1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI DỰ THITÌM HIỂU PHÁP LUẬT TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNGCẤP THPT NĂM 2016 Lớp 11B2

17 221 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 152,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật." Từ trước tới nay, quyền sống đã được ghi nhận trong nhiều văn kiện pháp lý quan trọng của quốc tế, của các quốc gia khác nhau và của nước t

Trang 1

BÀI DỰ THI TÌM HIỂU PHÁP LUẬT TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG

CẤP THPT NĂM 2016

Ngày, tháng, năm sinh:

Câu 1: ( 10 điểm)

* Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam được thông qua tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá XIII ngày 28/11/2013 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014.

Hiến pháp năm 2013 vừa kế thừa được giá trị to lớn của các bản Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980 và năm 1992, vừa thể chế hoá các quan điểm, phương hướng, nội dung phát triển đã được khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011)

* Hiện nay thế giới đang đứng trước rất nhiều thách thức mang tính chất thời đại như tình trạng tranh chấp biên giới lãnh thổ, nguy cơ về thảm họa môi trường thì một trong những điểm nóng được nhiều người quan tâm đó là tình trạng xung đột sắc tộc, tôn giáo bùng phát đẫm máu tại nhiều nơi trên thế giới Điều này đã thực sự làm cho quyền sống-một quyền cơ bản của con người đang bị thách thức và trở nên mong manh

Quyền sống (hay quyền được sống) là quyền cơ bản và quan trọng nhất của con người, đây cũng là một trong những nội dung quan trọng của Nhân quyền Điều 19 Hiến pháp

2013 quy định: "Mọi người có quyền sống Tính mạng con người được pháp luật bảo

hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật."

Từ trước tới nay, quyền sống đã được ghi nhận trong nhiều văn kiện pháp lý quan trọng của quốc tế, của các quốc gia khác nhau và của nước ta như: Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của Liên hợp quốc năm 1948; Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên hợp quốc năm 1966; Công ước quốc tế về quyền trẻ em của Liên hợp quốc năm 1989; Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776; Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam 1945 Tại Điều 3 của bản Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 khẳng định: “Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân” Trong bản

“Tuyên ngôn Độc lập” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày 2 tháng 9 năm 1945 không những đã kế thừa tinh hoa về quyền con người trên thế giới mà còn phát triển những tư tưởng ấy lên một tầm cao mới bằng việc nhắc lại những luận điểm bất hủ trong bản “Tuyên ngôn độc lập” của nước Mỹ và “Tuyên ngôn Dân

quyền và Nhân quyền” của Pháp Người khẳng định: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc."

Ngay sau khi nước nhà tuyên bố độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu tổ chức cuộc bầu cử đầu tiên càng sớm càng tốt để thực hiện quyền dân chủ, quyền công dân Về việc ban hành Hiến pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước ta đã bị chế độ quân chủ cai trị rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế nên nước

ta không có Hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do, dân chủ Chúng

Trang 2

ta phải có Hiến pháp dân chủ” Mặc dù được soạn thảo trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn nhưng Hiến pháp năm 1946 đã dành sự quan tâm đặc biệt về vấn đề quyền con người, trong 70 điều thì có 18 điều quy định tập trung về nghĩa vụ và quyền lợi của công dân Nhận xét về Hiến pháp năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Bản Hiến pháp chưa hoàn toàn nhưng nó đã làm nên theo một hoàn cảnh thực

tế Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới biết dân tộc Việt Nam đã có độc lập Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới biết dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới: phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông, đã được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bình của các giai cấp”

Ngày 31 tháng 12 năm 1959, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Hiến pháp mới

- Hiến pháp năm 1959 Lúc bấy giờ, miền Bắc đã giành được độc lập, cơ sở kinh tế của chế độ ta mới đang bắt đầu hình thành, cuộc kháng chiến ở miền Nam đang bắt đầu Hoàn cảnh kinh tế - xã hội cho phép quy định về quyền và nghĩa vụ công dân một cách đầy đủ hơn, bổ sung thêm các quyền về kinh tế, văn hóa so với Hiến pháp năm 1946 Hiến pháp 1959 với 10 chương, 112 điều, trong đó có 21 điều quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân

Sau khi đất nước được giải phóng, Hiến pháp năm 1980 được Nhà nước ban hành ngày 18 tháng 12 năm 1980 với vấn đề cơ bản nhất, xác định bản chất giai cấp của Nhà nước, thể hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động mà nòng cốt là liên minh công nông dưới sự lãnh đạo của Đảng Trong Hiến pháp năm 1980, có 29 điều quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân Trong bối cảnh đất nước đã thống nhất và tiến lên chủ nghĩa xã hội, quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định một cách đầy đủ hơn và mang hơi hướng của chế độ tập trung, bao cấp Những quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp 1980 là cơ sở để Nhà nước ta xây dựng một loạt các văn bản pháp luật chi tiết hóa, cụ thể hóa quyền con người trong đời sống xã hội

Trong những năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đề ra và thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, Hiến pháp năm 1992 được ban hành trên cơ sở kế thừa và phát triển Hiến pháp năm 1980 và những bản Hiến pháp trước

đó Vấn đề quyền con người được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt coi trọng

Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 12 tháng 7 năm 1992 về “Vấn đề quyền con người

và quan điểm, chủ trương của Đảng ta” của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã khẳng định: “Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới và cũng là thành quả của cuộc đấu tranh làm chủ thiên nhiên; qua đó, quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại” Một trong những nội dung quan trọng của Hiến pháp 1992 là hướng mạnh vào tôn trọng, bảo đảm các quyền công dân

Theo Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001 thì chương quy định Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân gồm 34 điều Cùng với hệ thống pháp luật của Nhà nước ngày càng hoàn thiện, hầu như các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội đều được điều chỉnh bởi các đạo luật đã cụ thể hóa, chi tiết hóa các quyền và

Trang 3

nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp 1992 để công dân có thể dễ dàng thực hiện trong cuộc sống, quyền con người ở Việt Nam ngày càng được tôn trọng và bảo đảm

Hiến pháp 2013 đã tiếp tục khẳng định, làm rõ hơn quyền con người, quyền công dân, trách nhiệm của Nhà nước và xã hội trong việc thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ

và bảo đảm quyền con người, quyền công dân Quyền con người và quyền công dân

là hai khái niệm có sự khác biệt nhất định song lại có mối quan hệ mật thiết với nhau Quyền con người có tính chất bao quát và rộng hơn quyền công dân được áp dụng chung cho tất cả mọi người thuộc mọi dân tộc khác nhau đang sinh sống trên phạm vi toàn cầu, không phân biệt quốc tịch, không phụ thuộc vào biên giới quốc gia, thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với toàn thể cộng đồng Còn quyền công dân là khái niệm gắn liền với Nhà nước, thể hiện mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước, được xác định bởi chế định quốc tịch, là tập hợp những quyền con người được pháp luật của một nước ghi nhận và chỉ những người mang quốc tịch nước đó mới được hưởng các quyền công dân mà nước đó quy định

Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung một quyền mới đó là quyền sống Tại điều 19

Hiến pháp quy định "Mọi người có quyền sống Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật." Hiến pháp cũng bổ sung một nguyên tắc hiến định đó là: "Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng." (Điều 14) Có

thể nói quy định về quyền sống trong Hiến pháp 2013 là một quy định mới hết sức tiến bộ khẳng định giá trị nhân văn của bản Hiến pháp nói chung cũng như sự xác lập quyền làm chủ của nhân dân đối với xã hội, nhân dân là chủ thể quyền lực tối cao Đồng thời việc xác lập quyền sống còn khẳng định rằng Việt Nam chúng ta luôn luôn thực hiện một cách nghiêm túc và đầy đủ các cam kết quốc tế về nhân quyền đối với Liên Hiệp Quốc, chúng ta luôn thực hiện một cách nghiêm chỉnh các điều ước quốc

tế về nhân quyền mà mình là thành viên Xin trích một số nội dung quy định của pháp luật quốc tế về quyền sống: Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 khẳng định: “Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân”; tại Điều 6 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) 1966 tiếp tục khẳng định: “Mọi người đều có quyền cố hữu là quyền được sống Quyền này phải được pháp luật bảo vệ Không ai có thể bị tước quyền sống một cách tùy tiện” Ngoài

ra, một số công ước quốc tế khác về quyền con người cũng đề cập đến quyền sống như: Công ước về ngăn chặn và trừng trị tội diệt chủng, Công ước về trấn áp và trừng trị tội ác A-pác-thai, Công ước về quyền trẻ em 1989, Công ước quốc tế về bảo vệ tất

cả mọi người khỏi bị đưa đi mất tích, Công ước về quyền của những người khuyết tật năm 2006…

Một vấn đề đặt ra là khi nghiên cứu chế định về quyền sống trong Hiến pháp

2013 không nên hiểu quyền này theo nghĩa hẹp chỉ là sự toàn vẹn về tính mạng mà quyền này bao gồm cả khía cạnh nhằm đảm bảo sự tồn tại của con người Việc bảo đảm quyền sống đòi hỏi Nhà nước phải có những biện pháp để đảm bảo quyền được sống cuộc sống bình thường và được đáp ứng những nhu cầu cơ bản nhất để tồn tại

và phát triển về thể chất, làm giảm tỷ lệ chết ở trẻ em và tăng tuổi thọ bình quân của

Trang 4

người dân, xóa bỏ tình trạng suy dinh dưỡng và các dịch bệnh, xóa đói, giảm nghèo… Các chế định này được thể hiện khá toàn diện và ngày càng hoàn thiện trong

hệ thống pháp luật của Nhà nước ta

Về mối quan hệ giữa hình phạt tử hình và quyền sống, luật pháp quốc tế không bắt buộc các quốc gia thành viên phải xóa bỏ hình phạt tử hình song các quốc gia đều phải có nghĩa vụ hạn chế sử dụng nó và việc giới hạn áp dụng hình phạt này cũng được coi là một hình thức bảo vệ quyền sống Cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, xuất phát từ yêu cầu khách quan về phòng chống tội phạm, pháp luật của Nhà nước ta vẫn còn duy trì hình phạt tử hình song đang thu hẹp dần phạm vi áp dụng hình phạt này Cụ thể là từ 44 điều có khung hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự năm

1985 còn 29 điều trong Bộ luật Hình sự năm 1999 và theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1999 được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2009 thì hiện nay còn 22 điều luật có khung hình phạt tử hình Về giới hạn áp dụng, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: “Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới

36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử Không thi hành án tử hình đối với phụ nữ

có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi Trong trường hợp này, hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân Trong trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm thì hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân”

Như vậy, quyền sống là quyền tất yếu, vốn có của quyền con người; là một trong những vấn đề quan trọng bậc nhất, lần đầu tiên được quy định với ý nghĩa sâu sắc, cụ thể, đầy đủ và toàn diện về quyền con người trong Hiến pháp năm 2013, đánh dấu sự hoàn thiện của Hiến pháp - đạo luật gốc trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta và phù hợp với luật pháp quốc tế về quyền con người

Hiện nay thế giới đang đứng trước rất nhiều thách thức mang tính chất thời đại như tranh chấp lãnh thổ, nguy cơ về thảm họa môi trường, nguy cơ về sự suy giảm nguồn năng lượng thì một trong những thách thức rất lớn đó là tình trạng bạo lực bùng phát mang tính chất diệt chủng của nhóm phiến quân Hồi giáo IS trong thời gian vừa qua đã gây ra một sự phẫn nộ đi kèm với nỗi sợ hãi, lo lắng của người dân trên toàn thế giới Hành động bạo lực của nhóm phiến quân Hồi giáo IS mang tính chất diệt chủng, coi thường quyền được sống - một trong những quyền cơ bản của con người được đại hội đồng Liên Hiệp Quốc cũng như các quốc gia là thành viên thừa nhận Các hành vi vũ lực nhằm tước đoạt mạng sống của nhóm phiến quân Hồi giáo này dù xét trên phương diện nào thì cũng đều mang tính chất phi nhân tính, xâm phạm một cách thô bạo quyền cơ bản nhất của một con người Thủ đoạn của tổ chức Nhà nước Hồi giáo tự xưng này đó là sẵn sàng giết bất kỳ người nào mà không cần lý

do với những hình thức còn hung bạo hơn thời kỳ trung cổ như treo cổ, cắt đầu, đốt cháy, ném đá, dìm nước đối với những ai mà chúng cho là có tư tưởng đối lập

Rõ ràng, việc quy định quyền được bảo đảm và thừa nhận về quyền được sống trong hiến pháp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là căn cứ pháp lý cho mỗi quốc gia để từ đó mỗi quốc gia có sự bảo vệ tốt nhất các quyền cơ bản của mỗi người dân

Như vậy, từ thực tiễn các quy định của pháp luật quốc tế về nhân quyền cho tới Hiến pháp 2013 đã có một sự tiến bộ rõ rệt, đây là một sự ghi nhận cao nhất dành cho một

Trang 5

quyền cơ bản nhất của con người Đồng thời nó cũng cho thấy Đảng, Chính phủ và Nhà nước ta luôn quan tâm, ghi nhận và bảo vệ các giá trị của con người nói chung cũng như quyền được sống nói riêng

* Điều 20: Luật Hiến pháp năm 2013 quy định.

1 Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ

về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nàokhác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh

dự, nhân phẩm

2 Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt, giam, giữ người do luật định

3 Mọi người có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác theo quy định của luật Việc thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất kỳ hình thức thử nghiệm nàokhác trên cơ thể người phải có sự đồng ý của người được thử nghiệm

* Điều 32: Bộ luật dân sự năm 2005 cũng quy định về quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể.

1 Cá nhân có quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể

2 Khi phát hiện người bị tai nạn, bệnh tật mà tính mạng bị đe dọa thì người phát hiện có trách nhiệm đưa đến cơ sở y tế; cơ sở y tế không được từ chối việc cứu chữa mà phải tận dụng mọi phương tiện, khả năng hiện có để cứu chữa

3 Việc thực hiện phương pháp chữa bệnh mới trên cơ thể một người, việc gây

mê, mổ, cắt bỏ, cấy ghép bộ phận của cơ thể phải được sự đồng ý của người đó; nếu người đó chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc là bệnh nhân bất tỉnh thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người giám hộ của người đó đồng ?ý; trong trường hợp có nguy cơ đe dọa đến tính mạng của bệnh nhân mà không chờ được ý kiến của những người trên thì phải có quyết định của người đứng đầu cơ

sở y tế

4 Việc mổ tử thi được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

a) Có sự đồng ý của người quá cố trước khi người đó chết;

b) Có sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người giám hộ khi không có ý kiến của người quá cố trước khi người đó chết;

c) Theo quyết định của tổ chức y tế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp cần thiết

* Nghĩa vụ cơ bản của công dân được hiểu là những việc pháp luật quy định bắt buộc công dân phải làm đối với xã hội, đối với người khác.

Hiến pháp năm 2013 quy định về nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam, bao gồm:

+ Nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc (Điều 44);

+ Nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc (Điều 45);

+ Nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật; tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng (Điều 46);

+ Nghĩa vụ nộp thuế (Điều 47);

+ Nghĩa vụ học tập (Điều 39);

+ Nghĩa vụ bảo vệ môi trường (Điều 43);

Trang 6

+ Nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh (Điều 38)

Câu 2: ( 10 điểm)

Theo điều 9 luật hôn nhân và gia đình năm 2014 những trường hợp được kết hôn là:

* Điều kiện kết hôn.

Nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

+ Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên;

+ Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở;

+ Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

* Những trường hợp cấm kết hôn.

+ Người đang có vợ hoặc có chồng;

+ Người mất năng lực hành vi dân sự;

+ Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

+ Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

+ Giữa những người cùng giới tính

* Điều 11 Xử lý việc kết hôn trái pháp luật.

1 Xử lý việc kết hôn trái pháp luật được Tòa án thực hiện theo quy định tại Luật này và pháp luật về tố tụng dân sự

2 Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này

3 Quyết định của Tòa án về việc hủy kết hôn trái pháp luật hoặc công nhận quan hệ hôn nhân phải được gửi cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn để ghi vào sổ hộ tịch; hai bên kết hôn trái pháp luật; cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự

4 Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao

và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này

Câu 3 : ( 10 điểm )

* Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị:

1 Nam, nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động XH

2 Nam, nữ bình đẳng trong tham gia xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng hoặc quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức

3 Nam, nữ bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử vào cơ quan

Trang 7

lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp

4 Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo của cơ quan, tổ chức

5 Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm:

a) Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới;

b) Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới

* Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo:

1 Nam, nữ bình đẳng về độ tuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng

2 Nam, nữ bình đẳng trong việc lựa chọn ngành, nghề học tập, đào tạo

3 Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ

4 Nữ cán bộ, công chức, viên chức khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới ba mươi sáu tháng tuổi được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ

5 Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo bao gồm: a) Quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia học tập, đào tạo;

b) Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quy định của pháp luật

* Bình đẳng giới trong gia đình:

1 Vợ chồng có quyền, nghĩa vụ như nhau trong sở hữu tài sản chung và bình đẳng trong việc sử dụng nguồn thu nhập

2 Lao động gia đình là trách nhiệm chung của mọi thành viên Trẻ em trai, trẻ em gái được tham gia các công việc phù hợp với lứa tuổi và sức khỏe

3 Con trai và con gái được tham gia ý kiến, quyết định các công việc của bản thân

và liên quan đến tài sản của hộ gia đình; được chăm sóc sức khỏe, học tập và phát triển như nhau; được tham gia ý kiến hoặc trực tiếp tham gia các họat động tạo thu nhập phù hợp

4 Vợ chồng cùng có trách nhiệm thực hiện các biện pháp kế họach hóa gia đình Các thành viên trong gia đình có trách nhiệm chăm sóc phụ nữ trong thời gian mang thai, sinh con và nuôi con bằng sữa mẹ

5 Vợ chồng đã triệt sản hoặc mất khả năng sinh đẻ, khi ly hôn được ưu tiên nuôi con trên cơ sở quyền lợi của con, trừ trường hợp pháp luật về hôn nhân có quy định khác

6 Vợ hoặc chồng, con trai hoặc con gái chưa có điều kiện và cơ hội tham gia các họat động gia đình và xã hội được quan tâm hơn về mọi mặt cho đến khi có được cơ hội

và điều kiện như nhau

7 Thực hiện Bình đẳng giới có nghĩa là không vì lý do giới tính mà cản trở các thành viên trong gia đình tham gia định đọat tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình; không được cản trở thành viên tham gia ý kiến vào việc sử dụng, định đọat tài sản chung của hộ gia đình; không được ép buộc, đẻ thêm con trái quy định của chính sách DS-KHHGĐ; không được xem thực hiện các biện pháp tránh thai là trách nhiệm riêng của

Trang 8

nam hoặc nữ; trong gia đình không được có các hành vi bạo lực dưới bất cứ hình thức nào đối với cả nam và nữ

* Bình đẳng giới ở địa phương hoăc trường học:

Hiện nay chúng ta đang nói về bình đẳng giới và phong trào giải phóng phụ nữ bởi

lẽ sự bất bình đẳng này đã và đang tồn tại ngay trong mỗi gia đình, trong xã hội Để thực hiện bình đẳng giới, theo tôi, bản thân mỗi phụ nữ luôn phải phấn đấu và phấn đấu nhiều hơn nữa Phấn đấu để có sức khỏe, có trình độ hiểu biết, có kỹ năng làm việc và có kinh nghiệm ứng xử công cộng, để được tuyển dụng, bổ nhiệm, để có công việc và thu nhập

ổn định Bên cạnh đó, người phụ nữ cần có kỹ năng tổ chức cuộc sống chung và riêng thì mới duy trì được hạnh phúc gia đình và sự tôn trọng của cộng đồng nghề nghiệp nơi làm việc Nếu muốn khẳng định được vị trí của mình trong gia đình, người phụ nữ cần biết cách đem lại chất lượng cuộc sống cho gia đình (chất lượng của đứa con tùy thuộc rất nhiều vào chất lượng người mẹ và hình ảnh gia đình tùy thuộc phần lớn vào người vợ) Trước muôn vàn yêu cầu đặt ra như vậy, người phụ nữ càng phải phấn đấu không ngừng nghỉ Nhưng để đáp ứng được điều đó, vấn đề đặt ra là mỗi người phụ nữ phải trả lời chính xác 3 câu hỏi: “Mình là ai? Mình muốn gì? Mình phải làm gì để đạt được điều mình muốn?”

Trong thực tế, không phải chỉ ngày nay mà từ rất lâu rồi, người phụ nữ vẫn luôn

cố gắng phấn đấu để đạt được mục tiêu "Giỏi việc nước, đảm việc nhà" Có được điều

đó, phụ nữ phải nỗ lực gấp hai, thậm chí gấp ba lần so với đàn ông bởi họ vừa làm trách nhiệm của một công dân trong xã hội lại vừa làm thiên chức của người mẹ, người vợ Nhưng sẽ không thể có sự bình đẳng giới nếu ngoài công việc ở xã hội, người phụ nữ còn phải làm tất cả các công việc gia đình mà không có tình yêu thương, sự cảm thông, chia sẻ của người chồng Như vậy, ngoài việc nỗ lực phấn đấu, chúng ta (phụ nữ) phải thực hiện sự bình đẳng giới ngay tại gia đình mình bằng cách trao đổi để chồng mình hiểu và chia sẻ công việc gia đình với vợ, mặt khác cần dạy dỗ con trẻ ngay từ lúc nhỏ, hãy dạy cho các bé trai biết chia sẻ việc nhà với mẹ và các chị em gái để khi lớn lên họ cũng biết cách làm, đặc biệt là biết cảm thông chia sẻ với mọi thành viên trong gia đình của mình cũng như trong cộng đồng Hãy hình thành cho các thành viên trong gia đình mình ý thức tôn trọng phụ nữ và bình đẳng giới từ những việc dù rất nhỏ Hãy chủ động chia sẻ và phân công công việc trong gia đình, nghĩa là phải tổ chức việc nhà như thế nào để sao cho có sự hiện diện của không chỉ riêng mình Tuy nhiên, người phụ nữ luôn phải ghi nhớ: “Bình đẳng giới không có nghĩa là thủ tiêu những phẩm chất tốt đẹp vốn

có của người phụ nữ Việt Nam: Đó là đức hy sinh, là sự cần cù, chịu thương, chịu khó, một lòng thương chồng, thương con, chăm lo vun vén cho gia đình” Chúng ta - những người lái đò tri thức đang ngày đêm cần mẫn và tận tuỵ thực hiện sự nghiệp "trồng người" cao cả, hãy giáo dục và bảo đảm việc thực hiện bình đẳng giới ngay từ giai đoạn trẻ em cho chính học sinh của mình để góp phần xây dựng một xã hội trong thế hệ tương lai thực sự bình đẳng giới

Với mỗi nữ giáo viên, gia đình và nhà trường là hai môi trường có tác động mạnh nhất đối với họ Chất lượng cuộc sống gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công việc của nữ giáo viên Chính vì lẽ đó, nhà trường, đặc biệt là Công đoàn và Ban Nữ công phải luôn gần gũi, quan tâm đến đời sống của các chị em để kịp thời giúp đỡ họ giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong công việc cũng như trong cuộc sống Để làm

Trang 9

được điều đó, bên cạnh công tác chuyên môn, các cán bộ Công đoàn và Ban Nữ công cần có sự nhạy bén, tế nhị và thực sự cảm thông với mỗi nữ đoàn viên vì việc riêng của mỗi gia đình thường là vấn đề khá nhạy cảm trong khi chị em phụ nữ hay có tâm lý không muốn "vạch áo cho người xem lưng" Công đoàn hãy là chỗ dựa vững chắc, là nơi mà mỗi nữ cán bộ giáo viên có thể tin tưởng và tìm thấy ở đó những giải pháp khả thi nhất để giải quyết những vướng mắc mà mình gặp phải Cụ thể với vấn đề bình đẳng giới, Công đoàn và Ban Nữ công nhà trường cần tuyên truyền, vận động và giúp đỡ giáo viên nhà trường trong việc thực hiện bình đẳng giới, tạo điều kiện cho cán bộ, giáo viên

nữ được tham gia học tập nâng cao trình độ, quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần

để chị em yên tâm công tác Tại mỗi đơn vị trường học, Công đoàn nên đứng ra tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về giới và bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình cho công chức và viên chức trong nhà trường; lồng ghép việc phổ biến kiến thức pháp luật về bình đẳng giới trong các buổi mít tinh, hội nghị, kỷ niệm các ngày lễ lớn như 8/3; 20/10; ngày gia đình Việt Nam Tổ chức các hoạt động hỗ trợ phụ nữ góp phần thực hiện mục tiêu bình đẳng giới

Để thúc đẩy bình đẳng giới, Công đoàn nhà trường chúng tôi đã phát huy tốt vai trò của tổ chức Công đoàn Ngoài việc chủ động tham mưu với chính quyền đồng cấp trong việc phân công công việc cho lao động nữ, chi trả tiền làm thêm giờ và ngày công cho đoàn viên Công đoàn một cách hợp lí, Công đoàn nhà trường đã thường xuyên quan tâm, tạo mọi điều kiện để động viên, chia sẻ, xây dựng nguồn quỹ “phụ nữ nghèo” để kịp thời hỗ trợ, giúp đỡ cả về vật chất và tinh thần cho các đồng chí nữ đoàn viên giúp chị em yên tâm công tác hơn Bên cạnh đó, hàng năm, đến dịp 8/3, Công đoàn nhà thường tổ chức giao lưu, gặp mặt dâu rể trong nhà trường Một trong những nội dung giao lưu không thể thiếu trong buổi gặp mặt ấy là trao đổi và tuyên truyền về vần đề bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình, thiết lập quan hệ hợp tác và hỗ trợ giữa hai vợ chồng để người chồng có thể chia sẻ gánh nặng công việc cùng vợ; đưa ra hình thức răn đe, cứng rắn đối với những người chồng thường sử dụng bạo lực gia đình, vận động và giúp đỡ họ hiểu và tuân thủ pháp luật về bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình; tuyên truyền và vận động xoá bỏ các phong tục, tập quán lạc hậu là nguyên nhân sâu xa dẫn đến bất bình đẳng giới

Bên cạnh đó, Công đoàn và Ban Nữ công nhà trường đã tham gia giám sát việc thực hiện bình đẳng giới đối với công chức và viên chức trong nhà trường, gần gũi tìm hiểu để biết hoàn cảnh từng giáo viên, quan tâm, giám sát việc thực hiện các quy định về bình đẳng giới ở những gia đình nếu có sự bất bình đẳng giới, từ đó kịp thời ngăn chặn

và giúp đỡ họ thực hiện đúng và đủ vấn đề này

Câu 4 : ( 10 điểm)

- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với người Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở

- Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người Điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Sử dụng chân chống hoặc vật khác quệt xuống đường khi xe đang chạy;

Trang 10

b) Không chú ý quan sát, Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định gây tai nạn giao thông; vượt xe hoặc chuyển làn đường trái quy định gây tai nạn giao thông;

c) Gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người

bị nạn

- Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với người Điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 20 km/h;

b) Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người thi hành công vụ;

c) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở

- Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với người Điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Buông cả hai tay khi đang Điều khiển xe; dùng chân Điều khiển xe; ngồi về một bên Điều khiển xe; nằm trên yên xe Điều khiển xe; thay người Điều khiển khi xe đang chạy; quay người về phía sau để Điều khiển xe hoặc bịt mắt Điều khiển xe; b) Điều khiển xe lạng lách hoặc đánh võng trên đường bộ trong, ngoài đô thị; c) Điều khiển xe chạy bằng một bánh đối với xe hai bánh, chạy bằng hai bánh đối với xe ba bánh;

d) Điều khiển xe thành nhóm từ 02 (hai) xe trở lên chạy quá tốc độ quy định

- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 14.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 9 Điều này mà gây tai nạn giao thông hoặc không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của người thi hành công vụ

Câu 5 : ( 10 điểm)

Điều 24 Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về điều kiện của người điều khiển xe cơ giới.

1 Phạt cảnh cáo người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự mô tô hoặc điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô

2 Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 120.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy không có hoặc không mang theo Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực;

b) Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy không mang theo Giấy đăng ký xe, Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (nếu có quy định phải kiểm định); c) Người điều khiển xe mô tô không mang theo Giấy phép lái xe

3 Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

Ngày đăng: 17/12/2016, 21:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w