Nhóm so sánh: nhóm tỉ dụ - So sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai vật có một nét tương đồng nào đó, để gợi ra hình ảnh cụ thể
Trang 1I CÁC PHƯƠNG TIỆN TU TỪ CỦA TIẾNG VIỆT
1 Nhóm so sánh: (nhóm tỉ dụ)
- So sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật
khác miễn là giữa hai vật có một nét tương đồng nào đó, để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc người nghe
Vd: Đen như than, khỏe như trâu,….
“Chòng chành như nón không quai
Như thuyền không lái như ai không chồng”
… “Gái thương chồng, đương đông đầy chợ”
…
“Qua đình ngả nón trông đình
Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu”
…
“Gió thổi là chổi trời
Nước mưa là cưa trời”
… Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa
so sánh trừu tượng: nói lên nỗi niềm hân hoan, hạnh phúc, thân thương khi trở lại nơi trốn quen thuôc.
Thà rằng nhịn miệng qua ngày
Còn hơn vay mượn mắc dây nợ nần
Một trăm gầu tát không bằng một bát nước mưa
…
Quê hương tôi có con sông xanh biếc
Nước gương trong soi tóc những hánh tre
Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè
Tỏa nắng xuống lòng sông lấp loáng
…
Con đi trăm núi ngàn khe
Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm
Con đi đánh giặc mười năm
Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi.
so sánh không ngang bằng, khẳng định công lao to lớn của người mẹ ( bầm) và tình cảm kính yêu của tác giả với mẹ
…
Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu
Trang 22 Nhóm ẩn dụ:
a) Ẩn dụ
- Ẩn dụ thực chất là so sánh ngầm, trong đó vế so sánh giảm lược đi chỉ còn vế
được so sánh => là phương thức chuyển nghĩa của một đối tượng này thay cho đối tượng khác khi hai đối tượng có một nét nghĩa tương đồng nào đó
- Ẩn dụ hình tượng: cách gọi sự vật A bằng sự vật B
Người Cha mái tóc bạc
Lấy hình tượng Người Cha để gọi tên Bác Hồ Nếu thay Bác Hồ mái tóc
bạc thì tính biểu cảm sẽ mất đi.
- Ẩn dụ cách thức: gọi hiện tượng A bằng hiện tượng B
Về thăm quê Bác làng Sen
Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng.
Nhìn “hàng râm bụt” với những bông hoa đỏ rực tác giả tưởng như những ngọn đèn “thắp lên lửa hồng”
Vd: cún con, heo con, gà con,….của mẹ Thằng ranh con, quỷ sứ, đồ quỷ,…
Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu
Tiếc thay một đóa trà mi Con ong đã tỏ đường đi lối về.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
Ẩn dụ: Đóa trà mi: chỉ Kiều;
Con ong: Mã GS
Ý nói sự trinh trắng của người con gái đã bị gã đàn ông ong bướm kia lấy mất
Chỉ có thuyền mới hiểu Biển mênh mông nhường nào Chỉ có biển mới biết Thuyền đi đâu về đâu
Trong đoạn thơ trên nhà thơ nói về thuyền nhưng thật ra không phải là thuyền,
về biển nhưng không phải là biển Hình ảnh của thuyền di động khắp nơi trên mặt biển mênh mông sóng vỗ Nhờ hủ pháp nghệ thuật ẩn dụ ta thấy được mối quan hệ khăng khít giữa thuyền và biển chính là tâm trạng của đôi bạn tình đang yêu nhau tha thiết, đó là sự so sánh ngâm, thuyền và biển chính là ẩn dụ của đôi nam nữ
Người giai nhân: bến đợi dưới cây già Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt
…
Để lòng anh hóa bến Nghe thuyền em ra đi
… Cũng có lúc rạt rào
Trang 3Muốn nghiến nát bờ em
… ''Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ''
Trong 2 câu thơ trên hình ảnh mặt trời trong câu thơ thứ nhất là mặt trời thật còn hình ảnh mặt trời ở câu thơ thứ hai để chỉ hình tượng Bác Hồ Với cách nói ẩn dụ như vậy, nhà thơ Viễn Phương đã làm nổi bật hình tượng Bác
Hồ Bác tượng trưng cho ánh sáng của lí tưởng, soi rõ đường đi cho cả dân tộc Việt Nam Giữa Bác Hồ và mặt trời không có mối quan hệ về mặt bản chất, người ta chị khai thác những nét tương đồng giữa mặt trời và Bác thông qua sự liên tưởng để làm nổi bật vẻ đẹp của bác Tuy nhiên, cần lưu ý rằng : Ý nghĩa trên chỉ xuất hiện trong ngữ cảnh mà 2 câu thơ tạo ra Còn rời ngữ cảnh này thì Bác Hồ là Bác Hồ ,còn mặt trời là mặt trời, không còn được dùng để thay thế cho nhau nữa
'' Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền''
Trong câu ca dao này, người ta đã khai thác được một mối quan hệ khăng khít, gần gũi giữa thuyền và bến Bến là nơi cố định để thuyền đi về, thuyền thì lại luôn thay đổi Từ đó, người ta đã tạo ra cách nói ẩn dụ rất tinh tế, mượn thuyền
và bến để nói con người Đó chính là lời nhắn nhủ về tấm lòng thủy chung của
nhân vật ''BẾN'' tượng trưng cho một tấm lòng chung thủy của người con gái, nhắn nhủ với đối tượng ''THUYỀN'' tượng trưng cho những người con trai đi
xa Ẩn dụ thể hiện những hàm ý mà người đọc suy ra mới hiểu được
Ơi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng
Ở đây, hình ảnh chim chiền chiện, giọt sương rơi (giọt long lanh) là những dấu hiệu báo mùa xuân đến Ẩn dụ này được xây dựng dựa trên cơ sở liên tưởng dấu hiệu đặc trưng - mùa
Thác bao nhiêu thác cũng qua Thênh thênh là chiếc thuyền ta trên đời
- Câu thơ có hai hình ảnh ẩn dụ:
+ Thác - chỉ những khó khăn vất vả, những thử thách
+ Chiếc thuyền - chỉ con đường cách mạng, chỉ con đường của cả nước non
mình
+ Câu thơ xây dựng hình ảnh ẩn dụ dựa trên những liên tưởng có thực (thác -khó khăn, con thuyền - sức vượt qua) để nói lên sức sống và sức vươn lên mãnh liệt của cả dân tộc chúng ta
Trang 4Bây giờ mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa
+ Đào: cô gái
+ Vườn hồng: trái tim / tình cảm của cô gái
Tác giả đã mượn hình ảnh đối đáp của “mận”, “đào”, “vườn hồng” để tỏ tình 1 cách kín đáo của chàng trai với cô gái Mượn cây nói người chính là ẩn dụ
b) Ẩn dụ bổ sung
- Ẩn dụ bổ sung hay còn gọi là ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, tức là sự thay thế của
một cảm giác này bằng một cảm giác khác trong nhận thức cũng như trong diễn đạt bằng ngôn ngữ
Vd: Xuân Diệu đưa cái mới vào thơ bằng những cảm quan và những biểu đạt
rất mới
Này lằng nghe em khúc nhạc thơm Say người như rượu tối tân hôn Hãy tự buông cho khúc nhạc hường Dẫn vào thế giới của du dương Ngừng hơi thở lại xem trong ấy Hiển hiện hoa và phảng phất hương Hãy uống thơ tan trong khúc nhạc Ngọt ngào than gọi thở xa khơi
Khúc nhạc của nhà thơ không chỉ nghe bằng tai mà nghe bằng mắt bằng da và bằng lưỡi, lúc này các giác quan được huy động đến tột độ và dẫn đến sự giao thoa xuyên thấm lẫn lộn Phải là nghệ sĩ mới có cái nghe kỳ diệu ấy và cũng là lúc chính nhà thơ làm cho độc giả trở thành nghệ sĩ
Ngoài thềm rơi chiếc lá đa Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng
…
Này lắng nghe em khúc nhạc thơm Say người như rượu tối tân hôn Hãy tự buôg cho khúc nhạc hường Dẫn vào thế giới của du dương
Khúc nhạc của nhà thơ không chỉ nghe bằng tai mà còn nghe bằng da bằng lưỡi…thấm vào tâm hồn Lúc này mọi giác quan được huy động đến tột dẫn tới
sự giao thoa, xuyên thấm
Mới được nghe giọng hờn dịu ngọt Huế giải phóng nhanh mà anh lại muộn về.
…
Đã nghe rét mướt luồn trong gió
Đã vắng người sang những chuyến đò
…
Trang 5Tăm tăm tình bạn Chếnh choáng tình đời Líu lưỡi tình người Nôn nao thân phận…
Cảm nhận tình bạn, tình đời, tình người, số phận cũng có hơi men chếnh choáng nôn nao
c) Ẩn dụ nhân (cách) hóa và vật hóa
- Là chuyển đổi từ những vật vô sinh thành hữu sinh hoặc từ thế giới vật chất
sang thế giới ý thức của con người
- Vật hóa là hướng chuyển ngược lại từ người sang động vật hoặc đồ vật.
Vd:
Khăn thương nhớ ai khăn rơi xuống đất
Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt
…
Người tình ta để trên cơi
Nắp vàng đậy lại để nơi giường thờ
- Dùng từ ngữ chỉ tính chất của con người để chỉ tính chất của con vật, đồ vật
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đựng trong nghiên sầu
- Đau đớn thay cho cây quế giữa rừng
Để ác đen nó đậu đau lòng quế thay
Ước gì con ác nó bay
Tiên ngồi gốc quế, quế nay bằng lòng
Quế chỉ một loại cây thân gỗ, là dược liệu quý, có vị cay, mùi thơm, với thuộc
tính nóng ẩn dụ nhân hóa:
+ Quế ở đây không còn vô tri vô giác nữa, mà đã biết “đau lòng” hay biết
“bằng lòng” rồi
+ Hàm chỉ sự không tương xứng, thường là trong quan hệ lứa đôi (như vậy:
Quế chỉ người có phẩm chất cao quý và ngoại hình đẹp đẽ, tài hoa Con ác
chỉ kẻ thấp hèn, xấu xí)
- Coi đối tượng không phải là người như con người để trò chuyện tâm sự
Núi cao chi lắm núi ơi
Núi che mặt trời chẳng thấy người thương
- Vật hóa
Gái chính chuyên lấy được chín chồng
Vo viên bỏ lọ gánh chồng đi chơi
Chẳng may quang đứt, lọ rơi
Bò ra lổm ngổm, chín nơi chín chồng
Trang 6Bài ca dao trên đem tới cho người đọc tiếng cười vui vẻ và sảng khoái Qua đó thể hiện sự châm biếm, hóm hỉnh mà thâm thúy thái độ, tình cảm của mình trước hiện thực một cách sâu sắc và thấm thía
d) Phúng dụ
- Phúng dụ là hệ thống những ẩn dụ, nhân hóa được sử dụng để biểu đạt một nội
dung triết lí hay bài học luân lí mà người nói không muốn trình bày trực tiếp
- Có thể coi phúng dụ là dạng thức ẩn dụ nhưng với quy mô lớn hơn, không chỉ
ở cấp độ câu, đoạn mà còn bao quát toàn bộ tác phẩm Phúng dụ dựa trên cơ sở lối nói ngụ ý, bóng gió, biểu đạt một ý tưởng trừu tượng, khái quát bằng hình ảnh trực quan
Vd: Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao diễn tả một
triết lý về sự đoàn kết
Với nhiều bàn tay, thuyền sẽ được chèo lên núi.
Nói lên kinh nghiệm sống đoàn kết tạo nên sức mạnh phi thường
- Đặc điểm:
+ Thường gặp nhất của phúng dụ trong nghệ thuật là phương thức nhân cách hóa các loại tư tưởng bằng hình ảnh các sinh thể sống hoặc các định đề ẩn dụ Chẳng hạn: trong Thần thoại Hy Lạp, sự chiến thắng được miêu tả bằng hình ảnh nữ thần Nike với vòng nguyệt quế, công lý được mô tả bằng hình ảnh nữ thần Thémis có cặp mắt nghiêm khắc và đôi tay cầm chiếc cân, ý niệm về sức mạnh, sự quả cảm, sự sáng suốt thể hiện dưới dạng các con thú như sư tử, đại bàng, gấu v.v
+ Ẩn dụ chỉ có một nghĩa Phúng dụ bao giờ cũng được hiểu ở cả hai bình diện nghĩa: bề mặt và bề sâu Chẳng hạn hình ảnh trực quan về "cái ao" trong câu ca
dao Việt Nam: ta về ta tắm ao ta/dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn theo truyền
thống là sự ca ngợi tình yêu quê hương ruột thịt, tấm lòng thủy chung sắt son với những gì thân quen nhất của một con người dù cho những điều ấy có thể không hoàn hảo bằng thiên hạ
Vd:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng Nhị vàng bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
…
Tổ ong lủng lẳng trên cành, Trong đầy mật nhộng, ngon lành lắm thay!
Cáo già nhè nhẹ lên cây, Định rằng lấy được ăn ngay cho dòn
Ong thấy cáo muốn cướp con,
Trang 7Kéo nhau xúm lại vây tròn cáo ta
Châm đầu, châm mắt cáo già, Cáo già đau quá phải sa xuống rồi
Ong kia yêu giống, yêu nòi, Đồng tâm, hợp lực đuổi loài cáo đi
Bây giờ ta thử so bì, Ong còn đoàn kết, huống chi là người!
Nhật, Tây áp bức giống nòi,
Ta nên đoàn kết để đòi tự do.
e) Tượng trưng:
- Phương pháp tu từ này có đặc điểm là sử dụng một từ (hình ảnh) đã được qui
ước về mặt xã hội để biểu thị cho một đối tượng (đặc tính) nào đó ngoài nghĩa thông thường của nó Chẳng hạn cây tùng tượng trưng cho người quân tử, cây trúc tượng trưng có ngay thẳng công minh, hoa hồng tượng trưng cho tình yêu… Từ những ước lệ đó, người ta vận dụng ẩn dụ hoặc hoán dụ với những trường hợp cụ thể để có những tượng trưng nhất định
- Là sự kết hợp của môt khái niệm trừu tượng với một khái niệm về cảm giác
Vd: Cỏ cây một màu khổ não
Xanh ve mãi lên môt niềm hoài vọng
Màu đỏ giận dữ
Ở đây có sự kết hợp của các từ ngữ: màu + “khổ não, giận dữ, hoài vọng”
một khái niệm thì trừu tượng, một khái niệm thì cụ thể
Vd: “Chênh vênh thẳng đuột bách tùng, Với hàng lau cỏ đứng cùng được
sau”
Hoa thơm bán một đồng mười Hoa tàn nhị rữ bán đôi lạng vàng
….
Nàng rằng khoảng vắng đêm trường
Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa
… Phượng những tiếc cao diều hay liệng Hoa thì hay héo cỏ thường tươi
Nghĩa gốc: hoa là cơ quan sinh sản của một loài thực vật, thường có màu sắc đẹp và hương thơm Từ hoa khi thì được dùng để ví người phụ nữ đẹp, khi thì dùng đê ví người tình hào hoa phong nhã, khi thì lại dùng để ví người có phẩm chất cao đẹp Như vậy hoa đồng nghĩa với những điều tốt đẹp cao quý
….
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn”
– Nghĩa đen: Bánh trôi nước về màu sắc và hình dáng
Trang 8– Nghĩa bóng : Hình ảnh về vẻ đẹp người phụ nữ có làn da trắng và thân hình đầy đặn
Qua hình ảnh cái bánh nhà thơ đã gợi cho người đọc hình dung được một hình ảnh khác thật sâu săc kín đáo đó là hình ảnh , từ đó gợi cảm xúc cho người đọc
về người phụ nữ xưa …
3 Nhóm nhân hóa
- Nhân hóa là biến sự vật thành con người bằng cách gán cho nó những hoạt
động, tính cách, suy nghĩ… giống như con người, làm cho nó trở nên sinh động, hấp dẫn, gần gũi, sống động và có hồn hơn
Vd: Những chị luá phất phơ bím tóc, Những cây tre bá vai nhau thì thầm đứng
học, Ðàn cò trắng - Khiêng nắng qua sông.
Ông trời mặc áo giáp đen
Ra trận Muôn ngàn cây mía Múa gươm
- Nhân hóa để tả hình dáng: Dòng sông uốn mình qua cánh đồng xanh ngắt
lúa khoai…
- Nhân hóa để tả hoạt động: Bão bùng thân bọc lấy thân - Tay ôm tay níu tre
gần nhau thêm.
- Nhân hóa để tả tâm trạng: Hết mùa hoa - chim chóc cũng vãn Cây gạo
chấm dứt những ngày tưng bừng, ồn ã, lại trở về với dáng vẻ xanh mát, trầm tư.
- Nhân hóa để tả tính cách: Dòng sông mới điệu làm sao - Nắng lên mặc áo
lụa đào thướt tha…
- Trò chuyện tâm sự với vật như đối với người:
Em hỏi cây kơ nia Gió mày thổi về đâu
Về phương mặt trời mọc…
… Ðêm nằm than thở, thở than Gối ơi hỡi gối, bạn lan đâu rồi?
4. Hoán dụ
khái niệm này bằng tên sự vật, hiện tượng, khái niệm khác khi chúng có quan
hệ gần gũi với nhau
- Lấy bộ phận để chỉ toàn thể:
Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cùng thành cơm
Chỉ người lao động
- Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng (số lượng cụ thể và số nhiều):
Một cây làm chẳng lên non Chỉ số ít
Trang 9Ba cây chụm lại nên hòn núi cao Chỉ số nhiều
…
Vì lợi ích mười năm trồng cây , thời gian trước mắt
Vì lợi ích trăm năm trồng người. thời gian lâu dài.
… Trăm năm trăm tuổi trăm chồng Lấy ai thì bế thì bồng trên tay
… Trăm người như một, trăm công nghìn việc, trăm người như một, nghìn nhớ vạn thương
Gọi đích xác là “trăm, nghìn” nhưng ai cũng hiểu là số
nhiều, nhiều không kể hết
- Lấy dấu hiệu của hiện tượng để gọi hiện tượng:
Ngày Huế đổ máu Chiến tranh, xảy ra chiến sự
Chú Hà Nội về Tình cờ chú cháu Gặp nhau Hàng Bè.
…
Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.
Người dân Việt Bắc
- Lấy vật chứa đựng để gọi vật bị chứa đựng:
Áo nâu liền với áo xanh Nông dân cùng với thị thành đứng lên.
Chỉ những người sống ở nông thôn, thành thị
Vì sao? Trái đất nặng ân tình Nhắc mãi tên người: Hồ Chí Minh.
Chỉ nhân loại
- Chuyển tên riêng thành tên chung:
Những hồn Trần Phú vô danh Sóng xanh biển cả cây xanh núi ngàn
- Tượng trưng:
Thương thay thân phận con rùa Lên đình đội hạt xuống chùa đội bia
Thể hiện tính cách nhẫn nhục trong lao động và trong
mọi hoàn cảnh bị áp bức
Kiếp sau xin chớ làm người, Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
Giữa trời, vách đá cheo leo
Ai mà chịu rét thời trèo với thông
Thông hay tùng trúc cúc mai tượng trưng cho khí phách
của bậc chính nhân quân tử, không biết khuất phục trước gió
Trang 105 Cách phân biệt Ẩn dụ - Hoán dụ
- Dựa trên quan hệ tương cận
- Lô gíc có thực, mang tính khách quan
- Dựa trên quan hệ tương đồng
- Lô gic chủ quan
+ Ẩn dụ: dựa vào sự liên tưởng tương đồng, tức là giữa A và B có điểm gì đó giống
nhau, nên người ta dùng A để thay cho tên gọi B Trong đó cả hai sự vật thường khác hoàn toàn
Ví dụ : “Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông”
Hoa lựu có màu đỏ như lửa, bởi vậy lửa (A) được dùng làm ẩn dụ
chỉ hoa lựu (B) + Hoán dụ: dựa vào sự liên tưởng tương cận (gẫn gũi) Trong đó, cả hai sự vật mối
quan hệ gần kề
Ví dụ : Đầu xanh có tội tình gì
Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi”
Đầu xanh : chỉ 1 bộ phận trên cơ thể người (gần kề với người) chỉ
người còn trẻ Tương tự, má hồng: chỉ người con gái đẹp