Trước sự tác động của xu hư¬ớng quốc tế hóa, toàn cầu hóa đời sống các dân tộc đang làm cho các nư¬ớc xích lại gần nhau, tăng c¬ường giao l¬ưu và mở rộng hợp tác quốc tế. Trong bối cảnh đó, Đảng và Nhà n¬ước ta chủ trương thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, hợp tác và hữu nghị với tất cả các nư¬ớc, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình vì sự phát triển của đất nước.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trước sự tác động của xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa đời sốngcác dân tộc đang làm cho các nước xích lại gần nhau, tăng cường giao lưu và
mở rộng hợp tác quốc tế Trong bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước ta chủ trươngthực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, hợp tác và hữu nghị với tất cả cácnước, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững môi trường hòabình vì sự phát triển của đất nước
Những năm gần đây, tình hình xuất, nhập cảnh Việt Nam tăng nhanh
về số lượng, đa dạng và phức tạp về thành phần Theo đó, vi phạm pháp luật
về xuất cảnh, nhập cảnh ngày càng có xu hướng gia tăng cả về số lượng lẫnloại hình vi phạm, tình hình vi phạm này không những gây khó khăn cho quản
lý nhà nước về xuất, nhập cảnh mà còn ảnh hưởng tới quan hệ quốc tế, ảnhhưởng tới việc bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội Đòi hỏi sựquản lý của Nhà nước nói chung và xử lý vi phạm pháp luật về xuất, nhậpcảnh nói riêng phải được chú ý, quan tâm nghiên cứu để tìm ra những giảipháp tối ưu cho hoạt động xử lý
Để hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, trong đó có pháp luật vềxuất, nhập cảnh theo tiêu chí xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa, vấn đề đặt ra là: cần nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề về lý luận
và thực tiễn của xử lý vi phạm pháp luật về xuất, nhập cảnh, sẽ góp phần chỉđạo việc đề ra phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật trongquản lý nhà nước về xuất, nhập cảnh ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Vì lý do trên, việc nghiên cứu chuyên đề: "Nâng cao hiệu quả xử lý
vi phạm pháp luật về xuất, nhập cảnh tại Việt Nam" mang tính cấp thiết cả
về lý luận và thực tiễn
Trang 22 Phạm vi nghiên cứu của chuyên đề
Đấu tranh phòng chống và xử lý vi phạm pháp luật về xuất, nhập cảnh
là một nội dung quan trọng của hành chính nhà nước trong lĩnh vực xuất,nhập cảnh Đó là các quan hệ pháp luật hành chính trong lĩnh vực xuất, nhậpcảnh giữa Nhà nước, các cơ quan nhà nước và tổ chức, cá nhân công dân.Chuyên đề chỉ đi sâu nghiên cứu về phát hiện, đấu tranh và xử lý vi phạmpháp luật về xuất, nhập cảnh mà chủ yếu thuộc chức năng của Bộ Công an (cơquan quản lý chuyên ngành về xuất, nhập cảnh)
Dấu hiệu đầu tiên vi phạm pháp luật xuất, nhập cảnh luôn phải là
hành vi xác định của con người Chỉ coi là hành vi vi phạm pháp luật củangười đó khi có biểu hiện bằng hành động hoặc không hành động cụ thể nào
đó mà pháp luật xuất, nhập cảnh cấm không được tiến hành, hoặc pháp luậtxuất, nhập cảnh yêu cầu phải làm và phải làm đầy đủ nghĩa vụ đó
Vậy cơ sở khoa học pháp lý của vấn đề này là: các quy định của phápluật xuất, nhập cảnh được xác lập là để điều chỉnh những hành vi xử sự của
Trang 3con người, chứ không điều chỉnh suy nghĩ, tư tưởng, ý định vi phạm pháp luậtcủa con người khi chưa được biểu hiện bằng hành vi Thực tiễn pháp luật nóichung chỉ truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với những hành vi vi phạm phápluật của con người, chứ không truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với ý định viphạm pháp luật của họ.
Dấu hiệu thứ hai của vi phạm pháp luật xuất, nhập cảnh của con
người khi họ thực hiện hành vi trái pháp luật hiện hành Một hành vi của côngdân được coi là trái với pháp luật có thể biểu hiện dưới ba dạng cơ bản sau: 1-Thực hiện một hành vi mà pháp luật xuất, nhập cảnh cấm không được làm 2-Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ những nghĩa vụ mà pháp luậtxuất, nhập cảnh bắt buộc phải thực hiện đầy đủ 3- Thực hiện các loại hành vivượt quá giới hạn cho phép (lạm quyền)
Dấu hiệu thứ ba của vi phạm pháp luật xuất, nhập cảnh của con người
phải là những hành vi có lỗi dưới dạng cố ý hoặc vô ý của họ Lỗi là thái độchủ quan của con người thể hiện trạng thái tâm lý của con người đối với việcthực hiện hành vi của mình, cũng như hậu quả của nó khi thực hiện hành vi
đó dưới dạng cố ý hoặc vô ý
Dấu hiệu thứ tư của vi phạm pháp luật xuất, nhập cảnh của con người
năng lực trách nhiệm pháp lý của họ Nghĩa là vi phạm pháp luật của conngười phải là hành vi của người có năng lực trách nhiệm pháp lý Năng lựcnày thường được căn cứ xác định vào kết quả pháp y Người đó có bìnhthường hay tâm thần? Có khả năng nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi
và có khả năng thực hiện được hành vi của mình theo yêu cầu đòi hỏi củapháp luật xuất, nhập cảnh hay không?
Dấu hiệu cuối cùng của vi phạm pháp luật xuất, nhập cảnh của con
người phải là các hành vi chịu các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước Tínhphải chịu những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước là một dấu hiệu của viphạm pháp luật Nhưng nó không phải là thuộc tính bên trong như các dấu
Trang 4hiệu khác, mà dấu hiệu này có tính chất quy kết của các dấu hiệu trên, phảnánh hậu quả pháp lý khi người đó vi phạm pháp luật xuất, nhập cảnh.
Từ những phân tích trên về các dầu hiệu cơ bản của vi phạm pháp luậtxuất, nhập cảnh, có thể đưa ra khái niệm vi phạm pháp luật xuất, nhập cảnh như
sau: Vi phạm pháp luật xuất nhập cảnh là hành vi nguy hiểm cho xã hội (hành
động hay không hành động), trái với pháp luật xuất, nhập cảnh (bao gồm cả các điều ước quốc tế về xuất, nhập cảnh mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia)
do người có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến các quan hệ xã hội mà pháp luật xuất, nhập cảnh Việt Nam bảo vệ.
Thực tiễn của hiện tượng vi phạm pháp luật nói chung và vi phạmpháp luật xuất, nhập cảnh nói riêng ngày càng đa dạng và phức tạp Vì vậy,cần phân loại vi phạm pháp luật xuất, nhập cảnh của tổ chức, cá nhân côngdân, để tìm ra các đặc trưng riêng của các dạng vi phạm pháp luật
1.2 Phân loại vi phạm pháp luật xuất, nhập cảnh
Khoa học pháp lý dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại viphạm pháp luật Theo chúng tôi, cách hợp lý nhất để phân loại vi phạm phápluật xuất, nhập cảnh là dựa vào đặc điểm, tính chất của các quan hệ xã hội,mức độ và quy mô thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật xuất, nhập cảnh gây
ra Vi phạm pháp luật xuất, nhập cảnh có thể chia thành 4 dạng: 1- Vi phạmquy phạm pháp luật hình sự trong lĩnh vực xuất, nhập cảnh; 2- Vi phạm quyphạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực xuất, nhập cảnh; 3- Vi phạm phápluật dân sự; 4- Vi phạm kỷ luật Nhà nước
Vi phạm quy phạm pháp luật hình sự trong lĩnh vực xuất, nhập cảnh
cũng là vi phạm pháp luật hình sự (tội phạm) là hành vi nguy hiểm cho xã hội,
có lỗi, trái với pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt
Chủ thể của vi phạm pháp luật hình sự chỉ có thể là cá nhân công dân Hìnhphạt là chế tài riêng có của Nhà nước dành cho người vi phạm pháp luật hình sự
Trang 5Vi phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực xuất, nhập cảnh là hành
vi nguy hiểm cho xã hội (tính chất nguy hiểm thấp hơn vi phạm pháp luậthình sự), có lỗi, trái với pháp luật hành chính và phải chịu xử phạt theo cácbiện pháp cưỡng chế pháp luật hành chính như: cảnh cáo, phạt tiền, tướcquyền sử dụng hộ chiếu, giấy tờ có giá trị xuất, nhập cảnh, tịch thu tang vật,phương tiện, trục xuất khỏi lãnh thổ Việt Nam
Chủ thể vi phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực xuất, nhập cảnh
có thể là tổ chức, cá nhân công dân Thẩm quyền xử lý thuộc cơ quan quản lýnhà nước về xuất, nhập cảnh theo các trình tự thủ tục hành chính
Vi phạm pháp luật dân sự trong lĩnh vực xuất, nhập cảnh được hiểu là
hành vi vi phạm pháp luật của công dân, có lỗi, xâm hại tới quan hệ tài sản,quan hệ nhân thân có liên quan đến tài sản và quan hệ phi tài sản khác
Biện pháp cưỡng chế của Nhà nước đối các vi phạm pháp luật dân sựbao giờ cũng có mục đích là khắc phục thiệt hại đã gây ra Thẩm quyền xử lý
vi phạm vi phạm pháp luật dân sự có đặc trựng là các bên tham gia độc lậpcủa quan hệ tài sản nếu trước đó có sự thỏa thuận, thì việc xử lý theo thỏa thuận,còn không, sẽ do tòa án dân sự các cấp giải quyết các vụ án dân sự theo luậtđịnh
Vi phạm kỷ luật nhà nước trong lĩnh vực xuất, nhập cảnh, được hiểu là
những hành vi có lỗi, trái với quy chế, điều lệ và các quy tắc được xác lập trật
tự nội bộ cơ quan quản lý nhà nước về xuất, nhập cảnh hoặc nội bộ cơ quan xínghiệp mà công dân xuất, nhập cảnh Việt Nam là một thành viên Thẩmquyền giải quyết vi phạm kỷ luật của Nhà nước thường được giao cho thủtrưởng các cơ quan đơn vị có người vi phạm Biện pháp áp dụng cưỡng chế ởđây là: cảnh cáo, giáng cấp hạ bậc lương, chuyển đi nơi khác, buộc thôi việc
Tóm lại: vi phạm pháp luật xuất, nhập cảnh của công dân thuộc loạinào thì phải căn cứ vào tính chất, mức độ hậu quả thiệt hại do hành vi viphạm pháp luật gây ra để cơ quan chấp hành pháp luật tiến hành các hoạtđộng của mình trong quá trình áp dụng biện pháp xử lý
Trang 62 Cơ sở khoa học của xử lý vi phạm pháp luật xuất, nhập cảnh tại Việt Nam
Để có cơ sở cho việc xử lý vi phạm pháp luật xuất, nhập cảnh tại ViệtNam của tổ chức, cá nhân công dân hay truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với
họ, cần nắm vững được cơ sở khoa học của việc truy cứu trách nhiệm pháp lýđối với người vi phạm
Trách nhiệm pháp lý theo khoa học pháp lý được hiểu theo hai nghĩa:
Thứ nhất, hiểu theo nghĩa vụ, có nghĩa người vi phạm sẽ có nghĩa vụ là pháp
luật yêu cầu buộc phải làm trong hiện tại cũng như trong tương lai Thứ hai,
hiểu theo nghĩa bất lợi (sự trừng phạt) là trách nhiệm gánh chịu những hậuquả bất lợi vì có hành vi vi phạm pháp luật Đó là sự trừng phạt của Nhà nướcđối với người vi phạm pháp luật xuất, nhập cảnh
Chúng tôi tán thành cách hiểu thứ hai, từ đó có khái niệm về xử lý vi
phạm pháp luật xuất, nhập cảnh như sau: Xử lý vi phạm pháp luật xuất, nhập
cảnh của công dân tại Việt Nam là một loại quan hệ pháp luật giữa một bên
là cơ quan quản lý nhà nước về xuất, nhập cảnh và một bên là công dân vi phạm pháp luật xuất, nhập cảnh, trong đó bên vi phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, bằng những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được quy định trong chế tài của quy phạm pháp luật cụ thể.
Từ khái niệm trên có thể chỉ ra những đặc điểm của xử lý vi phạmpháp luật xuất, nhập cảnh tại Việt Nam đối với người vi phạm là: 1- Xử lý viphạm pháp luật xuất, nhập cảnh tại Việt Nam đối với người vi phạm là mộtquan hệ pháp luật mà ít nhất một bên là cá nhân công dân; 2- Thẩm quyền xử
lý vi phạm pháp luật xuất nhập cảnh chỉ có thể là các cơ quan quản lý nhànước về xuất, nhập cảnh có thẩm quyền theo luật định; 3- Việc xử lý vi phạmpháp luật xuất, nhập cảnh tại Việt Nam đối với người vi phạm là một quátrình hoạt động của các cơ quan nhà nước trong việc điều tra, xác minh, raquyết định, phải theo một trình tự chặt chẽ được quy định bằng pháp luật
Trang 7Để xử lý vi phạm pháp luật xuất, nhập cảnh của công dân tại Việt Nam,
cơ sở khoa học của nó hay nói cách khác là tiêu chuẩn pháp lý để xử lý hay truycứu trách nhiệm pháp lý đối với họ là phải đủ tài liệu chứng cứ xác định chođược một cấu thành vi phạm pháp luật cụ thể của công dân - là điều kiện cần
và đủ và cũng là tiêu chuẩn pháp lý để xử lý vi phạm pháp luật xuất, nhập cảnh
Cấu thành của một vi phạm pháp luật xuất, nhập cảnh của công dân tạiViệt Nam khi có đủ bốn yếu tố cấu thành của một vi phạm pháp luật đó là:mặt khách quan, mặt chủ quan, yếu tố chủ thể, yếu tố khách thể của vi phạmpháp luật
Mặt khách quan của vi phạm pháp luật ra bên ngoài có 04 dấu hiệu đólà: 1- Những biểu hiện của con người (bằng hành động hay không hành động)
ra bên ngoài thế giới khách quan, nhằm đạt tới mục đích đã định trước Dấu hiệu hậu quả thiệt hại do hành vi phạm pháp luật xuất, nhập cảnh gây ra(tổn thất về vật chất, tinh thần mà các quan hệ xã hội trong lĩnh vực xuất,nhập cảnh) 3- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật xuất, nhậpcảnh của con người với hậu quả do chính hành vi đó gây ra (hành vi vi phạmphải có trước hậu quả) 4- Không gian, thời gian, phương tiện, âm mưu,phương thức thủ đoạn thực hiện hành vi vi phạm pháp luật xuất, nhập cảnh
2-Mặt chủ quan của hành vi vi phạm pháp luật xuất, nhập cảnh baogồm: lỗi (cố ý hay vô ý), động cơ, mục đích của người thực hiện hành vi viphạm pháp luật xuất, nhập cảnh tại Việt Nam
Mặt chủ thể của vi phạm pháp luật xuất, nhập cảnh là yếu tố thể hiệnnăng lực trách nhiệm pháp lý của cá nhân người Việt Nam hay người nướcngoài theo quy định của luật
Mặt khách thể của hành vi vi phạm pháp luật xuất, nhập cảnh lànhững quan hệ xã hội được pháp luật xuất, nhập cảnh bảo vệ mà bị hành vitrái với pháp luật xâm hại tới
Trang 83 Phân loại các biện pháp xử lý vi phạm pháp luật xuất, nhập cảnh tại Việt Nam
Trong thực tiễn của hoạt động xử lý vi phạm pháp luật xuất, nhậpcảnh chúng ta thường áp dụng các biện pháp cụ thể Vậy những biện pháp đóđược áp dụng đối với hành vi nào? Để phân loại trách nhiệm pháp lý và ápdụng biện pháp xử lý vi phạm pháp luật xuất nhập cảnh đối với người vi phạm,chúng thường dựa vào những căn cứ khác nhau, nhưng chủ yếu là tính chất,mức độ gây thiệt hại của hành vi đã được xác định trong cấu thành của một viphạm pháp luật mà chia trách nhiệm pháp lý của người vi phạm thành các loạisau:
Một là, trách nhiệm pháp lý hình sự: so với các loại trách nhiệm pháp
lý khác khi có vi phạm pháp luật xuất, nhập cảnh của công dân thì tráchnhiệm pháp lý hình sự là loại trách nhiệm nghiêm khắc nhất được áp dụng đốivới người thực hiện các hành vi phạm tội Việc tiến hành truy cứu tráchnhiệm hình sự đối với người vi phạm được tiến hành theo một trình tự tố tụnghình sự Các hình phạt được áp dụng đối với người vi phạm quy phạm phápluật hình sự trong pháp luật xuất, nhập cảnh có thể là: cảnh cáo, phạt tiền, cảitạo không giam giữ, tù có thời hạn (quy định tại các điều 273, 274, 275 của
Bộ luật hình sự năm 1999) Kèm theo các hình phạt có thể áp dụng một haynhiều hình phạt bổ sung như: cấm cư trú, tịch thu tài sản, phạt tiền khi không
áp dụng hình phạt chính, trục xuất Hình phạt do Tòa án Việt Nam áp dụng
Hai là, trách nhiệm pháp lý hành chính Cũng như trách nhiệm hình
sự, trách nhiệm hành chính phát sinh khi có vi phạm quy phạm hành chínhcủa pháp luật xuất, nhập cảnh và dã xác định một cấu thành vi phạm pháp luậthành chính Trách nhiệm pháp lý hành chính trong lĩnh vực xuất, nhập cảnh làloại trách nhiệm do các cơ quan quản lý nhà nước về xuất, nhập cảnh áp dụngđối với người vi phạm đối với tổ chức, cá nhân công dân thực hiện hành vi viphạm pháp luật xuất, nhập cảnh, khi đã xác định được cấu thành vi phạmpháp luật hành chính Chế tài áp dụng thường là: cảnh cáo, phạt tiền, thu hồi
Trang 9hộ chiếu, giấy tờ có giá trị xuất, nhập cảnh, tịch thu tang vật, công cụ viphạm, trục xuất theo trình tự hành chính.
Ba là, trách nhiệm pháp lý kỷ luật Nhà nước đối với người vi phạm
những quy chế, nội dung điều lệ cơ quan, doanh nghiệp nhà nước, chủ thể bị
áp dụng biện pháp này có thể là cán bộ, viên chức trong các cơ quan quản lýnhà nước về xuất, nhập cảnh Biện pháp áp dụng thường là: cảnh cáo, buộcthôi việc, chuyển làm việc khác
Ở nước ta, pháp luật xuất, nhập cảnh là một bộ phận quan trọng củapháp luật hành chính và hệ thống pháp luật Việt Nam Do vậy, nó có vị trígiao thoa và mối liên kết chặt chẽ với một số đạo luật, ngành luật trong hệthống pháp luật như: Hiến pháp; Luật hành chính nhà nước; Bộ luật hình sự;
Bộ luật tố tụng hình sự; Bộ luật dân sự; Bộ luật tố tụng dân sự; pháp luật: vềthi hành án hình sự, về thi hành án dân sự; Luật an ninh quốc gia…
Các quy định của pháp luật xuất, nhập cảnh đều thể hiện sự thống nhất
và sự tác động qua lại với các quy định của các đạo luật, ngành luật có mốiliên kết chặt chẽ, để hướng tới thực hiện chính sách hình sự, hành chính, dân
sự và khen thưởng, kỷ luật của Đảng và Nhà nước
Ví dụ: Điều 22 Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nướcngoài tại Việt Nam và Điều 22 Nghị định số 05/2000/NĐ-CP ngày 03/3/2000của Chính phủ về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam thống nhất quyđịnh: "Những người có hành vi vi phạm các quy định của pháp luật xuất, nhậpcảnh, thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử hành chính hoặc bị truycứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật" Pháp lệnh nhập cảnh, xuấtcảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam cũng quy định: diện nhữngngười nước ngoài chưa cho nhập cảnh (Điều 8) và những người bị tạm hoãn xuấtcảnh (Điều 9) Điều 21 Nghị định số 49/CP ngày 15/8/1996 của Chính phủ về xửphạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự quy định cụ thể nhữnghành vi vi phạm về hành chính trong lĩnh vực xuất, nhập cảnh với biện pháp
Trang 10phạt tiền Các quy định nêu trên đều thống nhất chính sách của Đảng và Nhànước trong xử lý vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm pháp luật xuất, nhậpcảnh nói riêng.
II THỰC TRẠNG VI PHẠM PHÁP LUẬT XUẤT, NHẬP CẢNH VÀ CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ TẠI VIỆT NAM
1 Tình hình xuất, nhập cảnh trái phép trên thế giới
Từ khi cuộc chiến tranh lạnh trên thế giới kết thúc, sự giao lưu hợp tácquốc tế giữa các quốc gia và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng rộng mở,phát triển Lợi dụng tình hình này, các tổ chức tội phạm quốc tế và khu vực đãhội nhập, tổ chức cho người di cư bất hợp pháp từ các nước đói nghèo, chiếntranh đến các nước phát triển để tìm kiếm việc làm, lánh nạn; hoặc tổ chứccác hoạt động tội phạm như: buôn bán phụ nữ và trẻ em, buôn bán và vậnchuyển các chất ma túy, buôn lậu quốc tế, mua bán và vận chuyển vũ khíquân dụng trái phép, khủng bố, trốn tránh sự truy nã của chính quyền sở tại.Hoạt động xuất, nhập cảnh bất hợp pháp diễn ra rất phức tạp và được tiếnhành với nhiều thủ đoạn tinh vi, trong đó việc sử dụng hộ chiếu, giấy tờ giả đểxuất, nhập cảnh có xu hướng ngày càng tăng Đã xuất hiện nhiều tổ chức tộiphạm quốc tế chuyên làm hộ chiếu, giấy tờ giả và tổ chức cho người xuất,nhập cảnh bất hợp pháp, tập trung chủ yếu ở các nước Trung Đông, HồngKông, Trung Quốc, Thái Lan và một số nước Đông Âu
Theo thống kê chưa đầy đủ của một số tổ chức quốc tế: ở Mỹ, hàngnăm đã phát hiện trên một trăm nghìn trường hợp sử dụng giấy tờ giả (năm2003: phát hiện 250.000 trường hợp); ở Nhật, năm 2003 phát hiện 6.694trường hợp; ở Úc trung bình hàng năm cũng phát hiện trên 10 nghìn trườnghợp Tháng 3/2004, Cảnh sát Thái Lan đã bắt một công dân Hy Lạp trênchặng Bangkok - London và thu giữ từ người này 53 hộ chiếu giả; thu giữ từ
02 người nước ngoài khác (một người Hà Lan và một người Tây Ban Nha)
100 hộ chiếu giả Đầu tháng 8/2005 cảnh sát Thái Lan còn thu giữ 452 hộ
Trang 11chiếu giả từ một công dân Anh sinh (sống tại Algeria có tên là MaheiddineDaikh) khi đang tìm cách đưa sang Anh tiêu thụ Phối hợp với Cảnh sátPakistan, Cảnh sát Thái Lan đã bắt giữ một công dân Srilanka tên làSababanthan Kanagasabai thu giữ "đồ nghề" gồm: 01 máy dát kim loại, 01máy sấy tóc, 01 máy đục lỗ, 01 máy tính bàn, 73 dấu thị thực, kiểm chứngcùng 255 hộ chiếu giả của 33 nước khác nhau (trong đó hộ chiếu Anh, Mỹđược bán với giá 2.500 - 2.900 USD).
Để ngăn chặn tình trạng này, các quốc gia đã tăng cường các biệnpháp công tác đấu tranh phòng chống như: kiểm soát chặt chẽ hộ chiếu, giấy
tờ xuất, nhập cảnh tại cửa khẩu; tổ chức các chiến dịch tấn công các tụ điểm,băng nhóm chuyên làm hộ chiếu, giấy tờ giả Cảnh sát Thái Lan và cảnh sátAustralia đã thành lập một trung tâm tình báo hỗn hợp để chống tội phạm xuyênquốc gia và nạn sử dụng hộ chiếu giả Mới đây, cảnh sát từ 08 nước: Canada,Pháp, Mỹ, Đức, Tây Ban Nha, Italia, Australia và Nhật Bản đã thống nhất tổchức cuộc họp hàng tháng tại Băngkốc với Cảnh sát Thái Lan để phối hợp chốngnạn sử dụng hộ chiếu, giấy tờ giả Ngoài ra, hàng năm các tổ chức quốc tế nhưAPEC, ASEM, INTERPOL, Hội nghị xuất nhập cảnh các nước ASEAN, Châu
Á - Thái Bình Dương đều đưa vấn đề hợp tác đấu tranh chống tình trạng xuất,nhập cảnh trái phép thành một nội dung quan trọng của các hội nghị, hội thảo
Tình hình xuất, nhập cảnh bất hợp pháp trên thế giới có liên quan trựctiếp và ảnh hưởng mạnh mẽ tới tình hình vi phạm pháp luật về xuất, nhập ảnhtại Việt Nam; Và chúng ta cần phải nắm bắt để kịp thời điều chỉnh chính sáchhợp tác quốc tế về xuất, nhập cảnh nhằm trao đổi thông tin và hỗ trợ các biệnpháp trong đấu tranh phòng chống tình trạng vi phạm pháp luật về xuất, nhậpcảnh giữa nước ta với các nước trong khu vực và thế giới
2 Thực trạng vi phạm pháp luật xuất, nhập cảnh và các biện pháp
xử lý tại Việt Nam
Trang 12Trong những năm qua, thực hiện chính sách mở rộng đối ngoại, đaphương hóa, đa dạng hóa các quan hệ giao lưu hợp tác quốc tế, chủ động vàtích cực hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước, quản lý nhà nước vềxuất, nhập cảnh ở Việt Nam cũng đã được đổi mới Đặc biệt là thủ tục xuất,nhập cảnh ngày càng được cải tiến tạo điều kiện thông thoáng, thuận lợi chocông dân Việt Nam và người nước ngoài xuất, nhập cảnh để công tác, học tập,đầu tư, thương mại, du lịch, thăm thân, chữa bệnh Lợi dụng sự cởi mở, thôngthoáng và những thiếu sót trong quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhànước về xuất, nhập cảnh nói riêng, các tổ chức tội phạm trong và ngoài nước
đã hội nhập và tiến hành các hoạt động vi phạm pháp luật như: mua bán vàvận chuyền các chất ma túy, mua bán va vận chuyển vũ khí quân dụng, kinhdoanh, đầu tư chui, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, sử dụng tiền giả, séc giả, tổchức đánh bạc, chứa chấp và môi giới mại dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em, tổchức xuất cảnh, nhập cảnh trái phép, gây phức tạp và ảnh hưởng về an ninhchính trị và trật tự an toàn xã hội
Qua thực tiễn đấu tranh phòng chống và xử lý vi phạm về pháp luật vềxuất, nhập cảnh, có thể chỉ ra thực trạng vi phạm pháp luật về xuất, nhập cảnhtại Việt Nam như sau:
2.1 Tình hình vi phạm pháp luật xuất, nhập cảnh của người nước ngoài tại Việt Nam
Từ năm 2000 đến 11/ 2005, lực lượng quản lý xuất nhập cảnh đã pháthiện và xử lý 4.569 vụ với 7.239 người nước ngoài, Việt kiều vi phạm phápluật Việt Nam (theo báo cáo chưa đầy đủ của các phòng quản lý xuất nhậpcảnh công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) Trong đó, Cục Quản lýxuất nhập cảnh đã phát hiện và xử lý 1.865 người nước ngoài, Việt kiều viphạm pháp luật xuất, nhập cảnh (năm 2000 có 144 người vi phạm; năm 2001
số người vi phạm là 328; năm 2002 số người vi phạm là 178; năm 2003 sốngười vi phạm là 167; năm 2004 số người vi phạm là 792; năm 2005 số người
vi phạm là 392) với số tiền phạt là 1.512.500.000 đồng, buộc xuất cảnh quay
Trang 13về nơi xuất phát 1.087 trường hợp (nhập cảnh không có hộ chiếu, giấy tờ, sửdụng hộ chiếu, giấy tờ giả); hoạt động trái mục đích nhập cảnh: 294 trườnghợp (truyền đạo trái phép, sử dụng tín phiếu giả, lừa đảo môi giới kết hôn tráiphép); tạm trú quá thời hạn cho phép: 169 trường hợp; các vi phạm khác: 146trường hợp Đã triệt phá nhiều đường dây, ổ nhóm tội phạm, khởi tố 85 vụ với
256 đối tượng (là công dân Việt Nam và người nước ngoài), bắt hàng trăm đốitượng chuyên tổ chức cho người xuất, nhập cảnh trái phép Điển hình là vụ Lựclượng quản lý xuất, nhập cảnh bắt Ngô Bảo Ninh, quốc tịch Trung Quốc, chuyên
tổ chức cho người Trung Quốc nhập cảnh trái phép để trốn đi nước thứ ba, thuhàng chục cuốn hộ chiếu nước ngoài giả, dấu giả Hải quan, Biên phòng, Công
an Việt Nam và Trung Quốc
Người nước ngoài vi phạm pháp luật xuất, nhập cảnh tại Việt Nam
thường diễn ra dưới các dạng phổ biến như sau:
Dạng thứ nhất: Nhập, xuất cảnh trái phép.
Thời gian qua, người nước ngoài nhập xuất, cảnh trái phép vào ViệtNam có chiều hướng diễn biến phức tạp với thủ đoạn đa dạng, tinh vi và có tổchức như sau:
Một là, nhập cảnh trái phép (không có hộ chiếu hoặc có nhưng không
sử dụng): Phương thức thủ đoạn này thường được áp dụng để đưa ngườiTrung Quốc, người Bắc Triều Tiên, người Campuchia vào Việt Nam Các đốitượng tổ chức cho người nước ngoài nhập cảnh trái phép vào Việt Nam quacác cửa khẩu đường bộ (đường tiểu mạch), không chịu sự kiểm tra, kiểm soátcủa lực lượng kiểm soát biên giới (Bộ đội biên phòng) rồi đi sâu vào nội địa,trốn tránh sự kiểm tra hành chính công khai của cơ quan quản lý xuất nhậpcảnh như: thuê nhà trọ, không khai báo tạo trú, không ở lại lâu một địa chỉ cốđịnh, thường xuyên di chuyển để đối phó với sử kiểm tra hành chính côngkhai (phương thức này phổ biến vào các năm trước, nay ít dần) Ví dụ: Ngày13/7/2001, Công an cửa khẩu Nội Bài phát hiện 04 trường hợp quốc tịchTrung Quốc (là: Tang Yin, sinh năm: 1978; Wang Xiao Lian, sinh năm 1980;
Trang 14Zhang Yu Liang, sinh năm 1980; Lian Xiu Feng, sinh năm 1982) nhập cảnhtrái phép Việt Nam (qua đường tiểu mạch), sau đó đóng dấu kiểm chứng nhậpcảnh giả mã số 252 của cửa khẩu Hữu Nghị vào hộ chiếu Trung Quốc sửdụng để đi Thái Lan.
Hai là, sử dụng hộ chiếu, giấy tờ (thật hoặc giả) để nhập cảnh qua
đường bộ vào Việt Nam và xuất cảnh đường hàng không bằng hộ chiếu, giấy
tờ giả Phương thức này tương đối phổ biến hiện nay Đối tượng sử dụng thủđoạn này bao gồm nhiều quốc tịch, nhưng chủ yếu vẫn là công dân có chungđường biên giới Ví dụ: Ponman Palam Rajkumak, sinh năm 1973, quốc tịchSrilanka sử dụng hộ chiếu Malaysia giả số A10026469 mang tên Al ChiuniahKapalasu, sinh năm 1973 nhập cảnh qua cửa khẩu Cầu Treo ngày 11/11/2000
và sau đó xuất cảnh qua Đài Loan để đi Anh thì bị phát hiện
Ba là, sử dụng hộ chiếu giả để nhập cảnh và xuất cảnh theo đường hàng
không Các đối tượng người nước ngoài sử dụng hộ chiếu thật để làm thủ tụcxuất cảnh khỏi nước sở tại, trên đường đi thay hộ chiếu giả để nhập cảnh ViệtNam Ví dụ: Shen Feng Dong, sinh năm 1979, quốc tịch Trung Quốc Xuất cảnh
từ Quảng Châu bằng hộ chiếu thật, trên máy bay thay sang hộ chiếu Canada giả
số VC987997 (bóc màng mỏng trang nhân thân thay ảnh) nhập cảnh qua cửakhẩu Nội Bài, sau đó đi Hàn Quốc đi Canada thì bị phát hiện đẩy trở lại
Bốn là, sử dụng hộ chiếu, giấy tờ giả để quá cảnh di nước thứ ba bằng
đường hàng không Loại đối tượng này hầu hết sử dụng hộ chiếu của HànQuốc, Nhật Bản, quá cảnh đi nước thứ ba (Pháp, hoặc Nhật) trên các chuyếnbay từ Lào, Campuchia Những đối tượng này chủ yếu là người Trung Quốchoặc Bắc Triều Tiên trà trộn vào các đoàn du lịch lớn của Nhật và Hàn Quốc
Ví dụ: Ngày 27/3/2004 trên chuyến bay AF172, cảnh sát Pháp đã dẫn giải 02trường hợp sử dụng hộ chiếu Nhật giả là Lin Dao Kuan, sinh năm 1973 tạiPhúc Kiến, Trung Quốc sử dụng hộ hiếu Nhật Bản giả số TG2050874, mangtên Kojima Atsushi; và Lin Chun Xiang, sinh năm 1976 sinh tại Phúc Kiến,Trung Quốc dùng hộ chiếu Nhật Bản giả số TF2039255, mang tên Sato
Trang 15Hiroshi Hai đối tượng này nhập cảnh từ Trung Quốc sang Lào bằng hộ chiếuTrung Quốc, sau đó quá cảnh Việt Nam đi Pháp.
Người nước ngoài sử dụng hộ chiếu giả nhập, xuất cảnh trái phép ViệtNam thường tập trung vào những người có quốc tịch như: Trung Quốc,Apganistan, Pakistan, Srílanka, Negieria, Iran, Irag, Bắc Triều Tiên , trong đóngười Trung Quốc chiếm tỉ lệ lớn nhất Mục đích của họ là tìm cách đi cácnước có nền kinh tế phát triển để làm ăn sinh sống hoặc vào Việt Nam để cưtrú lì, đầu tư chui, buôn lậu, hoặc chạy vào các cơ quan đại diện ngoại giao, tổchức quốc tế để xin cư trú chính trị Ngoài ra còn có người một số nước như
Hà Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Philippine, Malysia, (thuộc những băngnhóm xã hội đen bị các nước truy nã) vào Việt Nam để cư trú trái phép hoặc
tổ chức các hoạt động mang tính băng nhóm xã hội đen
Nhìn chung, hộ chiếu giả được các tổ chức tội phạm làm kỹ thuậtngày càng cao và hết sức tinh xảo (có sự nghiên cứu và áp dụng đặc điểm bảo
vệ hộ chiếu của các nước mà chúng làm giả) nên rất khó phát hiện bằng mắtthường và những phương pháp kiểm tra đơn giản Những hộ chiếu mà các tổchức tội phạm làm giả cho người xuất, nhập cảnh trái phép sử dụng là hộchiếu của các nước: Trung Quốc, Italia, Tây Ban Nha, Mỹ, Bồ Đào Nha,Malaysia, Mantal, Đài Loan, Nhật Bản, Hồng Kông vì hộ chiếu của nhữngnước này được miễn thị thực của nhiều nước
Pháp lệnh về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tạiViệt Nam quy định: người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh phải có hộ chiếuhoặc có giấy từ có giá trị thay hộ chiếu (sau đây gọi chung là hộ chiếu) vàphải có thị thực do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp, trừtrường hợp được miễn thị thực (khoản 1 Điều 4)
Nhập cảnh trái phép là hành vi vào Việt Nam bất hợp pháp (không có
hộ chiếu, giấy tờ hợp lệ) một cách lén lút và bằng thủ đoạn sử dụng hộ chiếu,
Trang 16giấy tờ giả mạo khác nhằm che giấu, trốn tránh sự phát hiện và xử lý của lựclượng kiểm soát xuất nhập cảnh
Xuất cảnh trái phép là hành vi ra khỏi Việt Nam bất hợp pháp (không
có hộ chiếu, giấy tờ hợp lệ) một cách lén lút và bằng thủ đoạn sử dụng hộchiếu, giấy tờ giả mạo khác nhằm che giấu, trốn tránh sự phát hiện và xử lýcủa lực lượng kiểm soát xuất, nhập cảnh
Nhập cảnh, xuất cảnh trái phép là hành vi vi phạm pháp luật về xuất,nhập cảnh và cũng được coi là hành vi phạm tội quy định tại Điều 274 Bộ luậthình sự năm 1999 của Việt Nam Nên đối với các trường hợp vi phạm lần đầu
có tính chất mức độ, quy mô thiệt hại ít, cơ quan quản lý xuất nhập cảnh - BộCông an thường áp dụng biện pháp xử lý hành chính với hình thức phạt tiềntheo Điều 21 Nghị định số 49/CP ngày 15/8/1996 của Chính phủ về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự; buộc xuất cảnh quay vềnơi xuất phát; cấm nhập cảnh trong thời hạn từ 01năm đến 05 năm
Tuy nhiên, để bảo đảm thực hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhànước trong những năm qua, cơ quan quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công ancũng đã đề nghị chuyển cơ quan điều tra truy tố nhiều vụ tổ chức cho ngườinhập, xuất cảnh Việt Nam trái phép, đưa người đi các nước thứ ba, với nhiềuđối tượng là người nước ngoài vi phạm nghiêm trọng pháp luật xuất, nhậpcảnh vi phạm pháp luật hình sự của Việt Nam, góp phần giữ vững độc lập chủquyền, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội
Dạng thứ hai: Vi phạm các quy định về cư trú.
Pháp lệnh về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại ViệtNam có một chương quy định về cư trú, trong đó có quy định: người nướcngoài nhập cảnh phải đăng ký mục đích, thời hạn và địa chỉ cư trú tại ViệtNam và phải hoạt động đúng mục đích đã đăng ký (khoản 1 Điều 11) Đây làcăn cứ pháp lý để xem xét và xử lý các hành vi vi phạm các quy định về cưtrú Các hình thức vi phạm về cư trú thường là: