1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

vận dụng pp daỵ học tích cực để dạy tập đọc cho học sinh lớp 5

49 499 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 6,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì lẽ đó, ở trườngTiểu học, giáo viên có nhiệm vụ dạy cho học sinh một cách có hệ thống các phương pháp để hình thành và phát triển năng lực đọc cho học sinh.. Bêncạnh đó, người giáo viê

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

A PHẦN MỞ ĐẦU……… 3

1 Lí do chọn đề tài……… 3

2 Mục đích nghiên cứu……… 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu……… 4

5 Phương pháp nghiên cứu……….5

6 Cấu trúc của đề tài……… 5

B PHẦN NỘI DUNG………6

Chương I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN……… 6

1 Phương pháp dạy học tích cực………6

1.1 Khái niệm……… 6

1.1.1 Phương pháp dạy học là gì? 6

1.1.2 Thế nào là tính tích cực học tập? 6

1.1.3 Phương pháp dạy học tích cực là gì? 6

1.2 Các phương pháp dạy học tích cực ở Tiểu học………8

1.2.1 Phương pháp trò chơi học tập………8

1.2.2 Phương pháp thảo luận nhóm………9

1.2.3 Phương pháp đóng vai……….11

1.2.4 Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề……….13

1.2.5 Phương pháp vấn đáp……… 14

1.2.6 Phương pháp động não………16

1.3 Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực……… 17

1.4 So sánh phương pháp dạy học tích cực với phương pháp dạy học truyền thống ….18 2 Phương pháp dạy học Tập đọc……… 19

2.1 Vị trí, nhiệm vụ của dạy học Tập đọc ở Tiểu học……… 19

2.1.1 Vị trí của dạy đọc ở Tiểu học……… 19

2.1.2 Nhiệm vụ của dạy đọc ở Tiểu học……… 20

2.2 Cơ sở khoa học của dạy đọc hiểu ……… 20

2.2.1 Phân tích bình diện ngữ nghĩa của văn bản và ứng dụng luyện đọc hiểu cho học sinh Tiểu học……… 20

Trang 3

2.2.1.1 Đặc điểm của văn bản……… 20

2.2.1.2 Bản chất của quá trình đọc hiểu văn bản……….20

2.3 Tổ chức dạy học Tập đọc………21

2.3.1 Tổ chức dạy đọc hiểu (tìm hiểu bài)………23

2.3.1.1 Chuẩn bị cho việc đọc thầm……… 23

2.3.1.2 Tổ chức quá trình đọc thầm……… 24

2.3.1.3 Luyện đọc hiểu……… 24

2.3.2 Quy trình lên lớp của giờ Tập đọc lớp 5……… 24

CHƯƠNG II: VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC ĐỂ HƯỚNG DẪN HỌC SINH TÌM HIỂU NỘI DUNG MỘT SỐ BÀI TẬP ĐỌC LỚP 5 26

2.1 Thống kê các văn bản tập đọc trong chương trình Tiếng Việt lớp 5……….26

2.2 Nhận xét chung về các văn bản Tập đọc trong chương trình Tiếng Việt lớp 5 … 30

2.3 Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực để hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dụng một số bài Tập đọc Tiếng Việt lớp 5……… 31

2.3.1 Cửa sông - Quang Huy……… 31

2.3.2 Mùa thảo quả - Ma Văn Kháng……….35

2.3.3 Tà áo dài Việt Nam - Trần Ngọc Thêm……… 40

C PHẦN KẾT LUẬN……….47

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 50

Trang 4

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ở Tiểu học, đọc là một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi học sinh Đọc giúp các emchiếm lĩnh ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp, học tập, tạo ra hứng thú và động cơ học tập.Đọc tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời Đọc là khảnăng không thể thiếu được của con người trong thời đại văn minh Vì lẽ đó, ở trườngTiểu học, giáo viên có nhiệm vụ dạy cho học sinh một cách có hệ thống các phương pháp

để hình thành và phát triển năng lực đọc cho học sinh Tập đọc là một phân môn thựchành mang tính tổng hợp, nhiệm vụ quan trọng nhất là hình thành năng lực đọc cho họcsinh Qua bài tập đọc, học sinh được làm quen với ngôn ngữ văn học, các nhân vật trongcác bài tập đọc, các thông điệp mà nội dung bài học cần thông báo Tập đọc giúp các emphát triển kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, bồi dưỡng cho các em những rung cảm thẩm mĩ,cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn ngữ qua bài đọc, từ đó giáo dục cho các em những tìnhcảm trong sáng, tốt đẹp

Theo chương trình Giáo dục phổ thông - cấp Tiểu học nhiệm vụ của dạy Tập đọc là:hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh Năng lực hoạt động ngôn ngữđược thể hiện trong bốn dạng hoạt động, tương ứng là bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết.Tập đọc là một phân môn thực hành Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thànhnăng lực đọc cho học sinh Nhiệm vụ thứ hai là giáo dục học sinh lòng ham đọc sách,hình thành phương pháp và thói quen làm việc với văn bản, làm việc với sách cho họcsinh Ngoài ra, phân môn tập đọc còn có nhiều nhiệm vụ khác như: làm giàu kiến thức vềngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho học sinh; phát triển ngôn ngữ tư duy chohọc sinh; giáo dục tư tưởng, đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh; bồi dưỡngcho học sinh tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹpcủa Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa Trên thực tế hiện nay ở trường Tiểu học, kĩ năng đọc của học sinh lớp 5 còn hạn chế,trình độ học sinh không đồng đều Có những em học sinh học tới lớp 5, các em vẫn chưatrả lời được các câu hỏi cuối bài, chưa nắm chắc được nội dung bài học, các em chưanắm được những biện nghệ thuật đặc sắc mà tác giả đã sử dụng trong bài Từ đó, các emchưa thể đọc hay, đọc diễn cảm được bài, chưa cảm thụ được hết bài thơ, bài văn chưacảm nhận được nội dung mà tác giả muốn chuyền tải tới người đọc, người nghe Bêncạnh đó, người giáo viên chưa biết cách dẫn dắt học sinh tìm hiểu bài, cách đặt câu hỏidẫn đến học sinh không nắm rõ được nội dung, yêu cầu của bài tập đọc, các em sẽ không

Trang 5

hiểu bài, không rút ra được ý nghĩa của bài học từ đó làm ảnh hưởng đến việc học của các

em

Cùng với xu hướng phát triển của thời đại hiện nay về các lĩnh vực khoa học côngnghệ, sự bùng nổ về công nghệ thông tin trên thế giới, Giáo dục - Đào tạo nước ta cóbước phát triển mới về nội dung và phương pháp Để đáp ứng yêu cầu cung cấp nguồnnhân lực có đủ khả năng phục vụ cho xã hội phát triển trong tương lai, việc đổi mớiphương pháp giảng dạy là một trong những yêu cầu bức thiết hiện nay Phương pháp dạyhọc tích cực lấy người học làm trung tâm là một trong những mục tiêu giáo dục đượcnhiều nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu, đúc kết từ thực tiễn và xây dựng thành những líluận mang tính khoa học và hệ thống

Phương pháp dạy học tích cực là cách thức dạy học theo lối phát huy tính tích cực,chủ động, sáng tạo của người học Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạtđộng hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của nguời học, nghĩa là tập trung vào pháthuy tính tích cực của người học Giáo viên là người giữ vai trò hướng dẫn, gợi ý, tổ chứcgiúp cho người học tự tìm kiếm, khám phá kiến thức mới theo kiểu tranh luận, hội thảotheo nhóm Họ có vai trò như người trọng tài điều khiển tiến trình giờ dạy Phương phápdạy học này chú ý đến đối tượng người học, coi trọng việc nâng cao khả năng cho ngườihọc, nêu tình huống, kích thích hứng thú, suy nghĩ và phân xử các ý kiến đối lập củangười học từ đó hệ thống hóa các vấn đề, tổng kết bài giảng, khắc sâu tri thức cần nắm

vững Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực để hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung một số bài Tập đọc lớp 5.

2 Mục đích nghiên cứu

Trong khóa luận này, chúng tôi lựa chọn một số phương pháp dạy học tích cực đểhướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung một số bài Tập đọc lớp 5 nhằm phát huy tính tíchcực, sáng tạo trong học tập và nâng cao chất lượng dạy, học của giáo viên và học sinh;giúp học sinh nắm chắc và hiểu được nội dung của bài học, giáo dục cho học sinh tìnhcảm đạo đức giúp học sinh phát triển nhân cách con người Từ đó, chúng tôi mong muốnhọc sinh học tốt các phân môn Tập đọc cũng như học tốt môn Tiếng Việt cùng các mônhọc khác

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu là các phương pháp dạy học tích cực, PPDH Tậpđọcvà các bài tập đọc trong chương trình Tiếng Việt lớp 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của phương pháp dạy học, các phương pháp dạy học tích cực

Trang 6

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của phương pháp dạy học Tập đọc.

- Vận dụng phương pháp dạy học tích cực để hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung một

số bài Tập đọc lớp 5

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài phối hợp sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp đọc tài liệu

- Phương pháp phân tích tài liệu

- Phương pháp đàm thoại, trò chuyện

- Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn

- Chương II: Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực để hướng dẫn học sinhtìm hiểu một số bài Tập đọc lớp 5

B PHẦN NỘI DUNG Chương I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Trang 7

1 Phương pháp dạy học tích cực

1.1 Khái niệm

1.1.1 Phương pháp dạy học là gì ?

Phương pháp dạy học (PPDH) là một lĩnh vực rất phức tạp và đa dạng PPDH được

hiểu là cách thức, là con đường hoạt động chung giữa giáo viên (GV) và học sinh (HS),trong những điều kiện dạy học xác định, nhằm đạt tới mục đích dạy học

PPDH là một thành tố của quá trình dạy học PPDH phải chuyển tải nội dung dạy họcđến người học, phải nhằm thực hiện mục tiêu dạy học PPDH phải phù hợp với điều kiệndạy học cụ thể (trình độ học sinh, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học…) Do vậy nó rấtlinh hoạt, mềm dẻo, không cứng nhắc

thức trong hoạt động học tập liên quan trước hết với động cơ học tập Động cơ học đúng

tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tạo nêntính tích cực Tính tích cực sản sinh nếp tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập là mầm mốngcủa sáng tạo Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái trả lời cáccâu hỏi của giáo viên, bổ sung các ý kiến câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến củariêng mình trước vấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đềchưa rõ; chủ động vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới; tập trungchú ý vào vấn đề đang học; kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản trước những tìnhhuống khó khăn…

Tính tích cực học tập thể hiện qua các cấp độ từ thấp đến cao như :

- Bắt chước: cố gắng làm theo mẫu hành động của thầy giáo, bạn bè…

- Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm cách giải quyết khác nhau về một sốvấn đề…

- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo hữu hiệu…

1.1.3 Phương pháp dạy học tích cực là gì ?

Phương pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực) là một thuật ngữ rút gọn được dùng ở

nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tíchcực, chủ động, sáng tạo của người học

Trang 8

“Tích cực” trong PPDH - tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, tráinghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực.

PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức củangười học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải làtập trung vào tính tích cực của người dạy Tuy nhiên, để dạy học theo phương pháp tíchcực, người giáo viên phải nỗ lực nhiều hơn so với phương pháp thụ động

Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy Cách dạy chỉ đạo cách học, nhưngngược lại thói quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy của thầy Chẳng hạn, cótrường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng giáo viên chưa đáp ứngđược, hoặc có trường hợp giáo viên hăng hái áp dụng PPDH tích cực nhưng không thànhcông vì học sinh chưa thích ứng, vẫn quen với lối học tập thụ động Vì vậy, giáo viênphải kiên trì dùng cách dạy hoạt động để dần dần xây dựng cho học sinh phương pháphọc tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp đến cao Việc đổi mới phương pháp dạy họcphải có sự hợp tác giữa thầy và trò, sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt độnghọc thì mới thành công

Mối quan hệ giữa dạy học tích cực với dạy học lấy học sinh làm trung tâm.

Dạy học lấy học sinh làm trung tâm còn có một số thuật ngữ tương đương như: dạyhọc tập trung vào người học, dạy học căn cứ vào người học, dạy học hướng vào ngườihọc… Các thuật ngữ này có chung một nội hàm là nhấn mạnh hoạt động học và vai tròcủa học sinh trong quá trình dạy học

Thông qua hoạt động học, dưới sự chỉ đạo của thầy, người học phải tích cực chủ độngcải biến chính mình về kiến thức, kĩ năng, thái độ, hoàn thiện nhân cách, không ai làmthay cho mình được Vì vậy, nếu người học không tự giác chủ động, không chịu học,không có phương pháp học tốt thì hiệu quả của việc dạy sẽ rất hạn chế

Như vậy, khi đã coi trọng vị trí hoạt động và vai trò của người học thì đương nhiên

phải phát huy tính tích cực chủ động của người học Tuy nhiên, dạy học lấy học sinh làm trung tâm không phải là một phương pháp dạy học cụ thể Đó là một tư tưởng, quan điểm

giáo dục, một cách tiếp cận quá trình dạy học chi phối tất cả quá trình dạy học về mụctiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánh giá… chứ không phải chỉ liênquan đến phương pháp dạy và học

1.2 Các phương pháp dạy học tích cực ở Tiểu học

1.2.1 Phương pháp trò chơi học tập

Trò chơi là một hình thức học tập có hiệu quả đối với HS Thông qua các trò chơi, HSđược luyện tập làm việc cá nhân, làm việc trong đơn vị nhóm, đơn vị lớp theo sự phân

Trang 9

công và với tinh thần hợp tác Cùng với những hình thức học tập khác, trò chơi tạo cơ hội

để HS tự củng cố kiến thức và tự hoàn thiện kĩ năng

 Quy trình thực hiện:

Bước 1: Giáo viên giới thiệu tên, mục đích của trò chơi

Bước 2: GV hướng dẫn HS chơi trò chơi

Bước này gồm những việc làm sau:

- Tổ chức người tham gia trò chơi: Số người tham gia, số đội tham gia (mấy độichơi), quản trò, trọng tài

- Các dụng cụ để chơi (giấy khổ to, quân bài, thẻ từ, cờ…)

- Luật chơi: Từng việc làm cụ thể của người chơi hoặc đội chơi, thời gian chơi,những điều người chơi không được làm…

- Cách xác nhận kết quả và cách tính điểm chơi, cách giải của cuộc chơi (nếu có).Bước 3: HS chơi trò chơi

Bước 4: Nhận xét sau cuộc trò chơi Bước này bao gồm những việc làm sau:

- Giáo viên là trọng tài hoặc học sinh nhận xét thái độ tham gia trò chơi của từngđội, những việc làm chưa tốt của các đội để rút kinh nghiệm

+ Trọng tài công bố kết quả chơi của từng đội, cá nhân trao phần thưởng cho đội đoạtgiải

+ Một số HS nêu kiến thức kĩ năng bài học trong trò chơi đã thể hiện

Trò chơi phải đáp ứng được những yêu cầu sau:

- Mục đích của trò chơi phải hướng vào việc củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng ởtừng bài, từng nhóm bài, từng phần của chương trình

- Nội dung chơi là một đơn vị kiến thức, một số thao tác của một kĩ năng hay củanhiều đơn vị kiến thức

- Hình thức của trò chơi phải đa dạng giúp cho học sinh luôn được thay đổi cáchthức hoạt động cùng một lúc để các em học tập một cách linh hoạt và hứng thú

- Cách chơi cần đơn giản để học sinh dễ nhớ, dễ thực hiện Mỗi trò chơi cần thu hútnhiều học sinh tham dự

- Điệu kiện để tổ chức trò chơi cần đơn giản, phương tiện để chơi dễ làm, GV có thể

tự chuẩn bị và tổ chức ngay trong phòng học

Ví dụ: Trong bài Tập đọc: Con gái.

Vừa rồi, chúng ta đã học bài Con gái, con gái có những nét đáng quý đáng trân trọng

như con trai, điều quan trọng nhất là người con đó phải ngoan ngoãn, hiếu thảo, làm vuilòng ông bà cha mẹ Nam nữ đều bình đẳng trong mọi việc Bây giờ chúng ta cùng chơi

một trò chơi nhé Trò chơi có tên gọi Những cánh hoa xinh, luật chơi như sau: trên bảng

Trang 10

cô có 2 nhị hoa và trong nhị ghi yêu cầu của cô (tìm những người phụ nữ có công với đấtnước), tương ứng lớp chúng ta sẽ chia làm 2 đội, các thành viên mỗi đội sẽ ghi câu trả lờivào những cánh hoa rồi đem dán lên nhị hoa trên bảng Đội nào dán được nhiều cánh hoanhất, đúng và đẹp nhất sẽ giành chiến thắng Thời gian chơi là 5 phút Các em đã sẵnsàng chơi chưa.

+ HS chơi trò chơi

+ GV tổng kết, nhận xét, khen thưởng

1.2.2 Phương pháp thảo luận nhóm

Phương pháp thảo luận nhóm có tác dụng hình thành ở HS khả năng giao tiếp, khảnăng hợp tác, khả năng thích ứng và khả năng độc lập suy nghĩ

Hình thức thảo luận nhóm có thể sử dụng ở nhiều thể loại bài thuộc nhiều nội dung họctập Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 2 đến 4 người Tuỳ mục đích, yêu cầucủa vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, được duy trì

ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ haynhững nhiệm vụ khác nhau

Để thảo luận nhóm thành công, GV phải có một hệ thống câu hỏi gợi ý Đây là cácđiểm tựa để HS dựa vào đó mà thảo luận, thực hiện yêu cầu của bài học Nội dung cáccâu hỏi cần hướng vào sự khai thác kinh nghiệm, cách nghĩ của HS, khuyến khích từng

HS tham gia một cách tự tin vào hoạt động thảo luận nhóm

GV cần phân biệt điều hành thảo luận theo đúng hệ thống câu hỏi khác với việc yêucầu HS trả lời các câu hỏi trong phương pháp vấn đáp Những câu hỏi gợi ý trong cáccuộc thảo luận không phải lúc nào cũng chỉ có một câu trả lời duy nhất đúng Những câutrả lời hướng về yêu cầu của bài học, đáp ứng được từng phần yêu cầu của bài học đềuđược chấp nhận

Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần Trong nhóm có thể phân công mỗi ngườimột phần việc Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, không thể ỷlại vào vài người hiểu biết và năng động hơn Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhautìm hiểu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác Kết quả làm việc củamỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp Để trình bày kết quả làmviệc của nhóm trước toàn thể lớp, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc phân công mỗithành viên trình bày một phần nếu nhiệm vụ giao cho nhóm là khá phức tạp

* Phương pháp hoạt động nhóm có thể tiến hành:

Trang 11

+ Làm việc theo nhóm:

- Phân công trong nhóm

- Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm

- Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm

+ Tổng kết trước lớp:

- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả

- Thảo luận chung

- Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn,kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới Bằng cách nói ra nhữngđiều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra,thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứkhông phải là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên Thành công của bài học phụ thuộc vào

sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên Vì vậy, phương pháp này còn gọi là phươngpháp cùng tham gia Tuy nhiên phương pháp này bị hạn chế bởi không gian chật hẹp củalớp học, bởi thời gian hạn định của tiết học, cho nên giáo viên phải biết tổ chức hợp lý vàhọc sinh đã khá quen với phương pháp này thì mới có kết quả Cần nhớ rằng, trong hoạtđộng nhóm, tư duy tích cực của của học sinh phải được phát huy và ý nghĩa quan trọngcủa phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức laođộng Cần tránh khuynh hướng hình thức và đề phòng lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạtđộng nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới PPDH và hoạt động nhóm càng nhiềuthì chứng tỏ phương pháp dạy học càng đổi mới

Ví dụ: Trong bài “ Lập làng giữ biển” :

Các em hãy đọc thầm toàn bài, trao đổi, thảo luận theo nhóm 4 và hoàn thành phiếu họctập sau:

1 Câu chuyện có những nhân vật

nào?

+ Bạn nhỏ tên là Nhụ, bố bạn, ông của bạn.

2 Bố và ông của Nhụ bàn với nhau

Trang 12

lâu của những người dân chài là có đất rộng để phơi được một vàng lưới, buộc được một con thuyền.

4 Việc lập làng mới ngoài đảo có

lợi gì?

+ Việc lập làng mới ngoài đảo mang đến cho bà con dân chài nơi sinh sống mới có điều kiện thuận lợi hơn và còn là để giữ đất nước mình.

5 Hình ảnh làng mới hiện ra như

thế nào qua lời nói của bố Nhụ?

+ Làng mới ở ngoài đảo đất rộng hết tầm mắt, dân chài thả sức phơi lưới, buộc thuyền Làng mới sẽ giống một ngôi làng trên đất liền: có chợ,

có trường học, có nghĩa trang.

+ Các nhóm cử đại diện lên chia sẻ ý kiến của nhóm mình Các nhóm khác lắng nghe bổsung ý kiến và cùng nhau chia sẻ

+ Giáo viên nhận xét và chốt lại kết quả Giáo viên khen thưởng

1.2.3 Phương pháp đóng vai

Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành một số cách ứng xử nào đótrong một tình huống giả định

Phương pháp đóng vai có những ưu điểm sau:

- Học sinh được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trongmôi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn

- Gây hứng thú và chú ý cho học sinh

- Tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của học sinh

- Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo chuẩn mực

- Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn

* Cách tiến hành có thể như sau:

- Giáo viên chia nhóm, giao tình huống đóng vai cho từng nhóm và quy định rõ thờigian chuẩn mực, thời gian đóng vai

- Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai

- Các nhóm lên đóng vai

- Giáo viên phỏng vấn học sinh đóng vai

Trang 13

+ Vì sao em lại ứng xử như vậy?

+ Cảm xúc, thái độ của em khi thực hiện cách ứng xử?

- Lớp thảo luận, nhận xét : Cách ứng xử của các vai diễn phù hợp hay chưa phù hợp?Chưa phù hợp ở điểm nào? Vì sao?

- Giáo viên kết luận về cách ứng xử cần thiết trong tình huống

+ Những điều cần lưu ý khi sử dụng:

- Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai

- Người đóng vai phải hiểu rõ vai của mình trong bài tập đóng vai

- Nên khích lệ cả những học sinh nhút nhát tham gia

Ví dụ : GV vừa rồi, chúng ta đã học bài Tập đọc Thái sư Trần Thủ Độ, Thái Sư Trần

Thủ độ là một người cư xử gương mẫu, nghiêm minh không vì tình riêng mà làm tráiphép nước Bây giờ, cô mời nhóm 6 người tập diễn 1 đoạn trong bài Tập đọc Thái Sư

Trần Thủ Độ đoạn từ “ Có lần, Linh Từ Quốc mẫu…ông mới tha cho” (thời gian diễn 7

phút)

+ Các nhóm đọc lại văn bản, nhóm trưởng phân vai cho các bạn trong nhóm (Trần Thủ

Độ, Linh Từ Quốc Mẫu, Phú nông,…) thảo luận chuẩn bị đóng vai

1.2.4 Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề

Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt thìphát hiện sớm và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng lựcđảm bảo sự thành công trong cuộc sống Vì vậy, tập dượt cho học sinh biết phát hiện, đặt

Trang 14

ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, không chỉ có ý nghĩa ở tầm phươngpháp dạy học mà phải được đặt như một mục tiêu giáo dục và đào tạo Phương pháp đặt

và giải quyết vấn đề là sự lĩnh hội tri thức diễn ra thông qua việc xem xét, phân tíchnhững vấn đề đang tồn tại và xác định cách thức nhằm giải quyết vấn đề

Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đềthường như sau:

* Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức - Tạo tình huống có vấn đề.

- Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh

- Phát hiện vấn đề cần giải quyết

* Giải quyết vấn đề đặt ra

- Đề xuất cách giải quyết

- Lập kế hoạch giải quyết

- Thực hiện kế hoạch giải quyết

* Kết luận:

- Thảo luận kết quả và đánh giá

- Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra

- Phát biểu kết luận

- Đề xuất vấn đề mới

* Có thể phân biệt bốn mức trình độ đặt và giải quyết vấn đề:

Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề Học sinh thực hiện cách giải

quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên Giáo viên đánh giá kết quả làm việc của họcsinh

Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết vấn đề Giáo viên

và học sinh cùng đánh giá

Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề Học sinh phát hiện và xác

định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp Học sinh thực hiệncách giải quyết vấn đề Giáo viên và học sinh cùng đánh giá

Trang 15

Mức 4 : Học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc cộng

đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết Học sinh giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất lượng, hiệuquả, có ý kiến bổ sung của giáo viên khi kết thúc

1.2.5 Phương pháp vấn đáp

* Vấn đáp: Là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra câu hỏi để học sinh trả lời, hoặc

học sinh có thể tranh luận với nhau và với cả giáo viên; qua đó học sinh lĩnh hội được nộidung bài học Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người ta phân biệt các loạiphương pháp vấn đáp:

* Vấn đáp tái hiện: Giáo viên đặt câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức đã biết

và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận

Ví dụ: Bài “Nghìn năm văn hiến”.

Dựa vào kiến thức đã học và sự hiểu biết của mình các em hãy trả lời các câu hỏi dướiđây?

+ Văn Miếu được xây dựng từ năm nào? Quốc Tử Giám được xây dựng năm nào? Do

ai xây dựng lên?

+ Văn Miếu thờ những ai và có chức năng gì?

Trả lời: + Văn Miếu được xây dựng từ năm 1970 do Lí Thánh Tông cho xây dựng Quốc

Tử Giám xây dựng 1976 do Lí Nhân Tông cho xây dựng

+ Văn Miếu thờ những bậc Tiên thánh, Tiên sư đạo nho (Khổng Tử, Chu Công, Thất thậpnhị hiền…) Như vậy, Văn Miếu ngoài chức năng thờ các bậc Tiên thánh, Tiên sư củađạo Nho, còn mang chức năng của một trường học Hoàng gia mà học trò đầu tiên là Thái

tử Lí Càn Đức, con trai vua Lí Thánh Tông với Nguyên phi Ỷ Lan, lúc đó mới 5 tuổi, đếnnăm 1072 tức là năm 8 tuổi lên ngôi trở thành vua Lí Nhân Tông Quốc Tử Giám ở bêncạnh Văn Miếu có thể coi đây là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam Ban đầu, trường chỉdành riêng cho con vua và con các bậc đại quyền quý (nên gọi tên là Quốc Tử, người họcđầu tiên là hoàng tử Lí Càn Đức)

* Vấn đáp giải thích - minh hoạ: Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào đó, giáo

viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để học sinh dễ hiểu,

dễ nhớ Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe

- nhìn

Trang 16

Ví dụ: Có ý kiến cho rằng “ Văn Miếu Quốc Tử Giám – Trường đại học đầu tiên của Việt

Nam” Em có suy nghĩ gì về ý kiến trên?

+ HS thảo luận trả đổi rồi trả lời: Em nhất trí với ý kiến trên Văn Miếu Quốc Tử Giám

là trường đại học đầu tiên của Việt Nam Từ đó, HS vận dụng các thao tác giải thích,chứng minh làm rõ vấn đề trên

+ Kết quả HS trả lời: Văn Miếu Quốc Tử giám là một chứng nhân cho ngàn năm vănhiến của dân tộc Việt Nam Nơi đây từng thu nhận các học trò xuất sắc nhất cả nước, lànơi địa linh nhân kiệt vinh danh những bậc anh tài đỗ đạt trạng nguyên, tiến sĩ Ngày nay,Văn Miếu Quốc Tử Giám trở thành một trong những địa danh du lịch nổi tiếng đượcnhiều du khách trong nước và quốc tế biết tới

* Vấn đáp tìm tòi: Giáo viên dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lý để hướng

học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đangtìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết Giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến – kể cảtranh luận – giữa thầy với cả lớp, có khi giữa trò với trò, nhằm giải quyết một vấn đề xácđịnh

1.2.6 Phương pháp động não

Động não là phương pháp giúp học sinh trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều

ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó

Thực hiện phương pháp này, giáo viên cần đưa ra một hệ thống các thông tin làm tiền đềcho buổi thảo luận

* Cách tiến hành:

- Giáo viên nêu câu hỏi, vấn đề cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm

- Khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt

- Liệt kê tất cả các ý kiến phát biểu đưa lên bảng hoặc giấy khổ to

- Phân loại ý kiến

- Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng và thảo luận sâu từng ý

Ví dụ: Khi dạy bài Trồng rừng ngập mặn để bắt đầu vào bài giáo viên cho HS quan sát

các hình ảnh sau:

Trang 17

+ Sau 30 giây cho HS nêu nhận xét về các hình trên GV ghi lời nhận xét của HS lênbảng như: rừng ngập mặn, mọi người đang cùng nhau trồng rừng ngập mặn, các hình ảnhphản ánh tình trạng rừng ngập mặn hiện nay, rừng ngập mặn bị tàn phá, rừng ngập mặn

bị người dân chặt phá bừa bãi…

+ GV giới thiệu vào bài: Để bảo vệ đê biển, chống xói lở, chống vỡ đê khi có gió to bãolơn, chống xâm nhập mặn đồng bào sống ở ven biển đã biết cách tạo nên một lớp lá chắn

đó là trồng rừng ngập mặn Rừng ngập mặn có tác dụng gì? Tình trạng của rừng ngậpmặn hiện nay như thế nào, chúng ta cần phải làm gì để bảo về nó? Cô và các em cùng đi

tìm hiểu qua bài văn Trồng rừng ngập mặn của Phan Nguyên Hồng.

1.3 Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực

a Dạy và học không qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh.

Trong phương pháp dạy học tích cực, người học - đối tượng của hoạt động "dạy", đồngthời là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáoviên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứkhông phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt Dạy theo cách nàythì giáo viên không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động.Chương trình dạy học phải giúp cho từng học sinh biết hành động và tích cực tham giacác chương trình hành động của cộng đồng

b Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học.

Trang 18

Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ

là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học

Phải quan tâm dạy cho học sinh phương pháp học ngay từ bậc Tiểu học Trong cácphương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có đượcphương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậynội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội

c Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.

Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đềutuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa vềcường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thànhmột chuỗi công tác độc lập

Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thànhbằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò -trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dunghọc tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ,khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Trong nhàtrường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường Họctập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn,lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung.Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực củamỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tươngtrợ

d Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng

và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng

và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy

Trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh Trong phương pháp tích cực,giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cáchhọc Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được thamgia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rấtcần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh

Trang 19

Việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các

kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyếtnhững tình huống thực tế

Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò

đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội

dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu củachương trình Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lànhnghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biếnngoài tầm dự kiến của giáo viên

1.4 So sánh phương pháp dạy học tích cực với phương pháp dạy học thụ động

PP dạy học thụ động PP dạy học tích cực

Khái niệm

Là quá trình tiếp thu và lĩnh hội,

qua đó hình thành kiến thức, kĩnăng, thái độ, tư tưởng, tình cảm

Là quá trình kiến tạo, học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện

tâp, khai thác, và xử lý thông

tin… tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất.

Bản chất

Truyền thụ tri thức, truyền thụ và chứng minh chân lý của giáo viên.

Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh Dạy học sinh tìm ra chân

Mục tiêu

Chú trọng cung cấp tri thức, kĩ

năng, kĩ xảo Học để đối phó với

thi cử Sau khi thi xong những điều

đã học thường bị bỏ quên hoặc ítdùng đến

Chú trọng hình thành các năng lực (sáng tạo, hợp tác ) dạy phương pháp và kĩ thuật lao động

Nội dung Từ sách giáo khoa và sách giáo

viên

Từ nhiều người khác nhau: SGV+SGK, các tài liệu khoa học phùhợp, thí nghiệm, thực tế…gắn với:

- Vốn hiểu biết, kinh nghiệm vànhu cầu của học sinh

- Tình huống thực tế, bối cảnh và

Trang 20

môi trường địa phương.

- Những vấn đề học sinh quantâm

Phương

pháp

Các phương pháp diễn giảng,

truyền thụ kiến thức một chiều

Các phương pháp tìm tòi, điều tra, giải quyết vấn đề, dạy học

tương tác

Hình thức

tổ chức

Cố định: Giới hạn trong bốn bứctường của lớp học, giáo viên đốimặt với các học sinh

Cơ động, linh hoạt: Học ở lớp, ởphòng thí nghiệm, ở hiện trường,trong thực tế…học cá nhân, họctheo cả lớp, cả nhóm đối diện vớigiáo viên

2 Phương pháp dạy học Tập đọc

2.1 Vị trí, nhiệm vụ của dạy học Tập đọc ở Tiểu học

2.1.1 Vị trí của dạy đọc ở Tiểu học

- Đọc là gì?

Môn Tiếng Việt ở trường phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngônngữ cho HS Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện trong bốn dạng hoạt động,tương ứng với chúng là 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Đọc là một dạng hoạt động ngônngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó(ứng với hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viếtthành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm)

- Ý nghĩa của việc đọc:

Dạy đọc có một ý nghĩa to lớn ở Tiểu học Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản, đầu tiênđối với mỗi người đi học Trước hết là trẻ phải học đọc, sau đó trẻ phải học để đọc Đọcgiúp trẻ em chiếm lĩnh một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập Nó là công cụ

để học tập các môn học khác Nó tạo ra hứng thú và động cơ học tập Nó tạo điều kiện để

HS có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời Nó là một khả năng không thể thiếuđược của con người trong thời đại văn minh

Đọc một cách có ý thức cũng sẽ tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ cũng như tưduy của nguời đọc Việc dạy đọc sẽ giúp HS hiểu biết hơn, bồi dưỡng ở các em lòng yêucái thiện và cái đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩ một cách logic cũng như biết tư duy cóhình ảnh Như vậy, đọc có một ý nghĩa to lớn vì nó bao gồm các nhiệm vụ giáo dưỡng,giáo dục và phát triển

2.1.2 Nhiệm vụ của dạy đọc ở Tiểu học

- Tập đọc là một phân môn thực hành Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thànhnăng lực đọc cho HS

Trang 21

- Nhiệm vụ thứ hai của dạy đọc là giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành phươngpháp và thói quen làm việc với văn bản, làm việc với sách cho HS.

- Những nhiệm vụ khác:

+ Làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống, kiến thức văn học cho HS

+ Phát triển ngôn ngữ và tư duy cho HS

+ Giáo dục tư tưởng đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mĩ cho HS

2.2 Cơ sở khoa học của dạy học Tập đọc

2.2.1 Phân tích bình diện ngữ nghĩa của văn bản và ứng dụng luyện đọc hiểu cho học sinh Tiểu học

2.2.1.1 Đặc điểm của văn bản

Văn bản là một sản phẩm của lời nói, một chỉnh thể ngôn ngữ, thường bao gồm mộttập hợp các câu và có thể có một đầu đề, nhất quán về chủ đề và trọn vẹn về nội dung,được tổ chức theo một kết cấu, nhất quán năng một mục đích giao tiếp nhất định

Văn bản có tính chỉnh thể

Như ta đã biết, văn bản có tính chỉnh thể Nó thể hiện ở mặt nội dung, thứ nhất đó là

sự nhất quán ở chủ đề

Thứ hai, tính nhất quán của văn bản thể hiện ở mục tiêu văn bản

Tất cả văn bản xét cho cùng đều hướng đến mục đích hành động vì dù là mục đíchthông tin hay tự biểu hiện, tạo lập quan hệ hay giải trí, thực chất vẫn là nhằm tác độngvào lí trí để thuyết phục hoặc là tác động vào tình cảm để truyền cảm, hướng người đọc,người nghe đến một hành động nào đó

Các bình diện ngữ nghĩa của văn bản.

Chính mục đích giao tiếp làm cho văn bản chứa đựng nội dung thông tin và nội dungnày tạo ra các bình diện ngữ nghĩa của văn bản

Trước hết, đó là nội dung miêu tả, hay còn gọi là nội dung sự vật, là những hiểu biết,những nhận thức về thế giới xung quanh, về xã hội về chính bản thân con người Nộidung này tạo thành nghĩa sự vật của văn bản Trong giờ Tập đọc, các câu hỏi: Từ nàynghĩa là gì? Câu này nói gì? Bài tập đọc nói về điều gì? nhằm hướng tới xác định nộidung sự vật ở từng văn bản

Tiếp theo là nội dung thông tin về những cảm xúc, tình cảm, thái độ của người viết vớiđối tượng, sự vật được đề cấp đến, đối với người tham gia hoạt động giao tiếp Nội dungnày tạo ra nghĩa liên cá nhân văn bản Trong giờ Tập đọc, các câu hỏi: Cảm xúc, tình cảmcủa tác giả như thế nào? Những câu, từ nào bộc lộ cảm xúc của tác giả? Bài này đượcviết với thái độ, tình cảm ra sao? nhằm hướng tới nội dung liên cá nhân của văn bản.Xét về cách thức biểu hiện, cần phân biệt hai loại thông tin ngữ nghĩa:

Trang 22

+ Thông tin ngữ nghĩa tường minh: là các thông tin được hiểu bằng các từ ngữ có mặttrong văn bản và bằng các cấu trúc ngữ pháp của cụm từ, của câu, của đoạn văn, của vănbản Các thông tin này được hiểu trên bề mặt của câu chữ và người đọc tiếp nhận nóthông qua nguyên văn từ ngữ và cấu trúc ngữ pháp.

+ Thông tin ngữ nghĩa hàm ẩn: là các thông tin được suy ra từ thông tin tường minh và

từ hoàn cảnh giao tiếp cụ thể của văn bản Để hiểu được thông tin hàm ẩn của văn bản,người đọc phải tiến hành phân tích và suy ý dựa vào các yếu tố ngôn ngữ hiện diện trongvăn bản và hoàn cảnh giao tiếp để rút ra thông tin hàm ẩn

2.2.1.2 Bản chất của quá trình đọc hiểu văn bản

Văn bản có tính chỉnh thể, tính hướng đích đông thời với việc chỉ ra tính chỉnh thể,

chúng ta phải chỉ ra tính khả phân (khả năng phân tích ra thành các yếu tố nhỏ hơn) củavăn bản Đây là những kết luận quan trọng mà giáo viên tiểu học cần phải nắm chắc đểdạy tiếp nhận – đọc hiểu – văn bản Việc sản sinh và tiếp nhận văn bản là hai quá trìnhcủa một hoạt động tương tác – hoạt động giao tiếp Trong quá trình sản sinh văn bản,trước tiên người đọc phải có mục đích, động cơ giao tiếp Họ phải lập chương trình giaotiếp và triển khai ý đồ này một cách cặn kẽ, cho đến khi văn bản đó đạt được những mụcđích đặt ra trong một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể với những nhân tố giao tiếp cụ thể.Ngược lại trong quá trình tiếp nhận, người đọc phải hướng đến lĩnh hội nội dung và đíchcủa văn bản Để đạt được mục tiêu này, họ lại phải phân tích văn bản trên những gì đãđược người viết triển khai: nghãi của từ, nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái của câu, nghĩa củađoạn, nghĩa của toàn bài rồi mới đến mục đich thông báo của văn bản Chính vì vậy, đọchiểu là một cách đọc phân tích Quá trình phân tích văn bản trong đọc hiểu diễn ra theohai cách ngược nhau Người đọc chọn cách phân tích nào tùy thuộc vào vốn sống, trình

độ văn hóa và kĩ năng đọc Người đọc có trình độ văn hóa cao và có nhiều kinh nghiệmsống thường chọn cách phân tích đi từ nghĩa chung của văn bản đến nghĩa chung củatừng bộ phận trong văn bản rồi từ đó khái quát lên chủ đề, tư tưởng của văn bản Trongkhi đó, người đọc chưa có kinh nghiệm, vốn sống chưa nhiều thường chọn cách phân tích

đi từ nghĩa của bộ phận nhỏ đến nghĩa chung của văn bản Mặc dù vậy, người đọc dùchọn cách nào thì để hiểu văn bản người đọc vẫn phải biết nghĩa của các bộ phận nhỏtrong văn bản và lấy nó làm căn cứ để xác định chủ đề và đích của văn bản khả năng đọc

và vốn sống của người học sinh tiểu học còn hạn chế nên về cơ bản, dạy đọc ở tiểu họcnen theo cách phân tích văn bản đi từ hiểu nghĩa của bộ phận nhỏ đến nội dung và đếnđích của toàn văn bản Song một sô bài Tập đọc lớp 5 cần phải phối hợp dạy theo haicách phân tích nói trên nhằm làm cho học sinh bắt đầu làm quen với kĩ năng quan sáttoàn bài để đọc lướt, đọc thầm, đọc hiểu nghĩa Lựa chọn văn bản đọc hiểu rất quan trọngtrong việc thực hiện chương trình dạy học Một bài đọc không thích hợp không những cóthể làm cản trở sự hiểu bài của học sinh mà còn làm các em mất hứng thú đọc Đồng thời,

Trang 23

người giáo viên không lựa chọn được văn bản đọc hiểu thích hợp, thì chúng ta khônghình thành được kĩ năng đọc của học sinh.

 Kĩ năng nhận diện ngôn ngữ gồm:

- Kĩ năng nhận diện từ mới và phát hiện các từ quan trọng (từ chìa khóa) trong vănbản

- Kĩ năng nhận ra các đoạn ý của văn bản: kĩ năng biết cấu trúc của văn bản khác,nhận ra mối quan hệ giữa các bộ phận trong bài, những chỗ được đánh dấu, nhận biếtnhững phương tiện liên kết văn bản (phép thế, phép nối, phép liên tưởng…) thành mộtthể thống nhất, nhận biết được kiểu cấu trúc của đoạn dịch (diễn dịch, quy nạp, tổng hợp,song song…)

- Kĩ năng nhận ra đề tài văn bản:

+ Kĩ năng quan sát tên bài, chú ý dựa vào tên bài, các hình vẽ minh họa, sơ đồ đểphỏng đoán về nội dung văn bản

+ Kĩ năng phán đoán nội dung bài đọc dựa vào kiến thức vốn có về chủ điểm

 Kĩ năng làm rõ nghĩa văn bản gồm:

- Kĩ năng làm rõ nghĩa từ: bằng ngữ cảnh, bằng trực quan, bằng đồng nghĩa…

- Kĩ năng làm rõ nội dung thông báo của câu

- Kĩ năng làm rõ ý đoạn

- Kĩ năng làm rõ ý chính của văn bản:

+ Kĩ năng đọc lướt tìm ý chính của bài văn, của đoạn để có thể xử lý bài đọc như mộtchỉnh thể trọn vẹn trước khi đi vào chi tiết

+ Kĩ năng khái quát hóa, tóm tắt nội dung đã đọc

Trang 24

- Kĩ năng làm rõ mục đích của người viết gửi vào văn bản, kĩ năng nhận biết những

ẩn ý của tác giả

 Kĩ năng hồi đáp văn bản bao gồm:

- Kĩ năng phản hồi, đánh giá tính đúng đắn, tính thuyết phục, hiệu quả của nội dungvăn bản

- Kĩ năng phản hồi bằng hành động:

+ Liên hệ của cá nhân sau khi tiếp nhận nội dung văn bản

+ Mô phỏng hình thức của văn bản để tạo lập văn bản mới

- Kĩ năng phản hồi đánh giá tính hấp dẫn, hiệu quả giao tiếp của hình thức văn bản

2.3 Tổ chức dạy học Tập đọc

2.3.1 Tổ chức dạy đọc hiểu (tìm hiểu bài)

2.3.1.1 Chuẩn bị cho việc đọc thầm

Cũng như khi ngồi đọc (vì ít khi đứng đọc) thành tiếng, tư thế ngồi đọc thầm phải ngayngắn, lưng thẳng, khoảng cách giữa sách và mắt là 25 – 35cm, phòng học đủ độ sáng,không quá sáng hoặc không quá tối, không gian thoáng đãng, yên tĩnh

2.3.1.2 Tổ chức quá trình đọc thầm

Kĩ năng đọc thầm phải được chuyển dần từ ngoài vào trong, từ đọc to đến đọc nhỏ tiếpđến đọc mấp máy môi (không thành tiếng) rồi đến đọc hoàn toàn bằng mắt, không mấpmáy môi (đọc thầm) GV phải tổ chức quá trình chuyển từ ngoài vào trong này

Cần kiểm soát quá trình đọc thầm của HS bằng cách quy định thời gian đọc thầm chotừng đoạn và bài HS đọc xong thì báo cho GV biết, từ đó GV nắm được và điểu chỉnhtốc độ đọc thầm

Đọc thầm có ưu thế là nhanh hơn đọc thành tiếng và là hình thức đọc tốt nhất để tiếpnhận, thông hiểu nội dung văn bản do không còn phải chú ý đến việc phát âm mà chỉ tậptrung để hiểu điều mình đọc

Có hai hình thức kiểm tra đọc thầm: Hình thức thứ nhất là kiểm tra trực tiếp: HS đangđọc thầm, yêu cầu đọc to lên để xem các em đã đọc đến đâu hoặc yêu cầu HS giơ tay khiđọc hết đoạn nào đó Hình thức thứ hai là kiểm tra việc đọc hiểu Vì đích của đọc thầm làhiểu nên việc kiểm tra chất lượng đọc hiểu, kiểm tra kết quả hiểu bài đọc là hình thứckiểm tra quan trọng hơn Sau khi cho HS đọc thầm, yêu cầu các em trả lời câu hỏi hoặclàm bài tập về nội dung, nghệ thuật của bài để kiểm tra

2.3.1.3 Luyện đọc hiểu

Biện pháp dạy đọc hiểu.

Có thể tùy từng bài, tùy từng lớp mà có biện pháp khác nhau Có hai hướng đi:

Ngày đăng: 17/12/2016, 17:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w