ vào nghiệp báocủa bản thân để quyết định sinh tử luân hồi Điều này được thể hiện rõ trongthuyết nhân quả, nghiệp báo, luân hồi Thuyết nhân quả là một chân lý mà ĐứcPhật đã giác ngộ được và dạy cho chúng sinh: muốn biến cái nhân đời trước củamình thế nào thì hãy xem kết quả của cuộc đời ngày hôm nay, muốn biết kết quảngày mai của mình thế nào thì phải xem xét việc làm của mình ngày hôm nay.Theo thuyết nhân quả, có hai loại nhân, làm lành gọi là thiện nghiệp, làm ác gọi
là ác nghiệp Người làm thiện thì hưởng quả báo thiện, người làm ác thì chịu
Trang 16quả báo ác, cho nên “con người vừa là chủ nhân của nghiệp, vừa là kẻ thừa tựcủa nghiệp” Với thuyết nhân quả, Phật giáo khẳng định: không có lực lượngsiêu nhiên nào phán xét, ban thưởng hay trừng phạt các hành động tốt, xấu củacon người, mà chính con người tự quyết định số phận, cuộc sống của mìnhthông qua việc cố gắng trau dồi những tư tưởng, lời nói và hành động tốt đẹp
Đề cao tinh thần bình đẳng giữa con người với con người là một điểm tiến
bộ của Phật giáo so với các tôn giáo khác Khi nói về sự bình đẳng của đạo Cơ Đốc,Ph.Ăng ghen đã nhận xét rất sắc sảo, ông viết: “Đạo Cơ Đốc chỉ biết một sự bìnhđẳng đối với tất cả mọi người, đó là sự bình đẳng về tội tổ tông, một sự bìnhđẳng hoàn toàn phù hợp với tính chất của nó là tôn giáo của những người nô lệ
và những người bị áp bức Bên cạnh sự bình đẳng ấy, nhiều lắm thì đạo Cơ Đốccũng chỉ thừa nhận giữa những người được Chúa chọn, nhưng sự bình đẳng ấychỉ được người ta nêu ra vào thời kỳ đầu của đạo Cơ Đốc mà thôi” [1, tr 150].Như vậy là, công nhận có một đấng sáng tạo ban phát cho con người quyền bìnhđẳng, chính đấy đã là sự bất bình đẳng Nho giáo không những chính thức côngnhận bất bình đẳng trong xã hội mà còn đề cao nó, trong xã hội có người quân tử
và kẻ tiểu nhân J.Nehru trong “Phát hiện Ấn Độ” đã đánh giá tư tưởng bìnhđẳng của Phật giáo như sau: “Phật tổ không trực tiếp đả kích đẳng cấp, songtrong cách sắp xếp của mình, Ngài không thừa nhận nó Và chắc chắn là toàn bộthái độ, hành động của Ngài đã làm suy yếu chế độ đẳng cấp” [31, tr 190]
Đạo đức Phật giáo là đạo đức từ bi, khoan dung Phật giáo chủ trương
đem tình yêu thương đến với mọi người Phật giáo nhấn mạnh “từ bi”, đây là
phạm trù thuộc tứ vô lượng tâm của Phật giáo Tứ vô lượng tâm bao gồm: từ,
bi, hỷ, xả Tâm từ là tình thương bao la, không giới hạn; là đem lại hạnh phúc
cho mọi người, mọi loài, cứu khổ, cứu nạn cho chúng sinh mà quên đi nhữnglợi ích của bản thân Tâm bi là thương xót vô lượng, vô biên nhưng không bilụy, vì thế trở thành động lực cho việc cứu khổ, cứu nạn Đây cũng là đức tính
Trang 17giúp cho con người sống cao thượng hơn, gần gũi hơn Tâm hỷ là vui vẻ với
mình kể cả thất bại và nghịch cảnh, vui vẻ với thành công của người khác
cũng vô lượng vô biên Tâm xả là đem hết sức mình để cứu người, giúp người không mong bù đắp là tinh thần hy sinh vì tha nhân Tâm từ và Tâm bi là tiền
đề, là khởi đầu cho Tâm hỷ, Tâm xả Sự rung động, lòng trắc ẩn, cao thượng
hướng về nỗi đau của người khác sẽ định hướng cho con người trong lý trí vàhành động, sẵn sàng quên mình vì mọi người Xây dựng tứ vô lượng tâm,Phật giáo muốn nhấn mạnh vào cái tâm của con người, đó là đạo đức, lòngngười và trí tuệ Cái tâm của con người nằm trong mối quan hệ biện chứngvới xã hội Do đó, khi nói đến đạo đức của Phật giáo, người ta thường nói đến
từ, bi, hỷ, xả, vô ngã, vị tha, cho nên tứ vô lượng tâm vừa là cái thiện hoànchỉnh, vừa là lòng khoan dung rộng lớn của Phật giáo
Phật giáo xây dựng một triết lý sống, đó là lấy vị tha làm lẽ sống cao cả và
lý tưởng của mình Phật giáo nói đạo lý vô ngã là muốn con người hiểu rằng “cái
tôi” thực ra chỉ là giả tướng do bốn đại là: đất, nước, lửa, gió tạm thời hợp nhautạo thành mà thôi, theo quy luật có ngày nó sẽ bị tan rã, suy yếu, già rồi chết Dovậy, con người không nên mê muội theo đuổi danh lợi, không cần thiết phải tranhgiành mà cần phải độ lượng, khoan dung với mọi người Đó cũng chính là cáchcon người hoàn thiện bản thân để tiến tới giải thoát Với thuyết vô thường, vô ngã,Phật giáo đem lại cho con người một triết lý sống vị tha, nhân bản Khi đã thấusuốt được chân lý này, con người sẽ vươn lên khỏi cuộc sống vị kỷ mà sống theotinh thần từ, bi, hỷ, xả, vô ngã, vị tha Như vậy, Phật giáo là một tôn giáo giàu tìnhthương và yêu chuộng hòa bình Với lý tưởng nhân văn, bác ái, Phật giáo dễ gắn
bó với quần chúng, gần gũi với quan niệm nhân đạo cộng sản chủ nghĩa
Đạo đức Phật giáo là hướng thiện, chống cái ác và cảm hóa con người Trong giáo lý của Phật giáo, dù ở bất kỳ tập Kinh, tập Luận hay tập Luật
nào, dù ít hay nhiều cũng ngầm chứa những tư tưởng về cái thiện, mà tiêu chí
Trang 18đầu tiên là “bất sát”, dù có biện luận như thế nào thì cũng phải công nhận đạoPhật là một đạo thiện Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng nhận xét về ĐĐPG nhưsau: “cái sống trong đạo đức Phật giáo là từ bi và cứu khổ, cứu nạn Nó vượt quathời gian, không gian vì nó nhằm bảo vệ, phát huy, duy trì nhân bản “làm điềulành”, “hướng về điều lành”, hoặc ít nhất “đừng làm cái ác”, “đừng hướng về cáiác”
Thuyết Nghiệp báo, Nhân quả, Luân hồi với mục đích thiết thực của Phật
giáo mong muốn ai cũng làm điều thiện, tránh điều ác Nó có giá trị trong việc
giáo dục và thực hành đạo đức, đó là: con người gieo nhân nào thì sẽ được quả ấy.Chính vì vậy, đã góp phần nâng cao trách nhiệm của mỗi cá nhân trong quá trìnhsống trong môi trường xã hội Nó có tác dụng điều chỉnh không chỉ ý thức đạođức mà cả hành vi đạo đức của con người Khuyên con người sống nhân ái, vị tha,làm điều thiện, tránh điều ác Phạm vi ảnh hưởng của nó không chỉ với Phật tử vàcòn cả xã hội Trách nhiệm của cá nhân theo luật nhân quả là trách nhiệm cao nhấtđối với đạo đức của chính mình, con người cố gắng làm điều thiện, tu nhân tíchđức, tránh điều ác… để sẽ được nhân lành Mặt khác, thuyết Nhân quả, Nghiệpbáo, Luân hồi còn cho thấy rằng: con người không chỉ phải chịu trách nhiệm vềhành động của mình lúc còn sống, mà còn phải chịu trách nhiệm kể cả sau khichết, vì chết chưa phải là hết Sự kết thúc một cuộc đời này sẽ là sự kế tiếp củacuộc đời khác Như vậy, nó giúp cho con người hạn chế được dục vọng, thói ích
kỷ, đề cao cái tôi dẫn đến tham lam, tàn bạo, bất chấp lẽ phải, đạo lý…từ đó conngười nói riêng và xã hội nói chung sẽ có cuộc sống tốt đẹp hơn
Để đạt tới mục đích tuyệt đối, chân lý cuối cùng để đi đến giác ngộ, giảithoát Phật giáo cho rằng điều đầu tiên phải giữ giới Trong giới luật của Phật
giáo Ngũ giới có thể coi như là những chuẩn mực cơ bản của ĐĐPG Bên cạnh
đó còn có Thập thiện, giới luật của Tỳ kheo, Tỳ kheo ni… nhưng chung quy lạitất cả đều lấy Ngũ giới làm nền tảng Ngũ giới có vị trí hết sức quan trọng, nó
Trang 19được coi như là nấc thang ban đầu cho những ai đi vào Phật giáo Ngũ giới baogồm: không sát sinh; không trộm cắp; không tà dâm; không nói dối; không uốngrượu Theo Phật giáo, đạo đức được thể hiện rõ nhất trong việc giữ giới Xét vềbản chất, đây là những lời răn dạy cơ bản về đạo đức con người dù người đó cóphải là phật tử hay không Việc giữ gìn giới luật trước hết nhằm phát huy bảntính thiện, diệt trừ tham, sân, si, là phương tiện giúp cho con người vượt qua u
mê, bể khổ, luân hồi đem lại cho bản thân con người sự trong sạch, giải thoát.Thực hiện ngũ giới thực sự có ý nghĩa đối với mỗi con người và xã hội Đối với
cá nhân con người, Ngũ giới giúp hoàn thiện trong tư tưởng và hành vi, hoànthiện nhân cách con người theo nhân sinh quan Phật giáo Những giá trị mà Ngũgiới đặt ra, một mặt ngăn ngừa mầm mống nguy hại đến tư cách đạo đức conngười, mặt khác có tác dụng kích thích những hành vi tốt đẹp, tránh xa cái ác,hướng đến chân, thiện, mỹ Đối với xã hội, Ngũ giới có ý nghĩa thiết thực trongviệc xác lập trật tự an ninh, bảo đảm nếp sống tiến bộ, lành mạnh, văn minh
Những hạn chế trong tư tưởng đạo đức Phật giáo
Đạo đức Phật giáo đã để lại dấu ấn đậm nét trong lịch sử tư tưởng Ấn Độ
cũng như lịch sử tư tưởng nhân loại Với tính nhân văn sâu sắc đã đáp ứng đượckhát vọng của nhiều tầng lớp nhân dân Mặc dù vậy, trong nội dung ĐĐPG bêncạnh những giá trị đã được trình bày ở trên, còn bộc lộ những hạn chế như:
Đạo đức Phật giáo kêu gọi lòng từ bi, bác ái, nhưng đó là lòng từ bi bác
ái chung cho mọi xã hội có áp bức, có bóc lột giai cấp là một điều khôngtưởng Phật giáo khuyên con người sống nhân ái, vị tha, xóa bỏ hận thù Song,Phật giáo lảng tránh sự đấu tranh giai cấp, lảng tránh thực tại là sự đối lập vềđiều kiện sống của những người bị áp bức và những kẻ áp bức Về nỗi khổcủa con người, do quá nhấn mạnh vào nguyên nhân từ chính con người nhưtham, sân, si, sinh, lão, bệnh, tử… mà Phật giáo quên đi các nguyên nhânkhác như áp bức bóc lột, bất công xã hội gây nên Chính vì vậy, Phật giáo tìm
Trang 20cách giải thoát con người không phải trong hoạt động cải tạo tự nhiên và xãhội mà bằng việc hoàn thiện đạo đức Đây chính là điểm mạnh về mặt lýtưởng hóa, song lại là điểm yếu về phương diện hiện thực hóa của ĐĐPG Tưtưởng từ bi, hỉ xả, bình đẳng của Phật giáo rất đáng trân trọng, song mục đíchcuối cùng nhằm đạt tới cõi Niết bàn bên ngoài hiện thực Do vậy, tư tưởnggiải thoát đau khổ cho con người của Phật giáo không kém phần hoang tưởng,
có chăng chỉ giải phóng cho người ta về mặt tinh thần mà thôi
Phật giáo không hướng lý tưởng, mục đích của con người vào hiện thực
để xây dựng một nền đạo đức và con người hiện thực mà xây dựng một conngười không có tham vọng, không có ý chí phản khảng lại những áp bức củađời sống hiện thực, tạo tâm lý bằng lòng với thực tại, khiến cho con ngườicam chịu, nhẫn nhục trước những khó khăn, thách thức của cuộc sống Vớitriết lý nhân quả, duyên, nghiệp, vô ngã…không đem đến cho con người niềmtin nơi trần thế mà là niềm tin của sự thoát tục, niềm tin vào sự giải thoát Conngười phải gánh chịu những hậu quả của hành động của mình từ kiếp trước
Do vậy, con người phải phấn đấu tu thân, trau dồi đạo đức nhưng lại không cốgắng hết mình trong hoạt động thực tiễn xã hội Lý thuyết về nghiệp, luân hồi,quả báo của Phật giáo đã lôi kéo con người ra khỏi cuộc sống hiện thực để thumình trong cuộc sống tu tập Về thực chất Phật giáo khuyên con người chấp nhận thếgiới chứ không cải tạo thế giới, chấp nhận hoàn cảnh chứ không cải tạo hoàn cảnh
Mục đích cuối cùng, cao nhất của Phật giáo là hướng đến sự giải thoát
Để làm được điều này, theo Phật giáo con người phải “diệt trừ tham ái”,
“thiểu dục, trí túc”, khước từ những ham muốn chính đáng của con người.Mặc dù có ý nghĩa giáo dục, hướng con người đến một cuộc sống thanh cao, biếtvượt lên khỏi những ham muốn vật chất tầm thường Tuy nhiên, nó có phần tiêucực là thủ tiêu sức sống và hành động của con người, không khuyến khích conngười nâng cao đời sống vật chất hiện thực Sự khác nhau căn bản giữa ĐĐPG
Trang 21và đạo đức mới (đạo đức cộng sản chủ nghĩa) là một bên thì diệt dục bằng ý chí,
vì coi dục là nguyên nhân của mọi tội lỗi, là kém đạo đức; còn bên kia thì cốgắng thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng về vật chất và tinh thần của conngười bằng năng xuất và chất lượng cao của lao động sản xuất nhằm cải tạo thếgiới, và coi đó là tiêu chuẩn đánh giá tính nhân đạo thực sự của tiến bộ xã hội.Thông qua lao động để hoàn thiện con người và hoàn thiện xã hội
Với thuyết nhân quả, nghiệp báo, luân hồi, bên cạnh những yếu tố tíchcực, tiến bộ là duy trì đạo đức xã hội, hạn chế lòng tham, ích kỷ của conngười Tuy nhiên, mặt tiêu cực của nó là tạo cho con người suy nghĩ rằng sở
dĩ mình bị khổ là do nghiệp báo ở kiếp trước dẫn đến sự cam chịu số phận.Điều này thực sự nguy hại khi giai cấp thống trị và bọn xâm lược lợi dụng để
ru ngủ quần chúng, thủ tiêu ý chí đấu tranh của quần chúng Thuyết Duyênkhởi của Phật giáo khi áp dụng vào cuộc sống có mặt trái của nó là làm chotác phong của con người chậm chạp, thiếu chủ động, vì “gặp duyên lành thì làm”,nên ảnh hưởng không nhỏ đến tiến trình phát triển chung của con người và xã hội
Những hạn chế trên đây, xuất phát từ điều kiện kinh tế xã hội của Ấn Độtrong thời điểm lịch sử Phật giáo xuất hiện, một xã hội với cơ sở kinh tế cònnghèo nàn, đơn giản, sự phân chia đẳng cấp ngặt nghèo, thì tư duy con ngườiphản ánh những cơ sở kinh tế đó còn hạn chế là điều không thể tránh khỏi Mặtkhác, ĐĐPG là đạo đức tôn giáo cho nên nó bị chi phối bởi đặc trưng cơ bản củatôn giáo là tính chất hư ảo, duy tâm nên có những hạn chế là điều tất yếu
* Bản chất của tư tưởng đạo đức Phật giáo
Đạo đức Phật giáo là đạo đức phi giai cấp, phi lịch sử, phi hành động,phi hiện thực Bởi vì, nếu tôn giáo là sự phản ảnh hư ảo, xuyên tạc hiện thựckhách quan với chức năng đề bù hư ảo, thì tưởng ĐĐPG cũng là sự phản ảnh
hư ảo ấy Mặc dù, xét trên những nội dung cụ thể nó có những “hạt nhân hợplý” cần kế thừa Phật giáo coi xã hội chỉ là một tập hợp những cá nhân khác
Trang 22nhau về đạo đức, nhưng không loại trừ nhau về giai cấp, đẳng cấp Phật giáokhông quan niệm con người với tư cách là thành viên của một quan hệ sảnxuất, quan hệ kinh tế hay chính trị.v.v mà chỉ đơn thuần là thực thể của quan
hệ đạo đức thiện – ác Do đó, ĐĐPG không hướng vào cải tạo điều kiện sống
mà chỉ cố san bằng hố ngăn cách xã hội bằng đạo đức Đạo đức Phật giáophát triển, nhưng chỉ là đạo đức cá nhân chứ chưa đạt đến đạo đức xã hội
Đạo đức Phật giáo là đạo đức hướng về nội tâm con người Thông quanhững quan niệm, chuẩn mực, quy tắc được thể hiện trong giáo lý, giáo luật màĐĐPG thực hiện chức năng điều chỉnh hành vi con người phù hợp với thế giớiquan và nhân sinh quan Phật giáo, nhằm mục đích giải thoát con người khỏi khổđau Cái mạnh của ĐĐPG chính là ngoài những điều phù hợp với tình cảm đạođức của con người, nó lại được thực hiện thông qua tình cảm, tín ngưỡng, lòngtin mang tính chất tôn giáo Do đó, ĐĐPG được con người tiếp thu tạo thành đứctin thiêng liêng bên trong chi phối hành vi, ứng xử của họ trong các quan hệ xãhội Chính vì ĐĐPG thiên về nội tâm, phản tỉnh hơn là xử lý các quan hệ bềngoài Cho nên, Phật giáo phát huy tối đa tính tự chủ cá nhân, trong việc thựchành các quy tắc đạo đức Sự phán xét của đạo đức là nghiệp báo, nghiệp quảđiều chỉnh đạo đức của mỗi người theo quy luật nhân quả Phật giáo khẳng địnhcon người sẽ phải chịu hậu quả hay sẽ nhận thành quả mà thân nghiệp, khẩunghiệp, ý nghiệp của mình tạo ra Mỗi người vừa là chủ nhân của nghiệp vừa làthừa tự của nghiệp ĐĐPG chủ trương con người phải bắt đầu từ chính mình,phải tự cải tạo, tự hoàn thiện mình một cách bền bỉ, không mệt mỏi Trong cuộcsống con người phải chiến đấu với chính bản thân mình và con người phải chịutrách nhiệm trước mỗi hành vi của mình đối với cộng đồng và đối với toàn xãhội
Theo quan điểm của Phật giáo, mọi giá trị luân lý, đạo đức đều diễn ratrong thế giới nhân sinh chứ không phải do một thế lực siêu nhiên nào chi
Trang 23phối Phật tử lễ tượng Phật để bày tỏ lòng tôn kính của mình đối với một lýtưởng, bày tỏ lòng tri ân đối với một con người đã đem lại cho chúng sinhmột tấm gương, một học thuyết về đạo hạnh, để tự nhắc nhở mình trướcnhững đam mê của đời thường Quan điểm cốt lõi nhất về nhân sinh cũng lànhững định hướng cơ bản nhất cho những tư tưởng về đạo đức của Phật giáo
là “Tứ diệu đế” Những tư tưởng về thế giới quan và nhân sinh quan vừa chứađựng những định hướng vừa chứa đựng những chất liệu quan trọng nhất tạodựng nên những giá trị đạo đức xã hội và đời sống đạo đức cá nhân
Giá trị lớn nhất của Phật giáo là giá trị thuộc về đạo đức và văn hóa.Trong ĐĐPG thì tính thiện mang giá trị nổi bật ĐĐPG giáo góp phần hướngcon người theo cái thiện chống cái ác, bồi dưỡng lòng nhân ái, vị tha…vì vậy
nó có những giá trị nhất định Bản thân ĐĐPG không đủ khả năng để giảiquyết các yêu cầu của con người trong cuộc sống, song nó góp phần tạo ra sựbình ổn, cân bằng tâm lý cho con người ĐĐPG đưa ra những chuẩn mựcsống cao cả, lý tưởng, mặc dù, việc hiện thực hóa lý tưởng ấy là điều vô cùngkhó khăn, song đó là sự cổ vũ tinh thần cho con người trong việc vươn đếnnhững giá trị cao đẹp, các quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người Tuynhiên, ĐĐPG không đề cập đến sức mạnh xã hội để khắc phục hiện thực màchỉ khuyên con người quay về tự hoàn thiện mình, tách khỏi các mối quan hệ
xã hội, vì vậy nó mang tính tiêu cực, thụ động
Như vậy, từ những khía cạnh bản chất của tư tưởng ĐĐPG đã trình bàytrên cho thấy, mặc dù có những “hạt nhân hợp lý” và giá trị không thể phủnhận, nhưng tư tưởng ĐĐPG vẫn bị ngự trị bởi thế giới quan duy tâm tôn giáo
và có ảnh hưởng tiêu cực lâu dài tới đời sống tinh thần của con người Do đó,phải có thái độ khoa học trong xem xét ảnh hưởng của nó, cần biết phát hiện
ra những “hạt nhân hợp lý”, những giá trị phù hợp với đạo đức mới để kếthừa, phát huy, nâng nó lên một chất lượng mới, đáp ứng yêu cầu xây dựng và
Trang 24bảo vệ Tổ quốc hiện nay Đồng thời, cũng thấy được những ảnh hưởng tiêucực để có biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, khắc phục
1.1.2 Đánh giá ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức Phật giáo đến đạo đức Việt Nam truyền thống
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ khoảng thế kỷ thứ II tr CN và tồntại trên đất nước ta cho đến nay đã hơn hai nghìn năm Về con đường du nhậpcủa Phật giáo vào nước ta có nhiều quan điểm khác nhau, tuy nhiên quanđiểm của Giáo sư Trần Quốc Vượng trong “Cơ sở văn hóa Việt Nam” nhậnđược nhiều sự đồng tình của các nhà nghiên cứu đó là: “Đạo Phật tại GiaoChâu chắc chắn do từ Ấn Độ truyền sang trực tiếp, mãi về sau này mới lại do
từ Trung Quốc tiếp tục truyền xuống” [56, tr 105] Xuất phát từ hoàn cảnh lịch
sử khác nhau, nên mỗi thời kỳ Phật giáo mang những sắc thái khác nhau, có
vị trí, vai trò khác nhau trong đời sống, xã hội của con người Việt Nam Theosuốt chiều dài lịch sử, Phật giáo luôn có mặt, gắn bó mật thiết với dân tộc vàhầu như đã thấm sâu vào máu thịt rất nhiều người Việt Bởi vậy, dù trực tiếphay gián tiếp hầu hết người Việt đều chịu ảnh hưởng ít nhiều của Phật giáo
Tư tưởng ĐĐPG và đạo đức Việt Nam truyền thống có mối quan hệmật thiết, gắn bó, diễn ra theo cả hai chiều ĐĐPG ảnh hưởng đến đạo đứctruyền thống và ngược lại, đạo đức truyền thống dân tộc tác động trở lạiĐĐPG Tất nhiên trong mối quan hệ này, đạo đức truyền thống dân tộc là nềntảng, chi phối ĐĐPG Cơ sở của sự hòa nhập đó là: xuất phát từ đặc điểm củadân tộc Việt Nam là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước với tín ngưỡng bảnđịa là đa thần giáo, con người Việt Nam hiền hòa, yêu nước, yêu hòa bình, vìnghĩa và giàu lòng nhân ái Phật giáo với những giá trị tích cực như: từ bi, hỷ
xả, cứu khổ, cứu nạn, bình đẳng, bác ái đi vào lòng người, phù hợp với phongtục, tập quán bản địa Từ điều kiện lịch sử, dân tộc Việt Nam với gần mộtngàn năm Bắc thuộc, chịu biết bao đau khổ, khi Phật giáo được truyền vào
Trang 25Việt Nam, với những giá trị của mình, Phật giáo đã góp phần xoa dịu nỗi đau, nó nhưmột liều thuốc an thần đối với nhân dân ta Đó chính là những lý do để lý giải cho sựdung hợp mang tính biện chứng giữa ĐĐPG với đạo đức Việt Nam truyền thống, sựdung hợp và ảnh hưởng của nó được biểu hiện trên các vấn đề cơ bản sau:
Sự hòa nhập của tinh thần từ bi, hỷ xả với tinh thần yêu nước Việt Nam:
theo giáo sư Trần Văn Giàu: “Đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam là hệthống giá trị truyền thống yêu nước, cần cù, thương người, vì nghĩa, anh hùng,sáng tạo và lạc quan, trong đó chủ nghĩa yêu nước là giá trị đạo đức tinh thầnđứng đầu bảng trong giá trị truyền thống Việt Nam, truyền thống đó được hìnhthành trong quá trình hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước Trong bối cảnh lịch
sử ấy và những giá trị đặc trưng truyền thống ấy, Phật giáo muốn tồn tại và pháttriển được ở Việt Nam tất nhiên phải có sự thích ứng hòa hợp” [14] Phật giáo vớinhững giá trị đạo đức được xây dựng từ tinh thần đại từ, đại bi, cứu khổ, cứu nạn
đã hòa quyện với tư tưởng yêu nước, nhân nghĩa Việt Nam Sự hòa nhập của tinhthần từ bi, hỷ xả của Phật giáo với tinh thần yêu nước Việt Nam được thể hiệntrong suốt chiều dài lịch sử của quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta
Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong quan hệ ứng xử, giao tiếp:
nhiều phạm trù ĐĐPG tham gia vào nền đạo đức của dân tộc, đã trở thànhphương tiện diễn đạt quan niệm đạo đức truyền thống của người Việt Nam.Các phạm trù như “từ bi, hỷ xả”, “vô ngã, vị tha”, “cứu nhân độ thế”, “tu nhântích đức”, “sống nhân từ để phúc cho đời sau”… đã không còn là những thuậtngữ nguyên nghĩa của riêng Phật giáo, mà đã trở thành một phần trong lẽ sống
của người Việt, trở thành ngôn ngữ của đạo đức thực tiễn Cách thức giao tiếp,
ứng xử của người Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các quan niệmPhật giáo Nét phổ biến trong quan hệ ứng xử và giao tiếp của Phật giáo là cáithật, cái thiện ở cả thân, khẩu, ý Trong bát chính đạo của Phật giáo, có chínhngữ (giữ cho lời nói được đúng mực), đó chính là một trong các điều kiện để
Trang 26mỗi con người có những ứng xử phù hợp với mọi người trong xã hội Về ứng
xử, giao tiếp trong gia đình, Phật giáo đề cao sự hòa thuận và trách nhiệm củacác bậc cha mẹ, anh em, vợ chồng…đề cao sự hiếu thuận thông qua thực hiện
Tứ ân Điều này được thể hiện rất nhiều trong ca dao, tục ngữ Việt Nam
Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong sự công bằng, bình đẳng: khi
Phật giáo du nhập và phát triển ở Việt Nam, tư tưởng bình đẳng, công bằng đãhòa nhập với tư tưởng, công bằng, bình đẳng của người Việt Nam Cơ sở của
sự ảnh hưởng hòa nhập này có lẽ bắt nguồn từ tư tưởng bình quân nguyên
thủy của nền văn minh làng xã Phật giáo chủ trương thiết lập quan hệ công
bằng, bình đẳng giữa mọi người Phật giáo cho rằng mọi người đều bình đẳngnhư nhau, vì trong mỗi người đều có Phật tính Đức phật chỉ rõ rằng trongquan hệ với người khác, mỗi cá nhân không được cầu lợi cho mình Điều này
đã có ảnh hưởng rất lớn đối với quan niệm sống của người Việt
Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo về tính trung thực: trong giáo lý của
Phật giáo, tính trung thực thuộc vào giới “không nói dối” của chế ngũ giới, thập
thiện bao gồm cái “thực” ở cả thân, khẩu, ý Trung thực ở ý là trung tâm cho
cả thân và khẩu, vì thế đức Phật dạy tâm giữ ý trong sạch Từ yêu cầu phải trung thực, vì sự dối trá sẽ bị nghiệp báo Tính trung thực của Phật giáo được
đặt trong quan hệ nhân quả Thuyết nhân quả, nghiệp báo của Phật giáo gặp
gỡ với tín ngưỡng thác sinh của người Việt từ lâu đã lan tỏa thành nếp sống,nếp nghĩ “ở hiền gặp lành”, ác giả ác báo”, “nhân nào quả ấy”… trong nhândân Vì thế trong những truyện cổ dân gian như: Tấm Cám, Thạch Sanh,Quan Âm Thị Kính… thì kết cục đều có phần ca ngợi tính trung thực
Ảnh hưởng trong tính thiện, tình nghĩa và tình thương: tính thiện, tình
nghĩa và tình thương mang bản sắc Việt Nam được con người Việt Nam hunđúc trong quá trình dựng nước và giữ nước Cái thiện của con người Việt Nammang tinh thần bình đẳng, vị tha, tôn trọng, yêu thương con người Phật giáo
Trang 27đã góp phần với tư tưởng truyền thống Việt Nam để xây dựng lên tính thiện,tình nghĩa và tình thương Đó là, tình thương nước, “thương người như thểthương thân”, “Lá lành đùm lá rách”…Thương người còn đi đôi với kínhngười, tôn trọng con người… Tình thương, tình nghĩa, tính thiện không chỉthể hiện trong quan hệ với hiện tại mà còn được thể hiện trong quan hệ vớiquá khứ như : “Uống nước nhớ nguồn” hoặc “ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”…
Ảnh hưởng trong tấm lòng bao dung rộng lớn: xuất phát từ tứ vô lượng
tâm, Phật giáo đã góp phần cùng với dân tộc Việt Nam trong việc xây dựng tấmlòng bao dung rộng lớn, vô ngã, vị tha Tinh thần bao dung rộng lớn được thể hiệntrước lỗi lầm của con người Trong cách ứng xử của người Việt thể hiện rất rõđiều này như: “Biển cả mênh mông, quay đầu là bờ”; “Đánh kẻ chạy đi không aiđánh kẻ chạy lại”… Tinh thần bao dung còn được thể hiện trong cách ứng xử với
kẻ thù khi chúng bại trận, trong chính sách nhân đạo đối với tù binh, hàng binh
Ảnh hưởng trong tinh thần tự lực, tự chủ của mỗi người: Phật giáo
khẳng định mỗi cá nhân là chủ nhân của chính mình, không phải làm nô lệcủa người khác kể cả là nô lệ cho đức Phật, hãy “tự đốt đuốc mà đi” Tưtưởng này của Phật giáo khiến con người được giải phóng khỏi sự trói buộccủa thần quyền, nhờ đó mà được tự do Chính con người phải tự quyết định sốphận và tiền đồ của chính mình Quan điểm tự lực, tự chủ của Phật giáo đãgóp phần xác định thêm cho tinh thần tự lực, tự chủ của mỗi người Việt Nam
* Mặt hạn chế: bên cạnh những tác động tích cực nói trên, Phật giáo cũng
đã có những tác động tiêu cực không nhỏ tới đời sống của người dân Việt Nam.Với cách nhìn cuộc đời là bể khổ không bờ bến, thoát khổ bằng tu tâm, dưỡngtính để diệt trừ vô minh đạt giác ngộ Phật giáo đã đưa lại cho người Việt Namquan niệm sống bi quan, yếm thế, coi cuộc đời chỉ là phù hoa, thoảng qua, làsống gửi, thác về Nhìn cuộc đời một cách bi quan, thụ động nên người Việtcũng dễ chùn bước khi gặp khó khăn, sống buông trôi cho qua ngày, đoạn tháng
Trang 28với niềm tin chỉ lo tu tâm, dưỡng tính là đủ Khi gặp trắc trở người Việt lạithường hay nghĩa đến số phận, nghiệp chướng, nhân quả, khiến con người tahình thành tính cách bị động, ít chịu vươn lên, hạn chế năng lực đấu tranh xã hộicủa những con người hiện thực, thậm trí thờ ơ, do dự đối với cái tiêu cực, cái ácđang gây bất bình trong xã hội; không tin tưởng vào hoạt động đấu tranh tích cựccải tạo, chống tiêu cực trong xã hội, mà chờ đợi, tin vào nhân quả tự đến.
Như vậy, từ đánh giá sự ảnh hưởng của tư tưởng ĐĐPG đến đạo đứcViệt Nam truyền thống cho thấy: việc nhận thức và đánh giá ảnh hưởng của tưtưởng ĐĐPG đến đạo đức con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay cầnphải có quan điểm duy vật biện chứng Cần nhận thức và vận dụng đúng quanđiểm của triết học Mác – Lênin về tính hai mặt của tôn giáo Các nhà kinh điểncủa Triết học Mác – Lênin khi bàn về tôn giáo đã đề cập đến vấn đề đạo đức tôngiáo; trong đó, các ông không những chỉ phê phán mặt tiêu cực mà còn chỉ ramột số ý nghĩa tích cực của đạo đức tôn giáo Tuy nhiên, các ông thường xemxét tôn giáo gắn với tình hình và thực tiễn đấu tranh giai cấp ở Châu Âu lúc đó,phục vụ trực tiếp cho yêu cầu cách mạng của giai cấp vô sản Do đó, phải nóinhiều đến nhiều mặt tiêu cực của tôn giáo, mà chưa có điều kiện đi sâu nghiêncứu các khía cạnh tích cực của văn hóa, tâm lý, tình cảm, đạo đức tôn giáo
Nắm rõ những giá trị và hạn chế của tư tưởng ĐĐPG cũng như những ảnhhưởng của nó đối với con người Việt Nam Từ đó, kế thừa phát huy những giá trị
và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng ĐĐPG đến con người Việt Nam hiệnnay Tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng, ngoài mặt tiêu cực vẫn có những
“hạt nhân hợp lý” hiện vẫn còn phù hợp với xã hội Đó là mặt văn hóa, đạo đức, vàđáp ứng được yêu cầu của đời sống tâm linh của con người ĐCSVN đã khẳngđịnh: “Phát huy những giá trị tốt đẹp về văn hóa và đạo đức của tôn giáo” [10, tr.128] Dưới chủ nghĩa xã hội, Phật giáo vẫn có khả năng tự biến đổi và thích nghitheo xu hướng đi cùng với dân tộc, sống “tốt đời đẹp đạo”, “đồng hành cùng dân
Trang 29tộc”, “Đạo pháp – dân tộc – xã hội chủ nghĩa” Quan điểm này của Đảng và Nhànước ta cần phải được phát huy thành các định hướng cụ thể hơn trên tinh thần khaithác hơn nữa các yếu tố văn hóa, đạo đức, tinh thần tích cực của Phật giáo Trongquá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hộinhập quốc tế hiện nay, ĐĐPG đang góp phần cùng pháp luật và đạo đức mới chốnglại những biểu hiện tiêu cực, phi nhân tính trong sản xuất, kinh doanh, hay phai nhạtbản sắc dân tộc trong đời sống tinh thần xã hội, cũng như đang góp phần phát huynhững nét đẹp trong quan hệ giữa con người với con người, góp phần xây dựngnhân cách con người Việt Nam trong thời đại mới vừa hiện đại vừa giàu bản sắcdân tộc
Những ảnh hưởng trên của tư tưởng ĐĐPG không những chỉ có tronglịch sử mà còn tiếp tục trong giai đoạn hiện nay Bởi lẽ, Phật giáo là một tôngiáo lớn của thế giới; đồng thời, cũng là một học thuyết mang đậm tính triết
lý sâu sắc Ở Việt Nam, Phật giáo là một tôn giáo có truyền thống gắn bó vớidân tộc ta từ rất lâu đời và có ảnh hưởng không nhỏ đến lối sống, suy nghĩcủa người Việt Ngày nay, những điều kiện về kinh tế - xã hội, nhận thức, tâm
lý là cơ sở cho Phật giáo phát triển vẫn còn tồn tại Hơn nữa, bản thân Phậtgiáo cũng không ngừng tự vận động biến đổi cho phù hợp với hoàn cảnh, điềukiện mới Trước tình hình thực tiễn như vậy, đòi hỏi phải có quan điểm khoahọc để nghiên cứu một cách toàn diện những cơ duyên tồn tại và phát triểncủa Phật giáo Đồng thời, đây cũng chính là cơ sở, ngọn nguồn để tiếp tục nghiêncứu, khái quát, tìm ra những ảnh hưởng của tư tưởng ĐĐPG, từ đó khái quát rút ranhững quan điểm, biện pháp nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của tưtưởng ĐĐPG đối với đạo đức của người Việt Nam hiện nay, trong đó có TNQĐ
1.2 Thực chất và đặc điểm ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức Phật giáo đến đạo đức thanh niên quân đội
Trang 301.2.1 Thực chất ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức Phật giáo đến đạo đức thanh niên quân đội
Trong QĐNDVN, thanh niên là lực lượng cơ bản, bao gồm chiến sĩ,
hạ sĩ quan và đội ngũ sĩ quan trẻ có tuổi đời từ 18 đến 30 tuổi Đây là lựclượng đông đảo chiếm từ 63% đến 68 % tổng quân số “Ở các đơn vị huấnluyện, sẵn sàng chiến đấu, thanh niên chiếm trên 80% quân số; ở cấp đại đội,hầu hết cán bộ, chiến sĩ ở độ tuổi thanh niên Sĩ quan trẻ (dưới 30 tuổi) chiếmgần 30% tổng số sĩ quan; đảng viên trẻ (dưới 30 tuổi) chiếm gần 40% tổng sốđảng viên Thanh niên là công nhân viên chức, lao động quốc phòng chiếmtrên 30%” [42, tr 19].Họ là nguồn nhân lực có vai trò rất quan trọng trong sứcmạnh chiến đấu của quân đội và là lực lượng đang tiếp bước, kế thừa truyềnthống cách mạng vẻ vang của Đảng và quân đội Là một bộ phận của thanhniên cả nước, TNQĐ vừa mang những đặc điểm chung của lứa tuổi thanhniên, lại có những đặc điểm riêng của bộ phận thanh niên hoạt động trong lĩnhvực quân sự Thanh niên quân đội hiện nay có những đặc điểm nổi bật sau:
Đặc điểm về tâm lý: là những nhân cách đang trưởng thành, có sự phát
triển khá toàn diện về thể chất Họ có nhiều ưu thế của tuổi trẻ, đây là lứa tuổi cóthể tiếp nhận cả một đạo lý cao cả, khát khao lý tưởng và hành động hướng tới cácgiá trị tốt đẹp Tuy nhiên, họ chưa ổn định về mặt nhân cách, ở họ một số thuộctính về phẩm chất nhân cách chưa được hoàn toàn định hình và đang trong độ pháttriển và từng bước hoàn thiện Mặc dù TNQĐ luôn sôi nổi, hăng hái, nhiệt tình,giàu mơ ước, khát vọng, chân thành trong ý nghĩ, việc làm, nhạy cảm với cái mới,
có nghị lực, có quyết tâm cao trong thực hiện các nhiệm vụ…nhưng còn thiếuchín chắn, khả năng kiềm chế kém, dễ bị kích thích, chủ quan, thiếu kinh nghiệmtrong đánh giá và xử lý các vấn đề thực tiễn, gặp khó khăn dễ sinh ra hoang mangdao động Vì tuổi đời còn ít, do vậy họ chưa đủ kinh nghiệm và sự từng trải để cócách suy xét, đánh giá, lựa chọn các giá trị theo sự chỉ dẫn sáng suốt của lý trí và
Trang 31họ cũng dễ bị các cám dỗ của cuộc sống lôi kéo, dễ bị ảnh hưởng bởi các tệ nạn xãhội… Chính vì vậy, mà đời sống tinh thần, đạo đức của TNQĐ biến động nhanh.
Do vậy, việc giáo dục, rèn luyện, xây dựng, bồi dưỡng, phát triển ĐĐCM ởTNQĐ cần được coi trọng để TNQĐ đạt được sự hoàn thiện hơn về mặt đạo đức
Đặc điểm về trình độ học vấn: trình độ học vấn ngày càng được nâng lên, số
lượng thanh niên nhập ngũ đã tốt nghiệp THPT chiếm tỷ lệ ngày càng cao Toànquân nhập ngũ đợt 1 năm 2014, số tân binh có “trình độ học vấn phổ thông trunghọc trở lên là: 65,6% tăng 6,7% so với đợt 1 năm 2013” [45, tr 24] Đây là điềukiện thuận lợi để TNQĐ cống hiến và trưởng thành về mọi mặt, trong đó có sựhoàn thiện các phẩm chất chính trị, đạo đức Thanh niên là học viên trong các nhàtrường quân đội và sỹ quan trẻ có phẩm chất đạo đức tốt, được đào tạo cơ bản, hệthống, trình độ học vấn khá cao, thường xuyên tiếp xúc với các tri thức khoa họchiện đại Đây là các đặc điểm thuận lợi cho việc xây dựng, phát triển ĐĐCM ở họ.Tuy nhiên, cũng còn một số không nhỏ thanh niên xuất thân từ dân tộc thiểu số,vùng sâu, vùng xa trình độ còn thấp “Theo số liệu của Sư đoàn 3, Quân khu 1, cótới 48,4% chiến sĩ chưa tốt nghiệp THPT, thậm trí chưa tốt nghiệp tiểu học vẫnđược gọi nhập ngũ” [18, tr 27]; “Quân khu 9 năm 2012, số thanh niên nhập ngũ cótrình độ trung học cơ sở chiếm khoảng 39,96 %” [2, tr 16]; Trong toàn quân, tuyểnquân đợt 1 năm 2012, có đến “46,83% trình độ trung học cơ sở” [43, tr 20]
Đặc điểm về tính chất nhiệm vụ: là những người đang trực tiếp huấn
luyện, rèn luyện, học tập, công tác tại các nhà trường và đơn vị quân đội TNQĐgiữ vai trò xung kích, lực lượng chủ yếu trực tiếp trong thực hiện các nhiệm vụ Dođặc thù của tổ chức và hoạt động quân sự quy định, nên các hoạt động của họ đòihỏi cao sự chịu đựng cả về sức khỏe và tinh thần Khi bước vào môi trường quân
sự họ còn nhiều bỡ ngỡ nên chưa thích ứng ngay được với các hoạt động quân sự,chưa có ngay được các phẩm chất cần thiết của người quân nhân cách mạng Mặtkhác, môi trường hoạt động quân sự có tính chất đặc biệt, nên mọi sinh hoạt, học
Trang 32tập, huấn luyện diễn ra trong môi trường tổ chức tập trung với một thiết chế tổchức lãnh đạo, chỉ huy chặt chẽ, sự chấp hành điều lệnh, điều lệ vô điều kiện…cho nên tính tập thể, tính kỷ luật thường rất cao Chính vì vậy, so với các bộ phậnthanh niên khác, TNQĐ ít chịu ảnh hưởng của các tác động tiêu cực bên ngoài xãhội.
Đặc điểm về cơ cấu, thành phần của thanh niên: theo số liệu của
Cục Dân vận, Tổng cục Chính trị “hiện nay, nước ta có khoảng hơn 15 triệu tín
đồ các tôn giáo, trong đó Phật giáo có số lượng tín đồ lớn nhất khoảng 10 triệu,chưa kể Phật giáo Hòa Hảo khoảng 1,3 triệu tín đồ” [41, tr 7] Thực hiện nghĩa
vụ quân sự, mỗi năm có hàng chục vạn thanh niên nhập ngũ với nhiều thànhphần dân tộc, tôn giáo khác nhau “Trong 10 năm, toàn quân đã tuyển và gọi121.162 công dân các tôn giáo nhập ngũ”; “Tỷ lệ thanh niên có đạo nhập ngũhàng năm đều tăng, nhiều đơn vị của Quân đoàn 4, Quân khu 7, Quân khu 9 tỷ
lệ quân nhân gốc đạo, có đạo hàng năm tăng trên 10% trong tổng số thanh niên
nhập ngũ”[12, tr 2] Những địa phương như: Huế, thành phố Hồ Chí Minh, các
tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long có số thanh niên nhập ngũ theo Phật giáo hoặc
có gốc Phật giáo chiếm tỷ lệ cao hơn Chẳng hạn năm 2012, “Quân khu 9, tuyểnchọn hơn 11 nghìn thanh niên nhập ngũ, trong đó thanh niên gốc Phật giáochiếm 11,4% quân số” [2, tr.16] Ngoài ra, số thanh niên có cảm tình với Phậtgiáo cũng có số lượng không nhỏ Thành phần xuất thân của thanh niên quânđội đa số là nông dân, trong “Đợt 1 năm 2012, có 86,51% thanh niên thànhphần xuất thân là nông dân nhập ngũ” [43, tr.20]
Như vậy, từ phân tích những đặc điểm riêng của TNQĐ trên, sẽ là cơ sởquan trọng để đánh giá những ảnh hưởng của tư tưởng ĐĐPG đến đạo đức TNQĐ
* Đạo đức thanh niên quân đội
Đạo đức thanh niên quân đội là đặc thù đạo đức cách mạng ở một đối tượng cụ thể, đây là hệ thống các nguyên tắc, chuẩn mực tạo nên nền tảng
Trang 33nhân cách và có tác dụng điều chỉnh hành vi của người thanh niên quân đội phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của lĩnh vực quân sự đặt ra
Đạo đức TNQĐ thực chất là ĐĐCM ở một đối tượng cụ thể, trong một lĩnhvực hoạt động đặc biệt, đó là hoạt động quân sự Bởi lẽ, QĐNDVN do Chủ tịch
Hồ Chí Minh và ĐCSVN trực tiếp, tổ chức, xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rènluyện; đó là một quân đội cách mạng, mang bản chất giai cấp công nhân Vì vậy,đạo đức của quân nhân trong quân đội phải là ĐĐCM Mặt khác, đạo đức là mộthiện tượng phổ biến mang tính lịch sử - cụ thể không chỉ đối với từng giai đoạnphát triển của xã hội, đối với mỗi giai cấp và dân tộc mà còn đối với từng lĩnh vựchoạt động của con người Chính vì vậy, trong mỗi lĩnh vực hoạt động, mỗi nghềnghiệp lại có đạo đức riêng mang tính đặc thù của nghề nghiệp đó Với tính cách làmột hệ thống giá trị và yếu tố nền tảng trong nhân cách người cách mạng, ĐĐCMđược biểu hiện cụ thể, sinh động ở mỗi người, mỗi lĩnh vực hoạt động khác nhau
Đạo đức TNQĐ là sự thống nhất biện chứng giữa hệ thống các giá trị, chuẩnmực đạo đức chung của người quân nhân cách mạng và những giá trị đạo đức riêngcần phải có ở người TNQĐ Đây là một hệ thống giá trị đạo đức tốt đẹp, tiến bộ,hợp quy luật vừa phản ánh thực tiễn sự nghiệp cách mạng của đất nước, vừa phảnánh thực tiễn hoạt động của người TNQĐ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc XHCN; đồng thời, nó là kết quả tác động trực tiếp của môi trường xã hội, môitrường quân sự và tổng hòa các mối quan hệ mà người TNQĐ tham gia vào
Sự thống nhất hữu cơ giữa đạo đức của người quân nhân cách mạng vớinhững phẩm chất đạo đức riêng phản ánh đặc thù của lứa tuổi, đặc thù về vai trònhiệm vụ của người thanh niên là không tách rời nhau Sự thống nhất đó đã tạo
nên nét đặc thù của ĐĐCM ở TNQĐ, biểu hiện ở các khía cạnh sau: Thứ nhất,
ĐĐCM của TNQĐ được biểu hiện ở ý thức đạo đức của họ, cốt lõi là sự nhậnthức hệ thống giá trị, những yêu cầu cụ thể đặt ra cho người thanh niên trong quátrình thực hiện nhiệm vụ, nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Thứ hai,
Trang 34ĐĐCM của TNQĐ biểu hiện ở thực tiễn đạo đức của họ với nét đặc thù nổi nênlà: phát huy vai trò xung kích của tuổi trẻ trong thực hiện nhiệm vụ của mình, cótình yêu nghề nghiệp quân sự và tinh thần ham học tập, phấn đấu vươn lên Thứ
ba, ĐĐCM của TNQĐ còn được thể hiện sinh động, cụ thể trong quan hệ đạo đứccủa họ Trong đó, quan hệ chủ yếu, nổi lên là quan hệ của họ với Đảng, Tổ quốc vànhân dân, quan hệ cấp trên, cấp dưới, quan hệ đồng chí, đồng đội Việc giảiquyết các mối quan hệ này được thực hiện trên cơ sở đặc điểm về vai trò vànhiệm vụ cụ thể của TNQĐ, theo chuẩn mực giá trị đạo đức chung và chuẩnmực ứng xử đạo đức của người thanh niên trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc
Như vậy, từ sự phân tích trên có thể thấy so với các bộ phận thanh niênkhác trong xã hội ĐĐCM ở TNQĐ được biểu hiện tập trung ở những nội dung
cơ bản như: Yêu nước, trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc, gắn bó mậtthiết với nhân dân, dũng cảm, sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì độc lập, tự do của
Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân Có tinh thần đoàn kết,tính kỷ luật cao, nhân ái, yêu thương, đồng chí, tôn trọng và hết lòng giúp đỡ lẫnnhau Tinh thần ham học hỏi, cầu tiến bộ, luôn có ý chí quyết tâm cao, không ngạikhó khăn, năng động, sáng tạo xung kích đi đầu trong thực hiện các nhiệm vụ…
Tóm lại, là người quân nhân cách mạng, đạo đức TNQĐ là ĐĐCM Hệthống giá trị ĐĐCM được biểu hiện một cách toàn diện, với những yêu cầu cụthể trong cuộc sống và hoạt động của người TNQĐ Nó là sự thống nhất giữanhững nguyên tắc, giá trị, chuẩn mực đạo đức chung của người quân nhâncách mạng và những phẩm chất đạo đức riêng của người TNQĐ, từ đó tạo ranét đặc thù của đạo đức TNQĐ Nắm chắc những vấn đề cơ bản của đạo đứcTNQĐ là cơ sở để quan niệm, nghiên cứu, phân tích chỉ ra những ảnh hưởngcủa tư tưởng ĐĐPG đến đạo đức TNQĐ hiện nay
* Quan niệm về ảnh hưởng của tư tưởng ĐĐPG đến đạo đức TNQĐ.
Trang 35Ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức Phật giáo đến đạo đức thanh niên quân đội, là sự tác động, thẩm thấu bao hàm cả hai mặt tích cực và tiêu cực của tư tưởng đạo đức Phật giáo đến các yếu tố cấu thành đạo đức thanh niên quân đội, làm biến đổi nhất định các yếu tố đó trong đạo đức thanh niên quân đội.
Như đã trình bày ở phần trên, trong tư tưởng ĐĐPG không chỉ có nhữnggiá trị, mà còn những yếu tố lạc hậu, tiêu cực Bởi lẽ, Phật giáo là một tôn giáo,
đã là một tôn giáo thì sự phản ánh mang tính chất đặc thù, đó là tính hư ảo.Thông qua các chức năng như: đền bù hư ảo, thế giới quan, điều chỉnh hànhvi… mà Phật giáo tác động đến các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó cóđạo đức TNQĐ theo hai chiều hướng cả tích cực và tiêu cực Một mặt, nhữnggiá trị tiến bộ, tích cực phù hợp với những giá trị, chuẩn mực đạo đức TNQĐ
sẽ góp phần bổ sung, bồi đắp làm phong phú thêm Mặt khác, những yếu tố lạchậu, tiêu cực sẽ cản trở quá trình xây dựng, phát triển đạo đức TNQĐ Vì vậy,khi nghiên cứu, phân tích sự ảnh hưởng của tư tưởng ĐĐPG đến đạo đứcTNQĐ cần phải lưu ý đến cả hai chiều hướng của sự tác động đó, nếu chúng taquá nhấn mạnh mặt ảnh hưởng tiêu cực mà xem nhẹ sự ảnh hưởng tích cựchoặc ngược lại sẽ dẫn đến phiến diện, áp đặt và thiếu khoa học Sự ảnh hưởngcủa tư tưởng ĐĐPG đến đạo đức TNQĐ được thể hiện ở những nội dung sau:
Tư tưởng đạo đức Phật giáo góp phần bồi đắp, bổ sung những giá trị đạo đức nhất định trong quá trình phát triển đạo đức cách mạng của thanh niên quân đội Tư tưởng ĐĐPG có những ảnh hưởng tích cực đến đời sống tinh thần
xã hội, góp phần làm phong phú cho những giá trị đạo đức, lối sống của dân tộcViệt Nam, trong đó có TNQĐ Điều đó, xuất phát từ những cơ sở sau đây: một
là, bản thân Phật giáo chứa trong nó những giá trị đạo đức mang tính phổ biếncủa nhân loại như: “sống thiện”, “nhân ái, vị tha”, “tránh làm điều ác”, chú trọngrèn luyện đạo đức cá nhân.v.v những tư tưởng đó có nhiều điểm tương đồngvới phong tục, tập quán, lối sống của người Việt Nam, cho nên ngay từ khi
Trang 36truyền bá vào Việt Nam đã được nhân dân ta tiếp nhận một cách tự nhiên, dễdàng Trong đó, nhiều giá trị ĐĐPG đã trở thành di sản văn hóa quý báu của dântộc và hiện nay vẫn đang được kế thừa, bổ sung và phát triển Hai là, nước tađang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Thời kỳ mà có sự đan xen giữanhững giá trị, chuẩn mực đạo đức mới đang hình thành, phát triển và những tàn
dư của đạo đức cũ vẫn còn tồn tại, cũng như xuất hiện những quan niệm, hành viphi đạo đức của mặt trái cơ chế thị trường Trong bối cảnh đó, giá trị ĐĐPG “bổ
sung” vào những thiếu hụt trong thực hành đạo đức xã hội Ba là, trong quá trình
xây dựng nền đạo đức mới, lối sống mới cần kế thừa, tiếp nối những giá trị đạođức truyền thống của dân tộc trong đó có tư tưởng ĐĐPG Là một trong nhữngyếu tố hợp thành đạo đức truyền thống dân tộc, ĐĐPG đã góp phần hình thành,bồi đắp, bổ sung các giá trị đạo ĐĐCM của TNQĐ Đảng ta đã chỉ rõ “Tôngiáo có những giá trị văn hóa, đạo đức phù hợp với chế độ mới” [9]
Ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức Phật giáo đến ý thức đạo đức của thanh niên quân đội Ý thức đạo đức là toàn bộ các quan niệm về thiện, ác, tốt, xấu,
lương tâm, trách nhiệm về những nguyên tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng
xử giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội Ý thức đạo đức là sự phảnánh hành vi đạo đức Phật giáo chú trọng đến hậu quả hành vi của con người.Chính con người phải chịu trách nhiệm trong hành động của mình theo luật nhânquả Tư tưởng đạo đức trong triết lý nhân sinh của Phật giáo có ý nghĩa giáo dục,hướng con người không ngừng phấn đấu, hoàn thiện mình, khuyến khích làmđiều thiện, tránh điều ác; giáo dục con người biết hi sinh lợi ích cá nhân, biết yêuthương mọi người Nhất là trong nền kinh tế thị trường hiện nay, ngoài nhữngtích cực còn nảy sinh nhiều tiêu cực mới ảnh hưởng tới đạo đức của thanh niêntrong đó có TNQĐ Do mải chạy theo lối sống lối sống vật chất tầm thường màquên đi việc hoàn thiện nhân cách Chính những lời khuyên của Phật giáo cùngvới truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc đã tác động không nhỏ đến việc
Trang 37hình thành ý thức đạo đức tốt đẹp, đến quan điểm sống nhân đạo, nhân văn củaTNQĐ, đồng thời ngăn ngừa những ảnh hưởng tiêu cực từ xã hội đến họ.
Ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức Phật giáo đến hành vi đạo đức của thanh niên quân đội Chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức được thực
hiện bằng hai hình thức chủ yếu đó là: thông qua dư luận xã hội và bản thânchủ thể tự giác điều chỉnh hành vi Chuẩn mực ĐĐPG thường được thể hiệnthông qua các điều răn, điều cấm, khuyên con người ta những điều nên làm vànhững điều không được làm Những quy tắc, chuẩn mực ĐĐPG đều tập trungvào việc tu dưỡng đạo đức cá nhân và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với mọingười trong xã hội Trên thực tế, không phải mọi thanh niên đều hiểu sâu sắc
về giáo lý của Phật giáo, nhưng họ vẫn thực hiện theo những tín điều của Phậtgiáo ĐĐPG với việc đề cao tính thiện trong mỗi con người, vì vậy đòi hỏimỗi con người phải thể hiện tính thiện cả trong suy nghĩ, lời nói, ứng xử vàhành động Cái thể hiện rõ nét trong hành vi theo tư tưởng ĐĐPG là trung thực,làm phúc, làm điều thiện, từ tốn, lễ phép Tư tưởng này phù hợp với tư tưởng đạođức truyền thống dân tộc và văn hóa ứng xử, giao tiếp của người Việt Nam Vìvậy, mà ảnh hưởng không nhỏ tới hành vi đạo đức của TNQĐ, nó biểu hiện ởhành vi trong quan hệ với cấp trên, đồng chí, đồng đội, quan hệ bạn bè, quan
hệ với nhân dân và các quan hệ trong cuộc sống hàng ngày
Ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức đến việc xây dựng các mối quan hệ đạo đức của thanh niên quân đội Quan hệ đạo đức của TNQĐ là sự vận dụng
các giá trị, chuẩn mực đạo đức của xã hội, của quân đội vào giải quyết quan hệ
cụ thể của cá nhân TNQĐ, sao cho phù hợp với yêu cầu của xã hội, của quânđội Đạo đức truyền thống dân tộc Việt Nam đề cao chuẩn mực quan hệ đạo đứcgiữa các thành viên trong gia đình và giữa cá nhân với cộng đồng, với dân tộc
Có thể nói, đối với người Việt Nam, một cá nhân được đánh giá là tốt hay xấu,sống có đạo đức hay không đạo đức tùy thuộc vào việc ứng xử của cá nhân đó
Trang 38với tổ tiên, với gia đình với cộng đồng và cao nhất là với đất nước, dân tộc.ĐĐPG với tư tưởng từ bi, hỷ xả luôn đề cao sự công bằng, bình đẳng, đoàn kết,tinh thần vị tha, tự lực, tinh thần giúp đỡ người khác, chính những yếu tố đó đãảnh hưởng không nhỏ tới quan hệ đạo đức của TNQĐ, nó thể hiện ở truyềnthống “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”; trong xây dựng mốiquan hệ đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau; ở tinh thần vị tha trước nhữngsai lầm, khuyết điểm của đồng chí, đồng đội Trong quan hệ ứng xử và giao tiếp,Phật giáo khuyên con người thể hiện cái thật, cái thiện trong suy nghĩ, lời nói
và hành động Tư tưởng đó có ảnh hưởng rất nhiều đến người Việt Chính vìvậy, người Việt Nam thường rất cẩn trọng lời nói trong ứng xử và giao tiếp Tưtưởng này tất yếu có ảnh hưởng đến các quan hệ của TNQĐ với nhau, nhất làtrong quan hệ với cấp trên, với đồng chí, đồng đội, với nhân dân…
Tuy nhiên, tư tưởng ĐĐPG còn ảnh hưởng tiêu cực đến đạo đức của TNQĐ như: Ảnh hưởng tiêu cực đến việc hình thành, phát triển thế giới quan khoa học của thanh niên quân đội Những hạn chế của tư tưởng ĐĐPG cản trở trực
tiếp đến nhận thức khoa học về thế giới và con người của TNQĐ với các biểuhiện như: tin vào số phận, sự may rủi, cầu xin sự giúp đỡ của thần, Phật, điphép, tranh thủ, làm những việc quan trọng còn chọn ngày, giờ lành, kiêng cữngày xấu; một số sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp trẻ còn biểu hiện thắphương vào ngày rằm, đầu tháng tại phòng ở, phòng làm việc … Điều đó, chothấy sự không kiên định, vững vàng về thế giới quan khoa học, tạo cho họniềm tin xa rời cuộc sống hiện thực, giảm sút niềm tin vào bản thân và hạn chếhoạt động thực tiễn, ảnh hưởng tới nhân cách người TNQĐ cũng như ảnh hưởngđến bản chất, truyền thống tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” Từ đó, đặt ra cần phảiquan tâm giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng thế giới quan khoa học cho TNQĐ
để phòng ngừa, khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng ĐĐPG đến họ
Trang 39Ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức, tư tưởng, thái độ của thanh niên quân đội Biểu hiện trước hết ở việc nhận thức về lý tưởng cách mạng, nhiệm vụ của
quân đội và đơn vị Người TNQĐ khi bị ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng ĐĐPGthì khi tiếp xúc với lý tưởng cộng sản rất khó khăn Bởi vì, thế giới quan mác xítđối lập hoàn toàn với thế giới quan bị chi phối bởi Phật giáo ở trong họ Niềm tintôn giáo một khi đã hình thành và bám rễ trong mỗi con người thì không dễ gì cóthể vứt bỏ được ngay trong thời gian ngắn Những giới luật, điều răn của Phậtgiáo sẽ chi phối, tác động tiêu cực đến TNQĐ, làm cho họ yếu đuối, run sợ tronghuấn luyện và chiến đấu Trong sinh hoạt, học tập, công tác nảy sinh tư tưởngnhư: trung bình chủ nghĩa, dĩ hòa vi quý, thiếu mạnh dạn, kiên quyết, triệt để trongđấu tranh phê bình, sống thu mình, ngại tham gia các hoạt động phòng trào…
Ảnh hưởng đến kết quả hoạt động thực tiễn, nhất là kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị TNQĐ bị ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng ĐĐPG thường
trầm lắng, ít bộc lộ, khó năm bắt tư tưởng hơn các đối tượng khác Họ thường thụđộng trong huấn luyện, khó khăn trong tiếp thu các nội dung tri thức khoa học cảkhoa học tự nhiên, khoa học xã hội nhân văn và khoa học quân sự; dễ nảy sinhtâm trạng bi quan, chán nản dẫn đến các biểu hiện của mê tín dị đoan, tư tưởng
“số phận”, “định mệnh”, trong chờ sự an bài của lực lượng siêu nhiên, thiếu tintưởng vào khả năng làm chủ, làm cùn ý chí tiến thủ của bản thân Bên cạnh đó, sựảnh hưởng của tư tưởng ĐĐPG còn tạo cho người TNQĐ tư tưởng bảo thủ, ngạiđổi mới, không phát huy được khả năng sáng tạo và vai trò xung kích của thanhniên Bởi vì, chính sự ràng buộc của những tín điều trong giáo lý, giáo luật củaPhật giáo đã trói buộc suy nghĩ, hành động của họ Do sợ “nghiệp báo” cho nên
họ không dám vượt qua những quy định của giáo luật Những điều này luôn làmột trở ngại lớn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của người TNQĐ
1.2.2 Đặc điểm ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức Phật giáo đến đạo đức thanh niên quân đội
Trang 40Ảnh hưởng của tư tưởng ĐĐPG đến đạo đức TNQĐ mang tính khách quan, tất yếu và tính kế thừa Điều 3, Luật nghĩa vụ Quân sự quy định “Công dân
nam giới, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, trình
độ văn hóa, nghề nghiệp, nơi cư trú, có nghĩa vụ phục vụ tại ngũ trong Quân độinhân dân Việt Nam” [27, tr 8] cho nên ở các đơn vị quân đội, số quân nhân làthanh niên theo đạo Phật hoặc có gốc đạo Phật là thực tế khách quan “Tỷ lệ thanhniên có đạo nhập ngũ hàng năm đều tăng, nhiều đơn vị của Quân đoàn 4,Quân khu 7, Quân khu 9, tỷ lệ quân nhân gốc đạo, có đạo hàng năm tăng trên 10%
trong tổng số thanh niên nhập ngũ” [12, tr 2] Chỉ tính riêng “đợt 1 năm 2012,
toàn quân đã có 9,65% thanh niên là tín đồ có đạo nhập ngũ” [43, tr.19] Các tỉnhthuộc đồng bằng Sông Cửu Long có số thanh niên nhập ngũ theo Phật giáo hoặc
có gốc Phật giáo chiếm tỷ lệ cao hơn Năm 2012, “Quân khu 9, tuyển chọn hơn 11nghìn thanh niên nhập ngũ, trong đó thanh niên gốc Phật giáo chiếm 11,4% quânsố” [2, tr.16] Ngoài ra, số thanh niên có cảm tình với Phật giáo cũng có số lượngkhông nhỏ tập trung ở các địa phương như Huế, Thành phố Hồ Chí Minh các tỉnhđồng bằng Bắc Bộ, có 62% TNQĐ khi được hỏi đều cho rằng, tư tưởng ĐĐPG cóảnh hưởng đến TNQĐ hiện nay
Phật giáo là một trong những thành tố quan trọng góp phần làm nên bảnsắc văn hóa dân tộc Trong quá trình tồn tại cùng dân tộc, Phật giáo đã ảnhhưởng sâu sắc tới tâm lý, tình cảm, lối sống, ứng xử, phong tục tập quán… trong
đó có ảnh hưởng khá đậm nét và góp phần hình thành những giá trị, chuẩn mựcđạo đức của người Việt Nam Triết học Mác – Lê nin đã chỉ rõ, trong xã hội cógiai cấp, đạo đức có tính giai cấp nhưng đồng thời nó cũng mang tính kế thừa.Được sinh ra, nuôi dưỡng và lớn lên trong môi trường văn hóa dân tộc, thì sựảnh hưởng của tư tưởng ĐĐPG đến TNQĐ là điều tất yếu, khách quan thôngqua kế thừa những giá trị, chuẩn mực đạo đức truyền thống Những ảnh hưởngcủa ĐĐPG đến họ được hình thành từ trước khi nhập ngũ, chưa dễ gì thay đổi