1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích các nguyên tắc của Luật dân sự và nếu ý nghĩa của những nguyên tắc này trong việc áp dụng luật dân sự

12 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 I- KHÁI QUÁT 2 II- PHÂN TÍCH CÁC NGUYÊN TẮC 3 1. Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản 3 2. Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng 3 3. Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực 4 4. Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác 5 5. Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự: 5 II- Ý NGHĨA CỦA NHỮNG NGUYÊN TẮC NÀY TRONG ÁP DỤNG LUẬT DÂN SỰ 5 III- ĐÁNH GIÁ 7 KẾT LUẬN 10 MỞ ĐẦU Các nguyên tắc của pháp luật dân sự quy định trong BLDS 2015 nhất quán hướng tới việc tạo hành lang pháp lý ghi nhận và bảo hộ tính chất bình dndawgr, tự do, tự nguyện, thỏa thuận cũng như tính chất tự chịu trách nhiệm đối với các quan hệ phát sinh trong đời sống. Để hiểu hơn vấn đề này, em xin trình bày Đề 2: Phân tích các nguyên tắc của Luật dân sự và nếu ý nghĩa của những nguyên tắc này trong việc áp dụng luật dân sự NỘI DUNG I- KHÁI QUÁT Luật Dân sự Việt Nam là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ tài sản mang tính chất hàng hóa - tiền tệ và các quan hệ nhân thân trên cơ sở bình đẳng, độc lập của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ đó và có hiệu lực pháp lý trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Cơ sở pháp lý: Điều 3. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự 1. Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản. 2. Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng. 3. Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực. 4. Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. 5. Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự. II- PHÂN TÍCH CÁC NGUYÊN TẮC Ngày 24 tháng 11 năm 2015 vừa qua, Quốc hội đã thông qua và ban hành Bộ luật dân sự 2015 thay thế Bộ luật dân sự 2005. Bộ luật dân sự mới với xu hướng thay thế những quy định không còn phù hợp với thực tế, mang đến một hệ thống pháp luật mới ổn định hơn, áp dụng dễ dàng hơn, bền vững hơn. Như những ngành luật khác, Bộ luật dân sự 2015 được thực hiện, áp dụng theo những nguyên tắc nhất định, quy định tại điều 3 Bộ luật dân sự 2015. Những nguyên tắc đó như sau: 1. Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản Bình đẳng là điều mà mọi ngành luật đều hướng tới với mục đích đảm bảo quyền, lợi ích, nghĩa vụ giữa các bên là như nhau. Luật dân sự điều chỉnh những quan hệ xã hội chung nhất, cơ bản nhất nên sự bình đẳng càng được chú trọng và quan tâm hơn. Cá nhân, pháp nhân không được lấy lý do khác biệt về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, h oàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau. . Kế thừa nguyên tắc này trong các Bộ Luật dân sự trước đây, nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các chủ thể trong quan hệ dân sự lại tiếp tục khẳng định. Các chủ thể được đảm bảo các quyền về nhân thân như quyền sống, quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, quyền được kết hôn hay những quyền về tài sản như quyền được tặng cho, được thừa kế, được tự mình hoặc thông qua các quan hệ đại diện, ủy quyền để thực hiện các giao dịch nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp khác của bản thân. 2. Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

I- KHÁI QUÁT 2

II- PHÂN TÍCH CÁC NGUYÊN TẮC 3

1 Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản 3

2 Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng 3

3 Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực 4

4 Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác 5

5 Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự: 5

II- Ý NGHĨA CỦA NHỮNG NGUYÊN TẮC NÀY TRONG ÁP DỤNG LUẬT DÂN SỰ 5

III- ĐÁNH GIÁ 7

KẾT LUẬN 10

Trang 2

MỞ ĐẦU

Các nguyên tắc của pháp luật dân sự quy định trong BLDS 2015 nhất quán hướng tới việc tạo hành lang pháp lý ghi nhận và bảo hộ tính chất bình dndawgr, tự do, tự nguyện, thỏa thuận cũng như tính chất tự chịu trách nhiệm đối với các quan hệ phát sinh trong đời sống Để hiểu hơn vấn đề này, em xin

trình bày Đề 2: Phân tích các nguyên tắc của Luật dân sự và nếu ý nghĩa của những nguyên tắc này trong việc áp dụng luật dân sự

Trang 3

NỘI DUNG

Luật Dân sự Việt Nam là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp

luật Việt Nam, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ tài sản mang tính chất hàng hóa - tiền tệ và các quan hệ nhân thân trên cơ sở bình đẳng, độc lập của các chủ thể khi tham gia vào các quan

hệ đó và có hiệu lực pháp lý trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam

Cơ sở pháp lý:

Điều 3 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự

1 Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào

để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân

và tài sản.

2 Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.

3 Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân

sự của mình một cách thiện chí, trung thực.

4 Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

5 Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự.

Trang 4

II- PHÂN TÍCH CÁC NGUYÊN TẮC

Ngày 24 tháng 11 năm 2015 vừa qua, Quốc hội đã thông qua và ban hànhBộ luật dân sự 2015 thay thế Bộ luật dân sự 2005 Bộ luật dân sự mới

với xu hướng thay thế những quy định không còn phù hợp với thực tế, mang đến một hệ thống pháp luật mới ổn định hơn, áp dụng dễ dàng hơn, bền vững

hơn Như những ngành luật khác, Bộ luật dân sự 2015 được thực hiện, áp dụng theo những nguyên tắc nhất định, quy định tại điều 3 Bộ luật dân sự

2015 Những nguyên tắc đó như sau:

1 Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản

Bình đẳng là điều mà mọi ngành luật đều hướng tới với mục đích đảm

bảo quyền, lợi ích, nghĩa vụ giữa các bên là như nhau Luật dân sự điều chỉnh những quan hệ xã hội chung nhất, cơ bản nhất nên sự bình đẳng càng được chú trọng và quan tâm hơn Cá nhân, pháp nhân không được lấy lý do khác biệt về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, h oàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau

Kế thừa nguyên tắc này trong các Bộ Luật dân sự trước đây, nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các chủ thể trong quan hệ dân sự lại tiếp tục khẳng định Các chủ thể được đảm bảo các quyền về nhân thân như quyền sống, quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, quyền được kết hôn hay những quyền về tài sản như quyền được tặng cho, được thừa kế, được tự mình hoặc thông qua các quan hệ đại diện, ủy quyền để thực hiện các giao dịch nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp khác của bản thân

2 Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng

Trang 5

Tự do, tự nguyện là nguyên tắc cơ bản của các ngành luật nói chung Mọi cam kết, thỏa thuận giữa các chủ thể đều phải đảm bảo tính tự do, tự nguyện Các thỏa thuận giữa các bên không trái quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội đều phải được sự tôn trọng giữa các bên và các chủ thể khác

Tự do, tự nguyện thỏa thuận thực hiện các giao dịch, thể hiện các quyền của cá nhân, pháp nhân trong khuôn khổ pháp luật cho phép hoặc không nghiêm cấm là một trong những yếu tố đặc trưng của quan hệ dân sự Nhà nước luôn tạo điều kiện để các chủ thể được tự do thể hiện ý chí, tự do thực hiện các giao dịch nhưng không nằm ngoài khuôn khổ pháp luật đã quy định, không trái với đạo đức xã hội, phong tục tập quán địa phương

3 Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa

vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực

Trung thực trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự của mình là một trong những yêu cầu quan trọng mà pháp luật quy định cho các bên Sự trung thực đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được thực hiện đúng với thực tế, tránh gây thiệt hại cho chủ thể tham gia quan hệ dân sự

Theo đó, khi các chủ thể thực hiện các giao dịch nhân sự nhằm đảm bảo các yêu cầu về công việc hay để đảm bảo cuộc sống…phải thể hiện thái độ trung thực, hợp tác, có thiện chí để đảm bảo được tối đa quyền lợi cho các bên Hai bên tự do, tự nguyên thỏa thuận và không thực hiện các giao dịch nhằm các mục đích lừa đảo, gây nhầm lẫn, che dấu để thực hiện một giao dịch khác …Khi có tranh chấp phát sinh thì pháp luật cũng luôn tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, khuyến khích các bên hợp tác để giải quyết những tranh chấp nhằm đảm bảo giữ được hòa khí, tránh gây tốn kém thời gian, công sức mối bên

Trang 6

4 Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác

Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên

chủ thể tham gia giao dịch dân sự là hoạt động của các bên chủ thể, liên quan đến lợi ích của các bên chủ thể và chủ thể có liên quan Nếu hành vi trên xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì các bên chủ thể sẽ pháp sinh nghĩa vụ dân sự đối với những thiệt hại do hành vi xâm phạm đó gây nên

Theo đó, khi các chủ thể thực hiện các giao dịch, các quan hệ dân sự phải luôn đảm bảo được sự tôn trọng, không xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác, hạn chế được những rủi ro có thể phát sinh trên thực tế

5 Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự:

Các bên khi tham gia vào quan hệ dân sự đều có năng lực dân sự và nặng lực thực hiện nghĩa vụ dân sự Vì vậy cá nhân, pháp nhân phải có trách nhiệm đối với hành vi mình gây ra cũng như chịu trách nhiệm với việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự

Khi tham gia vào các quan hệ dân sự, các chủ thể đã tự mình xác lập các quyền và nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch đó Khi có bất cứ rủi ro nào phát sinh từ quan hệ đó thì chủ thể là cá nhân, pháp nhân thực hiện giao dịch phải tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình Đó có thể là trách nhiệm buộc phải thực hiện một nghĩa vụ, trách nhiệm bồi thường thiệt hại… nhưng phải

do cá nhân, pháp nhân đó tự giác, chủ động thực hiện

II- Ý NGHĨA CỦA NHỮNG NGUYÊN TẮC NÀY TRONG ÁP

DỤNG LUẬT DÂN SỰ

Thứ nhất, nguyên tắc cơ bản của pháp uật dân sự hướng tới việc giải quyết triệt để sự bội tín, bội ước trong các giao dịch dân sự Khi quyền tự do, tự

Trang 7

nguyện của các chủ thể được tôn trọng, đồng nghĩa với việc đương nhiên xóa

bỏ những cam kết, thooar thuận là điều không được phép thực hiện Do đó, hệ thống quy định về nguyên tắc và các chế định cụ thể đã nỗ lực xóa bỏ các lý

lẽ mà chủ thẻ của quan hệ dân sự có thể lợi dụng, có thể vin vào để thực hiện việc bội ước của mình, nhằm trục lọi các nhân và không tôn trọng quyền lợi chính đáng của chủ thể khác Vấn đề vô hiệu của giao dịch dân sự liên quan đến hình thức là điển hình cụ thẻ của nội dung này Trên thực tế, có nhiều trường hợp do hiểu biết pháp luật hạn chế hoặc do thói quen trong giao dịch, các cá nhân đã mua bán nhà nhưng hợp đồng mua bán chỉ là viết tay, không công chứng, chứng thực và không tiến hành các thủ tục cần thiết khác để chuyển quyền sở hữu Sau một thời gian, khi giá nhà đất tại khu vuecj tăng lên, ngời bán nhà đã “lật lọng” muốn hủy việc mua bán đã diễn ra hoàn toàn

tự nguyện bằng việc dựa vào lý do về sự chưa hoàn thiện hình thức của hợp đồng mua bán nhà Như vậy, rõ ràng, các quy định của pháp luật, không thể hướng tới việc bảo hộ cho sự bội ước, dựa trên những điều kiện mang tính cứng nhắc và không thể hiện bản chất của thỏa thuận Khi sự bội tín giảm dần

và xóa bỏ các chủ thể tham gia quan hệ dân sự sẽ được bảo đảm thiết thực hơn cho quyền tự do, tự nguyện bày tỏ ý chí xác lập, thực hiện và chấm dứt các quan hệ dân sự của mình

Thứ hai, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự xây dựng hành lang pháp lý, tạo sự bình ổn và yên tâ để các chủ thể tự do tham gia vào các hoạt động dân sự trong cuộc sống Trong thời gian qua, có không ít các văn bản đã được ban hành đang gây xáo trộn không nhỏ tới đại bộ phận công chúng, gây hoang mang và tâm ký e ngại cho các cá nhân, pháp nhân khi họ

có mong muốn được xác lập các giao dịch dân sự Một số quy định còn gián tiếp ngăn cản quyền tự do sở hữu của cá nhân, pháp nhân Với thực tế quy định về các nguyên tăc cơ bản của BLDS 2015, kèm theo sự cụ thể hóa trong chế định sở hữu BLDS 2015, kèm theo sự cụ thể hóa trong chế định sở hữu,

Trang 8

các chủ thể sẽ yên tâm để thực hiện các quyền dân sự của mình một các tự do

và tự nguyện

Thứ ba là sự bình đẳng thực chất được tạo lập sẽ làm ổn định tâm lý của cộng đồng dân chúng, nhất là với những chủ thể đặc trưng như nhóm người dễ bị tổn thương (nhóm LGBT, người già, người khuyết tật…) Từ đó, tình hình an ninh trật tự nói chung và sự vận hành của các quan hệ dân sự nói riêng được hiệu quả, thiết thực và bảo vệ được các quyền, lợi ích chính đáng của các cá nhân trong xã hội

Thứ tư việc bảo đảm quyền tự do, bình đnăgr giữa các chủ thể, đặc biệt

à đối với pháp nhân sẽ tạo sự yên tâm khi tham gia vào các quan hệ dân sự nói chung, các quan hệ kinh doanh thương mại nói riêng Tâm lý không lo lắng về sự phân biệt đối xử trong quan hệ các cơ quan nhà nước, không phải lảng tránh việc áp dụng trực tiếp các quy định không rõ ràng bằng những phương thức khác nhau (ví dụ như vì không có sự quy định rõ ràng là pháp nhân có được làm người đại diện hay không, các doanh nghiệp khi được ủy quyền làm người đại diện thường sợ áp dugnj sai luật và tránh né bằng cách yêu cầu viết trong văn bản ủy quyền trực tiếp cho nhân viên của mình…) sẽ tạo điều kiện chu sức sáng tạo và sự cạnh tranh ành mạnh của các doanh nghiệp phát triển, tạo ra nhiều của cải, vật chất hợp pháp cho xã hội

III- ĐÁNH GIÁ

Những nguyên tắc cơ bản thể hiện được quy định tại Điều 3 của BLDS

2015 so với những nguyên tắc tương ứng trong BLDS 2015, có một số thay đổi nhất định về nội dung Sự thay đổi này là biểu hiện rõ nét nhất của định hướng bảo đảm quyền tự do ,bình dndawgr của cá nhân, pháp nhân trong giao lưu dân sự

Về đặt tế các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự: BLDS 2015 đã xóa

bỏ tranh cãi về cách hiểu các nguyên tắc được quy định tỏng BLDS là áp dụng chỉ trong phạm vi của Bộ luật ha sẽ ađược áp dụng cho toàn bộ hệ thống luật tư, bao gồm các luật chuyên ngành khác (như luật doanh nghiệp ,luật dầu

Trang 9

tư, luật nhà ở…) Rõ ràng, các nguyên tắc, tuy được quy định trong BLDS nhưng là định hướng chung cho toàn bộ các văn bản pháp luật dân sự Thêm vào đó, yêu cầu áp dụng luật chuyên ngành phải tổn trọng vừa ưu tiên nguyên tắc tại BLDS đã định hướng triệt để cho những vướng mắc trong thời gian vừa qua về mối quan hệ giữa luật dân sự và các luật chuyên ngành, giữa BLDS và các bản bản pháp luật khác trong cùng lĩnh vực luật tư Kể từ thời điểm BLDS 2015 chính thức đi vào cuộc sống, việc áp dụng pháp luật dân sự

sẽ thống nhất mức độ ưu tiên về nguyên tắc cơ bản trong gải quyết các trường hợp có mâu thuẫn về quy định của các văn bản pháp luật khác nhau Và như vậy, quyền tự do, bình đẳng của cá nhân trong các quan hệ dân sự, dù ở lĩnh vực nào cũng luôn được bảo đảm nhất quán

Về chủ thể: Các nguyên tắc ghi nhận rất rõ chủ thể được điều chỉnh bởi các

nguyên tắc là “cá nhân, pháp nhân” ngoài ra, không đề cập đến các chủ thể khác Đây là sự thay đổi căn bản vì cách quy định nói tới nội dụng này trong BLDS 2005 là các bên, cá nhân pháp nhân, chủ thể khác

Về phạm vi: các nguyên tắc cơ bản trong BLDS 2015 rất nhất quán trong

quy định về phạm vi áp dụng đối với các chủ thể của quan hệ dân sự là việc

“xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Nội dung này chỉ được quy định trong BLDS 2005 qua các phạm vi :”trong việc xác lập”,

“trong việc xác lậ, thực hiện” quyền , nghĩa vụ dấn ự Như vậy, cách quy định

của BLDS 2005 vừa không nhất quán vừa không đầy đủ , so với nội dung tương ứng trong BLDS 2015

Về một số thay đổi khác: một số nội dung trong các nguyên tắc được ghi

nhận trong BLDS 2015 sử dụng cách diễn đạt dưới dạng câu chủ động, tha cho các diễn đạt bị động trong BLDS 2005 (ví dụ như: Điều 4 BLDS 2015 quy định: “quyền tự do cam kết, thỏa thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa

vụ dân sự được pháp luật bảo dảm… trong khi đó khoản 2 Điều 3 BLDS 2015

quy định “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyenefm nghĩa

Trang 10

vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận…”) một

số thỏa thuận trong nội dung các nguyên tắc được sửa đổi, b sung so với quy định tương ứng tại BLDS 2015 (ví dụ như tế chương II trong BLDS 2005 là

các nguyên tắc cơ bản nhưng Điều 3 BLDS 2015 quy định rõ là: Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự”

Những thay đổi về số lượng, vị trí nội dung các quy định về nguyên tắc

coq bản của pháp luật dân sự trong BLDS 2015 đều ẩn chứa nhứng ỹ nghĩa nhất định và là kim chỉ nam định hướng cho hoạt động giao lưu dân sự trên thực tế

Trang 11

KẾT LUẬN

Ở Việt Nam ,các quyền dân sự của cá nhân và pháp nhân được Nhà nước công nhận và bảo hộ dựa trên các quy định của Hiến pháp và của luật khác trong hệ thống pháp luật của Nhà nước Công Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Về nguyên tắc, quyền dân sự không bị xâm phạm, tuy nhiên trong một

số trường hợp và đối với chủ thể nhất định thì có thể bị hạn chế như vì lý do quốc phòng an ninh, an toàn xã hội, vì sức khỏe cộng đồng,

Ngày đăng: 17/12/2016, 09:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w