1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH về xây DỰNG KHỐI đoàn kết TOÀN dân TRONG KHỞI NGHĨA vũ TRANG GIÀNH CHÍNH QUYỀN

56 604 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 513,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, Người cha thân yêu của lực lượng vũ trang đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam, và để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta những di sản tư tưởng vô cùng quí giá. Đã gần một thế kỷ trôi qua, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn soi đường, chỉ lối cho Đảng ta hoạch định đúng đắn đường lối và phương pháp cách mạng, lãnh đạo nhân dân ta giành được nhiều thắng lợi to lớn. Chính vì giá trị to lớn về lý luận và thực tiễn đối với cách mạng Việt Nam, nên Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1991) đã khẳng định: Cùng với chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, Người chathân yêu của lực lượng vũ trang đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạngViệt Nam, và để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta những di sản tư tưởng

vô cùng quí giá Đã gần một thế kỷ trôi qua, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn soiđường, chỉ lối cho Đảng ta hoạch định đúng đắn đường lối và phương pháp cáchmạng, lãnh đạo nhân dân ta giành được nhiều thắng lợi to lớn Chính vì giá trị tolớn về lý luận và thực tiễn đối với cách mạng Việt Nam, nên Đại hội Đảng toànquốc lần thứ VI (1991) đã khẳng định: Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cáchmạng Việt Nam

Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng ta xác định nghiên cứu phát triểnchủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một nhiệm vụ trong công tácnghiên cứu lý luận của Đảng nhằm khám phá thêm những giá trị lý luận, thựctiễn, để từ đó vận dụng sáng tạo vào xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnhkhối đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp xây dựng đất nước, nhất là trong chiếnlược xây dựng nền quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủnghĩa

Tình hình thế giới và khu vực đang diễn biến phức tạp, chủ nghĩa đế quốc vàcác thế lực thù địch đang ra sức chống phá cách mạng nước ta, chúng coi lĩnh vựcchính trị tư tưởng là trọng điểm và tập trung xuyên tạc, bóp méo, bôi nhọ chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Làm cho bản chất cách mạng, khoahọc của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bị phai mờ trong nhậnthức của nhân dân ta Vì thế nghiên cứu làm sáng tỏ tư tưởng Hồ Chí Minh vềđoàn kết toàn dân trong khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền là góp phần khẳngđịnh tính cách mạng, khoa học trong tư tưởng của Người, là cơ sở đấu tranhchống lại mọi âm mưu thủ đoạn xảo quyệt của kẻ thù

Với lý do cơ bản đó, thực hiện đề tài luận văn sẽ góp phần giải quyết đượcnhững đòi hỏi cấp thiết của cách mạng Việt Nam đặt ra

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Xung quanh tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc đã có nhiều côngtrình khoa học của nhiều tác giả trong và ngoài quân đội thực hiện, được in thànhsách hoặc đăng trên báo, tạp chí

Một số công trình sử học đã được công bố như: "Mặt trận Việt Minh" củaNguyễn Thành [47]; "Về con đường giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh" củaTrịnh Nhu [42]; "Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam" của

Võ Nguyên Giáp [17]; "Đảng Cộng sản Việt Nam trước những bước ngoặt lịch sửcủa cách mạng" của Vũ Như Khôi [22]; "Sức mạnh dân tộc của cách mạng ViệtNam dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh" của Lê Mậu Hãn [20]

Trang 2

Các công trình khoa học trên mới chỉ đề cập một khía cạnh nhỏ tư tưởngđoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, còn một số chuyên luận khoa học đã được đăng trên các tạp chínhư: "Tư tưởng Hồ Chí Minh và sự ra đời của Mặt trận Việt Minh" của NguyễnTrọng Phúc" [43]; "Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minhvững chắc giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức" củaDương Quốc Dũng [10]; "Bài học về phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dântrong cách mạng tháng Tám với sự nghiệp đổi mới hiện nay" của Đoàn NgọcHải [18]; "Cách mạng tháng Tám - bài học về phát động, tổ chức, lãnh đạoquần chúng" của Vũ Như Khôi [23] Cũng có đề cập đến tư tưởng đoàn kết dântộc của Hồ Chí Minh trong cách mạng giải phóng dân tộc

Hoặc có đề tài luận văn về tư tưởng và hoạt động của Hồ Chí Minh về đoànkết dân tộc như: "Hồ Chí Minh nêu cao mục tiêu độc lập dân tộc nhằm tập hợplực lượng cách mạng tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền 1945" của PhanHải Cường [5]

Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một tác giả nào nghiên cứu một cách hệthống, đầy đủ, trực tiếp những cống hiến của Hồ Chí Minh về xây dựng khối đạiđoàn kết toàn dân trong khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền Để làm sáng tỏ tưtưởng đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong một thời kỳ lịch sử quan

trọng, đề tài luận văn: " Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối đoàn kết toàn dân trong khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền" sẽ góp phần thực hiện nhiệm

vụ đó

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích: Luận văn góp phần làm sáng tỏ tư tưởng Hồ Chí Minh về xây

dựng khối đoàn kết toàn dân trong khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền trongmột thời điểm lịch sử cách mạng (1941 - 1945) Đồng thời thấy được Đảng ta đãvận dụng đúng đắn sáng tạo tư tưởng đoàn kết toàn dân của Hồ Chí Minh trongquá trình lãnh đạo toàn dân đứng lên giành chính quyền (1945) và phát huy sứcmạnh khối đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ViệtNam xã hội chủ nghĩa hiện nay

Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích trên, luận văn tập trung làm rõ mấy vấn

đề cơ bản sau đây:

- Phân tích làm rõ tính tất yếu phải khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền,phải xây dựng lực lượng cách mạng cho khởi nghĩa vũ trang

- Làm sáng tỏ những nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối đoànkết toàn dân trong khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền

- Làm rõ quá trình xây dựng khối đoàn kết toàn dân - xây dựng lực lượngcách mạng trong cao trào giải phóng dân tộc của Đảng theo tư tưởng Hồ ChíMinh thời kỳ 1941 - 1945

- Làm rõ sự vận dụng đúng đắn sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về tưtưởng đại đoàn kết toàn dân của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay

Trang 3

4 Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu đề tài

Cơ sở lý luận:

Đề tài luận văn dựa vào lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lốichủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam làm cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài

Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháplôgíc, ngoài ra còn sử dụng các phương pháp: thống kê, so sánh, phân tích tổnghợp trong từng nội dung

5 Ý nghĩa luận văn

Với cách trình bày có hệ thống và tập trung về tư tưởng Hồ Chí Minh về xâydựng khối đoàn kết toàn dân trong khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền (1941 -1945), luận văn làm sáng tỏ, sâu sắc hơn tư tưởng đại đoàn kết toàn dân khởi nghĩagiành chính quyền của Hồ Chí Minh trong cao trào cách mạng chuẩn bị và tiến tớicách mạng tháng Tám 1945 Trên cơ sở đó góp phần vào cuộc đấu tranh nhằm bảo vệ

sự trong sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, giúp cho mỗi người nhận thức đúng đắn hơn,khoa học hơn về tư tưởng đại đoàn kết toàn dân của Hồ Chí Minh Đồng thời, thấyđược sự vận dụng sáng tạo tư tưởng đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh, của Đảng tatrong việc xây dựng và phát huy sức mạnh dân tộc trong sự nghiệp đổi mới đất nướchiện nay Luận văn góp thêm một tài liệu tham khảo phục vụ cho nghiên cứu và giảngdạy môn học tư tưởng Hồ Chí Minh trong các nhà trường trong và ngoài quân đội

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm: Mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu thamkhảo

Chương 1 NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG KHỐI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TRONG KHỞI NGHĨA VŨ TRANG GIÀNH

CHÍNH QUYỀN

1.1 Khởi nghĩa vũ trang và yêu cầu xây dựng lực lượng cách mạng

Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm khoa học toàn diện, sâu sắc vàcách mạng triệt để, đó là kho lý luận cách mạng vô cùng quý giá để lại cho cácthế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau Trong kho tàng lý luận quý giá đó, phải kểđến tư tưởng về xây dựng khối đoàn kết toàn dân trong khởi nghĩa vũ trang giànhchính quyền

Tư tưởng về khởi nghĩa vũ trang được Hồ Chí Minh đề cập trong nhiều bàinói, bài viết của Người từ những năm nửa đầu thế kỷ XX, tập trung nhất ở tácphẩm: “Bản án chế độ thực dân Pháp” năm 1925; “Đường cách mệnh” năm 1927;

“Chính cương sách lược vắn tắt” năm 1930; “Kính cáo đồng bào” năm 1941;

“Thế giới đại chiến và phận sự của chúng ta” năm 1941; “Chiến thuật du kích”

Trang 4

năm 1942; “Chỉ thị thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” năm1944.

Tư tưởng khởi nghĩa vũ trang của Người được thể hiện trên những nội dung

cơ bản sau đây:

Về lực lượng khởi nghĩa vũ trang: Bao gồm hai lực lượng cơ bản đó là lực

lượng chính trị của quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân Lực lượng chínhtrị giữ vai trò quyết định đến thắng lợi trong khởi nghĩa, lực lượng vũ trang nhândân giữ vai trò hỗ trợ cho lực lượng chính trị của quần chúng trong khởi nghĩa.Ngoài lực lượng chính trị của quần chúng và lực lượng vũ trang cách mạng đượcxây dựng ở một mức độ nhất định, Hồ Chí Minh còn xác định Đảng Cộng sản -đội tiên phong của giai cấp công nhân là lực lượng lãnh đạo khởi nghĩa vũ trang

Về phương thức tiến hành khởi nghĩa: Hồ Chí Minh chỉ ra rằng khởi nghĩa

vũ trang được tiến hành trên cơ sở sử dụng hai lực lượng chính trị và quân sự,đấu tranh với hai hình thức kết hợp: đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang.Trong đó lực lượng chính trị và đấu tranh chính trị giữ vai trò quyết định chủ yếuđến thắng lợi trong khởi nghĩa vũ trang Con đường khởi nghĩa vũ trang đi từkhởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa

Về điều kiện và mục tiêu khởi nghĩa vũ trang: Hồ Chí Minh xác định khởi

nghĩa vũ trang chỉ nổ ra khi điều kiện khách quan và chủ quan tạo ra tình thế vàthời cơ cách mạng Theo Hồ Chí Minh, tình thế cách mạng trong đấu tranh giànhchính quyền là tổng hợp những điều kiện chính trị - xã hội do mâu thuẫn dân tộc,giai cấp ở Đông Dương phát triển đến mức gay gắt nhất định, nhờ đó khởi nghĩa

có thể nổ ra và thắng lợi Tình thế cách mạng theo Hồ Chí Minh là điều kiệnkhách quan nhưng lại hình thành và phát triển trong sự tác động qua lại giữa nhân

tố chủ quan với các điều kiện khách quan Thời cơ khởi nghĩa được Hồ Chí Minhquan niệm là thời điểm thuận lợi nhất trong tình thế cách mạng, là sự hội tụnhững điều kiện khách quan và chủ quan đến độ chín muồi, bảo đảm cho khởinghĩa nổ ra thắng lợi Thời cơ khởi nghĩa nói cụ thể ra là thời điểm mà: chínhquyền Đế quốc tay sai hoang mang đến cực độ; lực lượng cách mạng đã được xâydựng rộng khắp, vững mạnh; Đảng Cộng sản Đông Dương đã chuẩn bị sẵn sàng

và các tầng lớp trung gian “ngả về phe cách mạng” Nếu khởi nghĩa nổ ra không

có đủ hai điều kiện tình thế và thời cơ cho phép thì khởi nghĩa sẽ khó tránh khỏi

sự đàn áp và thất bại Hồ Chí Minh cho rằng thời cơ khởi nghĩa là đại lượng luônbiến đổi theo thực tiễn, cho nên thời cơ đến sớm hay muộn còn tuỳ thuộc rấtnhiều vào nhân tố chủ quan, nhất là vai trò của Đảng Cộng sản Đông Dươngtrong việc tạo thời cơ và chớp thời cơ khởi nghĩa Mục tiêu khởi nghĩa vũ trangđược Hồ Chí Minh xác định là giành chính quyền Khởi nghĩa được gọi là khởinghĩa vũ trang khi khởi nghĩa ấy phải bao hàm hai yếu tố: đó là khởi nghĩa chống

Trang 5

lại luật pháp của chính quyền tay sai đế quốc và giành được chính quyền Tất cảnhững cuộc khởi nghĩa nổ ra hoặc chuẩn bị nổ ra nếu không bao hàm hai yếu tố

đó thì không được gọi là khởi nghĩa vũ trang mà chỉ đơn thuần là “các cuộc nổidậy” hoặc “Khởi nghĩa địa phương mà thôi” Trên thực tế, các cuộc khởi nghĩa

nổ ra trước ngày 9 tháng 3 năm 1945, được Hồ Chí Minh xem đó là các cuộc đấutranh của quần chúng chứ chưa đạt đến trình độ khởi nghĩa vũ trang

Quy mô khởi nghĩa vũ trang: Hồ Chí Minh xác định khởi nghĩa vũ trang

diễn ra trong phạm vi cả nước từ rừng núi đến đồng bằng và đô thị, tính chấtquyết liệt, thời gian khẩn trương, tốc độ liên tục khởi nghĩa vũ trang không baohàm tư tưởng phòng ngự Theo tư tưởng của Hồ Chí Minh, nếu xem xét khởinghĩa và chiến tranh trong tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc, thì khởi nghĩa

vũ trang là hình thức biểu hiện cao nhất của bạo lực cách mạng nhằm giành chínhquyền Còn chiến tranh được thực hiện khi đã xuất hiện nhà nước và quân đội,chiến tranh là sự tiếp tục tư tưởng bạo lực trong điều kiện hai quân đội của hainhà nước tham chiến với nhau Vì khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạngđều đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng cộng sản, cho nên tuy mục tiêu trựctiếp có sự khác nhau, song xét về lâu dài đều đi tới mục đích cao nhất đó là giảiphóng dân tộc, giành độc lập tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân Qua baonăm bôn ba tìm đường cứu nước, giải phóng đồng bào khỏi ách thống trị, bóc lộtcủa bọn đế quốc tay sai, Hồ Chí Minh đã nhận thức đúng đắn kẻ thù của giai cấp,của dân tộc và tìm thấy con đường đúng đắn để giành độc lập cho dân tộc Ngaysau khi trở về Tổ quốc, Hồ Chí Minh đã khẩn trương triệu tập Hội nghị Trungương Đảng lần thứ 8 (5/1941), trong Hội nghị này, Người đã khẳng định dứtkhoát: “Cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa võtrang” [11, tr.129] Tư tưởng khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền của Chủ tịch

Hồ Chí Minh không phải là một quan điểm bột phát thuần tuý mà là cả một luận cứkhoa học có tính chất tổng kết thực tiễn và đúc kết lý luận mà hình thành Có thểkhái quát luận điểm về khởi nghĩa vũ trang và xây dựng lực lượng cách mạng củachủ tịch Hồ Chí Minh dựa trên các căn cứ khoa học dưới đây

Thứ nhất, từ sự tiếp thu truyền thống, kinh nghiệm trong lịch sử chống

ngoại xâm của dân tộc Việt Nam

Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trên quê hương Việt Nam giàu truyền thốngchống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập thống nhất dân tộc, Người đã sớmđược các bậc yêu nước tiền bối kể cho nghe bao câu chuyện trong lịch sử dựngnước và giữ nước Ngay từ thuở nhỏ, Người sớm say mê đọc sách, thích tìm hiểulịch sử, nhất là lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam Với mong muốnnghiên cứu lịch sử “cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” [37, tr.216], Hồ ChíMinh nghiên cứu lịch sử và nhận thấy dân tộc Việt Nam “đời nào cũng có ngườianh hùng mưu cao võ giỏi” [37, tr.216], lãnh đạo toàn dân đánh đuổi quân cướp

Trang 6

nước Do đất nước Việt Nam có vị trí quan trọng trong khu vực và thế giới, cho nênnước ta trong suốt mấy nghìn năm luôn phải đối chọi với nhiều kẻ thù xâm lược.Buổi đầu công nguyên, giặc Đông Hán thống trị đô hộ nước ta, Hai Bà: Trưng Trắc

và Trưng Nhị đã tụ tập nghĩa quân, dựng cờ khởi nghĩa vào năm 40 và giành thắnglợi giải phóng 65 huyện, thành, đuổi quân Đông Hán về nước, giành độc lập cho dântộc

Khoảng sau đó nửa thế kỷ, Lí Bí (Lí Bôn) là một hào trưởng ở địa phương,quê ở Hà Nội đã cùng với người cùng quê là Tinh Thiều, tù trưởng Chu Diên làTriệu Túc và con là Triệu Quang Phục bỏ quan về làng, chiêu mộ hào kiệt, phất

cờ khởi nghĩa vào năm 542 chống lại sự đô hộ thống trị của nhà Lương, đánh tancác đạo quân xâm lược của nhà Lương, lập ra Triều Lý, đặt tên nước là Vạn Xuânvào năm 544 Nhiều cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giữ nước của nhân dân tadưới sự lãnh đạo của các thủ lĩnh, các triều đại phong kiến Việt Nam sau đó đãliên tiếp nổ ra và giành được thắng lợi Một số cuộc khởi nghĩa và chiến tranhtiêu biểu như: Cuộc kháng chiến chống Tống xâm lược năm 981 dưới sự lãnh đạocủa Thập Đạo Tướng quân Lê Hoàn; cuộc kháng chiến chống giặc Mông –Nguyên (1258, 1285, 1288) dưới sự lãnh đạo của nhà Trần, dưới sự chỉ huy trựctiếp của Trần Quốc Tuấn; cuộc khởi nghĩa Lam Sơn phát triển thành chiến tranhgiải phóng do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo (1416 – 1427); cuộc khởi nghĩanông dân Tây Sơn vươn lên thành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc (1771–1789) do Nguyễn Huệ lãnh đạo Nếu đem so sánh lực lượng quân đội của hai bêntham chiến thì ta thua kém hơn địch nhiều Tuy lực lượng quân đội của các triềuđại phong kiến không nhiều, song triều đình và tướng lĩnh chỉ huy cuộc khởinghĩa, chỉ huy cuộc kháng chiến nhờ biết dựa vào dân, biết phát huy sức mạnhcủa quân và dân nên đã lần lượt đánh bại các cuộc chiến tranh xâm lược của kẻthù, bảo vệ nền độc lập của dân tộc Trần Quốc Tuấn – Người chỉ huy trực tiếpcác cuộc kháng chiến chống xâm lược của nhân dân ta ở thế kỷ XIII đã nêu lên tưtưởng “chúng chí thành thành” – ý chí của dân chúng là bức thành không kẻ nàophá nổi Thực hiện đúng đắn tư tưởng đó chẳng những phát huy được sức mạnhdân tộc trong sự nghiệp dựng nước mà còn tạo ra sức mạnh to lớn đánh bại cáccuộc chiến tranh xâm lược Theo Trần Quốc Tuấn, một nhà nước vững mạnh phảidựa trên nền tảng dựa vào dân, “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”, khiđất nước có chiến tranh thì phải theo tư tưởng chỉ đạo chiến lược “tận dân vibinh, cử quốc nghênh địch” Nghiên cứu lịch sử chống ngoại xâm của dân tộcViệt Nam, Hồ Chí Minh thấy rằng, muốn lật đổ chính quyền thống trị, muốn đánhthắng các cuộc chiến tranh xâm lược không có cách nào khác là dùng sức mạnhquân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân Hồ Chí Minh sau này đã tổng kết thànhchân lý: “Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập Tóm lạilúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn” [37, tr.217] Sức mạnh

Trang 7

nhân dân được Hồ Chí Minh xem như là vũ khí của mọi thắng lợi: “dân khí mạnh thìquân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại” [32, tr.274] Sử dụng sức mạnhnhân dân trong khởi nghĩa vũ trang được Hồ Chí Minh xem như là quy luật thắng lợitrong sự nghiệp giữ nước của dân tộc.

Thứ hai, Hồ Chí Minh vận dụng quan điểm bạo lực của chủ nghĩa Mác - Lê

nin vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam

Học thuyết về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lê ninkhẳng định đấu tranh giai cấp là động lực phát triển xã hội có giai cấp Mục tiêucuộc đấu tranh đó dưới chế độ tư bản chủ nghĩa là lật đổ chính quyền nhà nước tưsản Cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạngnhưng phổ biến là con đường bạo lực cách mạng Trong tác phẩm “Tư bản”,C.Mác đã khẳng định vai trò của bạo lực trong sự phát triển xã hội: “Bạo lực là

bà đỡ của một chế độ xã hội cũ đang thai nghén một chế độ mới” [29, tr.1043].Cùng tư tưởng với C.Mác, Ph.Ăng ghen đã phân tích vai trò của bạo lực tronglịch sử Trong tác phẩm nổi tiếng “Chống Đuy – Rinh”, ông coi: “Bạo lực là công

cụ mà sự vận động xã hội dùng để tự mở đường cho mình và đập tan những hìnhthức chính trị đã hoá đá và chết cứng” [28, tr.259]

Trong “Tuyên ngôn Đảng cộng sản”, xuất bản năm 1848, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng khẳng định: “Những người cộng sản coi là điều đáng khinh bỉ nếu dấudiếm những quan điểm và ý định của mình Họ công khai tuyên bố rằng mục đíchcủa họ chỉ có thể đạt được bằng cách dùng bạo lực lật đổ toàn bộ trật tự xã hộihiện hành” [27, tr.646] V.I.Lênin kế tục sự nghiệp cách mạng vĩ đại của C.Mác

và Ph.Ăng ghen đã nói rằng: “… chính tư tưởng ấy – tư tưởng cách mạng bạo lực

là nền tảng của toàn bộ học thuyết của C.Mác và Ph.Ăngghen” [26, tr.28] Ôngcòn khẳng định: “Nhà nước tư sản bị thay thế bởi Nhà nước vô sản (chuyên chính

vô sản) không thể bằng con đường “tiêu vong” được, mà chỉ có thể, theo quy luậtchung bằng một cuộc cách mạng bạo lực thôi” [25, tr.27] Thực tiễn đấu tranhgiai cấp, đấu tranh dân tộc trong lịch sử cho thấy cách mạng bạo lực được diễn rahoặc bằng loại hình khởi nghĩa hoặc loại hình chiến tranh cách mạng, hoặc loạihình kết hợp khởi nghĩa với chiến tranh, chiến tranh với khởi nghĩa Chủ nghĩa

Mác - Lê nin, một mặt khẳng định tính quy luật cách mạng bạo lực của giai cấp

vô sản và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới và thường nói đến đấu tranh vũtrang, tới nội chiến khi bàn đến khởi nghĩa Mặt khác, lại thừa nhận tính muônmàu muôn vẻ của các hình thức đấu tranh, xuất hiện từ trong thực tiễn cách mạngcủa quần chúng, chứ không hề định sẵn một hình thức cụ thể nào trong cáchmạng bạo lực Trong tác phẩm “Chiến tranh du kích” V.I.Lênin viết: “Chủ nghĩaMác tuyệt đối không từ chối bất cứ một hình thức đấu tranh nào Không bao giờ

nó lại tự hạn chế ở những hình thức đấu tranh có thể có và đang tồn tại chỉ trong

Trang 8

một lúc nào đó, nó thừa nhận rằng tình thế xã hội thay đổi thì tất nhiên sẽ xuấthiện những hình thức đấu tranh mới mà những người hoạt động trong thời kỳchưa hề biết đến Về phương diện đó, chủ nghĩa Mác đã học tập, có thể nói làthực tiễn quần chúng, nó không hề tham vọng dạy quần chúng những hình thứcđấu tranh mà “các chuyên gia thích hệ thống” ngồi trong phòng giấy nặn ra” [25,tr.2] V.I Lênin còn khẳng định dứt khoát rằng: “Không xem xét tỉ mỉ hoàn cảnh

cụ thể của phong trào nhất định, trong giai đoạn phát triển nhất định của nó, mà

cứ muốn thừa nhận hoặc phủ nhận một phương thức đấu tranh nhất định, như vậy

là hoàn toàn rời bỏ lập trường Mác – xít” [25, tr.2] Đó là những nguyên tắc lýluận mà bất cứ một người cách mạng và Đảng cách mạng nào cũng phải tuântheo

Dựa trên quan điểm bạo lực cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê nin, Hồ ChíMinh phân tích và đánh giá đúng bản chất cực kỳ phản động của kẻ thù xâm lược.Trong tác phẩm “Đường cách mệnh” xuất bản năm 1927, Hồ Chí Minh đã tổngkết kinh nghiệm các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới như cách mạng tưsản Mỹ (1776), cách mạng tư sản Pháp (1789), cách mạng tháng Mười Nga(1917) Người khẳng định cả hai cuộc cách mạng tư sản Pháp và cách mạng tưsản Mỹ đều là những cuộc cách mạng “không đến nơi”, vì nó chưa giải phóngtriệt để được cho công nông Còn với cuộc cách mạng tháng Mười Nga năm

1917, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng đó là cuộc cách mạng vô sản triệt để nhất tronglịch sử, đã giải phóng triệt để nhân dân lao động thoát khỏi sự áp bức thống trịcủa bọn đế quốc tay sai Học tập tư tưởng bạo lực cách mạng của chủ nghĩa Mác -

Lê nin, cùng với những thắng lợi vĩ đại trong cách mạng tháng Mười Nga năm

1917, Hồ Chí Minh đi đến một sự khẳng định dứt khoát con đường cách mạngViệt Nam: “Phải đi theo con đường cách mạng tháng Mười Nga” – con đườngcách mạng vô sản, sử dụng sức mạnh đoàn kết toàn dân đấu tranh giành chínhquyền

Thứ ba, từ yêu cầu của cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX

Sau hiệp ước Patơnốt mà Triều đình Huế ký với Pháp năm 1884, đất nước tahoàn toàn đặt dưới sự đô hộ, thống trị của đế quốc Pháp Để tăng cường củng cố sựthống trị ở Đông Dương, đế quốc Pháp thi hành hàng loạt chính sách phản động tàn

ác đối với dân chúng Việt Nam, trong đó chúng ra sức thực thi chính sách “chia đểtrị” Chúng chia cắt nước ta ra làm ba kỳ với ba hình thức cai trị có nét khác nhau,nhưng thực chất đều là thuộc địa của Pháp

Đế quốc Pháp ra sức xây dựng bộ máy chính quyền và quân đội, cảnh sát,nhà tù để thẳng tay bóc lột Kẻ thù của dân tộc Việt Nam, của nhân dân Việt Namcàng bóc lột, đàn áp tàn khốc; càng làm cho sự căm tức của toàn thể nhân dânViệt Nam đối với đế quốc Pháp xâm lược và tay sai dâng cao Mâu thuẫn cơ bản,

Trang 9

chủ yếu của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ phát triển gay gắt Nhiều nhà yêu nướcxuất thân từ các tầng lớp khác nhau đã tập hợp nhân dân dựng cờ khởi nghĩachống lại chính quyền đế quốc tay sai, các cuộc đấu tranh của nhân dân ta nổ rakhắp mọi nơi, song kết cục đều bị thất bại, mâu thuẫn cơ bản giữa dân tộc ViệtNam với đế quốc Pháp và tay sai không được giải quyết triệt để Yêu cầu củacách mạng Việt Nam lúc này là phải tìm ra một con đường cứu nước mới Hồ ChíMinh từ sự phân tích đánh giá đúng tình hình Việt Nam đầu thế kỷ XX và chorằng cách mạng Việt Nam chỉ có thể giành được thắng lợi trên cơ sở giải quyếttriệt để mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu đó Hồ Chí Minh cho rằng, nếu không đánh đổchính quyền đế quốc phong kiến giải phóng dân tộc thì “chẳng những toàn thểquốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấpđến vạn năm cũng không đòi lại được” [11, tr.113] Theo Hồ Chí Minh, cáchmạng là một quá trình “phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt” [32,tr.263], đó là một nhiệm vụ to lớn, nặng nề, với bao khó khăn, hy sinh Muốncách mạng thắng lợi thì không chỉ dựa vào một lực lượng riêng rẽ mà phải dựavào lực lượng đoàn kết toàn dân, phải dùng sức mạnh đoàn kết dân tộc tiến hànhmột cuộc khởi nghĩa vũ trang lật đổ chính quyền đế quốc tay sai Khởi nghĩa vũtrang giành chính quyền là một tất yếu, song theo Hồ Chí Minh, không thể đánhgiặc bằng “tay không” mà phải trên cơ sở có đủ lực lượng mới tiến hành khởinghĩa được Vì vậy, xây dựng lực lượng cho khởi nghĩa vũ trang là một yêu cầukhách quan, cấp bách đang đặt ra Vấn đề đầu tiên được Hồ Chí Minh đặc biệtchú ý quan tâm trong xây dựng lực lượng cách mạng đó là Đảng cộng sản Trongtác phẩm “Đường cách mệnh”, Hồ Chí Minh đã sớm chỉ ra rằng muốn làm cáchmạng: “trước hết phải có Đảng cách mệnh” [32, tr.267] Sự thất bại của cácphong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX đều bắt nguồn do thiếu một độitiên phong dẫn đường – Đảng cách mạng Đảng cách mạng trong tư tưởng HồChí Minh đó là Đảng Cộng sản - đội tiên phong của giai cấp công nhân, là tổchức cao nhất của giai cấp công nhân, đó là một tổ chức chính trị được tổ chức rấtchặt chẽ, có kỷ luật nghiêm minh được xây dựng và hoạt động trên cơ sở phongtrào cách mạng phát triển đến một trình độ nhất định, có lý luận tiên phong dẫnđường đó là chủ nghĩa Mác - Lê nin Đảng Cộng sản có nhiệm vụ vận động, tậphợp, giác ngộ quần chúng và lãnh đạo quần chúng tranh đấu đến mục tiêu trựctiếp trong cách mạng giải phóng dân tộc là giành chính quyền Theo sự đánh giácủa Hồ Chí Minh thì ở Việt Nam đầu thế kỷ XX đã xuất hiện nhiều Đảng pháicủa các giai cấp tiểu tư sản, tư sản Song các đảng ấy không đảm đương được sứmệnh lịch sử của dân tộc giao phó, không có khả năng tập hợp và phát động toàndân vươn lên làm cuộc cách mạng “chính quyền” Một bộ máy chính quyền đếquốc đồ sộ với quân đội, cảnh sát được huấn luyện kỹ càng, được trang bị vũ khíhiện đại, lại nhiều mưu mô xảo quyệt thì không thể dựa vào những đảng với lý

Trang 10

luận nửa vời để lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giành thắng lợi được, mà phải trên

cơ sở một đường lối chính trị đúng đắn cách mạng, đó là đường lối Mác - Lênin

do Đảng Cộng sản đề ra Vì vậy, vấn đề quan tâm nhất của Hồ Chí Minh là phảinhanh chóng chuẩn bị các yếu tố để sớm tổ chức ra Đảng Cộng sản và phải khôngngừng xây dựng Đảng Cộng sản ngày càng vững mạnh, đủ sức đảm đương sứmệnh lịch sử mà nhân dân giao phó Trong xây dựng lực lượng cách mạng chuẩn

bị khởi nghĩa và khởi nghĩa thì nhiệm vụ xây dựng Đảng Cộng sản vững mạnh cảchính trị, tư tưởng và tổ chức có ý nghĩa quyết định đến xây dựng lực lượng toàndân Kết hợp xây dựng Đảng gắn với xây dựng lực lượng chính trị quần chúng vàxây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Sức mạnh quần chúng được thể hiện ở sựđoàn kết thống nhất, cho nên Hồ Chí Minh chỉ ra rằng trong suốt quá trình xâydựng lực lượng cách mạng phải dựa trên quan điểm lập trường của giai cấp côngnhân, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng lý luận bởi đó là “chủ nghĩa chânchính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất” [32, tr.268] Kẻ địch bố trí lực lượngkhắp mọi nơi để đàn áp, bóc lột đồng bào ta, vì thế Hồ Chí Minh cho rằng phảixây dựng lực lượng rộng khắp, để khi thời cơ đến, ở đâu bộ máy chính quyền,quân đội, cảnh sát cũng bị lực lượng của ta đánh chặn, làm cho địch tan rã từngmảng đến tan rã toàn bộ Chúng ta xây dựng lực lượng từ không đến có, từ nhỏ đếnlớn với bao khó khăn đặt ra, do vậy, Hồ Chí Minh nhắc nhở phải tăng cường sựlãnh đạo của Đảng nhằm bảo đảm cho quá trình xây dựng lực lượng – xây dựng khốiđoàn kết toàn dân phát triển thống nhất theo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ĐôngDương

1.2 Nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối đoàn kết toàn dân trong khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền

Tư tưởng xây dựng khối đoàn kết toàn dân trong khởi nghĩa vũ trang giànhchính quyền của Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm lý luận cách mạng và khoahọc được hình thành trong những năm ra đi tìm đường cứu nước giải phóng dântộc, cũng như khi trở về hoạt động lãnh đạo phong trào cách mạng trong nước

Tư tưởng của Người về xây dựng khối đoàn kết toàn dân trong khởi nghĩa vũtrang được thể hiện trên những nội dung cơ bản sau đây:

1.2.1 Quần chúng nhân dân là lực lượng quyết định thắng lợi trong khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền

Mục tiêu và hoài bão của Hồ Chí Minh là mang lại độc lập dân tộc, tự dohạnh phúc cho nhân dân Hoài bão ấy đã thúc dục Hồ Chí Minh bôn ba tìmđường cứu nước giải phóng đồng bào Những năm tháng lao động bằng nhiềucông việc khác nhau, cùng với nhiều hoạt động cách mạng ở nước ngoài đãgiúp Hồ Chí Minh từng bước nhận thức đúng đắn về vai trò của những cần lao

Trang 11

và các dân tộc bị áp bức, về vai trò của quần chúng trong sự nghiệp giải phóngnhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

Khi chưa bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin, nhận thức của Hồ Chí Minh cũngmới chỉ dừng lại ở sự hiểu biết ban đầu như: đế quốc vô luận da trắng hay davàng đều là kẻ thù của nhân dân lao động, quần chúng cần lao đều là bạn Thắnglợi vĩ đại của cách mạng tháng Mười Nga (1917) cùng với bản luận cương củaLênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa như ngọn đuốc dẫn đường thúc dục HồChí Minh trên con đường nhận thức khoa học Từ chỗ tìm đến học thuyết Mác -Lênin, Người đã dày công nghiên cứu, học tập lý luận, soi rọi lý luận trong thựctiễn để rồi tiếp thu một cách tự giác quan điểm của các nhà kinh điển Mác -Lênin, tiếp thu quan điểm về vai trò của quần chúng nhân dân trong cách mạng

vô sản

Sau bao năm hoạt động trực tiếp ở nước ngoài, nhất là từ lúc Hồ Chí Minhnghiên cứu, học tập, tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin đã giúp Hồ Chí Minh xácđịnh đúng đắn vai trò của quần chúng nhân dân trong cách mạng Việt Nam, trongđấu tranh vũ trang giành chính quyền Trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, HồChí Minh khẳng định rằng: “ cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ khôngphải việc một hai người” [32, tr.262] Quan niệm của Hồ Chí Minh về quầnchúng nhân dân và vai trò của họ trong cách mạng Việt Nam là kết quả của sự kếthừa, mở rộng và phát triển giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam Ởcác Triều đại phong kiến Việt Nam đã quan niệm nhân dân là lực lượng có vai tròquan trọng trong các cuộc chiến tranh và khởi nghĩa Sức mạnh đoàn kết dân tộcđược Nguyễn Trãi đánh giá rất cao: “Chở thuyền và lật thuyền đều do dân”, tuynhiên quan niệm dân của cha ông ta trước đây là chỉ tầng lớp nông dân – lựclượng đông đảo nhất trong toàn xã hội phong kiến Địa vị xã hội của họ chỉ lànhững lực lượng cày thuê, cuốc mướn cho địa chủ, sự bóc lột của giai cấp địa chủphong kiến đối với người nông dân trong xã hội được giai cấp địa chủ phong kiếncoi như sự sắp đặt của “mệnh trời”

Còn trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quần chúng nhân dânkhông chỉ là lực lượng nông dân mà còn bao gồm tất cả mọi người dân Việt Namyêu nước không phân biệt già, trẻ, gái, trai, dân tộc, tôn giáo, đảng phái Nhân dânlao động được Hồ Chí Minh xem họ là chủ nhân của đất nước, chứ không phải làthân phận tôi tớ làm thuê Vai trò của quần chúng nhân dân được Hồ Chí Minhquan niệm: “trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gìmạnh bằng sức mạnh đoàn kết toàn dân”

Trong mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản và nhân dân, Hồ Chí Minh cho rằngĐảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân Việcsắp xếp, vị trí, vai trò của các giai cấp, tầng lớp nhân dân trong xã hội Việt Nam

Trang 12

đầu thế kỷ XX, cũng được Hồ Chí Minh sắp xếp đúng đắn Trong khi xác định:

“học trò, nhà buôn, điền chủ nhỏ chủ là bầu bạn cách mệnh của công nông” [32,tr.266], Hồ Chí Minh xác định rằng giai cấp công nhân và giai cấp nông dân là:

“gốc cách mệnh” [32, tr.266] Sở dĩ Hồ Chí Minh xác định công nông là gốc cáchmạng bởi vì người phân tích dựa trên mấy lý do sau đây:

“Công nông bị áp bức nặng hơn công nông là đông nhất cho nên sức mạnhhơn hết, là vì công nông là tay không chân rỗi, nêu thua chỉ mất một cái kiếp khổ,nếu được thì được cả thế giới, cho nên họ gan góc” [32, tr.266] Xã hội Việt Namđầu thế kỷ XX có rất nhiều giai cấp, tầng lớp khác nhau, nhưng trong tất cả cácgiai cấp tầng lớp trong xã hội Việt Nam, Hồ Chí Minh xác định chỉ có giai cấpcông nhân Việt Nam là giai cấp duy nhất lãnh đạo nhân dân ta giành chính quyền.Theo Hồ Chí Minh, quần chúng nhân dân có sức mạnh to lớn trong đấutranh vũ trang giành chính quyền, song sức mạnh ấy chỉ được phát huy trên cơ sởxây dựng được khối đoàn kết dân tộc, dựa trên nền tảng liên minh công nông.Những năm tháng đi tìm đường cứu nước, xa quê hương, nhưng ngày ngày Ngườivẫn “vọng cố hương”, theo sát từng bước chuyển của Tổ quốc Khi đang ở nướcngoài, Hồ Chí Minh tìm đủ mọi cách chuyển tài liệu về trong nước kêu gọi toàndân kết đoàn lại Sau khi trở về Tổ quốc (1941), Hồ Chí Minh đã chỉ đạo xâydựng khối đoàn kết toàn dân, tập hợp mọi tầng lớp nhân dân vào trong mặt trậnViệt Minh và các đoàn thể cứu quốc Người chỉ cho nhân dân ta kẻ thù, chỉ chonhân dân ta biết rõ sức mạnh của sự đoàn kết toàn dân, Người khuyên nhândân Việt Nam phải luôn nhớ “chữ đồng” – “đồng tình, đồng sức, đồng lòng,đồng minh” Bài học kinh nghiệm trong lịch sử chống xâm lược của dân tộc ta,tiêu biểu là bài học về sự thất bại của nhà Hồ trong kháng chiến chống giặcMinh xâm lược (1407) càng là cơ sở thực tiễn để Hồ Chí Minh nhận thức sâusắc hơn sức mạnh nhân dân – sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân: “sựđoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi”.Quan niệm trên đây của Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dântrong khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền đã kịp thời khắc phục được nhữngnhận thức sai lệch trong việc xác định vai trò của nhân dân, nhất là công nhân

và nông dân Đồng thời, là cơ sở để Đảng ta hoạch định đúng đắn chiến lượcxây dựng mặt trận dân tộc thống nhất trong khởi nghĩa vũ trang giành chínhquyền

1.2.2 Sức mạnh của quần chúng nhân dân chỉ được phát huy khi biết phát động, tổ chức và lãnh đạo

Hồ Chí Minh luôn quan niệm nhân dân là lực lượng quý nhất, đông đảonhất, là nguồn sức mạnh to lớn trong cách mạng giải phóng dân tộc Sức mạnhnhân dân lúc thường đang tiềm ẩn trong mỗi người, mỗi tập thể, mỗi tổ chức Nếu

Trang 13

chúng ta không biết phát động, khơi dậy, tổ chức và lãnh đạo thì không thể phátđộng thành lực lượng vĩ đại trong khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.

Sự thống trị, áp bức, bóc lột của đế quốc, tay sai với hàng loạt chính sách,luật pháp hà khắc, phản động đã đẩy nhân dân ta, nhất là giai cấp công nhân vàgiai cấp nông dân đi vào con đường ngày càng cực khổ Nạn đói rét, bệnh tật, mùchữ, chết chóc diễn ra hàng ngày khắp mọi miền Tổ quốc Mặt khác, kẻ địch luôntìm mọi cách ru ngủ nhân dân, làm cho nhận thức của nhân dân bị lệch lạc Thựctrạng đó đã tác động đến suy nghĩ hàng ngày của Hồ Chí Minh, càng thôi thúcChủ tịch Hồ Chí Minh ở nước ngoài mau chóng “trở về nước, đi vào quần chúng,thức tỉnh họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh, giành tự do độc lập” [30,tr.192] Trải suốt những năm tháng hoạt động cách mạng ở xa Tổ quốc, để khơidậy tinh thần yêu nước trong các tầng lớp nhân dân, Hồ Chí Minh tích cực viếtsách báo truyền bá tư tưởng, lý luận cách mạng về nước nhằm làm cho nhân dân,nhất là công nhân và nông dân nhận thức đúng đắn hơn về âm mưu thủ đoạn của

kẻ thù, nguồn gốc của mọi sự đau khổ, thông qua sách báo gửi về nước để chỉ cho

họ con đường giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân Đáng chú ý là trongnhững năm đầu của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã viết và cho xuất bản hai tácphẩm có giá trị tư tưởng lý luận to lớn gây tiếng vang trong giới báo chí ViệtNam, tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của mỗi người dân ViệtNam Tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” xuất bản năm 1925 là bản cáotrạng tố cáo tội ác của đế quốc Pháp ở Đông Dương – Người vạch trần chính sáchnham hiểm, thâm độc của chính quyền Pháp cùng với những hành vi cướp bóc đêtiện của những tên quan Pháp cai trị Đông Dương đối với mọi tầng lớp nhân dân.Bằng các dẫn chứng cụ thể mà Hồ Chí Minh nêu ra, bộ mặt thật của kẻ thù nhândân Đông Dương được phơi bày, làm cho quần chúng hiểu biết hơn về dã tâmcướp nước và bán nước của bọn đế quốc và tay sai của chúng, từ đó Hồ Chí Minhkhêu gợi và động viên nhân dân ta đoàn kết đấu tranh chống lại bọn tham quan vôlại, lật đổ bộ máy phản cách mạng của kẻ thù

Năm 1927, Hồ Chí Minh còn cho xuất bản cuốn sách có giá trị to lớn về mặt

lý luận, đó là tác phẩm nổi tiếng “Đường cách mệnh” Tác phẩm này của Hồ ChíMinh là tập các bài giảng do Hồ Chí Minh biên soạn để giảng dạy cho lớp thanhniên Việt Nam yêu nước ở Quảng Châu (Trung Quốc) từ năm 1925 đến năm

1927 Tác phẩm lý luận quan trọng này là kết quả của quá trình Hồ Chí Minhnghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, khảo sát tổng kết thực tiễn cách mạnh ViệtNam và thế giới Nội dung tác phẩm là hệ thống quan điểm cách mạng, từ việc

lý giải cách mạng là gì, vì sao phải làm cách mạng, ai làm cách mạng Tất cảnhững nội dung đó có ý nghĩa to lớn về tư tưởng lý luận, để từ đó Đảng tahoạch địch đúng đắn đường lối chiến lược, sách lược Để “thức tỉnh” nhân dân,

“giác ngộ” nhân dân, Hồ Chí Minh còn viết nhiều sách báo cổ động, khêu gợi

Trang 14

truyền thống chống xâm lược, truyền thống đoàn kết yêu thương đùm bọc lẫnnhau Đáng chú ý là từ sau khi trở về Tổ quốc, Hồ Chí Minh đã viết và chođăng trên các sách, báo nhiều bài có giá trị tư tưởng lý luận, tiêu biểu như:

“Khuyến cáo đồng bào mua báo Việt Nam độc lập” (1941); “Dân cày” (1941);

“Công nhân” (1941); “Thế giới đại chiến và phận sự dân ta” (1941); “Nên học

sử ta” (1942); “Lịch sử nước ta” (1942); “Hòn đá” (1942); “Chiến thuật dukích” (1944)

Chính quyền đế quốc và tay sai không từ bỏ bất cứ một thủ đoạn âm mưunào để duy trì sự thống trị của chúng đối với nhân dân Đông Dương Nó “lấy tôngiáo và văn hoá làm cho dân ngu, lấy pháp luật buộc dân lại, lấy sức mạnh làmcho dân sợ, lấy phú quý làm cho dân tham Nó làm cho dân nghe đến hai chữcách mệnh thì sợ rùng mình” [32, tr.267] Sự thống trị, bóc lột và đàn áp của kẻthù đã làm cho nhân dân ta “Khổ quá hay làm bạo động” [32, tr.267] Hồ ChíMinh cho rằng bạo động của dân chúng bị thất bại là bởi: “Không có chủ nghĩa,không có kế hoạch, đến nỗi thất bại” [32, tr.267] Tiếp thu tư tưởng của Lênin

“Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng”, Hồ Chí Minhsau khi học tập tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê nin đã tích cực đấu tranh truyền bá lýluận tiền phong vào phong trào cách mạng Việt Nam Ở Việt Nam đầu thế kỷ

XX, phong trào cách mạng đang chịu sự tác động, chi phối của hệ tư tưởng phongkiến và hệ tư tưởng ta sản và đang đứng trước sự khủng hoảng về lý luận cáchmạng Theo Hồ Chí Minh, khởi nghĩa vũ trang nổ ra cũng phải trên cơ sở sự đồngtâm hiệp sức của toàn dân, trên cơ sở sự hiểu biết và giác ngộ cách mạng của mọingười Để khơi dậy và phát động nhân dân đứng lên đấu tranh cách mạng, HồChí Minh một mặt mở nhiều lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ cách mạng, đưa họthâm nhập vào trong quần chúng ở khắp mọi nơi, nhằm đưa chủ nghĩa Mác - Lênin, thắng lợi của cách mạng tháng Mười thâm nhập vào mọi tầng lớp nhân dân đểthức tỉnh dân chúng, phát động dân chúng xuống đường tranh đấu chống kẻ thù củagiai cấp và dân tộc Hồ Chí Minh nghiên cứu và thấy rằng đau khổ, nghèo đói, sựtàn bạo của chủ nghĩa đế quốc và tay sai đã làm cho người Đông Dương che dấumột cái gì đó đang sục sôi, đang gầm thét Cái đang che dấu mà Người nói đóchính là tinh thần yêu nước căm thù quân cướp nước và bè lũ bán nước, để biếntinh thần cách mạng thành hành động cách mạng Hồ Chí Minh cho rằng phátđộng dân chúng là khâu rất quan trọng, nếu làm tốt thì dân chúng tham gia cáchmạng sẽ ngày càng đông đảo, nhiệt tình, trái lại nếu không làm tốt thì tinh thầncách mạng của nhân dân sẽ không trở thành hành động cách mạng Vì vậy, nhiệm

vụ tuyên truyền, vận động dân chúng phải hết sức khéo léo, ngay cả khẩu hiệu cổđộng cũng phải khêu gợi và động viên được dân chúng tham gia khởi nghĩa vũtrang, bởi “Một khẩu hiệu sát đúng với tình thế cụ thể có sức dấy lên cả một caotrào” [8, tr.46-47] Thực tế qua sự thất bại của các phong trào yêu nước Việt Nam

Trang 15

đầu thế kỷ XX cho thấy, các phong trào yêu nước do thiếu tổ chức chặt chẽ chonên dân chúng tham gia đông nhưng không liên kết các phong trào với nhauđược Trong một địa bàn, sự thiếu tổ chức trong phong trào quần chúng đượcbiểu hiện ra ở chủ trương bạo động tự phát, không quy tụ được sức mạnh dânchúng Sự phân tán về lực lượng cách mạng, sự thiếu thống nhất về mặt tổ chức

đã dẫn đến phong trào bị đàn áp và thất bại Điều đó được Hồ Chí Minh chỉ rõ:

“Ở Đông Dương chúng ta có đủ những cái mà một dân tộc có thể mong muốn nhưng chúng ta thiếu tổ chức và thiếu người tổ chức” [31, tr.132]

Với tư tưởng cách mạng là việc chung của cả dân chúng, Hồ Chí Minhmong muốn ai cũng góp công, góp sức tham gia phong trào cách mạng Muốnvậy, thì phải sáng tạo ra các hình thức tổ chức tập hợp phong phú linh hoạt đểcho mọi người ai cũng có thể tham gia cách mạng được và không bỏ sót một ai

Hồ Chí Minh phân tích Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc trong sự tồn tại củanhiều dòng văn hoá, tầng văn hoá đan xen Phần đông dân cư là nông dân, côngnhân lại bị phân tán về nhận thức tư tưởng, về nếp sống Để làm cho dân chúng aicũng có thể tham gia cách mạng, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền khi thời

cơ đến, thì cách thức tổ chức tập hợp quần chúng phải phản ánh tính rộng rãi, phùhợp với nghề nghiệp, dân tộc, tôn giáo, giới tính, lứa tuổi và trình độ dân chúng.Nếu các tổ chức quần chúng không thoả mãn được yêu cầu đó thì sẽ không tập hợpđược quần chúng, không phát huy được sức mạnh quần chúng trong khởi nghĩa.Khi chưa có tình thế và thời cơ khởi nghĩa thì các tổ chức quần chúng rađời chủ yếu hoạt động theo phương hướng mục tiêu đấu tranh đòi dân sinh, dânchủ (chống đánh đập, bắt lính, chống chiến tranh, bảo vệ hoà bình, ủng hộ Liên

xô, tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lê nin, bảo vệ Đảng, bảo vệ Việt Minh, bảo

vệ nhân dân) Hình thức tổ chức và tên gọi cũng do mục tiêu cách mạng, mụctiêu hoạt động của các tổ chức quần chúng quy định, ví như công nhân thì vàocông hội, nông dân thì vào nông hội, các hội khác như Hội đưa ma, Hội lợpnhà, Hội cấy, Hội cày, Hội báo chí, Hội ái hữu Cách thức hoạt động của các

tổ chức quần chúng ở thời kỳ này phải kết hợp giữa tranh thủ khả năng hợppháp nửa hợp pháp với bí mật bất hợp pháp Hoạt động của các tổ chức quầnchúng phải theo phương châm lấy xây dựng lực lượng là chủ yếu, kết hợp vớiđấu tranh ở một mức độ nhất định

Khi tình thế và thời cơ khởi nghĩa xuất hiện thì cách thức tổ chức quầnchúng và hoạt động của các tổ chức quần chúng phải vươn lên mục tiêu khởinghĩa giành chính quyền Do đó theo Hồ Chí Minh, quy mô tổ chức phải được

mở rộng để cho mọi người dân Việt Nam từ trẻ đến già, từ miền xuôi đến miềnngược không phân biệt giới tính, dân tộc, đảng phái, tôn giáo, phải thu hút họtham gia vào Mặt trận Việt Minh, vào các hội quần chúng Tên gọi của các đoàn

Trang 16

thể quần chúng sẽ được thay đổi cho phù hợp với cao trào giải phóng dân tộc, vínhư nông dân cứu quốc, công nhân cứu quốc, phụ nữ cứu quốc, nhi đồng cứuquốc Mặt trận dân tộc thống nhất cũng phải đổi tên cho phù hợp theo tình hình

và yêu cầu cách mạng Các tổ chức quần chúng phải được xây dựng từ thấp lêncao, từ nhỏ đến lớn, sự ra đời của các tổ chức quần chúng phải xuất phát từ thựctiễn, từ trong đấu tranh, trong lao động mà lập ra Để lập ra các tổ chức quầnchúng đáp ứng với yêu cầu phát triển lực lượng cách mạng, Hồ Chí Minh rấtquan tâm đến việc đào tạo đội ngũ cán bộ cho cách mạng Từ quan niệm “cán

bộ là gốc của mọi công việc”, Hồ Chí Minh rất coi trọng khâu phát hiện bồidưỡng và huấn luyện những người có khả năng vận động và tổ chức quầnchúng Tuỳ theo tình hình cụ thể, địa bàn cụ thể mà dùng người cho đúng việc,đúng chỗ, đúng lúc

Để ngăn chặn sự phân tán về mặt tổ chức và để đảm bảo cho các tổ chứchoạt động được thống nhất, chặt chẽ nhằm phát huy cao độ sức mạnh dân tộctrong khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, Hồ Chí Minh cho rằng, mọi hoạtđộng từ thành lập cho đến hoạt động các tổ chức quần chúng đều phải đặt dưới

sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương Thực tế lịch sử cho thấy cácphong trào yêu nước thất bại vì hoạt động không có kế hoạch thống nhất, khôngtheo một đường lối chính trị đúng đắn Cách mạng càng gần đến ngày thắng lợi,càng đòi hỏi Đảng phải có chủ trương biện pháp đúng đắn huy động đông đảoquần chúng, giáo dục giác ngộ họ, đưa họ vào cuộc đấu tranh “lưu huyết” với kẻthù để giành quyền độc lập Chủ tịch Hồ Chí Minh thường chỉ bảo cho ĐảngCộng sản Đông Dương rằng: Muốn phát động được đông đảo quần chúng, phảiphát huy vai trò tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên Cán bộ, đảngviên cần phải gần gũi sâu sát với quần chúng Hồ Chí Minh căn dặn phải: Tránhbệnh cô độc, lâu nay quen lối lựa chọn quá kỹ lưỡng và bắt buộc điều kiện quácao làm cho sự phát triển các đoàn thể cách mạng trở nên khó khăn, khi tuyêntruyền chính sách của Đảng “cán bộ phải dùng cách thuyết phục chứ khôngdùng mệnh lệnh và phải ra sức làm cho quần chúng tin tưởng ở Đảng” [34,tr.566]

Sự lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ xây dựng tổ chức, xây dựng lựclượng phải theo phương hướng gắn liền xây dựng lực lượng với đưa quần chúngvào thực tiễn đấu tranh

Xây dựng lực lượng cách mạng và đấu tranh của quần chúng là hai mặt cóquan hệ biện chứng với nhau Thực tiễn trong phong trào cách mạng Việt Namđầu thế kỷ XX đã cho thấy, trong điều kiện ban đầu, Đảng ta còn ít kinhnghiệm, lực lượng đảng viên còn mỏng, quần chúng chưa được tổ chức chặtchẽ, rộng khắp đã vội đẩy phong trào lên quá mức, sớm bộc lộ lực lượng cách

Trang 17

mạng khi chưa đủ điều kiện, dẫn đến phong trào cách mạng gặp khó khăn vàthất bại Hồ Chí Minh đánh giá cao tinh thần đấu tranh anh dũng của nhân dâncác địa phương Nghệ An và Hà Tĩnh trong cao trào cách mạng 1930 – 1931,nhưng cũng đã dự đoán chính quyền Xô Viết sẽ không duy trì được lâu vì lựclượng còn non yếu, chưa đều khắp, vũ trang bạo động trong một vài địa phương

là quá sớm, Hồ Chí Minh cho rằng, nhiệm vụ trước mắt của Đảng và cách mạngnước ta là: “tập hợp, tổ chức trung, bần nông và kích động họ đấu tranh giànhlấy chủ quyền của nhân dân, chứ không phải để tiến hành một cuộc khởi nghĩađịa phương” [34, tr.566 – 567]

Vừa xây dựng, vừa đấu tranh là làm cho quần chúng yêu nước được tôiluyện trong thực tiễn, có thêm kinh nghiệm, rèn luyện thêm bản lĩnh, tinh thầncách mạng Đấu tranh của quần chúng có tác dụng gây cho địch hoang mang, lo

sợ, trừ khử những tên tay sai hại dân hại nước, tiêu hao sinh lực địch Qua đấutranh quần chúng, Đảng phát hiện được âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, từ đó điềuchỉnh chiến lược xây dựng lực lượng và đấu tranh cho phù hợp với từng nơi, từnglúc Đưa quần chúng xuống đường đấu tranh khắp nơi làm cho kẻ địch phải phântán lực lượng để đối phó, tạo ra những chỗ sơ hở để Đảng ta lãnh đạo nhân dânđấu tranh tiêu hao ý chí và sinh lực địch Qua phong trào đấu tranh của quầnchúng thắng lợi sẽ cổ vũ thêm tinh thần cách mạng trong dân chúng, là môitrường tốt để rèn luyện đảng viên, đồng thời là nơi phát hiện những cá nhân và tổchức cơ hội phản động, loại trừ để làm trong sạch Đảng và phong trào cách mạng.Mặt khác, từ phong trào cách mạng của quần chúng mà phát hiện, tuyển chọnnhững người ưu tú bổ sung cho bộ tham mưu phong trào Phong trào cách mạngcủa quần chúng là nơi kiểm nghiệm đường lối, chủ trương của Đảng, giúp Đảng

ta hoàn chỉnh đường lối chủ trương khởi nghĩa vũ trang Phong trào đấu tranh củaquần chúng giống như những cuộc diễn tập, tổng diễn tập của cách mạng trongthời kỳ đấu tranh giành chính quyền Theo Hồ Chí Minh đưa quần chúng nhândân xuống đường tranh đấu phải trên cơ sở lực lượng cách mạng đã được xâydựng ở một mức độ nhất định Không có lực lượng cách mạng thì không thể tiếnhành đấu tranh cách mạng được Vì vậy Hồ Chí Minh rất quan tâm vấn đề xâydựng cả lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân Khi lựclượng cách mạng đã được xây dựng khá mạnh thì lúc đó mới đẩy mạnh phongtrào đấu tranh của quần chúng Nếu lực lượng cách mạng còn mỏng, yếu thìkhông nên đề cao nhiệm vụ tranh đấu vì nếu phong trào quần chúng nổ ra dễ bị

kẻ địch đàn áp và thất bại, cho nên ngay trong Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ

8 (tháng 5 năm 1941), Hồ Chí Minh đã chỉ ra những yếu kém của Đảng ta tronglãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng: Có nơi cấp uỷ Đảng đã bộc lộ sự nóng vội,tiến hành khởi nghĩa vũ trang khi lực lượng chưa được xây dựng vững mạnh rộngkhắp, có nơi cấp uỷ Đảng lại quá chú trọng xây dựng lực lượng mà không chú ý

Trang 18

hoặc chú ý không đúng mức nhiệm vụ đưa quần chúng xuống đường tranh đấu.Kết hợp xây dựng lực lượng cách mạng với đưa quần chúng xuống đường tranhđấu giành độc lập là một công việc khó khăn, nhất là trong khi Đảng ta với sốlượng đảng viên quá mỏng, thiếu cán bộ chỉ đạo, chỉ huy Vì vậy, phải tích cựcphát triển đảng viên, lập thêm các tổ chức Đảng ở những nơi cần thiết, tăngcường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp bộ Đảng ở từng miền, từng địa phương nhằmlàm cho quá trình kết hợp hai mặt: xây dựng lực lượng cách mạng và đưa quầnchúng vào thực tiễn tranh đấu càng ngày càng chặt chẽ hơn Cần ngăn ngừa vàkhắc phục tư tưởng “tả khuynh, hữu khuynh” khi tiến hành nhiệm vụ xây dựng lựclượng và đưa quần chúng vào thực tiễn tranh đấu.

1.2.3 Xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng rộng khắp, vững mạnh, trên cơ sở đó từng bước xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân

Cách mạng là bước phát triển cao nhất của đấu tranh giai cấp và bao giờcũng được thực hiện bằng bạo lực của giai cấp bị thống trị chống lại giai cấpthống trị nhằm giải quyết vấn đề chính quyền Bạo lực có thể được thể hiện vàthực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng dù là hình thức nào thì bạo lựccách mạng vẫn phải dựa vào hai lực lượng cơ bản: lực lượng chính trị, lực lượngquân sự và bao gồm hai hình thức đấu tranh: đấu tranh quân sự, đấu tranh chínhtrị và sự kết hợp giữa hai lực lượng, hai hình thức đấu tranh ấy Theo Hồ ChíMinh, khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền không chỉ là tiến công quân sự củalực lượng vũ trang cách mạng, mà phải là cuộc nổi dậy của toàn dân với hai lựclượng chính trị và vũ trang Do vậy chuẩn bị lực lượng khởi nghĩa vũ trang làchuẩn bị cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, trong đó phải bắt đầu từxây dựng lực lượng chính trị của quần chúng Từ việc vận động quần chúng đấutranh chính trị dưới nhiều hình thức khác nhau, thông qua đó mà giáo dục, giácngộ quần chúng, đến một mức độ nào đó, khi có điều kiện mới xây dựng lựclượng vũ trang cách mạng và phát động đấu tranh vũ trang Hồ Chí Minh phântích cơ cấu xã hội giai cấp thấy rằng: giai cấp công nhân và giai cấp nông dânViệt Nam chiếm hơn 90% dân số cả nước, lại là hai giai cấp bị bọn đế quốc taysai áp bức bóc lột nặng nề nhất, do vậy họ có tinh thần cách mạng nhất Hai giaicấp này lại có quan hệ tự nhiên gần gũi với nhau, có tinh thần yêu nước nồngnàn; các giai cấp tiểu tư sản, tư sản dân tộc và tầng lớp địa chủ cũng đều bị đếquốc chèn ép nên họ cũng có ý thức dân tộc, muốn đánh đuổi bọn đế quốc; mặtkhác ở nước ta, phong trào cách mạng của quần chúng sớm có lý luận tiềnphong dẫn đường Đây là những điều kiện vô cùng thuận lợi để tiến hành xâydựng lực lượng chính trị của quần chúng cho khởi nghĩa vũ trang

Tuy nhiên, kẻ thù luôn tìm mọi cách phá hoại cách mạng, phá hoại các cơ sởchính trị của Đảng ta, chia rẽ quần chúng với Đảng, chia rẽ dân chúng giữa các

Trang 19

miền, giữa các vùng với nhau, thì nhiệm vụ xây dựng lực lượng chính trị cũngkhông phải dễ dàng chút nào Nếu không xây dựng được lực lượng chính trị củaquần chúng, không dựa vào lực lượng này thì khởi nghĩa vũ trang sẽ không thànhcông Lịch sử chống xâm lược của dân tộc ta trong suốt mấy nghìn năm cho HồChí Minh thấy rằng: Khi nào cha ông ta dựa vào nhân dân, phát huy được sứcmạnh của toàn dân tộc cho khởi nghĩa và chiến tranh thì khởi nghĩa, chiến tranh

sẽ mau chóng thắng lợi; còn khi nào không biết dựa vào nhân dân, phát huy sứcmạnh toàn dân mà chỉ dựa vào quân đội thì kết cục cuộc kháng chiến của nhândân ta sẽ thất bại Sự thất bại của cuộc kháng chiến chống quân Minh sang xâmlược, dưới sự lãnh đạo của Triều đại Hồ Quý Ly (1407) với chủ trương dùng 1triệu quân để chống lại giặc, đã càng giúp Hồ Chí Minh thêm tự tin hơn trong chủtrương xây dựng lực lượng chính trị quần chúng cho khởi nghĩa vũ trang giànhchính quyền

Xây dựng lực lượng chính trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải đạt được yêucầu rộng khắp và vững mạnh Yêu cầu rộng khắp trong xây dựng lực lượng chínhtrị của quần chúng được thể hiện ở hình thức tổ chức ở khắp các địa phương, tậphợp rộng khắp các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, tôn giáo, đảng phái, mọilứa tuổi ở đâu có nhân dân thì phải thực hiện cuộc vận động tuyên truyền, giáodục, giác ngộ, tập hợp quần chúng vào các đoàn thể cách mạng Trong đó phải rasức xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất với hệ thống tổ chức và lực lượng ởkhắp nơi trong toàn quốc Từ năm 1941, Mặt trận dân tộc thống nhất đổi tênthành Mặt trận Việt Minh Sự ra đời và hoạt động của các tổ chức quần chúng,Mặt trận Việt Minh sẽ đoàn kết được các tầng lớp nhân dân, tạo nên sợi dây liênkết các giai cấp, tầng lớp nhân dân thành lực lượng hùng mạnh chuẩn bị cho khởinghĩa vũ trang Mặt trận Việt Minh được xây dựng trên cơ sở dựa vào liên minhgiai cấp công – nông với giai cấp công nhân làm nền tảng, đồng thời chú ý tớitính chất toàn dân, nhằm lôi kéo đông đảo nhân dân từ trẻ đến già đoàn kết “cùngnhau cứu nước Nam ta” [36, tr.270]

Yêu cầu trong xây dựng lực lượng chính trị quần chúng Việt Nam vữngmạnh được thể hiện trước hết ở sự chặt chẽ, thống nhất về mặt tổ chức Các tổchức quần chúng ra đời và hoạt động theo chương trình điều lệ, quy tắc theo nghềnghiệp, giới tính, lứa tuổi, tôn giáo dân tộc mà tổ chức quần chúng đó lập ra.Hoạt động của các thành viên trong tổ chức quần chúng phải theo tôn chỉ, mụcđích mà hội lập ra, không được hoạt động tự do trái với mục đích tôn chỉ mà họtham gia Hồ Chí Minh cho rằng, cán bộ đứng đầu hội quần chúng phải là nhữngngười có trình độ hiểu biết hơn những người khác trong tổ chức đó, có tráchnhiệm cao đối với các thành viên trong hội đó, có ý thức giác ngộ chính trị, ủng

hộ Việt Minh, ủng hộ phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng Nhữngngười này thường do dân chúng bầu ra hoặc do chỉ định của Đảng, hoặc chỉ định

Trang 20

của Mặt trận Việt Minh Sự vững mạnh trong xây dựng lực lượng chính trị củaquần chúng còn thể hiện ở trình độ giác ngộ cách mạng của dân chúng Theo HồChí Minh, dân chúng càng giác ngộ thì sự đoàn kết giữa các thành viên trong các

tổ chức quần chúng mà họ tham gia càng thắt chặt Công nhân, nông dân, phụ nữ

và nhiều tầng lớp nhân dân khác càng hăng hái tham gia cách mạng Bên cạnh đó,

sự vững mạnh trong xây dựng lực lượng chính trị quần chúng còn thể hiện ở sựliên kết các tổ chức chúng đó lại với nhau trên từng địa phương, từng vùng vàtừng miền Đây là yêu cầu vô cùng quan trọng trong xây dựng lực lượng chính trịquần chúng, bởi vì nếu không liên kết, phối hợp hoạt động giữa các tổ chức quầnchúng thì khó có thể phát huy được sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân khi thời

cơ đến và sẽ bị kẻ thù chia rẽ, đàn áp, phá hoại lực lượng cách mạng

Theo Hồ Chí Minh, xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng phải theo

tư tưởng tích cực chủ động bám sát thực tiễn Khi tình thế và thời cơ chưa chophép khởi nghĩa thì cách thức tập hợp quần chúng và hoạt động của các tổ chứcquần chúng phải lấy mục tiêu hàng ngày để tập hợp, sáng tạo ra nhiều loại hìnhtập hợp quần chúng, gây dựng cơ sở chính trị của Đảng trong nhân dân Hướngdẫn nhân dân đấu tranh vì mục tiêu dân sinh dân chủ hàng ngày Tích cực lợidụng khả năng hợp pháp để ra sức xây dựng đội quân chính trị công nông chuẩn

bị cho khởi nghĩa vũ trang, tích cực xây dựng và phát triển Đảng khắp nơi để lãnhđạo phong trào cách mạng quần chúng Khi tình thế và thời cơ khởi nghĩa chophép thì nhanh chóng đẩy mạnh xây dựng lực lượng chính trị, tuyên truyền ảnhhưởng Việt Minh, các tổ chức quần chúng phải hướng vào mục tiêu giành chínhquyền mà hoạt động, thực hiện sự thống nhất các lực lượng chính trị dưới sự lãnhđạo của Đảng, dưới sự chỉ đạo của Uỷ ban khởi nghĩa Khởi nghĩa vũ trang là sựnổi dậy của dân chúng với hai lực lượng chính trị và quân sự Vì vậy khi lựclượng chính trị của quần chúng đã phát triển đến một mức độ nhất định thì tiếnhành xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân

Theo Hồ Chí Minh, sở dĩ phải xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân chokhởi nghĩa bởi vì: xuất phát từ bản chất hiếu chiến, phản động của chính quyền

đế quốc tai sai Muốn lật đổ chính quyền đó tất yếu phải tổ chức ra lực lượngquân sự làm nòng cốt trong đấu tranh quân sự Xây dựng lực lượng vũ trang nhândân còn xuất phát từ yêu cầu của nhiệm vụ tuyên truyền, đây là nhiệm vụ chủ yếucủa lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ chuẩn bị tổng khởi nghĩa cũng nhưtrong quá trình khởi nghĩa Việc tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân còn xuấtphát từ yêu cầu bảo vệ cách mạng, bảo vệ Đảng và cơ quan đầu não của khởinghĩa, đồng thời xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân còn có ý nghĩa về lâu dài.Trong hội nghị thành lập Đảng ngày 3 tháng 2 năm 1930, Hồ Chí Minh đãkhẳng định sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng để:

Trang 21

“a Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến.

b Làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập” [33, tr.1]

Theo đó phải “tổ chức ra đội quân công nông” [33, tr.1] Những năm thángđầu thế kỷ XX, chúng ta chưa có một đơn vị vũ trang tập trung nào làm cơ sở đểxây dựng lực lượng quân sự cho mình, trong khi yêu cầu khởi nghĩa là phảinhanh chóng xây dựng lực lượng quân sự Trên cơ sở đánh giá đúng vai trò củatừng lực lượng trong khởi nghĩa vũ trang, cùng với thực tế lực lượng cách mạnghiện có, Hồ Chí Minh sau khi về nước đã xúc tiến từng bước xây dựng lực lượng

vũ trang Phương hướng xây dựng được Hồ Chí Minh chỉ ra là “chọn lọc tronghàng ngũ du kích Cao – Bắc – Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết hăng háinhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội quân chủ lực” [40,tr.507] Xây dựng lực lượng vũ trang từng bước từ số lượng đến qui mô tổchức, trình độ chiến thuật Vừa xây dựng vừa rút kinh nghiệm Xây dựng lựclượng vũ trang khởi nghĩa theo Hồ Chí Minh là xây dựng cả hai lực lượng: lựclượng vũ trang tập trung và lực lượng vũ trang địa phương Trong chỉ thị thànhlập đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân (1944), Hồ Chí Minh chỉ ra:

“Phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân” [40, tr.507] Theo Hồ Chí Minh,lực lượng vũ trang tập trung có nhiệm vụ: “dìu dắt cán bộ vũ trang của các địaphương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các độinày trưởng thành mãi lên” [40, tr.507] Lực lượng vũ trang địa phương ra đờiphải phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương tiện đối với đội quân chủlực Tư tưởng chủ đạo trong xây dựng lực lượng vũ trang đó là “chính trị trọnghơn quân sự” [40, tr.507]

Để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, HồChí Minh chủ trương xây dựng các căn cứ địa cách mạng Xây dựng căn cứ địacách mạng chính là nhằm tạo ra địa bàn rộng lớn để bảo vệ và phát triển lựclượng cách mạng, là nơi huấn luyện, nuôi dưỡng lực lượng vũ trang; nơi nuôidưỡng bảo vệ trung tâm đầu não của Đảng, của cách mạng trong suốt quá trìnhtrước và trong khởi nghĩa Điều quan trọng trong xây dựng căn cứ địa cáchmạng mà Hồ Chí Minh yêu cầu chính là phải chọn những nơi có diện tích khárộng, kín đáo, thuận lợi cho xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng, pháttriển phong trào, thuận lợi cho hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối vớimặt trận và phong trào cách mạng quần chúng

Theo Hồ Chí Minh, địa hình các vùng rừng núi là những nơi thuận lợinhất cho việc xây dựng các căn cứ địa cách mạng Người chỉ ra rằng, trong xâydựng căn cứ địa cách mạng phải hết sức khẩn trương, tích cực chủ động Qui

mô xây dựng căn cứ địa cách mạng phải từ nhỏ đến lớn theo yêu cầu của khởi

Trang 22

nghĩa vũ trang Vừa xây dựng, vừa tổ chức rút kinh nghiệm để làm tốt hơn, đápứng yêu cầu khởi nghĩa.

1.2.4 Xây dựng Đảng đoàn kết, thống nhất để lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa

Những năm tháng Hồ Chí Minh hoạt động ở nước ngoài cũng như khi trở về

Tổ quốc, Người luôn quan tâm đến vấn đề xây dựng Đảng đoàn kết thống nhất,chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền

Theo Hồ Chí Minh, sở dĩ phải xây dựng Đảng đoàn kết, thống nhất là bởi xuấtphát từ vai trò của đoàn kết, thống nhất trong Đảng đối với sức mạnh lãnh đạo củaĐảng, của cách mạng Xây dựng Đảng đoàn kết, thống nhất chính là làm cho Đảng

ta vững mạnh trên cả ba mặt: Chính trị, tư tưởng và tổ chức Hồ Chí Minh chorằng: một Đảng mạnh là một Đảng thống nhất, đoàn kết, nếu không có sự đoàn kết,thống nhất thì Đảng đó không thể tồn tại, sớm hay muộn sẽ bị tan rã Đảng Cộngsản Đông Dương ra đời ở một nước thuộc địa nửa phong kiến với số lượng đảngviên xuất thân chủ yếu từ giai cấp nông dân, tiểu tư sản, do vậy, nhận thức củađảng viên và sự giác ngộ chính trị còn hạn chế Lúc cách mạng và Đảng gặp khókhăn, đảng viên dễ dao động tư tưởng, dễ bị chia rẽ, dễ bị lợi dụng Cho đến nhữngnăm giữa thế kỷ XX, trong Đảng ta còn tồn tại những khuyết điểm, hạn chế, trong

đó sự đoàn kết, thống nhất chưa cao Trong nhiều tổ chức đảng còn có biểu hiệnthiếu đoàn kết, thống nhất, còn bị các phần tử cơ hội chui vào Đảng, chia rẽ sựđoàn kết, thống nhất trong Đảng

Từ thực trạng đó, Hồ Chí Minh và Đảng ta thường xuyên chỉ đạo uốn nắn,sửa chữa những khuyết điểm Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở Đảng ta phảiluôn luôn chú ý để khai trừ những phần tử mục nát, hèn yếu ra khỏi Đảng Để đápứng được yêu cầu mà khởi nghĩa vũ trang đặt ra, Hồ Chí Minh chủ trương xâydựng Đảng đoàn kết, thống nhất theo mấy quan điểm chỉ đạo sau đây:

Một là, Đảng đề ra đường lối chính trị đúng đắn làm cơ sở để xây dựng sự

đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

Theo Hồ Chí Minh, đường lối chính trị và sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng

có quan hệ biện chứng với nhau Đường lối chính trị đúng đắn là thể hiện sự thốngnhất, đoàn kết cao của Đảng, là cơ sở tạo nên sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.Ngược lại, nếu không xây dựng được Đảng đoàn kết, thống nhất cao hoặc thiếu sựđoàn kết, thống nhất trong Đảng sẽ dẫn đến sự yếu kém, sai lầm cả về đường lốichính trị và chỉ đạo thực hiện Kinh nghiệm trong thực tiễn đấu tranh cách mạng ởnhiều nước trên thế giới cho thấy, mọi thắng lợi mà giai cấp vô sản giành được đềuxuất phát từ đường lối chính trị đúng đắn, xuất phát từ Đảng Cộng sản có sự đoànkết, thống nhất cao ở Việt Nam, trong những năm đầu thế kỷ XX cũng cho thấy, ởđâu Đảng thiếu sự đoàn kết thống nhất thì ở đó không thể có chủ trương và sự chỉđạo đúng đắn, tổ chức đảng ở đó bị suy yếu, phong trào cách mạng ở đó gặp nhiềukhó khăn, thậm chí thất bại

Chính vì vai trò to lớn của đường lối chính trị đối với sức mạnh đoàn kết,thống nhất trong Đảng, cho nên ngay khi trở về Tổ quốc, Hồ Chí Minh đã nhanh

Trang 23

chóng nắm bắt tình hình trong nước, cùng với các đồng chí cán bộ của Đảng tatriệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5.1941), nhằm hoàn chỉnh chủ trươngchuyển hướng chỉ đạo chiến lược, xác định đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lênhàng đầu, theo đó các nhiệm vụ khác cũng phải tuân thủ những qui định do đườnglối giải phóng dân tộc đặt ra.

Thành công của Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng với sự hoàn chỉnh

về chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược đã tạo nên cơ sở nền tảng cho sựđoàn kết, thống nhất trong Đảng Với đường lối chính trị đúng đắn đó góp phầnđịnh hướng toàn bộ hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với quá trình xâydựng sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang giànhchính quyền

Hai là, trên cơ sở quan điểm, đường lối đề ra, phải coi trọng công tác tuyên

truyền đường lối, chủ trương của Đảng sâu rộng trong toàn Đảng nhằm nâng cao

sự thống nhất trong nhận thức cho mọi cán bộ, đảng viên từ Trung ương đến cơ sở.

Theo Hồ Chí Minh, sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng trước hết bắt nguồn

từ sự hiểu biết và giác ngộ chính trị của mọi đảng viên trong tổ chức đảng Khiđường lối, chủ trương ra đời không phải ai cũng hiểu được, muốn cho mọi cán bộ,đảng viên hiểu được đúng đắn, đầy đủ chủ trương giải phóng dân tộc của Đảng thìphải bằng cách đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thông qua tuyên truyền làm chomọi người hiểu đầy đủ, đúng đắn đường lối chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, hiểubiết được âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt của kẻ thù để từ đó biết cách tổ chức, lãnhđạo, chỉ đạo quần chúng xây dựng lực lượng cách mạng và tiến hành khởi nghĩathắng lợi Mỗi thắng lợi của cách mạng sẽ có tác dụng củng cố uy tín của Đảng,tăng cường thêm sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng Từ vị trí, vai trò của công táctuyên truyền đối với xây dựng sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, Hồ Chí Minhchỉ đạo phải lập ra các uỷ ban tuyên truyền chuyên môn hoặc các cá nhân tuyêntruyền chuyên trách ở các cấp trong toàn quốc Chỉ thị có đoạn "Các cán bộ từ phủ,huyện, tỉnh, bộ trở lên phải có uỷ ban hay vài người chuyên môn công tác tuyêntruyền" [12, tr.134] Phải chú ý lựa chọn những người dũng cảm, khéo léo và đàotạo họ, sử dụng họ trong đội quân tuyên truyền của Đảng ở từng nơi, từng lúc chophù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền

Ba là, cùng với chỉ đạo công tác tư tưởng, Đảng phải nhanh chóng củng cố,

kiện toàn, mở rộng hệ thống tổ chức đảng từ Trung ương đến các địa phương.

Do đặc điểm các tổ chức của Đảng luôn bị kẻ địch khủng bố, giết hại đảngviên, làm cho Đảng vừa thiếu đảng viên, vừa thiếu cán bộ Các tổ chức cơ sở đảngcòn quá ít so với yêu cầu phát triển của cách mạng: "Hiện thời Đảng ta khôngnhững ít chi bộ, mà còn có nhiều chi bộ eo hẹp, sống một cách thoi thóp" [12,tr.207] Sự liên lạc trong Đảng ở một số địa phương có lúc bị đứt đoạn kéo dài,chậm được khắc phục, công tác bí mật của Đảng còn nhiều vấn đề cần phải trấnchỉnh lại Việc sắp xếp và sử dụng cán bộ, đảng viên ở một số vị trí trong Đảng vàtrong các tổ chức chính trị quần chúng chưa phù hợp, thành phần giai cấp công

Trang 24

nhân trong Đảng còn quá ít, các phần tử xấu chui vào Đảng và đang tìm mọi cáchchia rẽ, phá hoại sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

Từ thực trạng đó, Hồ Chí Minh và Đảng ta chủ trương củng cố, kiện toàn và

mở rộng hệ thống tổ chức đảng từ Trung ương đến các địa phương, nhằm thựchiện sự liên lạc thông suốt trong Đảng, phát triển đảng viên "phải chú ý đào tạogiai cấp vô sản đem vào Đảng" [11, tr.135], kết hợp phát triển đảng viên với củng

cố, mở rộng và phát triển các tổ chức cơ sở đảng Tích cực đào tạo, sắp xếp, bốtrí, sử dụng cán bộ đảng cho phù hợp với yêu cầu của cách mạng và yêu cầu xâydựng Đảng Thực hiện sự thống nhất tổ chức đảng ở các cấp từ Trung ương đếncác địa phương Tích cực đấu tranh loại bỏ những đảng viên thoái hoá biến chất

ra khỏi Đảng, làm trong sạch tổ chức đảng

Bốn là, gắn liền với các chủ trương, biện pháp về xây dựng Đảng phải coi

trọng xây dựng mặt trận dân tộc đoàn kết, thống nhất.

Theo Hồ Chí Minh, việc thành lập và hoạt động của Mặt trận Việt Minh cóvai trò rất to lớn đến sự thành công của cách mạng, sự trưởng thành của Mặt trậntác động mạnh mẽ đến xây dựng sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng Đảng lãnhđạo toàn dân khởi nghĩa bằng đường lối, chủ trương, thông qua đội ngũ cán bộ,đảng viên, thông qua Mặt trận Việt Minh Hoạt động của các tổ chức chính trị quầnchúng, của Mặt trận Việt Minh chính là thực hiện sự liên lạc giữa Đảng với quầnchúng nhân dân Do vậy, Hồ Chí Minh cho rằng Đảng phải "hoá thân" vào trongMặt trận Việt Minh, thông qua Mặt trận để lôi kéo, tập hợp mọi tầng lớp nhân dântham gia chuẩn bị khởi nghĩa và khởi nghĩa Thông qua Mặt trận Việt Minh đểĐảng thực hiện sự lãnh đạo của mình trong nhiệm vụ đấu tranh giành chính quyền,làm cho chủ trương, đường lối của Đảng được quán triệt sâu rộng trong các tầnglớp nhân dân, để từ đó làm cho đại đa số quần chúng tán thành đường lối, chủtrương của Đảng Sự hưởng ứng và tham gia đông đảo của quần chúng theochương trình Việt Minh tạo nên những thắng lợi của cách mạng càng làm cho uytín của Đảng trong quần chúng ngày càng được nâng cao, sự đoàn kết, thống nhấttrong Đảng ngày càng được củng cố và phát triển

Trong khi thực hiện xây dựng Đảng đoàn kết, thống nhất, Hồ Chí Minh nhắcnhở Đảng ta không được xem nhẹ bất cứ một quan điểm nào, phải thường xuyênnêu cao hơn nữa tinh thần gương mẫu đi đầu của đội ngũ cán bộ cấp uỷ đảng trongcông tác xây dựng sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng

Trang 25

Dù đang hoạt động ở nước ngoài, song lãnh tụ Nguyễn ái Quốc rất lo lắng,quan tâm theo dõi diễn biến cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II, và những thay

Trang 26

đổi ở Đông Dương do tác động của cuộc chiến tranh ấy Người mong muốn sớmtrở về Tổ quốc để cùng với Đảng lãnh đạo cao trào cách mạng của toàn dân.

Đầu năm 1940, Hồ Chí Minh về tới Côn Minh (Thủ phủ của tỉnh Vân Nam,Trung Quốc) và bắt liên lạc được với bộ phận ở ngoài nước của Đảng ta Ngườichủ trương lợi dụng chính quyền Quốc Dân Đảng Trung Quốc để hoạt động mộtcách hợp pháp, tranh thủ chúng về mặt chính trị, lợi dụng chúng về mặt kinh tế,nhưng phải hết sức cảnh giác, đề phòng mọi âm mưu phản trắc của chúng HồChí Minh nêu ra những ý kiến và chỉ đạo cán bộ Đảng ta ở Vân Nam phải tuyêntruyền nhân dân trong nước đoàn kết đánh giặc cứu nước Tháng 6 năm 1940,phát xít Đức tấn công nước Pháp, Chính phủ Pháp đầu hàng, trước tình hình đó,lãnh tụ Nguyễn ái Quốc nhận định: Ở Đông Dương, bọn thống trị Pháp hoangmang, bối rối, thời cơ bắt đầu có lợi cho cách mạng Việt Nam Người quyết định:các đồng chí cán bộ của ta đang hoạt động ở Trung Quốc phải khẩn trương chuẩn

bị về nước để nắm lấy phong trào cách mạng Sau đó ít ngày, Hồ Chí Minh cùngvới một số cán bộ chuyển về Quảng Tây gần biên giới Việt - Trung để tìm đường

về nước Quảng Tây được Hồ Chí Minh rất lưu tâm bởi đây là trung tâm hoạt độngcủa bọn việt gian thân Quốc Dân Đảng như Trương Bội Công, Nguyễn Hải Thần Quảng Tây còn là nơi mà tướng Trương Phát Khuê - Tư lệnh Tây Nam hành dinhcủa Tưởng Giới Thạch đang ráo riết chuẩn bị “Hoa quân nhập Việt” Từ sự phântích tình hình, Hồ Chí Minh chủ trương vừa phải đấu tranh vạch trần bộ mặt bọnphản động Việt gian, vừa phải tìm cách phân hoá hàng ngũ chúng, đồng thời bằngmọi cách phải về nước trước bọn chúng Người đồng ý cho lập lại tổ chức ViệtNam độc lập Đồng minh – một tổ chức chính trị chống đế quốc của người ViệtNam được thành lập ở Nam Kinh từ năm 1936, trùng tên nhưng khác về nội dungcủa Mặt trận Việt Minh được thành lập ở Việt Nam tháng 5.1941 Để chuẩn bị choHội nghị Trung ương Đảng, Hồ Chí Minh quyết định xây dựng thí điểm các đoànthể cứu quốc của Việt Minh ở Cao Bằng Trước hết, Người chủ trương mở lớphuấn luyện cán bộ Việt Minh do Người trực tiếp phụ trách Đây là lớp huấn luyệnđầu tiên gồm 40 học viên, chia thành hai tổ; ở và học tại hai làng Nậm Quang vàNgầm Tảy (Hương Bình Vân, Tĩnh Tây, Trung Quốc) Thời gian huấn luyệnkhoảng từ 7 ngày đến 10 ngày và kết thúc vào ngày 26 tháng 1 năm 1941 Mụcđích của Hồ Chí Minh là thông qua mở lớp huấn luyện này mà bồi dưỡng cho cán

bộ Cao Bằng nắm được tình hình và nhiệm vụ mới của cách mạng Việt Nam, bồidưỡng cho họ phương pháp xây dựng và lãnh đạo các đoàn thể cứu quốc

Trang 27

và phương hướng hoạt động cho phù hợp với tình hình mới Những bài giảng

của Hồ Chí Minh tại đó sau này được in thành sách với nhan đề: Con đường giải phóng để làm tài liệu huấn luyện và tuyên truyền cho cán bộ và quần chúng ở các

địa phương

Sau 30 năm rời xa Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước, ngày 8/2/1941 Hồ ChíMinh về tới Pắc Bó (Hà Quảng, Cao Bằng) Sau khi nghe các đồng chí cán bộĐảng trong nước báo cáo tình hình, kết hợp với theo dõi trực tiếp thực tiễn trongnước từ khi trở về Tổ quốc, để thống nhất tư tưởng nhận thức và hành động trongtoàn Đảng, Hồ Chí Minh quyết định triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trungương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 8, vào ngày 10 tháng 5 năm 1941 tạiPắc Bó (Cao Bằng) Trong suốt 10 ngày diễn ra Hội nghị (từ ngày 10 đến ngày 19tháng 5 năm 1941), Hồ Chí Minh với tư cách là đại biểu Quốc tế Cộng sản chủ trìHội nghị đã thông báo với Đảng ta tình hình thế giới, tình hình Đông Dương.Người đã cùng với Đảng ta thảo luận, bàn bạc và đi tới nhất trí cao về chủ trươngchuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộccao hơn hết thảy Hội nghị đã chỉ rõ: “trong lúc này quyền lợi của bộ phận, củagiai cấp, phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc Trong lúcnày nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độclập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịumãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng khôngđòi lại được” [11, tr.133] Đây là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, đáp ứng nguyệnvọng thiết tha của nhân dân Việt Nam Chủ trương đó phản ánh sự phân tích,nhận định đánh giá tình hình đúng đắn sáng tạo của Hồ Chí Minh về: Khả nănggiành thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong khởi nghĩa vũ trang giành chínhquyền Theo Hồ Chí Minh chủ trương nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc, đặtnhiệm vụ chống đế quốc lên hàng đầu không có nghĩa là bỏ rơi hay lãng quênnhiệm vụ chống phong kiến tay sai, không có nghĩa là từ bỏ nhiệm vụ cách

mạng tư sản dân quyền Hồ Chí Minh giải thích rằng: không phải giai cấp vô sản Đông Dương bỏ mất nhiệm vụ điền địa đi đâu, cũng không phải đi lùi lại một bước, mà bước một bước ngắn hơn để có sức mà bước một bước dài hơn Do đó,

trong lúc này, muốn giải quyết nhiệm vụ giải phóng không thể đưa thêm mộtnhiệm vụ thứ hai chưa cần thiết với toàn thể nhân dân giải quyết trước mà có hạicho nhiệm vụ thứ nhất Người cho rằng, muốn đánh đổ chính quyền Pháp, Nhậtthì không thể dựa vào một số người, một số giai cấp, mà phải: Liên hợp tất thảynhân dân không chừa một giai cấp nào Nếu đưa nhiệm vụ điền địa ra giải quyết,nghĩa là phải đánh đổ địa chủ, như thế chẳng phải là mâu thuẫn sao? Hồ ChíMinh cho rằng nếu ta nêu khẩu hiệu đánh đổ đại địa chủ, chia ruộng đất cho dâncày, như thế chẳng những ta bỏ mất một lực lượng đồng minh trong cuộc cáchmạng đánh đuổi Pháp – Nhật mà còn đẩy lực lượng ấy về phe địch nữa Hồ ChíMinh chỉ ra rằng chúng ta chưa giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân sẽkhông làm giảm bớt sức chiến đấu, mà sức chiến đấu của họ sẽ hăng hái hơn,

Trang 28

mạnh hơn trong cuộc tranh đấu giải phóng dân tộc vì họ được hưởng nhiều quyềnlợi to tát hơn:

“a) Đánh đuổi Phát xít Pháp, Nhật, đó là lật được một cách ách áp bức bóclột nặng nề nhất của họ

b) Đánh đuổi Pháp, Nhật, thủ tiêu thuế đinh, điền và các thứ thuế khác, đó làcái lợi thứ hai

c) Được chia công điền lại một cách công bằng hơn giảm địa tô, sửa đổi nềnchính trị hương thôn cho họ được hưởng nhiều quyền lợi hơn, lại được hưởngnhiều ruộng đất tịch thu của bọn việt gian phản quốc và một phần của đế quốc tưbản, đó là quyền lợi thứ ba

d) Họ cũng được hưởng quyền lợi kinh tế, chính trị khác mà toàn thể nhândân đều được hưởng” [49, tr.417]

Chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dântộc lên hàng đầu của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8(5.1941) là sự kế thừa và phát triển tư tưởng các Hội nghị Ban Chấp hành Trungương Đảng lần thứ 6 (11.1939) và lần thứ 7 (11.1940) trong tình hình cụ thể Chủtrương này có ý nghĩa to lớn trong việc tập hợp lực lượng cách mạng chuẩn bịcho khởi nghĩa vũ trang sau này Với giai cấp địa chủ phong kiến, Hồ Chí Minhchủ trương đánh đổ bọn tay sai thân Pháp, Nhật hại nước hại dân, đã lộ rõ mặt, vìnếu duy trì bọn này chúng sẽ gây cho Đảng, cho phong trào cách mạng nhiều khókhăn, tổn hại Vì quyền lợi sinh tồn của dân tộc, Đảng phải nêu cao ngọn cờ dântộc, Đảng phải nhanh chóng khơi dậy cho hết chí khí cách mạng, tinh thần yêunước của các tầng lớp nhân dân không bỏ sót một ai Hồ Chí Minh chủ trương tậptrung mọi lực lượng dân tộc để thực hiện nhiệm vụ trung tâm là giải pháp dân tộc,cứu nước Vì vậy, nhiệm vụ tổ chức Mặt trận đại đoàn kết dân tộc phải có tênmới, có tính chất dân tộc hơn và nhất là có thể thực hiện được trong tình hình mỗinước

Theo chủ trương của Hồ Chí Minh, Đảng ta đã quyết định giải quyết vấn đềdân tộc trong khuôn khổ của mỗi nước Đông Dương Đây là chủ trương đúngđắn, sáng tạo của Hồ Chí Minh nhằm phát huy tính tích cực chủ động cách mạng,phát huy được cao nhất những khả năng của mỗi dân tộc trong sự nghiệp đánhđuổi kẻ thù chung là Pháp, Nhật, giành tự do độc lập cho từng dân tộc ĐôngDương Đồng thời, ngăn ngừa và khắc phục những tư tưởng trông chờ, ỷ lại hay

tư tưởng “dân tộc”, là cơ sở để đấu tranh chống lại sự xuyên tạc của kẻ thù, giữ

Ngày đăng: 17/12/2016, 00:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (1990), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VI) về đổi mới công tác của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, Số 08B- NQ/HNTW Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VI) về đổi mới công tác của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 1990
2. Ban Dân vận Trung ương (1995), Tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tác giả: Ban Dân vận Trung ương
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1995
3, Nguyễn Khánh Bật (1999), "Tìm hiểu tư tưởng dân vận Hồ Chí Minh trong di chúc của Người", Tạp chí Dân vận, Số 52, tr.9-10, 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tư tưởng dân vận Hồ Chí Minh trong di chúc của Người
Tác giả: Nguyễn Khánh Bật
Năm: 1999
4. Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương (1998), Chỉ thị về công tác tôn giáo trong tình hình mới, Số 37-CT/TW, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị về công tác tôn giáo trong tình hình mới
Tác giả: Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương
Năm: 1998
5. Phan Hải Cường(2000), Hồ Chí Minh nêu cao mục tiêu độc lập dân tộc nhằm tập hợp lực lượng cách mạng tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền 1945, Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh nêu cao mục tiêu độc lập dân tộc nhằm tập hợp lực lượng cách mạng tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền 1945
Tác giả: Phan Hải Cường
Năm: 2000
6. Phạm Tất Dong (1997), Khoa học xã hội và nhân văn mười năm đổi mới và phát triển, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học xã hội và nhân văn mười năm đổi mới và phát triển
Tác giả: Phạm Tất Dong
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1997
7. Lê Duẩn (1985), Chiến thắng của sức mạnh tổng hợp, sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến thắng của sức mạnh tổng hợp, sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1985
8. Lê Duẩn (1975), Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành những thắng lợi mới
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1975
9. Nguyễn Anh Dũng (1989). Nghệ thuật chỉ đạo đấu tranh vũ trang cách mạng tháng Tám, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật chỉ đạo đấu tranh vũ trang cách mạng tháng Tám
Tác giả: Nguyễn Anh Dũng
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1989
10. Dương Quốc Dũng (2000), "Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh vững chắc giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức", Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, Số 63, tr.3-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh vững chắc giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức
Tác giả: Dương Quốc Dũng
Năm: 2000
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1941), "Trung ương Hội nghị lần thứ tám của Đảng Cộng sản Đông Dương", Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tr.96-136 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung ương Hội nghị lần thứ tám của Đảng Cộng sản Đông Dương
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1941
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1941), “Chỉ thị về công tác”, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tr.206-230 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị về công tác”, "Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1941
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1996
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
17. Võ Nguyên Giáp (1997), Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam
Tác giả: Võ Nguyên Giáp
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1997
18. Đoàn Ngọc Hải (2001), "Bài học về phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân trong cách mạng tháng Tám với sự nghiệp đổi mới hiện nay", Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, Số 68, tr.29-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài học về phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân trong cách mạng tháng Tám với sự nghiệp đổi mới hiện nay
Tác giả: Đoàn Ngọc Hải
Năm: 2001
19. Lê Mậu Hãn (2001), Các cương lĩnh cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các cương lĩnh cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Lê Mậu Hãn
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
20. Lê Mậu Hãn (2001), Sức mạnh dân tộc của cách mạng Việt Nam dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức mạnh dân tộc của cách mạng Việt Nam dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Lê Mậu Hãn
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w