1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN án TIẾN sĩ VAI TRÒ của KINH tế NHÀ nước đối với sự NGHIỆP xây DỰNG lực LƯỢNG vũ TRANG, bảo đảm KINH tế CHO QUỐC PHÒNG

78 363 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 554 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta xác định phải tiếp tục củng cố và phát triển có hiệu quả kinh tế nhà nước nhằm thực hiện tốt vai trò chủ đạo: làm đòn bẩy đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội; mở đường, hỗ trợ các thành phần khác cùng phát triển; làm lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý; tạo dần nền tảng cho chế độ xã hội mới.

Trang 1

MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài

Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta xác định phải tiếp tục củng cố và phát triển

có hiệu quả kinh tế nhà nước nhằm thực hiện tốt vai trò chủ đạo: làm đòn bẩy đẩynhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội; mở đường, hỗ trợ cácthành phần khác cùng phát triển; làm lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiệnchức năng quản lý; tạo dần nền tảng cho chế độ xã hội mới

Sau khi Mỹ buộc phải bỏ cấm vận bình thường hoá quan hệ ngoại giao vớiViệt Nam, quan hệ kinh tế giữa ta với các nước ngày càng mở rộng Tuy nhiên cácthế lực thù địch với Việt Nam đang lợi dụng mặt trận kinh tế để mở rộng cuộc tấncông chế độ ta Đây là cuộc đấu tranh kinh tế, dùng kinh tế để giải quyết vấn đềchính trị, với mưu đồ đó làm chúng ta tan rã nhanh trong sự thịnh vượng kinh tế.Bằng con đường đó, thông qua chiến lược đầu tư, liên doanh, liên kết hợp tác,chúng có kế hoạch chiếm lĩnh thị trường, đòi tư nhân hoá kinh tế nhà nước, thúcđẩy phát triển kinh tế tư nhân , cùng với hàng loạt biện pháp trên các mặt trậnkhác hòng làm chúng ta đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa Tình hình đó, đang đặt

ra những vấn đề mớ mẻ phải giải quyết cả về lý luận và thực tiễn để kinh tế nhànước giữ vững và phát huy được chức năng kinh tế - xã hội của mình

Kinh tế nhà nước là bộ phận quan trọng nhất của nền kinh tế bảo đảm choquốc phòng ở Việt Nam Trong điều kiện nước ta đang xây dựng nền kinh tế hànghóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nướctheo định hướng xã hội chủ nghĩa, sự tác động của cơ chế thị trường đang đặt ranhiều vấn đề cấp bách phải giải quyết đối với thực trạng hiện nay của kinh tế nhànước Từ đó để kinh tế nhà nước vươn lên, vừa bảo đảm vai trò chủ đạo nền kinh

tế, vừa bảo đảm kinh tế tốt nhất cho nền quốc phòng nước ta trong giai đoạn hiệnnay

Lực lượng quân đội làm kinh tế - một bộ phận kinh tế nhà nước trong tìnhhình mới, phải hoạt động như thế nào để vừa góp phần tham gia phát triển kinh tế,xây dựng sức mạnh kinh tế nhà nước, vừa trực tiếp bảo đảm kinh tế cho quốcphòng, nhưng vẫn giữ được sức mạnh chiến đấu, sẵn sàng đánh thắng mọi kẻ thùkhi chiến tranh xảy ra

Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Trang 2

Những năm trước đây, ở các nước xã hội chủ nghĩa - nhất là Liên Xô và ởnước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về tính chất, phạm vi mức độ ảnh hưởngcủa nền kinh tế xã hội chủ nghĩa (trong đó có thành phần kinh tế quốc doanh- naygọi là kinh tế nhà nước) đối với bảo đảm kinh tế cho quốc phòng, cũng như vai tròcủa các lực lượng quân đội làm kinh tế đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc xã hội chủ nghĩa (13, 111,112, 113, 114) Những vấn đề được nghiên cứutrên có rất nhiều yếu tố không còn phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội thời kỳquá độ ở nước ta hiện nay, khi lực lượng sản xuất chưa phát triển, năng lực sảnxuất còn thấp kém, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chưa được củng cố hoànthiện; khi vẫn còn tồn tại khách quan nhiều thành phần kinh tế và các thành phầnkinh tế đó lại vận động trong cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa.

Trong nước, ở các cấp độ và khía cạnh khác nhau cũng đã có nhiều công trìnhnghiên cứu đánh giá sự hoạt động của kinh tế nhà nước (28, 54, 82, 86 ) Các nhàkhoa học đã phân tích những thành tựu, đóng góp to lớn của kinh tế nhà nước trongviệc thúc đẩy sản xuất phát triển, ổn định đời sống nhân dân, góp phần đưa đấtnước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội Đồng thời, trong các tác phẩm củamình, các nhà nghiên cứu cũng thực sự trăn trở lo lắng về thực trạng còn kém hiệuquả kinh tế nhà nước, cố gắng tìnm hiểu nguyên nhân và đã có nhiều mạnh dạn đềxuất ý kiến nhằm giúp kinh tế nhà nước phát triển, thực hiện đúng chức năng, vaitrò của nó

Gần đây, luận án Phó tiến sỹ kinh tế: “Kinh tế quốc doanh trong nền kinh tếnhiều thành phần ở nước ta hiện nay” của tác giả Nguyễn Ngọc Cừ, đã hệ thốnghoá “quá trình hình thành và phát triển của kinh tế quốc doanh và từ đó làm rõphương hướng đổi mới và một số biện pháp chủ yếu nhằm tăng cường vai trò củakinh tế quốc doanh trong giai đoạn hiện nay”

Như vậy, các tác giả đã đặt kinh tế nhà nước vào đối tượng nghiên cứu củamình, nhưng chưa ai đặt tiếp vấn đề: kinh tế nhà nước trong cơ chế kinh tế mớiđảm bảo kinh tế cho quốc phòng hiện nay ở nước ta ra sao, với mức độ nào ? Hơnnữa hiện có rất ít các công trình nghiên cứu về lực lượng lao động sản xuất và làmkinh tế của quân đội - một bộ phận quan trọng của kinh tế nhà nước trong việc thựchiện có hiệu quả hai nhiệm vụ chiến lược của đất nước nói chung và củng cố pháttriển kinh tế nhà nước nói riêng

Trang 3

Kinh tế là cơ sở của sức mạnh quốc phòng đất nước Việc phát triển kinh tếhàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa với vai trò chủ đạocủa kinh tế nhà nước sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến tiềm lực kinh tế quân sự, đếnxây dựng thế trận quốc phòng toàn dân Đây chính là vấn đề còn ít người nghiêncứu.

Từ nhu cầu cấp thiết về lý luận và thực tiễn của đề tài và tình hình nghiên cứukinh tế nhà nước như đã nêu ở trên trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, kinh tế quân

sự, đã cho phép tác giả xác định đề tài cùng với mục đích nghiên cứu và nhữngnhiệm vụ cơ bản đặt ra cần giải quyết

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Mục đích của luận án là nghiên cứu vai trò của kinh tế nhà nước đối với việc

bảo đảm kinh tế cho quốc phòng ở Việt Nam hiện nay Nghiên cứu và phân tích tácđộng của quá trình tăng cường củng cố vai trò của kinh tế nhà nước đối với nhiệm

vụ nâng cao sức mạnh của lực lượng vũ trang và nền quốc phòng ở nước ta: luậngiải vai trò, trách nhiệm của quân đội trong việc tăng cưòng tiềm lực quốc phòng

và xây dựng kinh tế nhà nước, qua đó đề xuất một số biện pháp nhằm giải quyếtcác vấn đề nảy sinh trong quá trình này

- Đề xuất các giải pháp kinh tế nhằm giải quyết các khó khăn, hạn chế hiệnnay của kinh tế nhà nước, tạo ra khả năng hợp lý đảm bảo đảm kinh tế cho quốcphòng

- Làm rõ vai trò, trách nhiệm, khả năng và những mặt được, chưa được lựclượng quân đội làm kinh tế đối với quá trình kết hợp kinh tế với quốc phòng, xâydựng, củng cố và phát triển kinh tế nhà nước và trực tiếp bảo đảm kinh tế cho quốcphòng ở nước ta hiện nay

Những đóng góp mới về khoa học của luận án

Trang 4

Thực hiện mục đích và nhiệm vụ trên, luận án có thể đem lại những điểm mới

về mặt khoa học sau đây:

- Nêu lên được vai trò kinh tế nhà nước - bộ phận quan trọng nhất của nềnkinh tế quốc dân bảo đảm kinh tế cho quốc phòng ở nước ta: những điều kiện, khảnăng, năng lực thực tế cũng như những khó khăn, hạn chế của nó trong thực hiệnnhiệm vụ trên Từ đó đề xuất một số giải pháp kinh tế, nhằm nâng cao sức mạnhcủa khu vực kinh tế nhà nước trong thực hiện vai trò chủ đạo nền kinh tế và trongbảo đảm các nhu cầu cho quốc phòng

- Làm rõ những thế mạnh, tiềm năng, khả năng của quân đội, kiến nghị một

số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong thực hiện hai nhiệm vụ: củng cố vàtăng cường sức mạnh kinh tế nhà nước và góp phần bảo đảm trực tiếp các nhu cầukinh tế cho quốc phòng

Ý nghĩa thực tiễn của luận án

Luận án góp phần làm rõ những nhận thức mới, những yêu cầu mới đối vớikinh tế nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường thực hiện bảo đảm kinh tế choquốc phòng ở nước ta hiện nay; góp phần cung cấp một số cơ sở lý luận, thực tiễntrong nhiệm vụ hoạch định chính sách kinh tế thúc đẩy sự phát triển của khu vựckinh tế nhà nước

Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo nghiên cứu, biên soạn và giảngdạy một số chủ đề kinh tế chính trị, kinh tế quân sự trong các trường quân đội

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận án được trình bày trên cơ sở vận dụng các quan điểm tư tưởng chủ nghĩaMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế chính trị, kinh tế quân sự, về họcthuyết bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và chiến tranh quân đội; các văn kiện củaĐảng Cộng sản Việt Nam; các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, cácchỉ thị, mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị;các chỉ thị, quyết định của các Tổng cục, các Bộ, các ngành có liên quan; một sốluận điểm quan trọng trong các bài nói, bài viết của các tác giả trong và ngoàinước

Về phương pháp nghiên cứu, luận án dựa trên phương pháp nghiên cứu cơbản của kinh tế chính trị học Mác - Lê-nin: Trừu tượng hoá khoa học kết hợp lôgíc

Trang 5

với lịch sử, đồng thời sử dụng phương pháp nghiên cứu của khoa học kinh tế cụthể như: thống kê, phương pháp điều tra khảo sát, phương pháp so sánh, phươngpháp chuyên gia.

CHƯƠNG I KINH TẾ NHÀ NƯỚC VỚI VẤN ĐỀ BẢO ĐẢM KINH TẾ CHO QUỐC

PHÒNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Ở VIỆT NAM

I.1 Vai trò và thành tựu của kinh tế nhà nước đối với việc bảo đảm kinh tếcho quốc phòng ở việt nam hiện nay

I.1.1 kinh tế nhà nước và vai trò chủ đạo của nó đối với nền

kinh tế ở nước ta

Đặc điểm cơ bản của nền kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là cơcấu kinh tế nhiều thành phần: kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh tế cá thể tiểuchủ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước Các thành phần kinh tế ấy tácđộng tương hỗ, đan quyện vào nhau, hợp tác liên doanh, liên kết với nhiều hìnhthức ngày càng mở rộng và đa dạng, được định hướng bằng kế hoạch, chính sáchcủa Nhà nước và chịu sự tác động của các quy luật và quan hệ kinh tế thị trường,trong đó sự cạnh tranh tất yếu sẽ diễn ra Tuy nhiên, trong điều kiện một nền kinh

tế hàng hóa có sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa thì sự cạnh tranh đó phảitrong khuôn khổ pháp luật, phải được gắn liền với liên kết kinh tế, phân công vàhợp tác sản xuất, kinh doanh nhằm khắc phục tình trạng tự phát; tận dụng mọi tiềmnăng, thế mạnh của từng đơn vị kinh tế, từng lĩnh vực, từng vùng của cả nước.Cạnh tranh vừa là một yếu tố thúc đẩy phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng, hạgiá thành sản phẩm, vừa là đòn bảy kinh tế có hiệu quả đảm bảo hoàn thành kếhoạch ở từng đơn vị cơ sở, thực hiện được các mục tiêu kinh tế ở tầm vĩ mô và lớnmạnh, không ngừng phát huy vai trò chủ đạo đối với nền kinh tế Đây là vấn đề cótính nguyên tắc của cuộc đấu tranh giải quyết vấn đề “ai thắng ai” nhằm giữ vữngđịnh hướng đi lên xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Kinh tế nhà nước là một phạm trù kinh tế, một thành phần kinh tế, mà cả vềnội dung lý luận và hình thức biểu hiện đang có sự vận động phát triển và hoànthiện Trước đây, do nhận thức chưa đúng và cách làm duy ý chí, nóng vội chủquan, muốn đốt cháy giai đoạn trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta đã gấprút mở rộng kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể nhằm nhanh chóng hình thành sở

Trang 6

hữu toàn dân và sở hữu tập thể, kìm hãm và xoá bỏ các thành phần kinh tế kháctrong khi không thấy hết tình trạng thấp kém của lực lượng sản xuất, sự hụt hẫng,trì trệ của trình độ quản lý kinh tế Sai lầm đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắcnhở nhiều lần để toàn Đảng, toàn dân ta hiểu đúng bản chất xã hội xã hội chủnghĩa Trong bài diễn văn khai mạc lớp học lý luận khóa I Trường Nguyễn ái Quốcngày 7/9/1957, Hồ Chủ tịch đã nhấn mạnh” “Chúng ta phải thay đổi quan hệ sảnxuất cũ, xoá bỏ giai cấp bóc lột, xây dựng quan hệ sản xuất mới không có áp bứcbóc lột Muốn thế chúng ta phải dần dần biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạchậu thành một nước công nghiệp ”(10) Sau khi phân tích rõ điều kiện đặc thù cụthể với điểm xuất phát rất thấp của đời sống kinh tế, xã hội nước nhà đi lên chủnghĩa xã hội, tình trạng Tổ quốc tạm thời bị chia cắt làm hai miền, Bác đặt ra chotoàn Đảng, toàn dân câu hỏi lớn: “Trong những điều kiện như thế, chúng ta phảidùng những phương pháp gì, hình thức gì, đi theo tốc độ nào để tiến dần lên chủnghĩa xã hội ?”(10).

Điều Bác dạy cho chúng ta thấy rõ, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hộinếu chỉ tập trung xây dựng kinh tế nhà nước chủ yếu theo chiều rộng, nặng về mặtchính trị, xã hội, không chú ý đúng mức đến hiệu quả kinh tế, duy trì sự hoạt độngcủa nó bằng bất cứ “giá” nào, đã đem lại hậu qua nặng nề buộc chúng ta phải trảgiá Thực tiễn lịch sử thời gian qua đòi hỏi chúng ta nghiêm khắc xem xét, điềuchỉnh lại cơ cấu, quy mô, cách làm ăn của kinh tế nhà nước cho phù hợp Nói cáchkhác, chúng ta phải quan niệm lại, nhận thức lại một cách đúng đắn hơn, đầy đủhơn, hợp với thực tiễn của đất nước về kinh tế nhà nước

Trước đây, chúng ta dùng khái niệm kinh tế quốc doanh để chỉ bộ phận kinh

tế do Nhà nước trực tiếp quản lý, kinh doanh Về mặt sở hữu, kinh tế quốc doanh

là sở hữu toàn dân biểu hiện ở 100% vốn của Nhà nước dưới hình thức các cơ sởkinh tế quốc doanh: nhà máy, hầm mỏ, nông, lâm trường, xí nghiệp trên ý nghĩa

đó, kinh tế quốc doanh chỉ bao gồm các doanh nghiệp nhà nước Trong luận ánnhững chỗ chúng tôi dùng khái niệm “Kinh tế nhà nước” Kinh tế nhà nước là khuvực kinh tế do Nhà nước làm chủ sở hữu, bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, đấtđai, tài nguyên, khoáng sản, kết cấu hạ tầng, hệ thống tài chính, ngân hàng, ngânhàng nhà nước, dự trữ quốc gia, hệ thống bảo hiểm nhà nước Trong đó các doanhnghiệp nhà nước là bộ phận cấu thành quan trọng nhất

Trang 7

Như vậy, kinh tế nhà nước bao gồm toàn bộ “Tài sản và vốn thuộc sở hữu nhànước được sử dụng dưới nhiều hình thức, vừa bảo đảm hiệu quả kinh tế cao, vừatăng cường khả năng thúc đẩy và kiểm soát trực tiếp của Nhà nước đối với các hoạtđộng kinh tế, như: đầu tư vào khu vực doanh nghiệp nhà nước (gồm những doanhnghiệp 100% vốn nhà nước hay nhà nước nắm một tỷ lệ cổ phần đủ sức khốngchế); giao quyền sử dụng lâu dài (đất đai, rừng ); cho thuê, tô nhượng (hầm mỏ),liên doanh; góp cổ phần, mua cổ phiếu của các doanh nghiệp thuộc những thànhphần khác”(88).

Sự phân định trên hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tiễn của đời sống kinh

tế nhà nước, cho phép ta hiểu đầy đủ, đúng đắn hơn về kinh tế nhà nước Nó là một

hệ thống đa dạng, không duy nhất chỉ là các doanh nghiệp nhà nước Nó là toàn

bộ tài sản và vốn thuộc sở hữu nhà nước sử dụng dưới nhiều hình thức, tham gia hoạt động trong nhiều thành phần kinh tế Điều này cũng hoàn toàn phù hợp vói

quan niệm chung của thế giới về kinh tế nhà nước

Trong báo cáo của Liên hợp quốc về tình hình kinh tế - xã hội, được các nhàkhoa học nước ta dẫn ra đã nêu lên rằng, kinh tế nhà nước có mặt hầu hết như ở tất

cả các quốc gia trên thế giới Tỷ trọng tài sản cố định của kinh tế nhà nước (với tưcách là các doanh nghiệp), so với tổng số vốn cố dịnh trong toàn bộ nền kinh tếvào năm 1980 ở Mỹ là 4%; ốtxtrâylia, Anh và Nuy là 17%, An giê ri 68%, còn cácnước khác như Thái Lan Phi líp pin, Cô lôm bia khoảng 15%(49) Cũng khôngnên quan niệm rằng, ở các doanh nghiệp này, Nhà nước phải đầu tư 100% vốn ởnhiều quốc gia, các công ty quốc doanh là công ty có cổ phần khống chế của Nhànước Ví dụ, ở Hàn Quốc, các công ty có 10% vốn trở lên của Nhà nước là công tynhà nước (55) Tuy quá trình hình thành, phát triển kinh tế nhà nước và tỷ trọngcủa nó trong nền kinh tế của mỗi nước có khác nhau, song vai trò của nó, sự hiệndiện của nó như một tất yếu khách quan đã cho phép các quốc gia sử dụng nó đểquản lý, điều tiết nền kinh tế của mình và giải quyết các vấn đề xã hội khác Kinh

tế nhà nước không phải lúc nào, ở đâu cũng chiếm đại bộ phận nhưng đều có mộtvai trò to lớn chung, đó là dẫn dắt, mở đường, điều tiết, định hướng nền kinh tế

Ở nước ta, để bảo đảm sự định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế hànghóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, kinh tế nhà nước phải vươnlên giữ vững vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế hợp tác dần dần trở thành nền tảngcủa toàn bộ nền kinh tế quốc dân Đây là một trong những yếu tốc cơ bản nhất, là

Trang 8

sức mạnh vật chất, là chỗ dựa vững chắc về kinh tế của đất nước bảo đảm sự địnhhướng xã hội chủ nghĩa.

Do có một thời gian khá dài tập trung đầu tư cho xây dựng, nên kinh tế quốcdoanh ở nước ta đã có một năng lực đáng kể Theo số liệu thống kê ngày 1.1.1990trong toàn quốc có 12.084 xí nghiệp quốc doanh, trong đó 1.695 xí nghiệp doTrung ương quản lý và hơn 10.380 xí nghiệp nằn ở các địa phương Qua nhiều lầnthay đổi sắp xếp, đến nay cả nước còn 6.127 doanh nghiệp (69)

Kinh tế nhà nước là điều kiện , là cơ sở đảm bảo những cân đối chủ yếu chotoàn bộ nền kinh tế quốc dân Kinh tế nhà nước nắm gần như toàn bộ ngành côngnghiệp năng lương, khai khoáng, luyện kim, cơ khí chế tạo, sản xuất xi măng, phânbốn, thuốc trừ sâu và công nghiệp quốc phòng Theo đánh giá của Nghị quyết số10- NQ/TƯ của Bộ chính trị (ngày 17/3/1995), các doanh nghiệp nhà nước chiếm85% tài sản cố định trong công nghiệp, 100% các mỏ khoáng sản lớn, 83% diệntích cây công nghiệp dài ngày, có những địa điểm kinh doanh thương nghiệp vàdịch vụ thuận lợi và hơn 90% lao động được đào tạo Trong sản xuất hàng tiêudùng, công nghiệp quốc doanh cũng giữ vai trò trong một số mặt hàng quan trọng:70% may mặc, 85% giấy, 70% xe đạp; 60% xà phòng, 100% thuốc tân dược (49).Trong xây dựng cơ bản, kinh tế nhà nước đảm nhận hầu hết các công trình trên hạnngạch và công trình quan trọng quyết định triển vọng tăng trưởng của nền kinh tếquốc dân Trong giao thông vận tải, kinh tế nhà nước đảm nhận những tuyết dàinhư vận tải Bắc-Nam, vận tải đối ngoại Do vậy, độ dài của vận tải quốc doanh đãgấp 10 lần so với vận tải của các thành phần kinh tế khác Trong lưu thông phânphối, thương nghiệp quốc doanh thực sự có vai trò to lớn trong việc cung cấp vàbình ổn giá cả thị trường đối với những vật tư, hàng hoá thiết yếu như xăngdầu, sắtthép, phân bón, thuốc trừ sâu, xi măng và nhất là gạo Bên cạnh đó, những bộ phậnnhững ngành có tầm quan trọng đặc biệt như đất đai, tài nguyên, khoáng sản, bưuđiện, kho bạc, ngân hàng đều trong tay nhà nước và chúng đã có vai trò to lớntrong việc giữ các huyết mạch kinh tế, là công cụ điều tiết có hiệu quả xã hội vànền kinh tế nước nhà

Với sức mạnh của mình, kinh tế nhà nước là nòng cốt trong sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, mở đường, hỗ trợ các thành phần kinh tế khácphát triển có hiệu quả, thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh và lâu bền của toàn bộ nềnkinh tế Kinh tế nhà nước cũng là lực lượng chủ yếu cung cấp tài chính cho ngân

Trang 9

sách quốc gia Tỷ lệ thu từ quốc doanh thường chiếm 60-70% tổng thu ngân sách(55) Điều đó không hẳn chỉ vì kinh tế nhà nước đang còn chiếm một bộ phận lớn

mà còn vì nó thực hiện nghĩa vụ thu nộp cho nhà nước nghiêm chỉnh hơn so vớicác thành phần kinh tế khác (99)

Vai trò của kinh tế nhà nước còn thể hiện ở những lĩnh vực không thể lượng hoá được Đó là trường hợp một bộ phận kinh tế nhà nước phải chịu thua lỗ để chotoàn bộ nền kinh tế đất nước có điều kiện phát triển Điều đó thường xảy ra ởnhững nước có trình độ kinh tế như nước ta, khi nền kinh tế đi lên từ một cơ cấulạc hậu, nông nghiệp là phổ biến Chuyển nền kinh tế sang cơ chế thị trường, mộtvấn đề nan giải đặt ra là phải đáp ứng các nhu cầu về hàng hoá tiêu dùng và dịch

vụ xã hội ở ngay cả những nơi không ai muốn đầu tư, hoặc phải đầu tư với vốn banđầu rất lớn, thu hồi vốn chậm, lãi xuất thấp hoặc có khi bị thua lỗ Nhưng xã hộivới các thành viên của nó, vẫn cần đường đi, sân bay, bến cảng, giải trí, nghỉ ngơi,cần dịch vụ y tế, bưu điện, văn hoá giáo dục, nghiên cứu khoa học Lúc này cáchoạt động kinh tế đã vượt qua khuôn khổ của nó, không còn chỉ là vấn đề lợinhuận, nó vừa là kinh tế vừa là chính trị, xã hội, an ninh - quốc phòng Kinh tế nhànước phải đảm nhiệm vai trò của nó ở những khu vực đó

Như vậy, kinh tế nhà nước có vai trò to lớn trong nền kinh tế quốc dân, bảođảm sự định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần giữ sự ổn định và tăng trưởng củanền kinh tế đất nước Chính vì vậy, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII ĐảngCộng sản Việt Nam đã đề ra những vấn đề cụ thể về phạm vi chức năng, nhiệm vụ,vai trò, vị trí và những yêu cầu đối với nền kinh tế nhà nước: “Kinh tế quốc doanhđược củng cố và phát triển trong các ngành và lĩnh vực then chốt, nắm nhữngdoanh nghiệp trọng yếu và đảm đương những hoạt động mà các thành phần kinh tếkhác không có điều kiện hoặc không muốn đầu tư kinh doanh Khu vực quốcdoanh được sắp xếp lại, đổi mới công nghệ và tổ chức quản lý, kinh doanh có hiệuquả, liên kết và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác, thực hiện vai trò chủ đạo vàchức năng của một công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước”(22)

I.1.2 Vai trò và thành tựu của kinh tế nhà nước trong chiến tranh giải phóng và trong bảo đảm kinh tế cho quốc phòng ở nước ta hiện nay

Trang 10

Kinh tế Nhà nước không chỉ có tầm quan trọng đặc biệt trong việc phát triểnkinh tế của đất nước, mà còn có vai trò vô cùng to lớn trong việc cung cấp nhân,tài, vật lực cho quốc phòng, cho hoạt động của lực lượng vũ trang.

Trước đây ở nước ta trong nền kinh tế kế hoạch tập trung chủ yếu chỉ có haithành phần kinh tế (quốc doanh và tập thể) tương ứng với hai hình thức sở hữu(toàn dân và tập thể), thu nhập quốc dân, sự tăng trưởng về kinh tế của đất nướccũng như việc huy động cơ sở vật chất (phần trong nước) cho chiến tranh, choquốc phòng chủ yếu dựa vào nền kinh tế thuần nhất đó Thời kỳ đó, đây là một lợithế để động viên sức người, sức của cho chiến tranh, cho sự nghiệp giải phóng

miền Nam, thống nhất đất nước Nói cách khác, bảo đảm kinh tế cho quốcphòngtrong chiến tranh giải phóng thực chất là huy động, là chuyển toàn bộ đời sống kinh tế với hai thành phần kinh tế trên phục vụ cho chiến tranh Thống kê

trong 8 năm chống Mỹ (1965-1972), chi phí của miền Bắc cho chiến tranh cao hơnchống Pháp 40 lần Hàng năm huyđộng: 20 vạn tấn gạo, 32 triệu mét vải, 10 vạntấn xăng dầu, 2-2,5 vạn tấn sắt thép, 4.000 chiếc ô tô, 2.500-3.000 xe xích Riêngnăm 1968 chi phí quốc phòng chiếm 42% ngân sách nhà nước (14) Đó thực sự làmột nỗ lực phi thường, một thành tựu rực rỡ của Đảng, Nhà nước và nhân dân tatrong việc động viên kinh tế cho chiến tranh, trong điều kiện nền kinh tế của nước

ta còn hết sức nghèo nàn lạc hậu

Hiện nay, khi nguy cơ chiến tranh chưa trực tiếp đặt ra, việc tổ chức nền kinh

tế quân sự là nhằm đảm bảo kinh tế cho quốc phòng

Bảo đảm kinh tế cho quốc phòng là tổng thể các quá trình và các biện pháp kinh tế được Nhà nước tiến hành và sử dụng, nhằm thoả mãn các nhu cầu kinh tế cho quốc phòng, phục vụ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Nội dung bảo đảm kinh tế cho quốc phòng bao gồm các yếu tố sau: bảo đảm

về nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và nguồn lực tài chính Do vậy, khi nóiđến vai trò của kinh tế nhà nước trong việc bảo đảm kinh tế cho quốc phòng ởnước ta hiện nay chính là nói đến những tiềm năng, những khả năng của khu vựcnày trong việc thực hiện các nội dung trên

Trước hết, nói về nguồn lực lao động cho quốc phòng Công cuộc phòng thủ

của đất nước bao giời cũng thông qua việc thực hiện của con người Nền quốcphòng toàn dân ở nước ta là sự nghiệp của toàn dân Trong thời bình, nguồn nhân

Trang 11

lực phục vụ cho quốc phòng phần lớn và chủ yếu nằm trong dạng tiềm năng Sốtrực tiếp phục vụ cho quốc phòng chỉ là một bộ phận không lớn của dân số cảnước Bộ phận này được huy động cho quốc phòng nằm trong độ tuổi lao động,thông qua thực hiện nghĩa vụ quân sự hoặc sản xuất quốc phòng (bao gồm nhânlực ở các doanh nghiệp quốc phòng và các bộ phận của nền kinh tế quốc dân thamgia sản xuất hàng hoá quân sự).

Tuy nhiên ở nước ta, hơn 80% dân số cũng như lực lượng lao động của cảnước hoạt động trong nông nghiệp, nông thôn , do đó số lao động thực hiện nghĩa

vụ quân sự chủ yếu ở khu vực nông nghiệp, nông thôn Chính vì vậy kinh tế nhànước thực hiện bảo đảm nhân lực cho quốc phòng chủ yếu là lực lượng lao độngsản xuất Trong đó , trực tiếp và thường xuyên là lao động thuộc các doanh nghiệpquốc phòng và các doanh nghiệp nhà nước sản xuất hàng hoá cho quốc phòng.Ngoài ra nguồn nhân lực ấy còn nằm trong tất cả các doanh nghiệp còn lại của Nhànước ở dạng tiềm năng, khi cần thiết Nhà nước có thể chuyển sang phục vụ chocác nhu cầu quân sự

Lực lượng lao động trong kinh tế nhà nước phần lớn đã được đào tạo, có kinhnghiệp, kỹ năng, kỹ xảo, sử dụng thành thạo các công cụ sản xuất, các phương tiện

kỹ thuật và có khả năng vươn lên làm chủ các công nghệ hiện đại Điều đó khôngchỉ tạo điều kiện cho họ tiến hành hoạt động sản xuất có kết quả phục vụ sự nghiệpphát triển kinh tế của đất nước, mà còn cho phép họ có khả năng thực hiện các đơnđặt hàng của quốc phòng hoặc sẵn sàng chuyển sang lĩnh vực sản xuất quốc phòng.Nhất là đối với những người đang công tác ở các ngành nghề kinh tế dân sinh cótính chất hoạt động gần với các ngành nghề kinh tế quân sự như chế tạo máy, cơkhí chính xác, giao thông vận tải, vật liệu nổ, chế biến lương thực, thực phẩm, maymặc, y tế, tài chính, kế toán hay thông tin liên lạc, điện tử tin học v.v Họ khôngchỉ là người tham gia tích cực và có hiệu quả trong công tác và sản xuất quốcphòng mà còn là những người có khả năng sử dụng thành thạo các phương tiện,khí tài quân sự Khi cần bổ sung, huy động lực lượng cho hải quân, cho tác chiếntrên biển, đã có ngay đội ngũ các thuyển trưởng, thuyền viên, hoa tiêu, thợ máydạn dày sóng gió, thông thạo luồng lạch của các đội thương thuyền , các cơ sởđánh bắt hải sản Các công nhân lái xe, lái máy, các phi công dân sự chính lànguồn dự trữ chiến đấu, máy bay chiến đấu, các phương tiện vận tải bảo đảm cơđộng cho bộ đội và khí tài quân sự Đối với thông tin liên lạc , bao gồm có cả

Trang 12

phương tiện và con người chính là bộ phận thường xuyên nhất, có hiệu quả nhấtphục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế , xã hội cũng như quốc phòng ở

nước ta.

Có thể dẫn ra rất nhiều ví dụ có sức thuyết phục về vai trò, khả năng bảo đảmnhân lực - đặc biệt là nhân lực có “chất xám”, có trình độ kỹ thuật, chuyên môncủa nền kinh tế nhà nước phục vụ cho sản xuất quốc phòng cũng như khai thác, sửdụng các phương tiện kỹ thuật chiến đấu Tất cả những điều đó nói lên rằng, kinh

tế nhà nước là khu vực có nhiều tiềm năng, thế mạnh và có đủ điều kiện nhất đểthực hiện các nội dung trên

Khi bàn đến khả năng to lớn thường xuyên của kinh tế nhà nước bảo đảmnhân lực quốc phòng, không thể không nói đến nguồn nhân lực của nó (tuy khônglớn) có khả năng bổ sung cho lực lượng vũ trang thông qua thực hiện nghĩa vụquân sự Ngoài những yêu cầu về mặt chuyên môn, kỹ thuật vừa được đề cập ởtrên, họ còn có một thế mạnh rất quan trọng khác về tính chất nghề nghiệp quân

sự Những người này khi còn công tác, làm việc ở các cơ sở kinh tế nhà nước vốn

đã quen với nếp sống kỷ luật, làm việc khoa học với yêu cầu cao; thường được tiếpxúc với các tri thức quân sự và luyện tập quân sự Họ không chỉ là những ngườithực hiện tốt công tác quốc phòng: giữ gìn trật tự trị an, phòng chống bạo loạn, sẵnsàng đánh địch tại chỗ mà còn đã có nhiều phẩm chất quân sự cần thiết hoạt độngtrong lực lượng vũ trang

Những người từ kinh tế nhà nước ra đi làm nghĩa vụ quân sự còn phải kể đếncon em của chính đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức của khu vực này Cùng vớicha anh họ, lớp trẻ sẽ góp phần tăng cường bản chất giai cấp công nhân trong cơcấu giai cấp của lực lượng vũ trang Đó là cơ sở của việc nâng cao ý thức tư tưởng-

c hính trị , một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu của sức mạnh chiến đấucủa lực lượng vũ trang trong giai đoạn hiện nay

Ngoài ra, do tính ưu việt của chế độ sở hữu, kinh tế nhà nước là nơi quan tâmđầy đủ nhất các vấn đề về lợi ích của con người, cả vật chất lẫn tinh thần Kinh tếnhà nước cũng là khu vực giải quyết tốt nhất các vấn đề xã hội và hậu phươngquân đội Hầu như tất cả các cơ sở kinh tế lớn của Nhà nước đều có nhà trẻ, lớpmẫu giáo, y tế, câu lạc bộ và các phúc lợi công cộng khác Nhiều nhà máy, xínghiệp rất quan tâm đến việc làm cho đội ngũ công nhân tương lai Đặc biệt, nhiều

Trang 13

doanh nghiệp nhà nước là mẫu mực trong việc chăm lo đến đời sống của nhữngngười đã nghỉ hưu, các gia đình thương binh, liệt sỹ, các gia đình và cá nhân cócông với các mạng, đến hoạt động từ thiện Kinh tế nhà nước cũng là bộ phận cónhiều thành tích trong tài trợ, giúp đỡ phát triển tài năng cho đất nước Sự côngbằng trong phân phối sản phẩm theo đóng góp của mỗi thành viên, cùng với nhữnggiá trị tinh thần thu được trong tập thể cộng đồng, thực sự là động lực thúc đẩynhiệt tình, là chỗ dựa tin cậy cho mỗi thành viên làm việc trong kinh tế nhà nướccũng như tạo sự an tâm về hậu phương cho những người từ đó ra đi phục vụ quốcphòng.

Thứ hai, cùng với hoạt động bảo đảm về mặt nhân lực cho quốc phòng, công

tác bảo đảm về vật chất có ý nghĩa vô cùng quan trọng Cố nhiên để có được cơ sởvật chất phục vụ quốc phòng, phải có nền tảng kinh tế vững mạnh của đất nước Ởtầm vĩ mô, kinh tế nhà nước có tác dụng dẫn dắt, mở đường có vai trò chủ đạo,điều tiết nền kinh tế phát triển đúng hướng với nhịp độ ngày càng nhanh phù hợpvới sự phát triển của sức sản xuất và năng lực quản lý kinh tế, phù hợp với sự pháttriển hài hoà chung với các lĩnh vực văn hoá, giáo dục, khoa học - kỹ thuật và cácnhân tố khác Chỉ như vậy mới có được một nền kinh tế với cơ cấu hợp lý, có sứcsống vươn lên mạnh mẽ và ngày càng tạo ra nhiều của cải cho xã hội, trên cơ sở đótạo lên sức mạnh kinh tế quân sự cho nước nhà Tuy nhiên muốn tăng tiềm lựckinh tế quân sự, không chỉ xác định phương hướng phát triển kinh tế, tổ chức lạinền kinh tế, phát triển sản xuất mà cần phải biết kết hợp kinh tế với quốc phòng

Do đó, vấn đề đặt ra là: “Trong mỗi sáng kiến mới về kinh tế, văn hoá, bao giờcũng cần đặt câu hỏi: kết quả của sáng kiến ấy sẽ phù hợp đến mức nào ở đây cũngbảo đảm thực hiện những nhiệm vụ quân sự nhất định mà không gây tổn hại chocác thời bình” (65) Rõ ràng chỉ có kinh tế nhà nước với chủ sở hữu là Nhà nước

xã hội chủ nghĩa mới có thể tạo ra chính sách kinh tế và chiến lược phát triển kinh

tế có sự kết hơp tối ưu các yêu cầu dân sự lẫn yêu cầu quốc phòng của xã hội Nóicác khác, chỉ có kinh tế nhà nước mới có khả năng tối đa cho việc đáp ứng sự kếthợp hài hoà giữa hai yêu cầu đó Bảo đảm cơ sở vật chất cho hoạt động của quốcphòng bao gồm nhiều vấn đề, trong đó nổi bật nhất là việc kinh tế nhà nước thựchiện thường xuyên đáp ứng các nhu cầu ngày càng phát triển về vũ khí trang bị vàcác phương tiện khí tài phục vụ cho quốc phòng Trong nền kinh tế thị trường,nguồn cung cấp các loại trang bị trên có thể được mua sắm từ các thành phần kinh

Trang 14

tế khác và từ nước ngoài Tuy nhiên phần trong nước, cho đến nay duy nhất chỉ cónền kinh tế nhà nước là nơi được phép độc quyền thực hiện nhiệm vụ đó Kinh tếnhà nước với một bộ phận đặc biệt của mình là các xí nghiệp quốc phòng chính lànơi đã và đang cung cấp và bảo dưỡng các loại vũ khí thông thường, đạn dược , vậtliệu nổ, khí tài thông tin.v.v cho các hoạt động của các lực lượng vũ trang Kinh tếnhà nước với khả năng của mình, là nơi có thể phát huy tiềm lực nghiên cứu và sảnxuất chế tạo các phương tiện chiến đấu mới cho bộ đôị, đáp ứng ngày càng tốt hơncác yêu cầu về tính năng kỹ thuật, cách đánh và con người Việt Nam.

Bên cạnh đó, kinh tế nhà nước đang là nơi nắm giữ các huyết mạch kinh tế,nhiều ngành kinh tế quan trọng Các ngành kinh tế đó có nhiều thế mạnh để phục

vụ cho nhu cầu quân sự - nhất là công nghiệp nặng, và chính là nơi có khả năngthực hiện được các đơn đặt hàng quốc phòng Chỉ tính riêng ngành đóng tàu quốcdoanh cũng đã có thể cung cấp được cho hải quân một số loại tàu vận tải quân sự,tàu tuần tiêu cao tốc và bảo dưỡng, sửa chữa được hầu hết các loại tàu của ta trênnhiều mặt đã đạt trình độ khá cao và giá thành hạ rất nhiều so với thế giới Đóng vàsửa chữa tàu , các phương tiện chiến đấu cho hải quân không chỉ có tác dụng duytrì và khuyến khích, tạo điều kiện cho ngành đóng tàu, ngành hàng hải ở ta pháttriển mà còn là biện pháp đạt hệu quả kinh tế cao tiết kiệm ngân sách chi phí choquốc phòng Cùng với nó, nhiều nhà máy, xưởng cơ khí quốc doanh còn là nơi cóthể cung cấp một khối lượng phụ tùng đáng kể cho các loại xe chiến đấu, các loạimáy bay, ra đa, các phương tiện phục vụ giao thông, thông tin liên lạc cho quốcphòng

Kinh tế nhà nước với năng lực sản xuất và trình độ công nghệ của mình còn làtrung tâm có khả năng liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tế khác trong vàngoài nước, thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta.Nhờ vậy các cơ sở kinh tế nhà nước tạo ra được một hệ thống sản xuất rộng rãi,hợp tác, phân công và phụ thuộc lẫn nhau trong khi vẫn không làm mất đi tính chủđộng linh hoạt của mỗi thành viên, có điều kiện nâng cao hơn năng lực sản xuấtcủa chính mình Khả năng liên doanh, liên kết đó giúp cho các cơ sở nhà nước tậndụng được thế mạnh của nhau và của các thành phần kinh tế khác nhất là về côngnghệ để sản xuất hàng hoá quốc phòng được tốt hơn

Trang 15

Ngoài ra, phải kể đến một số ngành công nghiệp nhẹ: may mặc, chế biếnlương thực, thực phẩm, dược phẩm của Nhà nước đang là nơi thường xuyên đápứng các nhu cầu cần thiết cho lực lượng vũ trang.

Đồng thời, với tư cách là chủ sở hữu các nguồn lực quan trọng khác: dự trữquốc gia, đất đai, vùng trời, vùng biển, tài nguyên khoáng sản kinh tế nhà nước

có đủ điều kiện cần thết trong sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trên nhằm nângcao sức mạnh phòng thủ đất nước Điều đó được thể hiểu rõ nét qua khả năng tăngcường chi phí hợp lý ngân sách quốc phòng, xây dựng, củng cố các khu vực phòngthủ, các điểm phòng thủ, tạo ra thế trận mới không chỉ ở nội địa mà ở cả tầm vươn

xa hơn; cũng như khả năng ưu tiên của các nguyên, nhiên, vật liệu thiết yếu chosản xuất các mặt hàng quân sự

Kinh tế nhà nước còn là bộ phận duy nhất có đủ khả năng phát triển ở vùngcao, vùng sâu, biên giới và hải đảo, góp phần hình thành các khu vực phòng thủ vàthế bố trí chiến lược mới của nền quốc phòng toàn dân Như vậy, hoạt động củakinh tế nhà nước lúc này đã được vật chất hoá góp phần nâng cao sức mạnh quốcphòng Đây là những nơi xa xôi hẻo lánh khó thu hút lao động lành nghề, mở rộngvốn, đi lại khó khăn, ảnh hưởng đến tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm Đây cũng là nơi

xa các trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá gây trở ngại cho việc liên doanh, liênkết và là nơi còn nhiều khó khăn trong nâng cao đời sống và giải quyết các vấn đềkhác Ở đây, thường là nơi đòi hỏi đầu tư ban đầu lớn nhưng lại khó thu hồi vốn.Với vai trò của mình, kinh tế nhà nước phải mở đường xây dựng các cơ sở hạ tầngnhư bệnh viện, trường học, đường điện, đường giao thông, bưu chính viễn thông,thị trấn, thị tứ để tạo ra các trung tâm kinh tế, văn hóa, hình t hành môi trường kinhdoanh thuận lợi, tạo đà thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển Chỉ như vậy mớicho phép xoá dần nghèo nàn lạc hậu và sự cách biệt giữa miền ngược với miềnxuôi, giữa đồng bằng với miền núi và hải đảo Sự có mặc của đơn vị nhà nước còn

có ý nghĩa khẳng định chủ quyền lãnh thổ lãnh hải của Tổ quốc do việc phân bố lạidân cư và lao động trong cả nước Tại đây đang báo hiệu một sự phát triển nhanhchóng trong tương lai, khi có sẵn một lực lượng lao động khỏe, trẻ, dũng cảm nhiệt tình và được sự quan tâm đầu tư đúng mức Đó cũng chính là lực lượng bảođảm an ninh - quốc phòng tại chỗ cho thời bình và cho chiến tranh Việc mở thêmcác vùng kinh tế mới đó, vừa thể hiện sự quan tâm nhất quán của Đảng và Nhà

Trang 16

nước, vừa thực sự tạo lòng tin yêu gắn bó của đồng bào các vùng dân tộc miền núi,hải đảo với Tổ quốc với chế độ để họ thực sự trở thành “phên dậu” của nước nhà.

Thứ ba, kinh tế nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tài chính

cho lực lượng vũ trang Trên thực tế đây là một mặt đảm bảo có tính chất gián tiếpcủa kinh tế nhà nước Đóng góp cho ngân sách khu vực này hiện nay vẫn đangchiếm một tỷ trọng lớn nhất trong các nguồn thu của quốc gia (55) Do vậy, kinh tếnhà nước làm ăn càng có hiệu quả, phát triển càng cao thì nguồn thu cho ngân sáchcàng lớn Kết quả là, Nhà nước càng có điều kiện tăng chi phí cho quốc phòng theokịp với nhu cầu của nó đặt ra

Ngoài ra, kinh tế nhà nước với các cơ sở của mình: các doanh nghiệp, cácngân hàng đầu tư phát triển còn có thể tạo nguồn vốn cho quốc phòng, nhất là đốivới doanh nghiệp quốc phòng Điều đó được thể hiện qua liên doanh, liên kết kinh

tế, qua các hợp đồng kinh tế và qua vay vốn giữa các doanh nghiệp quốc phòng vớicác cơ sở Nhà nước, hoặc với nước ngoài Chỉ tính riêng các doanh nghiệp quânđội, trong năm 1995 đã có thêm 12 dự án liên doanh với số vốn hơn 125 triệuUSD, đưa tổng số dự án hợp tác với nước ngoài của quân đội đến cuối 1995 lêncon số 49 và tổng số là 475 triệu USD (17)

Như vậy bảo đảm kinh tế cho quốc phòng là hoạt động có tính chất thườngxuyên của Nhà nước Khi có nguy cơ xảy ra chiến tranh, kinh tế nhà nước là khuvực có đầy đủ điều kiện, khả năng nhất là trong thực hiện động viên kinh tế, độngviên công nghiệp cho hoạt động quân sự, cho chiến tranh Điều đó không chỉ dokinh tế nhà nước ở ta đã có truyền thống có kinh nghiệm động viên kinh tế trongchiến tranh giải phóng mà còn do có tiềm lực thực sự về cơ sở vật chất, về conngười như đã nói trên, có sự chuẩn bị kế hoạch cho động viên Bên cạnh đó, kinh

tế nhà nước bao giờ cũng có một tổ chức điều hành quản lý chặt chẽ cả về kinh tế,hành chính và các hoạt động xã hội Đấy chính là yếu tố thuận lợi cho việc chuyểnnhanh sang sản xuất phục vụ quốc phòng - một lĩnh vực sản xuất theo các yêu cầuđặc biệt, và là những cơ sở vững chắc cho việc thành lập các đơn vị tự vệ chiếnđấu tại chỗ hoặc bổ sung trực tiếp sức người cho lực lượng vũ trang

I.1.3 Bảo đảm kinh tế cho quốc phòng của kinh tế nhà nước ở một số quốc gia trên thế giới

Trang 17

Có thể nói, mỗi một quốc gia đều có một c hiến lược, một phương thức bảođảm kinh tế cho quốc phòng khác nhau Sự khác nhau đó là do phương thức sảnxuất, do khả năng kinh tế, chiến lược quân sự, cơ cấu tổ chức lực lượng vũ trangcủa mỗi nước quy định Điểm chung nhất của các nước trên thế giới là hoạt độngbảo đảm kinh tế cho quốc phòng được tiến hành trên cơ sở ngân sách quốc phòng

và được tổ chức trực tiếp thông quan nền sản xuất quân sự, các tổ hợp kinh tế quân

sự mà nòng cốt là các cơ sở kinh tế thuộc nhà nước quản lý

Ở Liên Xô trước đây, khu vực sản xuất quốc phòng mang hai đặc điểm cơbản:

+ Là khu vực riêng, tách biệt nền kinh tế quốc dân, độc quyền chế tạo vũ khítrang bị theo mệnh lệnh từ trên xuống

+ Vừa sản xuất hàng hoá quân sự, vừa sản xuất hàng dân dụng

Ngoài ra, khi cần có thể chuyển các dây chuyền sản xuất hàng dân dụng trongkhu vực này (cũng như từ khu vực sản xuất hàng dân dụng nói chung) sang đápứng các nhu cầu quân sự và ngược lại Đây là khu vực được sự chỉ đạo, giám sátchặt chẽ và trực tiếp từ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô và Nhà nước Xô-viết, bao gồm hai hệ thống RD (nghiên cứu và phát triển - các viện) và các cơ sởsản xuất (thuộc Bộ công nghiệp quốc phòng) tương đối độc lập với nhau

Thực tế chỉ ra rằng, với mô hình này trong suốt lịch sử tồn tại của mình, Liên

xô đã vượt qua được những thử thách ác liệt: bảo đảm yêu cầu đẩy nhanh tốc độhiện đại hoá quân đội và hạm đội trong những năm 1930; về bom nguyên tử trongnhững năm 1940; về công nghệ tên lửa đạn đạo trong những năm 1950-1960 vàđặc biệt trong những năm 1965-1975 đã cho phép họ thực hiện một chương trìnhhiện đại hoá nền quốc phòng nhanh chóng và thu nhiều kết quả rực rỡ Liên Xô,cùng với tính ưu việt của chế độ chính trị xã hội, sức mạnh của nền kinh tế, kinh tế

qu ân sự và nền quốc phòng hùng hậu trong một thời gian dài đã là thành trìcủa hệ thống xã hội chủ nghĩa, của các lực lượng hoà bình trên thế giới

Do đặc điểm bao trùm Nhà nước công nông xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thếgiới, từ khi ra đời phải do đối phó ngay với thù trong giặc ngoài nên hoạt động bảođảm kinh tế cho quốc phòng ở Liên Xô lúc bấy giờ về thực chất là chuẩn bị vàđộng viên kinh tế cho chiến tranh

Trang 18

Với mô hình tổ chức đảm bảo kinh tế cho quốc phòng chủ yếu dựa vào kinh

tế nhà nước mà trực tiếp là nền sản xuất quốc phòng, Nhà nước Xô-viết đã tiếnhành có hiệu quả việc huy động sức người sức của giành thắng lợi quyết định tiêudiệt chủ nghĩa Phát-xít trong chiến tranh thế giới thứ hai Đây là một hình mẫu cósức thuyết phục về chuẩn bị và huy động kinh tế phục vụ cho chiến tranh giữ nướctrong những điều kiện tương tự của Liên Xô và bối cảnh lịch sử thế giới lúc bấygiờ Nghiên cứu hoạt động chuẩn bị kinh tế và huy động kinh tế phục vụ cho chiếntranh ở Liên Xô thời kỳ này, có thể rút ra một số bài học cơ bản sau đây:

Thứ nhất: Liên Xô đã không ngừng phát triển tiềm lực kinh tế, chủ động

xâydựng một nền kinh tế có kế hoạch, một cơ cấu kinh tế quân sự hợp lý phục vụcho nhu cầu chuẩn bị và tiến hành chiến tranh giữ nước

Thứ hai: Liên Xô đã tổ chức được một nền kinh tế có tính cơ động cao, có

khả năng chuyển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa sang hoạt động thời chiến cùng vớikhả năng to lớn trong việc huy động sức người, sức của và mọi khả năng có thểcủa đất nước nhanh chóng và kịp thời phục vụ cho chiến tranh

Thứ ba: Tổ chức bảo vệ có hiệu quả các trung tâm công nghiệp, kinh tế của

đất nước, tạo lập và duy trì nền sản xuất thời chiến có sức sống bền bỉ dẻo dai vàkhông ngừng được phát triển, hoàn thiện

Tiếc thay, sau chiến tranh nhiều năm, nền kinh tế Liên Xô vẫn giữ nhịp độ sảnxuất quân sự khá cao Theo đánh giá của các chuyên gia quân sự: nền kinh tế đócăn bản chưa phải là một nền kinh tế của thời bình, cơ cấu ngành chưa hợp lý đãlàm tốc độ phát triển kinh tế của nước này bị chậm lại, mất cân đối và khủnghoảng Để giữ thế cân bằng chiến lược đối với Mỹ và phương Tây, trong nhiềunăm Liên Xô phải sử dụng 12-17% GNP cho ngân sách quốc phòng( sovới » 6%của Mỹ) Đâylà một gánh nặng đối với nền kinh tế Liên Xô; cùng vớinhững sai lầm về chính trị, bế tắc trong cách giải quyết và nhiều nguyên nhân sâu

xa khác đã dẫn đến sự tan rã của Liên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô- viết vĩđại

Tuy nhiên những thành công trong hoạt động đảm bảo kinh tế cho chiến tranh

và những sai lầm hạn chế do chậm thay đổi thích ứng với điều kiện mới của nềnsản xuất quốc phòng ở Liên Xô chính là những bài học quý giá để chúng ta chọnlọc, rút kinh nghiệm, vận dụng trong quá trình tổ chức thực hiện ở nước ta

Trang 19

Một điển hình khác vừa gần gũi về mặt địa lý vừa có nhiều ý nghĩa tham khảođối với nước ta là cách thức tổ chức chuẩn bị và đảm bảo kinh tế cho quốc phòngcủa các nước thành viên ASEAN Ở các nước nay, hoạt động bảo đảm kinh tế chocác lực lượng vũ trang nổi lên ở một số dặc điểm sau:

1) Về nguồn thu cho quốc phòng

Giống như ở nhiều nước tư bản phương Tây và các nước thế giới thứ ba,nguồn kinh tế - tài chính cho quốc phòng ở các nước Hiệp hội Đông nam Á(ASEAN) phần lớn và chủ yếu thông qua ngân sách quân sự hàng năm của mỗinước Nhìn chung, chi phí quốc phòng ở các nước này đều ở mức trung bình vừaphải trong khả năng kinh tế cho phép (»3-4% GDP), không tạo ra khả năng kíchthích chạy đua vũ trang lớn và bảo đảm tính cân bằng ở mức độ nào đó giữa cácnước trong khu vực Trên cơ sở ngân sách quốc phòng và chiến lược phòng thủ,nhìn chung lực lượng vũ trang của các nước ASEAN đã có những tiềm lực đáng

kể Xingapo và Thái lan đã xây dựng được cơ cấu và khả năng tác chiến thôngthường; Malaixia, Inđônêxia, Philipin đang chuyển từ một lực lượng quân sựchuyên đối phó với các tranh chấp từ bên ngoài; Brunây đang tích cực tiến tới tựchủ hơn trong xây dựng kinh tế quân sự, lực lượng quân sự

Ngoài nguồn thu trên, cũng như ở nhiều nước khác trên thế giới, quân đội củacác nước ASEAN tạo thêm nguồn thu thông qua xuất khẩu vũ khí, chuyển giaomua bán công nghệ quân sự, sản xuất các mặt hàng kinh tế dân sinh và thực hiệncác dịch vụ khác Trong đó nổi bật là Xingapo và Malaixia được coi như nhữngnước tích cực tạo nên 1 trong 3 luồng chính xuất khẩu vũ khí trên thế giới

2) Về thực hiện đảm bảo kinh tế cho quốc phòng

Việc đảm bảo cơ sở vật chất nhằm duy trì , nuôi dưỡng và phát triển lựclượng vũ trang ở tất cả các nước ASEAN đều thông qua khu vực sản xuất quốcphòng Xương sống của hệ thống này là các doanh nghiệp nhà nước - được quản lýbằng các biện pháp kinh tế thông qua các hợp đồng sản xuất, dịch vụ Cùng với hệthống các doanh nghiệp này, trực thuộc quân đội còn có một bộ phận không nhiềucác công xưởng làm nhiệm vụ chủ yếu: bảo dưỡng, sửa chữa nhỏ và tham gia sảnxuất đạn bộ binh Nói cách khác hệ thống bảo đảm kinh tế cho quốc phòng ở cácnước ASEAN chủ yếu là khu vực sản xuất quốc phòng gồm 2 bộ phận: Một bộphần nhỏ trực thuộc quân đội và bộ phận lớn là các doanh nghiệp nhà nước đảm

Trang 20

nhiệm sản xuất, dịch vụ các hàng hóa quân sự và được thực hiện thông qua cơ chếthị trường Trong điều kiện hoà bình đây là một cách tổ chức có hiệu quả khôngnhững đáp ứng được yêu cầu chủ yếu là cung cấp cơ sở vật chất cho hoạt động củalực lượng vũ trang mà ở một số nước còn là nguồn sinh lợi lớn cho nền kinh tế nhưXingapo, Malaixia.

Có thể nói mỗi thành viên của ASEAN đều có những nét đặc thù riêng, đạtnhững thành tựu nhất định trong thực hiện bảo đảm kinh tế quân sự, mà Inđônêxia,

là một ví dụ khá điển hình

Ở Inđônêxia, Tổng thống là người có thẩm quyền tối cao quyết định chínhsách quốc phòng, an ninh, chiến lược trang bị cũng như quyết định các chươngtrình quốc phòng trọng điểm Điều hành, kiểm soát và tư vấn cho Tổng thống tronglĩnh vực sản xuất quốc phòng là các cơ quan liên bộ Ví dụ: trực tiếp tổ chức thựchiện các chương trình nghiên cứu, phát triển và sản xuất quốc phòng là các bộ:Quốc phòng và an ninh, Bộ nghiên cứu và công nghệ, Bộ Công nghiệp Các bộ này

có quan hệ ngang cấp, nhưng trong đó đóng vai trò chủ chốt là Bộ Quốc phòng và

an ninh Bộ này có nhiệm vụ đề xuất chiến lược và nhu cầu trang bị, chỉ đạo vàthẩm định RD và sản xuất quốc phòng; là khách hàng chủ yếu của khu vực sảnxuất quốc phòng và chỉ đạo, điều hành các cơ sở kinh tế quân sự thuộc quyền

Bộ nghiên cứu và công nghệ có nhiệm vụ đề xuất các chiến lược nghiên cứu,phát triển và công nghệ, trong đó có chiến lược: “Tự làm một phần, mua mộtphần” đồng thời là cơ quan quản lý, thực hiện và tổ chức thực hiện các chươngtrình nghiên cứu, phát triển và công nghệ có liên quan đến quốc phòng

Bộ công nghiệp có trách nhiệm quản lý 8 ngành công nghiệp chiến lược củaInđônêxia, trong đó có 4 ngành liên quan trực tiếp đến sản xuất quốc phòng: côngnghiệp hàng không, hàng hải, vũ khí-đạn, vật liệu nổ Ngoài ra, Bộ công nghiệpcòn có vai trò quan trọng mở rộng công nghiệp quốc phòng thông qua các cơ sởliên doanh, liên kết của công nghiệp quốc phòng với nước ngoài để tận dụng côngnghệ tiên tiến

Cùng với xu hướng phát triển nền kinh tế quân sự riêng của mỗi nước, hoạtđộng bảo đảm kinh tế cho các lực lượng vũ trang ở các nước ASEAN về phầntrang bị vũ khí công nghệ cao còn được thực hiện thông qua việc mua bán với cácnước tư bản phát triển, Trung Quốc và SNG Đây là một biện pháp có tác dụng tích

Trang 21

cực thúc đẩy công nghiệp quốc phòng ở các nước đó phát triển nhanh, đúng hướng,đẩy nhanh tốc độ hiện đại hoá quân đội, đồng thời qua đó cho phép nền kinh tế cácnước thành viên của ASEAN có thêm một hướng để tiếp nhận công nghệ tiên tiếntrên thế giới.

Như vậy mỗi loại hình hoạt động đảm bảo kinh tế cho quốc phòng trên thếgiới đều có những ưu điểm nhất định của nó Với phương thức thực hiện của cácnước ASAN có tác dụng rất rõ đối với nâng cao sức mạnh phòng thủ của các lựclượng vũ trang và phát triển kinh tế đất nước Tuy nhiên cách thức này đã hạn chếkhông nhỏ đến khả năng phát huy tính độc lập tự chủ; sức mạnh quốc phòng củatoàn dân, của cả nước và ở từng khu vực

Đây cũng chính là vấn đế chúng ta cần nghiên cứu có chọn lọc để công tácbảo đảm kinh tế cho quốc phòng ở nước ta thể hiện được tính ưu việt của chế độ xãhội chủ nghĩa, thích ứng nhanh với cơ chế kinh tế thị trường, phù hợp với tư duymới về bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới cũng như những đòi hỏi của nghệ thuậtchỉ đạo chiến tranh nhân dân và nền quốc phòng toàn dân Việt Nam

I.2 Những hạn chế, khó khăn của kinh tế nhà nước đối với việc bảo đảm kinh tế cho quốc phòng ở nước ta hiện nay

Kinh tế nhà nước ở nước ta đã và đang có vai trò to lớn trong nền kinh tếquốc dân cũng như trong việc bảo đảm kinh tế cho quốc phòng Tuy nhiên, chođến nay khu vực kinh tế này vẫn còn bộc lộ những hạn chế, những yếu kém cầnđược xem xét và khắc phục một cách kịp thời và triệt để Đây là vấn đề cấp báchnhằm xác lập và phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, góp phần thực hiệnthắng lợi đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủnghĩa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta

1.2.1 Năng suất, chất lượng, hiệu quả chưa cao

Ở đây tác giả chỉ đề cập đến những vấn đề có liên quan đến hoạt động bảođảm kinh tế cho quốc phòng của khu vực kinh tế này

Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, đòihỏi mỗi nhà sản xuất kinh doanh nhất thiết phải quan tâm đến hiệu quả kinh tế, đếnlợi nhuận Nhưng với kinh tế nhà nước khi chuyển sang cơ chế kinh tế mới, chưađáp ứng được yêu cầu đó

Trang 22

Trước hết, do sự phát triển tràn lan, vượt quá mức đáp ứng của nguồn vật lực,tài lực và khả năng điều hành quản lý kinh tế từ cấp vĩ mô đến vi mô đã dẫn đếnnhững bất cập của kinh tế nhà nước, nhất là ở những bộ phận không trực tiếp dotrung ương nắm Việc thành lập các cơ sở kinh tế nhà nước với số lượng lớn nhưnglại không được chuẩn bị kỹ càng về cơ cấu ngành, về điều kiện kinh tế- kỹ thuật,thiếu cơ sở khoa học đã gây nên những mất cân đối trầm trọng Nhiều ngành, nhiềulĩnh vực không nhất thiết Nhà nước phải nắm, nhưng vẫn khuyến khích phát triển

và chiếm tỷ lệ khá lớn Một số ngành không cần phải mở rộng như thương nghiệpnhưng vẫn chiếm tới 30% trong tổng số các đơn vị kinh tế quốc doanh Một sốngành sản xuất khác như sơn các loại chiếm 90%; xà phòng 70%; xăm lốp xe đạp88%; bóng đèn, phích nước, đồ hộp, gỗ dán, sợi 100% là của quốc doanh Tronglúc đó nhiều ngành nhiều lĩnh vực thiết yếu khác chỉ chiếm một tỷ lệ thấp chưatương xứng

Về kỹ thuật, phần lớn các xí nghiệp quốc doanh đều có sự đầu tư không cânđối và có sai lầm trong phương án lựa chọn Máy móc trang thiết bị- điều mà Mác

đã chỉ ra: “Các thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái

gì mà ở chỗ chúng sản xuất như thế nào và bằng phương tiện gì”(1) của nước ta ởtrình độ thấp, lạc hậu so với thế giới và chỉ chiếm 26% giá trị tài sản cố định, còncác bộ phận khác chiếm 74%, trong đó riêng nhà xưởng, vật kiến trúc đã chiếm tới36%(48) Như vậy, bộ phận tư liệu sản xuất trực tiếp tham gia vào quá trình tạo racủa cải vật chất cho xã hội chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng số vốn đầu tư

Sự mất cân đối trong tỷ lệ các yếu tố sản xuất cùng với yếu kém trong tổ chứcquản lý đã làm cho kinh tế nhà nước không phát huy được năng lực sản xuất của

nó Điều đó đã gây nên một sự lãng phí rất lớn trong hoạt động kinh tế Nhìn chungkhu vực kinh tế nhà nước chỉ mới huy động được 40-50% công suất thiết kế Nếunhư các nhà máy thuỷ điện của ta đạt trình độ khá thì các nhà máy nhiệt điện rấtlạc hậu, hiệu suất nhiệt cao nhất không quá 27-29% Cũng như thế, trong khi mứctiên tiến về sản xuất xi măng của thế giới là tiêu thụ 720 kilôkalo/1kg clinke, năngsuất lao động là 5000 tấn/1người/1năm thì ở ta các chỉ số tương ứng của nhà máy

xi măng Hoàng Thạch là khoảng 1000 kilokalo và 450 tấn(83) Để sản xuất ra mộtđơn vị sản phẩm, kinh tế nhà nước tiêu tốn một lượng nguyên vật liệu cao hơn sovới các thành phần kinh tế khác, cao gấp 2-3 lần so với mức trung bình tiên tiến

Trang 23

của thế giới Năng suất lao động thấp có nghĩa là hiệu quả kinh tế kém, gây nên sựthua lỗ kéo dài.

Chỉ riêng công ty dệt Nam Định, một trong những lực lượng chủ yếu củangành dệt Việt Nam có bề dày 106 năm truyền thống, cho đến nay vẫn chưa tìm rađược giải pháp thích hợp để thoát ra khỏi khủng hoảng Năm 1994 lỗ 24 tỷ, 3tháng, 4,5,6/95 lỗ 9,8 tỷ đồng, trong đó nợ ngân sách 31,6 tỷ Hàng năm công tydệt Nam Định phải giành 43 tỷ đồng trả lãi cho ngân hàng(29) Điều đó trong kinh

tế nhà nước còn biểu hiện rõ ở hệ số sinh lợi của vốn cố định chỉ đạt 7% năm, củavốn lưu động cũng chỉ đạt 11% năm Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế thìkhu vực kinh tế nhà nước phần nhiều chưa bảo đảm được tài sản rất giản đơn Sựtăng trưởng hàng năm của nó chủ yếu là gia tăng gấp bội lượng vốn và lao động

Số đóng góp cho Nhà nước của các doanh nghiệp ở đây chỉ bằng 1/3 ngân sách chicho nó(55) Năng suất lao động, hiệu quả kinh tế kém chính là nguyên nhân trựctiếp tạo nên nguy cơ tụt hậu của nền kinh tế nước ta so với thế giới Theo tính toáncủa các chuyên gia kinh tế, đến năm 2000 khi nước ta phấn đấu đạt thu nhập bìnhquân 400USD/người-nghĩa là gấp 2 lần 1990, thì cũng thời gian đó Thái lan đã đạtđược 2500 so với 1200 USD/người của năm 1990 Nếu như tốc độ tăng trưởngGDP hàng năm của Trung Quốc là 13-14% thì năm cao nhất của ta-1995 cũng chỉmới đạt 9,5% Cùng với tốc độ phát triển nhanh, mạnh của nền kinh tế, TrungQuốc còn là một trong số rất ít nước vẫn tiếp tục tăng chi phí cho quốc phòng (hiệnchiếm »10% ngân sách hàng năm) và là một trong những mối đe dọa trực tiếp đốivới an ninh khu vực Đông Nam châu Á

Bên cạnh đó, sản phẩm hàng hóa của kinh tế nhà nước chưa đáp ứng đượcyêu cầu chất lượng, thị hiếu của người tiêu dùng Người mua luôn quan tâm đếngiá trị sử dụng, đến sự luôn luôn đổi mới, và đa dạng và phong phú, đến hình thức,mẫu mã và giá cả của hàng hóa sẽ khó được thực hiện khi không đáp ứng được cácnhu cầu của thị trường Vì vậy, một thời gian khá dài chúng ta không giải quyếtđược tình trạng hàng hóa ứ đọng, tồn kho, không thu hồi được vốn để quay vòngtái sản xuất Trong tổng số khối lượng sản phẩm của kinh tế quốc doanh chỉ có15% đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, 70% đạt tiêu chuẩn nội địa và 15% chất lượngkém(49)

Chúng ta biết rằng, trong lĩnh vực quốc phòng yêu cầu về chất lượng sảnphẩm được đặt ra rất nghiêm ngặt Nó phải được đảm bảo dùng bền, lâu dài, chịu

Trang 24

đựng được nhiều thử thách khắc nghiệt của thời tiết, thời gian , của hoạt độngcường độ cao, va đập mạnh và của các tác nhân nhân tạo Đặc biệt ở một số loạisản phẩm quân sự không cho phép rút kinh nghiệm lần 2 khi sử dụng, như cácphương tiện khí tài chính xác, bom mìn, vật liệu nổ, v.v chỉ như vậy mới tạo đượcyếu tố lòng tin cho người sử dụng, tiết kiệm xương máu và nâng cao hiệu xuấtchiến đấu trên chiến trường, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ quân sự đặt ra Chấtlượng sản phẩm kém là nỗi đau của kinh tế nhà nước, nâng cao chất lượng sảnphẩm là đòi hỏi tất yếu của sản xuất kinh doanh và là yêu cầu bắt buộc nhằm phục

vụ cho quốc phòng

Như vật, thực tiễn của nền kinh tế đất nước nói chung, kinh tế nhà nước nóiriêng vẫn còn là một bài toán khó ở nước ta để tăng nguồn thu cho ngân sách, bảođảm chi phí tối thiểu cho các nhu cầu hoạt động của các lực lượng vũ trang trongbảo quản sửa chữa vũ khí, trang bị, trong huấn luyện và trong sẵn sàng chiến đấu

1.2.2 Trình độ thấp kém của trang thiết bị kỹ thuật

Một trong những khó khăn, yếu kém quan trọng làm hạn chế đến năng lực sảnxuất và phát triển kinh tế, cũng như tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao choquốc phòng là trình độ công nghệ của kinh tế nhà nước phần nhiều còn lạc hậu, cũkỹ

So với mặt bằng chung của trình độ hiện tại trong phạm vi khu vực và trên thếgiới, chất lượng trang thiết bị kỹ thuật của ta còn thua kém xa Trong lĩnh vực côngnghiệp, trang thiết bị, công nghệ cũ của ta còn chiếm tới hơn 62%(72) Nếu nhưnền công nghiệp thế giới đã phát triển qua 7 giai đoạn, thì ở ta còn ở giai đoạn sơkhai I, II (85) Lấy ví dụ, ngành cơ khí của ta chỉ tương đưong với thời kỳ cách đây30-50 năm của các nước trung bình trên thế giới, còn nếu so với các nước pháttriển cao thì đi sau 50-100 năm (85) Nếu ở Tổng cục Bưu điện với một thời gianrất ngắn đã đưa vào khai thác các phương tiện thông tin liên lạc hiện đại và rất hiệnđại: cáp quang, vệ tinh viễn thông, vi ba dải rộng , thì ở nhiều ngành kinh tế kháccủa chúng ta kỹ thuật còn lạc hậu từ 2-4 thế hệ so với thế giới Bên cạnh một sốnhà máy, xí nghiệp chỉ sau 3-4 năm đã hoàn vốn và có lãi thì hầu hết các cơ sởkhác của kinh tế nhà nước phải hàng chục năm sau mới khấu hao xong Chỉ tínhriêng giai đoạn từ 1975 đến 1990, trình độ đổi mới công nghệ các doanh nghiệpnhà nước chỉ mới đạt bình quân 3% năm (72)

Trang 25

Điều đáng chú ý ở đây là, không chỉ lạc hậu về mặt trình độ, tính hỗn tạp,chắp vá, không đồng bộ của máy móc thiết bị đã cản trở không ít đến khả năngthay thế phụ tùng, đến chất lượng, hiệu quả sản xuất Trong số 1217/ 2292 doanhnghiệp nhà nước được khảo sát đều có hỗn hợp thiết bị của hơn 20 nước sản xuất(77) Chính vì vậy, rất nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đã lên tiếngcảnhbáo nguy cơ “bãi rác công nghệ” ở nước ta Do nhiều nguyên nhân: kém khả năngtìm nguồn lựa chọn, tiếp nhận cùng với hiện tượng vụ lợi trong mua nhập trangthiết bị, đến nay vẫn chưa cải thiện căn bản được tình hình trên Giống như tìnhtrạng chung của các nước kém phát triển, đang phát triển, Việt Nam đang trở thànhnơi thu hút chuyển giao công nghệ mạnh mẽ và cũng nhiều bất cập: công nghệ thế

hệ cũ, không đồng bộ, bị thải loại vẫn chính là một trong những nguyên nhântrực tiếp đưa đến khả năng kìm hãm sự phát triển ở nước ta

Có thể nói rằng, với trình độ chung như vậy của trang thiết bị kỹ thuật, cùngvới năng lực quản lý, điều hành kinh tế còn nhiều non kém, lại chưa thoát ra hẳn

cơ chế quan liêu bao cấp và nhiều nguyên nhân cơ bản quan trọng khác đã đặtnước ta vào nguy cơ tụt hậu về kinh tế Hơn nữa, trình độ lạc hậu của công nghệ

sẽ gây không ít khó khăn cho chúng ta vươn lên từ sản xuất các loại trang bị, vũkhí, khí tài hiện đại, tiếp cận với kỹ thuật quân sự tiên tiến trong khu vực, trên thếgiới, cũng như tìm ra những phương pháp phòng chống có hiệu quả sức tàn phácủa vũ khí công nghệ cao

Đây là vấn đề không chỉ phổ biến ở các doanh nghiệp nhà nước, ở các xínghiệp quốc phòng cũng có tình trạng trên Để sản xuất các sản phẩm mới, nhiềunhà máy quốc phòng với phần lớn máy móc cũ kỹ, lạc hậu đã không đáp ứng đượcviệc tiến hành sản xuất các hàng hóa được giao có tính chất pháp lệnh, hoặc hạnchế việc lắp ráp đồng bộ đúng thời gian Trong khi đó, nhiệm vụ đặt ra cho côngnghiệp quốc phòng ngày càng nặng nề, với yêu cầu ngày càng cao Rõ ràng vớitrình độ trang thiết bị hiện có, các xí nghiệp quốc phòng của chúng ta khó có khảnăng thực hiện được các nhiệm vụ sản xuất quân sự

I.2.3 Quy mô tổ chức và trình độ cán bộ quản lý kinh tế nhà nước theo kịp yêu cầu

Kinh tế nhà nước luôn mang ý nghĩa là mô hình của một phương cách làm ănmới, làm ăn lớn nhưng trên thực tế, phần nhiều còn tổ chức manh mún Kinh

Trang 26

nghiệm của các nước phát triển chỉ ra rằng, các xí nghiệp vừa và nhỏ rất năng độngtrong chuyển đổi sản xuất, thích ứng nhanh với đòi hỏi của thị trường, cho phép cảitiến từng bộ phận hoặc đổi mới công nghê toàn bộ một cách dễ dàng, tạo ra khảnăng cạnh tranh to lớn hơn, sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn Ngược lại ởnước ta số xí nghiệp nhỏ và quá nhỏ hiện đang chiếm một lượng rất lớn (101)nhưng lại không có các lợi thế trên và đang là bộ phận của kinh tế nhà nước làm ănkém hiệu quả nhất, đóng góp ít nhất cho nguồn thu nhà nước Trên thưc tế, cókhoảng 5% các doanh nghiệp lớn hàng đầu đã đóng góp cho ngân sách 80% trongtoàn bộ số thu từ kinh tế nhà nước Chính những thế yếu tự thân như lượng vốnquá ít, thiếu thông tin; thiếu người quản lý có năng lực; thiếu khả năng nghiên cứucải tiến kỹ thuật và áp dụng các thành tựu mới của khoa học và kỹ thuật vào sảnxuất, không đủ sức để thực hiện các mục tiêu kinh tế đã định; bất lợi trong liêndoanh , liên kết với các doanh nghiệp lớn hơn đã hạn chế tính năng động linhhoạt vốn có của các loại hình xí nghiệp vừa, nhỏ và quá nhỏ Điều đó không chỉảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của bản thân các doanh nghiệp nói trên mà còn gâykhó khăn rất lớn khi tham gia thực hiện các đơn đặt hàng quân sự của các lựclượng vũ trang với yêu cầu cao về chỉ số kỹ thuật, nghiêm ngặt về chất lượng sảnphẩm cũng như số lượng, chủng loại và thời gian hoàn thành sản phẩm.

Nếu trong chiến tranh, tính chất nhỏ lẻ của các nhà máy, xí nghiệp là một hìnhthức phân tán bảo đảm an toàn có hiệu quả cho sản xuất, thì trong thời bình lại làmột trở lực to lớn cho việc phát triển sản xuất tập trung, tạo ra thế và lực cần thiếttrong hoạt động kinh tế

Về mặt tổ chức lao động, tính chất manh mún đã không tiết kiệm được sốngười gián tiếp phục vụ cho sản xuất kinh doanh do tạo nên một bộ máy quản lý,điều hành kinh tế có mặt ở khắp các cơ sở Xét trên góc độ bảo đảm nhân lực choquốc phòng, câu trả lời cho các loại hình tổ chức kinh tế này là khó thực hiện được,không chỉ trong huy động phục vụ cho chiến tranh mà ngay trong tổ chức huấnluyện, thực hiện các nhiệm vụ quân sự của thời bình

Như vậy, cả về yêu cầu phát triển kinh tế lẫn đáp ứng nhu cầu quốc phòng,các doanh nghiệp nhà nước (kể cả các doanh nghiệp quân đội) nếu vẫn với hìnhthức tổ chức quá nhỏ bé như hiện nay sẽ không đủ khả năng thực hiện được nhiệm

vụ của mình

Trang 27

Vấn đề cán bộ là nguyên nhân của mọi nguyên nhân Khi đã có được chủtrương, hướng đi đúng cho kinh tế nhà nước, công tác tổ chức thực hiện có ý nghĩaquyết định đến hiệu quả của nó Bên cạnh sự năng động của không ít nhà kinhdoanh có tài, có tâm huyết, một bộ phận không nhỏ các giám đốc, các nhà quản lýcủa ta vẫn còn tâm lý ỷ lại, thiếu tận tuỵ với công việc, chưa đáp ứng được nhữngyêu cầu về phẩm chất và năng lực trước đòi hỏi của kinh tế thị trường Không pháthuy được nội lực của chính doanh nghiệp, thì dầu nhà nước, các cấp, các ngànhhữu quan quan tâm, hỗ trợ bao nhiêu đi chăng nữa vẫn không thể xoay chuyểnđược tình hình, làm sản xuất phát triển Điều đó trách nhiệm trước hết thuộcvề ai -nếu không phải là các giám đốc, đội ngũ kế toán, các chuyên gia kỹ thuật và tất cảcác cán bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể của nhà máy, xí nghiệp ? Nếu như tổngkết năm 1993 cả Hà Nội chỉ tìm ra được bảy gương mặt các giám đốc giỏi thì con

số đó cho đến nay vẫn chưa được cải thiện bao nhiêu Số cán bộ cũ ít nhiều có kinhnghiệm trong tổ chức quản lý, điều hành kinh tế nhưng phần nhiều thiếu kiến thức

cơ bản, chậm tiếp cận với kiến thức mới, kém nhanh nhạy trong nắm bắt các tínhiệu của thị trường, thiếu kịp thời có biện pháp để nhà máy, xí nghiệp mình đápứng được yêu cầu mới mẻ đó Số khác được đào tạo lại và đào tạo cơ bản, trẻ,khoẻ, năng nổ, nhiệt tình nhưng chưa kịp có môi trường trải nghiệm nên hiệu quảcông việc chưa cao

Một hiện tượngkhá phổ biến là không phải bao giờ quần chúng cũng giám sátđược hoạt động của giám đốc, đã dẫn đến tình trạng đặc quyền, đặc lợi của các

“ông chủ” đại diện của Nhà nước Thông thường Nhà nước đi vay của nước ngoài

để đầu tư cho các doanh nghiệp của mình (khoảng1 tỷUSD/năm), nhưng lại bị cácnhà quản lý sử dụng tuỳ tiện và có khi không phải vì mục đích sản xuất Với lẽ đó,trong kinh tế nhà nước đã nảy sinh ra hiện tượng mua bán chụp giật, vòng quanh,tham ô móc ngoặc, kinh doanh bất hợp pháp Trong nhiều trường hợp vì lo kiếmtiền cho cá nhân mà coi nhẹ lợi ích chung Hậu quả là, không ít nhà máy, xí nghiệp

nợ nần chồng chất và trở thành con nợ lần khân lẫn nhau và với Nhà nước đã dẫndến tình trạngmất khả năng thanh toán hoặc bị giải thể

Cán bộ là người “cầm cân nẩymực” trong giải quyết các mối quan hệ và cáclợi ích kinh tế Tuy vậy, vẫn còn tình trạng phân phối trong các doanh nghiệpkhông phù hợp với kết quả sản xuất kinh doanh đã dẫn đế sự chênh lệch, bất côngquá lớn về thu nhập thực tế giữa cán bộ với công nhân viên chức Điều đó còn thể

Trang 28

hiện rõ trong hạch toán kinh tế ít phản ánh đúng chi phí sản xuất hợp lý, hơn 60%trong tổng số lợi nhuận để lại cho doanh nghiệp giành cho phúc lợi mà trong đóchủ yếu là quỹ khen thưởng lại sử dụng tuỳ tiện Một bộ phận không nhỏ nhữngngười có chức, có quyền luôn lo nghĩ đến hợp lý hóa việc móc hầu bao vốn đã ít ỏicủa Nhà nước nhiều hơn là chuyên tâm chăm lo phát triển sản xuất Nạn thamnhũng vẫn đang là điều nhức nhối và trong nhiều trường hợp ngày càng tinh vihơn, trầm trọng và nguy hiểm hơn Nó không chỉ tác hại trực tiếp đế sản xuất kinhdoanh mà còn ảnh hưởng đến uy tín của kinh tế nhà nước, đến bộ máy quản lý và

cả bộmáy tổ chức lãnh đạo các cấp của Đảng và chính quyền Chỉ tính riêng về các

vụ án kinh tế, 8 tháng đầu năm 1994 cơ quan điều tra đã phát hiện được 583 vụ,gây thiệt hại 196 tỷ đồng, đã khởi tố 243/430 bị can ,t rong đó có 7 Tổng giám đốc,

66 giám đốc và phó giám đốc công ty (32)

Cùng với hiện tượng trên, có thể nóit thêm những khiếm khuyết của kinh tếnhà nước trong việc bảo toàn và phát triển vốn do đội ngũ cán bộ kế toán gây ra.Đối với các doanhnghiệp nhà nước thiếu vốn là một căn bệnh trầm trọngvà triềnmiên kéo dài Thiếu vốn không những đã gây khó khăn rất lớn trong việc khắcphục tình trạng làm ăn sa sút của cá doanh nghiệp kém hiệu quả, thiếu vốn còn “bótay” các doanh nghiệp đang ăn nên làm ra mong muốn mở rộng phát triển sản xuất

Do khó khăn của nền tài chính nên lượng vốn đầu tư được cấp xuống thường là ít,nhỏ giọt, tronglúc đó lại không được bảo toàn sử dụng tốt Mặc dù đã có pháp lệnh

về kế toán và thống kê, pháp lệnh về hợp đồng kinh tế nhưng tình trạng kế toán,thống kê cũng như hợp đồng về kinh tế hiện nay vẫn còn quá nhiều thiếu sót vàchậm tiến bộ Nhiều kế toán trưởng không những không bảo vệ được lợi ích củaNhà nước mà một bộ phận không nhỏ đã thoái hoá, biến chất, xâm phạm lợi ích đótrực tiếp hoặc gián tiếp Việc bảo vệ tài sản chung không sớm được khuyến khíchbằng vật chất, thậm chí không bảo đảm được uy tín , công ăn việc làm cho nhữngngười lao động công thực Từ đó, Nhà nước không những bị thất thu do khôngkiểm soát được thu nhập của các doanh nghiệp mà còn bị mất đi những đồng vốn

bỏ ra cho các doanh nghiệp của mình.

Bên cạnh những hạn chế về năng lực, một số không ít cán bộ của các doanhnghiệp nhà nước đã thoái hoá biến chất trước cám dỗ của kinh tế thị trường Cùngvới những tiêu cực về kinh tế, ít nhiều đã được đề cập đến ở trên, những cán bộ cóchức có quyền này lại không ngần ngại sử dụng công quỹ mua sắm phương tiện đi

Trang 29

lại, sửa chữa nhà cửa, tân trang nội thất chưa cần thiết cũng như vung tiền bạc “củachùa” để giải trí, ăn chơi vô cùng tốn kém.

Bao cấp kéo dài, tệ quan liêu và biết bao tiêu cực khác đã dẫn đến hiện tượngthiếu công tâm, trung thực trong cất nhắc, đề bạt cán bộ Một số người phạm pháp,

có “ô dù” che chắn vẫn tiếp tục lộng hành, thậm chí còn được đưa lên đảm nhậncác trọng trách cao hơn Số khác, thiếu năng lực, mất lòng tin trước quần chúngvẫn không được xử lý kịp thời Thiếu một đội ngũ cán bộ tài ba, có tâm huyết, gắn

bó với doanh nghiệp, cùng với thiếu vốn, thiếu công nghệ hiện đại và nhất là thiếuquyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, chưa đoạn tuyệt hẳn cơ chế quản lý quanliêu bao cấp chưa thích ứng với cơ chế kinh tế thị trường là những nguyên nhânlàm ảnh hưởng đến vai trò và sức mạnh của kinh tế nhà nước

I.2.4 Xây dựng và phát triển các cơ sở kinh tế nhà nước chưa thực sự kết hợp tốt với quốc phòng- an ninh

Nội dung kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được thể hiện trên nhiềumặt, ở đây tác giả chỉ muốn nêu lên một số tồn tại chủ yếu trong xâydựng và pháttriển của kinh tế nhà nước đối với vấn đề này

Thứ nhất, cho đến nay kinh tế nhà nước còn phân bổ chưa hợp lý theo các

vùng lãnh thổ Việc bố trí các cơ sở kinh tế nhà nước theo vùng lãnh thổ , bảo đảmkết hợp kinh tế- quốc phòng- an ninh sẽ tạo nên tiềm lực kinh tế, quốc phòng tổnghợp, vừa có lợi về kinh tế- xã hội, vừa tăng cường sức mạnh chiến đấu và khả năngbảo đảm hậu cần tại chỗ khi xảy ra chiến tranh Đây là một nội dung có ý nghĩakinh tế, quân sự, văn hoá- xã hội cơ bản, lâu dài tạo ra tế trận vững chắc của nềnquốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân Tuy vậy, hiện nay các cơ sở kinh tếnhà nước của ta tập trung chủ yếu vẫn là ở các thành phố lớn Một mặt, có lợi thếrất cơ bản cho sản xuất, cho lưu thông phân phối, cũng như thu hút đầu tư và mởrộng quan hệ kinh tế với nước ngoài (104) Những mặt khác, chính sự phân bổthiếu hợp lý đã hạn chế không ít đến việc tận dụng, khai thác các tiềm năng, thếmạnh ở từng lĩnh vực, từng ngành sản xuất; hạn chế đến thúc đẩy nhanh quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương, tạo công ăn việc làm, phát triển văn hoá,

mở mang dân trí, cũng như giải quyết các vấn đề xã hội khác Thực tế chỉ ra rằng,

do thiếu các trung tâm công nghiệp, các cơ sở kinh tế của nhà nước lớn mạnh ở cácvùng núi, vùng cao nên đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc, Tây nguyên, miền

Trang 30

Trung đất nước, miền Tây Nam Bộ vẫn còn nhiều khó khăn thiếu thốn và có nơivẫn chưa thoát khỏi đói nghèo (108) Chẳng hạn, do chưa tìm được lối ra làm ăn cóhiệu quả mà nhiều nơi còn chưa thoát khỏi độc canh, du canh và nhân dân 19 xãhuyện Kỳ Sơn- Nghệ An vẫn là vùng đất trồng cây thuốc phiện lớn nhất ở miềnBắc nước ta (64) Đặc biệt là việc xây dựng, phát triển kinh tế biển và hải đảo chưađược chú ý quan tâm đúngmức Nếu như chúng ta sớm có những đội, những tậpđoàn đánh bắt hải sản lớn mạnh có khả năng hoạt động xa, dài ngày chắc chắnnguồn thu từ biển sẽ tăng lên và việc bảo vệ tài nguyên biển, chủ quyền biển và hảiđảo sẽ tốt hơn cũng như giải quyết các vụ tranh chấp đỡ phức tạp hơn, an ninh chonhân dân vùng biển cũng hiệu quả hơn.

Thứ hai, một vấn đề quan trọng khác nhưng chưa được giải quyết thoả đáng là

khi xây dựng các cơ sở kinh tế nhà nước nhiều lúc chúng ta chỉ chú ý đến quyếttâm “làm bằng được” mà chưa quan tâm đầy đủ đến môi trường sinh thái, đến cáclợi ích của nhân dân địa phương Để xây dựng thuỷ điện Hoà Bình, chúng ta phảichuyển dân đến nơi làm ăn sinh sống mới, nhưng việc đền bù quá ít ỏi, chưa bảođảm tốt việc ổn định đời sống và phát triển sản xuất, đến đi lại, học hành cho nênmột thời gian sau họ lại phải quay về xung quanh chốn cũ Có thể có nhiều lý dochính đáng, nhưng tình trạng nhân dân lòng hồ một thời gian dài vẫn chưa có điệnthắp sáng kể từ khi đưa điện sông Đà hoà vào lưới điện quốc gia không chỉ là mộtthiệt thòi lớn cho người dân sở tại mà còn là một thiếu sót lớn của kinh tế nhànước, của các ngành, các cấp chính quyền Đây cũng là một yếu tố rất cơ bản làmgiảm đi sức mạnh của trận địa lòng dân trong việc bảo vệ tài sản chung, ủng hộNhà nước mở mang phát triển các cơ sở mới của kinh tế nhà nước ở những nơi cầnthiết “Làm bằng được” nhưng thiếu quan tâm đầy đủ đến những vấn đề xã hội,đến những nhu cầu thường nhật và những đòi hỏi bức xúc của đời sống con người

đã gây khó khăn cho việc phân bổ lại lực lượng lao động, mở mang khu kinh tếmới và bảo đảm tính hiệu quả cho kinh tế nhà nước Chính vì vậy, tình trạng cácnông, lâm trường, các kho chiến lược, các đội giao thông mở đường vốn phần đông

là nữ thanh niên lại đứng chân trên các vùng xa, vùng sâu sâu heo hút rất khó khăncho việc xây dựng gia đình, ổn định cuộc sống riêng đã kéo dài hậu quả không chỉ

về kinh tế mà cả mặt tâm lý- xã hội

Thứ ba, trong xây dựng và phát triển mới một số ngành, một số công trình

chưa kết hợp tốt hiệu quả kinh tế với các yêu cầu của quốc phòng- an ninh Một số

Trang 31

ngành kinh tế trọng điểm cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng,

an ninh: cơ khí, giao thông vận tải, khai thác hải sản, bưu chính viễn thông, lâmnghiệp, công nghiệp quốc phòng Những công trình có tính lưỡng dụng phải thểhiện được sự kết hợp ngay trong quá trình xâydựng đến thiết kế thi công (như cầutrên các đường quốc lộ, các tuyến giao thông quan trọng, các cơ sở sửa chữa lớnhoặc đóng mới tàu biển, ô tô, máy kéo ) Trên thực tế, do chưa quán triệt sâu sắc

tư tưởng kết hợp trên mà ở tầm vĩ mô, trong kế hoạch thực hiện vẫn còn mang tínhchắp vá, thiếu hệ thống đồng bộ, thiếu toàn diện Chúng ta từng thấy năng lực vậntải của quốc doanh và tự hào về nó Nhưng bên cạnh đó chúng ta vẫn chưa thoátkhỏi những bế tắc về phương tiện kỹ thuật, về cung cách làm ăn, tác phong phục

vụ, về điều hành quản lý cũng như khai thác thị trường Chỉ tính riêng việc xâydựng, sửa chữa các tuyến đường bộ, đường sắt, ở nước ta vẫn đang trong tình trạnggiật gấu vá vai Hạ tầng cơ sở (vốn được các nhà kinh doanh nước ngoài phàn nànnhư là một trong những cản trở lớn nhất để họ đầu tư vào Việt Nam) chưa đáp ứngđược yêu cầu hiện tại, càng không thể bảo đảm điều kiện phát triển nền kinh tếtương lai Số liệu thống kê cho thấy, tổng số chiều dài của đường sắt là 3.259,5

km, nhưng 87,8% là đường khổ hẹp, nền đường kém, không đồng bộ và một hệthống biển báo, điều khiển còn lạc hậu Các đầu máy, toa xe không những chưađược chạy điện mà còn quá cũ kỹ, tiện nghi quá thiếu thốn Phần đường bộ chỉ có8,5% đường nhựa và bê tông nhựa; 6,4% đường đá; 19,7% đường cấp phối, còn lại65,4% là đường đất (28) Nếu như có được cách nhìn tổng thể, và phong cách làm

ăn lớn chắc hẳn chúng ta sẽ loại bỏ được nhiều biển báo tốc độ tối đa 5km/h; trọngtải tối đa 10 tấn trên những trục đường, những cây cầu, để xây dựng con đường,những cây cầu hiện đại Và như thế, chắc chắn hiệu quả kinh tế sẽ cao hơn, đỡ phảiphá đi làm lại, tiết kiệm hơn, cũng đỡ ùn tắc giao thông hơn và khi có chiến tranhđảm bảo thông suốt cho vận tải nặng, cho cơ động nhanh binh khí kỹ thuật của cáclực lượng vũ trang

Thứ tư, ngoài những hạn chế trên, khi phát triển và tiếp nhận công nghệ mới

chúng ta chưa thực sự chú ý đến tính lưỡng dụng của thiết bị kỹ thuật, vừa đáp ứngđược các mục tiêu phát triển kinh tế quốc dân vừa phục vụ các yêu cầu an ninh,quốc phòng Việc bảo đảm kinh tế cho hoạt động của lực lượng vũ trang ở nước ta,trực tiếp thông qua khu vực kinh tế quân sự mà bộ phận quan trọng nhất là côngnghiệp quốc phòng Về thực chất, công nghiệp quốc phòng không tách biệt công

Trang 32

nghiệp dân sinh, nó được nâng cao và chuyên môn hoá để sản xuất ra các sản phẩmquân sự Công nghiệp quốc phòng gắn bó mật thiết với toàn bộ nền công nghiệpcủa đất nước, như công nghiệp hàng không, đóng tàu, sản xuất ô tô-máy kéo, thôngtin liên lạc, điện tử tin học, hoá chất, vật liệu nổ Mỗi ngành đều có thể đồng thờivừa sản xuất hàng hoá cho quốc kế dân sinh, vừa sản xuất hàng hoá cho hoạt độngquân sự hoặc khi cần thiết, có thể chuyển một bộ phận hay toàn bộ dây chuyềncông nghệ sang phục vụ cho quốc phòng Chính do sự thiếu kết hợp chặt chẽ đótrong phát triển và tiếp nhận công nghệ đã hạn chế khả năng lựa chọn, tận dụngmột phần kỹ thuật phục vụ cho công nghiệp quốc phòng, hạn chế khả năng sảnxuất các mặt hàng cần thiết cho lực lượng vũ trang.

Thứ năm, trong đào tạo sử dụng cán bộ chưa thực hiện tốt nhiệm vụ kết hợp

với an ninh, quốc phòng Đây là một nội dung kết hợp có ý nghĩa chiến lược rất cơbản, lâu dài và có hiệu quả cao cho cả hai lĩnh vực kinh tế và quân sự Trên thực tế,kinh tế nhà nước có thực hiện tốt nhiệm vụ phục vụ quốc phòng hay không còn tuỳthuộc rất nhiều vào phẩm chất, năng lực toàn diện của đội ngũ cán bộ lãnh đạo,quản lý Về kinh tế, họ có vait rò quyết định trong tổ chức, điều hành nhà máy, xínghiệp, phát triển sản xuất, tăng sức mạnh của cải vật chất sẵn sàng phục vụ choquốc phòng Về quân sự, đây là đội ngũ cần có phẩm chất chính trị vững vàng, cókiến thức, kinh nghiệm và khả năng tổ chức chỉ huy chuyển đổi hoạt động kinh tếphục vụ nhu cầu quân sự, bảo đảm hậu cần, trang bị cho lực lượng vũ trang cũngnhư tổ chức chỉ huy lực lượng tự vệ, đánh địch tại chỗ Thực trạng tình hình chothấy vẫn còn nhiều bất cập giữa năng lực, tư duy kinh tế với tư duy kết hợp kinh tếvới an ninh, quốc phòng của đội ngũ cán bộ này Những lo toan thường nhật tronghoạt động sản xuất kinh doanh đã làm mờ đi nhu cầu bổ sung những kiến thức vềquân sự, những nhiệm vụ quân sự mà họ phải đảm đương do chính nhu cầu củacông cuộc xây dựng kiến thiết phải gắn liền với công tác bảo vệ nó ngay chính tạicác cơ sở kinh tế

Thứ sáu: Kinh tế nhà nước chưa làm tốt công tác bảo đảm và sẵn sàng chiến

đấu tại chỗ cũng như trong phối hợp với các lực lượng vũ trang thực hiện cácnhiệm vụ quân sự

Bên cạnh những cơ sở kinh tế nhà nước thường xuyên chăm lo đến huấnluyện quân sự, sẵn sàng cơ động và chiến đấu, một số không ít các doanh nghiệpnhà nước vẫn chỉ chú trọng đến chức năng sản xuất kinh doanh Trong lúc cả nước,

Trang 33

ở từng khu vực phòng thủ, tỉnh , huyện, xã lần lượt tập dượt các phương án chiếnđấu thì nhiều nhà máy, xí nghiệp quốc doanh vẫn còn lo tháo gỡ trong tổ chức hoạtđộng kinh tế, chưa quan tâm đúng mức đến huấn luyện, diễn tập giải quyết nhữngvấn đề kinh tế- xã hội như chống thiên tai, hoả hoạn, cứu nạn nhân dân, chống bạoloạn, cũng như phối hợp với các lực lượng quân đội, công an trong những nhiệm

vụ khác

Theo chúng tôi, chỉ có kết hợp tốt giữ mục tiêu kinh tế và những yêu cầu của

an ninh- quốc phòng thì nền kinh tế đất nước nói chung, kinh tế quốc doanh nóiriêng mới có cơ sở vững chắc để phát triển đi lên; mới bảo đảm được “dân giàunước mạnh”, “nước mạnh quân hùng”; mới bảo vệ được độc lập dân tộc và xâydựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta

I.2.5 Những khó khăn về cơ chế bảo đảm kinh tế c ho quốc phòng ở nước

Thứ nhất, như đã trình bày, bảo đảm kinh tế cho quốc phòng là hoạt động

thường xuyên của Nhà nước Nhà nước, để nuôi dưỡng lực lượng vũ trang, duy trìhoạt động quân sự và chuẩn bị kinh tế cho chiến tranh, trên cơ sở ngân sách hàngnăm thực hiện các nội dung của nó thông qua cơ chế thị trường

Cơ chế thị trường là tổng thể hữu cơ các nhân tố kinh tế: cung, cầu, giá cả;trong đó người tiêu dùng, nhà sản xuất tác động lẫn nhau thông qua thị trường đểxác định 3 vấn đề cơ bản: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai?Theo đó, Nhà nước xã hội chủ nghĩa có thể đặt hàng, mua trực tiếp (cả trong lẫnngoài nước) các sản phẩm hàng hoá phục vụ quốc phòng Những vấn đề về yêu

Trang 34

cầu chủng loại, số lượng bao nhiêu, chất lượng như thế nào, giá cả ra sao, cáchthức thanh toán, địa điểm giao hàng, thời gian giao nhận đều được thống nhất thoảthuận trong đơn đặt hàng.

Tuy nhiên về phía Nhà nước, vai trò khách hàng đối với các cơ sở kinh tế củamình không phải không có vấn đề Đáng ra trong điều kiện tài chính của các bạnhàng hạn hẹp, tìm kiếm bạn hàng, tiếp thị có khó khăn, Nhà nước phải là bạn hàngtin cậy, “đánh giá” và được các doanh nghiệp hướng ưu tiên chú ý vào Song thực

tế, tình hình trên có lúc, có nơi hoàn toàn ngược lại- nhất là đối với các sơ sở kinh

tế Nhà nước độc quyền

Nhà nước và các cơ quan liên quan như: Uỷ ban kế hoạch nhà nước, Bộ quốcphòng, Bộ nội vụ, Bộ thương mại là những người đứng ra đặt hàng, mua hàngcho các lực lượng vũ trang Chỉ tính riêng phần cung cấp trong nước, không phải

cơ sở kinh tế nào cũng muốn bán hàng cho các cơ quan trên do những thủ tụcphiền hà, chậm chạp và không phải lúc nào cũng được thanh toán ngay để họ quayvòng sản xuất Chính cách đặt hàng, mua hàng vừa có tính hành chính pháp lệnh,vừa mang yếu tố kinh tế thị trường và nhất là cách mua hàng thông qua trừ nợ đãgây không ít khó khăn cho bên sản xuất

Tình trạng các đơn đặt hàng của Nhà nước không đều, với giá quá rẻ, thanhtoán chậm không những ảnh hưởng đến người lao động mà còn ảnh hưởng đếnngân sách đầu tư của Nhà nước Qua khảo sát ở nhà máy Z131, trong khi trên thịtrường, có thời kỳ mỗi hòm gỗ đựng đạn B40 có thể bán được 30.000 đồng, Nhànước vẫn duy trì giá 6.000 đ/ một chiếc Cũng chính do đơn đặt hàng thất thườngnên dây chuyển sản xuất hộp tiếp đạn AK ở một nhà máy quốc phòng phải tái đầu

tư thêm 150 triệu đồng và phải hơn 3 tháng sau mới tiếp tục sản xuất lại được Cótrường hợp người đại diện Nhà nước đi mua hàng và người được bên sản xuất cử

ra giao dịch có nhiều thủ thuật để kiếm lời riêng trong mua bán Một lần nữa hiệntượng trên đã gây ra những thất thoát không nhỏ cho ngân sách, tạo ra những áchtắc không đáng có trong việc thoả mãn những đơn đặt hàng quốc phòng

Điều gì sẽ xảy ra nếu vẫn với tồn tại trên, Nhà nước tiếp tục cần phải đặthàng, mua hàng phục vụ cho hoạt động quân sự, nhất là trong điều kiện phải bổsung tăng cường về số lượng nhưng lại eo hẹp về thời gian

Trang 35

Thứ hai, cùng với khó khăn trên, công tác chuẩn bị động viên kinh tế cho

quốc phòng thời gian qua ở nước ta chưa được thực hiện tốt Do nhiều nguyênnhân, đất nước ta phải thường xuyên đối phó với âm mưu phá hoại của các thế lựcthù địch Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến ổn định chính trị, phát triển kinh tế,văn hoá- xã hội cũng như chuẩn bị khả năng kinh tế phục vụ cho nhu cầu quốcphòng Chúng ta đã tích cực thực hiện dự trữ nóng và dự trữ lạnh cả lương thựcthực phẩm, vũ khí quân trang quân dụng, phương tiện kỹ thuật cho mục đích đó.Tuy vậy, trên thực tế, công tác chuẩn bị còn mang nếp cũ nặng nề Bên cạnh việcchưa thể chế hoá một cách chặt chẽ, cụ thể, chúng ta chưa triển khai có hiệuquảcác kế hoạch động viên kinh tế, động viên công nghiệp Một số nhà máy, xí nghiệpquốc doanh có tính chất ngành nghề phù hợp với sản xuất hàng quân sự nhưng lạikhông được đảm bảo và không được chuẩn bị đầy đủ về công nghệ hoặc thiếuchuyên gia kỹ thuật Để chẩn bị động viên công nghiệp, thông thường Nhà nướcphải đầu tư thêm khá tốn kém (Chỉ tính ở công ty máy kéo- máy nông nghiệp HàTây đã cần khoảng 350 triệu đồng cho đầu tư ban đầu khi tham gia dây chuyềnđộng viên công nghiệp) Do vậy, nếu không tổ chức thực hiện từ trước một cáchchủ động và có kế hoạch, chúng ta rất khó huy động các nhà máy, xí nghiệp củaNhà nước sang phục vụ cho quốc phòng một cách kịp thời và có hiệu quả

Ngoài ra, chuẩn bị động viên kinh tế bao giờ cũng trêncơ sở kết hợp tốt giữakinh tế với quốc phòng, gắn với khu vực phòng thủ Nhưng do thiếu kế hoạch phân

bổ ngay từ đầu nên ở nhiều vùng lãnh thổ không có điều kiện để thực hiện công tácđộng viên đó

Có thể nói, trong cơ chế mới, động viên kinh tế nói chung, động viên côngnghiệp nói riêng đang gặp rất nhiều khó khăn trở ngại và có nhiều vấn đề mới nảysinh Có thể nêu lên một số nguyên nhân chủ yếu sau:

1 Về quan điểm nhận thức: có người cho rằng, trong thời bình chỉ nên chú ýchăm lo sản xuất, việc chuẩn bị động viên kinh tế, động viên công nghiệp không có

ý nghĩa lớn vì trong chiến tranh hiện đại hầu hết các huyết mạch kinh tế đều bị tổnthất lớn ngay từ đầu chiến tranh (như ở I-rắc trong chiến tranh vùng Vinh) Đây làmột nhận thức sai lầm, phiến diện và cũng hết sức cực đoan Sự thực là, để chuẩn

bị cho sẵn sàng thực hiện động viên công nghiệp, các nhà máy, xí nghiệp cần phải

có một thời gian nhất định nhằm thích ứng với sự thay đổi quy trình công nghệ,thích ứng với dây chuyển tổ chức lao động mới phù hợp với điều kiện sản xuất

Trang 36

hàng quân sự Dưới con mắt của các nhà kinh doanh thuần tuý, điều đó có nghĩa làphi kinh tế, là có nguy cơ gặp rủi ro khi phải gánh thêm nhiệm vụ quốc phòng.

2 Chúng ta chưa có nhiều kinh nghiệm chuẩn bị và tiến hành động viên kinh

tế phục vụ cho quốc phòng trong nền kinh tế nhiều thành phần, hơn nữa đó lại lànền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường trong thời bình Khicác thành phần đó đều có vai trò kinh tế nhất định và bình đẳng với nhau, việcchuẩn bị cho công tác động viên theo chúng tôi cần được thực hiện cả ở khu vựckinh tế ngoài quốc doanh với mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào khả năng đóng góp

và sự chi phối, quản lý của Nhà nước

3 Hoạt độngbảo đảm kinh tế cho quốc phòng là một việc làm thường xuyêncủa Nhà nước trong thời bình và thời chiến, nhưng luật pháp hoá hoạt động nàycòn chậm chạp và thiếu đồng bộ Đây là một công tác lớn có liên quan đến sựsống còn của chế độ, của dân tộc, nên không thể chỉ là trách nhiệm riêng của một

bộ hay một số bộ, càng không thể thiếu sự thể chế hoá

4.Đảm bảo kinh tế nói chung và động viên kinh tế nói riêng ( nhất là độngviên công nghiệp), đã không được quan tâm từ đầu đến cuối, trang thiết bị và côngnhân kỹ thuật phục vụ cho quốc phòng bị xáo trộn và không được quản lý chặt chẽ.Chỉ riêng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật của kinh tế nhà nước đang rơi vào tìnhtrạng chung “chảy máu chất xám tại chỗ”, xuất hiện dòng người bỏ các doanhnghiệp nhà nước, đến xin làm việc ở các cơ sở kinh tế liên doanh, tư nhân

Do việc ý thức đẩy đủ công tác động viên kinh tế, động viên công nghiệp nênviệc thực hiện kế hoạch đó còn kém nhạy bén, hiệu quả không cao, các yêu cầu vềchất lượng, số lượng và thời gian hoàn thành chưa bảo đảm tốt Bộ máy tổ chứcquản lý kinh tế còn thiếu tri thức cần thiết, thiếu kinh nghiệm để có thể điều hànhhoạt động của doanh nghiệp khi có yêu cầu sản xuất hàng quân sự

Thứ ba: Hoạt động bảo đảm kinh tế cho quốc phòng củ kinh tế nhà nước chưa

được quan tâm đúngmức,chưa được thể chế hoá

Ở nước ta, về mặt tài chính, do nguồn ngân sách nhà nước hầu như chỉ đủ chitiêu ở mức rất khiêm tốn cho phát triển kết cấu hạ tầng, giáo dục, y tế và một sốphúc lơi xã hội khác đã hạn chế rất lớn việc đầu tư cho nghiên cứu phát triển khoahọc kỹ thuật nói chung và cho quốc phòng nói riêng Chính vì vậy, một thời giandài cho đến nay trong tổng số ngân sách quốc phòng chỉ dành ra được » 9% cho

Trang 37

bảo đảm kỹ thuật và từ 3-4% cho phát triển công nghiệp quốc phòng Cho nên nóichưa quan tâm đúng mức hoạt động này, chính là ở chỗ trong hoạch định chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng và trong tổ chức thực hiện,nhà nước chưa đặt nó trong thứ tự ưu tiên cần thiết Bên cạnh đó, trong các dự ánkinh tế - xã hội được thực chi cần phải đạt yêu cầu chất lượng, đồng bộ, dứt điểm,phải có tính đón đầu để không phải phá đi, làm lại nhiều lần nhằm tiết kiệm đồngvốn để tăng cường thêm nguồn vốn phục vụ quốc phòng.

Trong điều kiện hiện nay, những cơ sở kinh tế Nhà nước được nhận đơn đặthàng sản xuất, dịch vụ cho quốc phòng cũng là cơ hội may mắn lớn trong làm ăn.Điều đó cho phép tạo được công ăn việc làm, ổn định sản xuất, giữ được đội ngũcông nhân kỹ thuật Tuy vậy, những vấn đề về đội ngũ cán bộ (giám đốc, thống kê

kế toán, chuyên gia kỹ thuật, thợ lành nghề ) công nghệ, nguồn thông tin kinh tế

-kỹ thuật, tìm kiếm bạn hàng, tiêu thụ sản phẩm của bộ phận kinh tế nhà nước vẫnchưa đáp ứng được yêu cầu

Về mặt pháp lý, hiện nay ở nước ta chưa có luật động viên kinh tế, động viêncông nghiệp cũng như những văn bản có tính chất pháp quy đối với việc huy độngnhân, tài, vật lực của khu vực kinh tế nhà nước (và các khu vực khác) phục vụ choquốc phòng Theo đó là những quy định cụ thể về trách nhiệm và quyền lợi, nhữngvấn đề về thưởng phạt đối với tất cả các ngành kinh tế, các hoạt động kinh tế quốcdân có tác dụng tích cực hoặc hạn chế đến sức mạnh phòng thủ của đất nước Dovậy, thực hiện tốt hoặc chưa tốt các yêu cầu quốc phòng ở các nhà máy, xí nghiệpcho đến nay vẫn chỉ là vấn đề rút kinh nghiệm mà chưa quy được về trách nhiệmkinh tế, trách nhiệm pháp lý Có thể chứng minh điều đó qua việc bảo đảm của cácngành kinh tế nhà nước (trong đó có ngành điện lực) đối với nhiệm vụ thường trựcchiến đấu của lực lượng vũ trang Trong bất cứ hoàn cảnh nào, các phân đội ra đa,tên lửa, pháo phòng không, các đơn vị không quân, hải quân đều phải ở trong tưthế sẵn sàng chiến đầu Nếu như ở một số quốc gia trên thế giới, yêu cầu về điệnnăng là tuyệt đối 24/24 giờ đối với các căn cứ quân sự, thì ở ta có hay mất điện làchuyện “như đùa” vẫn thường xảy ra, không ai can thiệp và chấn chỉnh Không chỉ

có ngành điện, ở các ngành có tính chất độc quyền khác như sắt thép, xăng dầu, ximăng vẫn có hiện tượng gây khó dễ trong đáp ứng các nhu cầu hoạt động mangtính thường xuyên của quốc phòng, của lực lượng vũ trang

CHƯƠNG II

Trang 38

PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHÀ NƯỚC VÀ VAI TRÒ CỦA QUÂN ĐỘI ĐỐI VỚI NHIỆM VỤ BẢO ĐẢM KINH TẾ CHO QUỐC PHÒNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

II.1 Những đặc điển và điều kiện mới tác động vào quá trình bảo đảm kinh tế cho quốc phòng ở nước ta hiện nay

II.1.1 Những nhân tố mới tác động vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ

quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình hiện nay

Với thắng lợi của đường lối đối ngoại cởi mở,Việt Nam đã từng bước hoànhập vào đời sống cộng đồng các nước trong khu vực và trên thế giới, đồng thờivẫn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững bản sắc và truyền thống dântộc Trong mối quan hệ đa phương, tương tác và đấu tranh để phát triển, tôn trọnglẫn nhau, nước ta đã tạo ra được vị thế mới, uy tín ngày càng được nâng cao, chúng

ta đang có những vận hội lớn trong phát triển kinh tế, xây dựng đất nước Tuynhiên việc “mở cửa”, hấp dẫn thu hút đầu tư nước ngoài cùng với vị trí địa lý -chính trị rất quan trọng của nước ta và nhiều nguyên nhân khác là những yếu tố màcác nước có tham vọng lớn về chính trị - kinh tế muốn lợi dụng trong cuộc chạyđua giành giật khu vực ảnh hưởng Hơn nữa, các thế lực thù địch với Việt Namvừa hy vọng lật đổ chế độ chính trị ở nước ta vừa mong muốn sử dụng vấn đề ViệtNam như một quân bài nhằm kiềm chế sức mạnh của nhau, mặc cả và chia sẻquyền lợi giữa chúng với nhau

Công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩangày nay đang diễn ra trong điều kiện mới đầy chấn độngv à phức tạp, giữa nhữngyếu tố thuận lợi, khó khăn đan xen, giữa thời cơ và thách thức Sự tan rã của cácnước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô đã dẫn đến một cục diện thế giới mới,với tương quan lực lượng có lợi cho các thế lực phản động quốc tế Hơn bao giờhết, chủ nghĩa đế quốc- đứng đầu là đế quốc Mỹ mong muốn chớp thời cơ, tăngcường chống phá cách mạng với mục tiêu chính trị: xoá bỏ nốt những nước xã hộichủ nghĩa còn lại, áp đặt một “trật tự thế giới mới” do Mỹ giật dây, đứng đầu vàchi phối Triệt để lợi dụng tình thế khó khăn khủng hoảng kinh tế - xã hội của cácnước xã hội chủ nghĩa, của phong trào giải phóng dân tộc, các thế lực đế quốc vàphản động đã điều chỉnh tư duy chiến lược, chuyển sang phương thức lấy việc

Trang 39

đánh phá bên trong, sử dụng biện pháp kinh tế, chính trị là chủ yếu, kết hợp với răn

đe quân sự

Trong tình hình đó, Việt Nam trở thành trọng điểm chống phá điên cuồng của

kẻ thù Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang ráo riết thực hiện chiếnlược “diễn biến hoà bình”, gây bạo loạn lật đổ chế độ ta Mục tiêu tập trung côngkích của chúng là: xoá bỏ ý thức hệ của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh; xoá bỏ sự lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa ởnướct a; thủ tiêu những thành quả cách mạng, những giá trị nhân văn, truyền thống

và bản sắc dân tộc của nhân dân ta Chúng mưu toan “phi chính trị hoá” để đi đến

vô hiệu hoá quân đội, làm giảm ý chí và sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũtrang cách mạng của Đảng

Đặc biệt hiện nay, sau khi Mỹ buộc phải bỏ cấm vận và bình thường hoá quan

hệ ngoại giao với Việt Nam, quan hệ kinh tế giữa nước ta với các nước khác ngàycàng được mở rộng, các thế lực thù địch sẽ lợi dụng mặt trận kinh tế để chống phá

ta Đây là cuộc tiến công kinh tế, dùng kinh tế để thực hiện các mưu đồ chính trị.Bằng con đường kinh tế, với tư tưởng chỉ đạo chiến lược: “mềm, ngầm, sâu,điểm”, thực hiện chủ trương “không đánh mà thắng”, bọn phản động quốc tế hyvọng làm phân hoá hàng ngũ, xâm nhập sâu vào nội bộ ta, gây mơ hồ, chia rẽ trong

tổ chức nhân dân ta Thông qua chiến lược đầu tư, liên doanh, hợp tác, chúng có kếhoạch chiếm lĩnh thị trường, thúc đẩy phát triển kinh tế, chính trị và cùng hàng loạtbiện pháp khác hòng làm chúng ta đi chệch quỹ đạo xã hội chủ nghĩa

Nhìn chung, tuy tình hình có những diễn biến phức tạp nhưng trong xu thếhoà bình và phát triển của thế giới hiện nay, đất nước ta đang vững vàng tiến lêncon đường xã hội chủ nghĩa Sự nghiệp đổi mới của nước ta dưới sự lãnh đảo củaĐảng đã tạo ra những biến đổi to lớn và phát triển toàn diện cả về kinh tế, chính trị

và văn hóa - xã hội; nước ta chuyển sang một thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,hiện đại hoá

Cuộc đấu tranh giai cấp vẫn tiếp diễn dưới những hình thức và điều kiện mới.Vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa xây dựng đất nước vừa cảnh giác với mọi âm mưuchống phá phản loạn của kẻ thù và sẵn sàng đánh bại mọi tình huống chiến tranh

có thể xảy ra Xây dựng Tổ quốc gắn liền với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa,bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng, củng cố quốc phòng-an ninh phải gắn chặt với xây

Ngày đăng: 16/12/2016, 23:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
42. NGUYỄN HỒNG. Người “quốc doanh” cũng giàu nhanh, Báo Nhân dân, ngày 14.1.1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: quốc doanh
66. LÊ HỒNG QUANG. Về cuộc đấu tranh tư tưởng trong chiến lược “Diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc, Tạp chí Thông tin lý luận chính trị quân sự, Học viện Chính trị- quân sự số 1.1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễnbiến hoà bình
75. DƯƠNG THÔNG. Một nhiệm vụ quan trọng trong cuộc đấu tranh chống“Diễn biến hoà bình”, Tạp chí Cộng sản tháng 12.1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn biến hoà bình
96. ĐÌNH XUÂN. Z125 hướng khách hàng “về tắm ao ta”, Báo Quân đội nhân dân, ngày 24.10.1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: về tắm ao ta
3. V.I. LÊ NIN. Cảng Lữ Thuận thất thủ, Toàn tập, tập 9, Nxb Tiến bộ, M.1976, tr. 186-196 Khác
4. V.I. LÊ NIN. Tai hoạ sắp đến và những biện pháp phòng ngừa tai hoạ đó, Toàn tập, tập 34, Nxb Tiến bộ, M.1976, tr. 203-267 Khác
5. V.I. LÊ NIN. Hội nghị đại biểu các trung đoàn bảo vệ Pêtrôgrat ngày 29 tháng 10, Toàn tập, tập 35, Nxb Tiến bộ, M.19768, tr. 40-42 Khác
6. V.I. LÊ NIN. Một bài học gian khổ nhưng cần thiết, Toàn tập, tập 35, Nxb Tiến bộ, M.1978, tr. 478-482 Khác
7. V.I. LÊ NIN. Phải đứng trên cơ sở thực tế, Toàn tập, tập 35, Nxb Tiến bộ, M.1978, tr. 496-498 Khác
8. V.I. LÊ NIN. Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô Viết, Toàn tập, tập 9, Nxb Tiến bộ, M.1978, tr. 201-256 Khác
9. Dự thảo chỉ thị của Ban Chấp hành trung ương về thống nhất quân sự, Toàn tập, tập 38, Nxb Tiến bộ, M.1976, tr. 482 Khác
10. HỒ CHÍ MINH. Diễn văn khai mạc lớp lý luận chính trị khoá 1 Trường Nguyễn ái Quốc ngày 7.9.1957, Toàn tập, tập 7, Nxb Sự thật, H.1987, tr. 784 Khác
11. HỒ CHÍ MINH. Nói chuyện về tình hình và nhiệm vụ mới của quân đội ngày 20.3.1958, Toàn tập, tập 8, Nxb Sự thật, H.1989, tr. 96 Khác
12. VIỆT ÂN. Quân đội xây dựng kinh tế: yêu cầu cấp thiết đổi mới tổ chức, quản lý, Báo Quân đội nhân dân, ngày 25.1.1994 Khác
13. BÁC-CHI-Ê-NHÉP (X.A). Kinh tế, hậu phương và tiền tuyến trong chiến tranh hiện đại, Nxb Quân đội nhân dân, H.1987, tr.250 Khác
15. Báo cáo tổng kết quân đội sản xuất - xây dựng kinh tế 5 năm 1986-1990 và phương hướng nhiệm vụ năm 1991-1995. Tổng cục Công nghiệp quốc phòng - kinh tế Khác
16. Báo cáo tổng kết năm 1993 và phương hướng nhiệm vụ năm 1994 về sản xuất quốc phòng và kinh tế của quân đội. Tổng cục Công nghiệp quốc phòng - kinh tế Khác
17. Báo cáo tóm tắt kết quả thực hiện năm 1995 và phương hướng kế hoạch năm 1996 của các doanh nghiệp trong quân đội, Vụ kế hoạch Tổng cục Công nghiệp quốc phòng - kinh tế Khác
18. TRẦN BÌNH. Hoạt động kinh tế đối ngoại của quân đội, Tạp chí thương mại, tháng 12. 1994 Khác
19. QUANG CẬN. Một cách tiếp cận thực trạng và tiềm lực quốc phòng - an ninh, tạp chí Quốc phòng toàn dân, tháng 9.1993, tr.33-36 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w