Theo quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác Lênin, sản xuất quyết định phân phối, phân phối tác động trở lại đối với sản xuất, phân phối là phương pháp, công cụ, thủ đoạn để đẩy mạnh sản xuất.Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta cũng khẳng định phân phối cho tiêu dùng cá nhân là một điều kiện kinh tế quan trọng góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và tiến bộ xã hội. Việc vận dụng quy luật phân phối theo lao động trong lĩnh vực phân phối cho tiêu dùng cá nhân ở nước ta còn nhiều sai lầm, thiếu sót. Đó là chủ nghĩa bình quân; tiền lương của cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước và thu nhập của xã viên từ kinh tế tập thể không đủ tái sản xuất sức lao động; chênh lệch không hợp lý trong tiền lương và thu nhập của người lao động giữa các lĩnh vực, các ngành, các đơn vị sản xuất kinh doanh khác nhau. Đời sống của những người mà nguồn nhập chính dựa vào tiền lương hoặc trợ cấp xã hội và một bộ phận nông dân tiếp tục giảm sút; tâm trọng lo lắng trong một bộ phận nhân dân có chiều hướng tăng lên.
Trang 1MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài.
Theo quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, sản xuất quyếtđịnh phân phối, phân phối tác động trở lại đối với sản xuất, phân phối là phươngpháp, công cụ, thủ đoạn để đẩy mạnh sản xuất
Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta cũng khẳng định phân phốicho tiêu dùng cá nhân là một điều kiện kinh tế quan trọng góp phần thúc đẩy sảnxuất phát triển và tiến bộ xã hội Việc vận dụng quy luật phân phối theo lao độngtrong lĩnh vực phân phối cho tiêu dùng cá nhân ở nước ta còn nhiều sai lầm, thiếusót Đó là chủ nghĩa bình quân; tiền lương của cán bộ, công nhân, viên chức Nhànước và thu nhập của xã viên từ kinh tế tập thể không đủ tái sản xuất sức lao động;chênh lệch không hợp lý trong tiền lương và thu nhập của người lao động giữa cáclĩnh vực, các ngành, các đơn vị sản xuất - kinh doanh khác nhau Đời sống củanhững người mà nguồn nhập chính dựa vào tiền lương hoặc trợ cấp xã hội và một
bộ phận nông dân tiếp tục giảm sút; tâm trọng lo lắng trong một bộ phận nhân dân
có chiều hướng tăng lên Thực trạng này có nguyên nhân từ nền kinh tế kém pháttriển, những điều kiện lịch sử cụ thể chi phối và những nguyên nhân chủ quan màtrước hết là do những sai lầm, thiếu sót trong vận dụng quy luật phân phối theo laođộng
Tình hình đó đã hạn chế vai trò động lực của phân phối đối với phát triển sảnxuất, tiến bộ xã hội và chừng mực nào đó đã làm “tha hoá” người lao động
Lao động quân sự, một bộ phận của phân công lao động xã hội, loại hình laođộng đặc biệt Nhưng chính sách phân phối của xã hội đối với nó chưa thể hiệnđúng đắn sự ưu tiên so với các loại hình lao động dân sự Đời sống lực lượng vũtrang và gia đình họ vẫn là một trong những đối tượng khó khăn nhất hiện nay.Tình trạng phân phối bình quân, chưa thực sự gắn với đặc điểm và điều kiện laođộng của từng loại hình lao động quân sự cũng là một vấn đề cấp bách đòi hỏiđược khắc phục nhằm góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội và sửdụng có hiệu quả chi phí quốc phòng
Có thể nói thực trạng phân phối vừa qua có những thiếu sót, sai lầm đã ảnhhưởng không tốt tinh thần, thái độ lao động, đến tăng năng suất lao động của từngngười và toàn xã hội Tiền lương không bảo đảm tái sản xuất sức lao động, đờisống những người lao động chân chính, trung thực rất khó khăn, trong khi đónhững kẻ làm ăn phi pháp, một số cán bộ do tham nhũng lại giàu lên một cáchnhanh chóng đã làm tăng sự bất bình của người lao động, đất nước càng thêmkhủng hoảng về kinh tế - xã hội
Trang 2Tất cả những vấn đề đó đặt ra trước khoa học kinh tế những bài toán đòi hỏi
có lời giải kịp thời Do đó, đề tài lựa chọn là một trong những vấn đề có tính thời
sự - cấp bách
Tình hình nghiên cứu vấn đề.
Đến nay phân phối theo lao động vẫn là vấn đề khoa học được nhiều nhà khoahọc quan tâm nghiên cứu Ở trong nước, từ những ngày đầu xây dựng chủ nghĩa xãhội ở miền Bắc đã có một số tác giả nghiên cứu nhằm làm rõ nội dung, bản chấtcủa phân phối theo lao động (148, 177) Đặc biệt, vấn đề càng được quan tâm hơn
kể từ ngày chúng ta tiến hành sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cảnước Song phần lớn các công trình, các bài viết chỉ đế cập ở giác độ kinh tế ngành(72, 154, 165, 172) Một số tác giả nước ngoài cũng tập trung nghiên cứu vấn đềphân phối theo lao động, các lợi ích kinh tế dưới chủ nghĩa xã hội (53, 63, 70,175) Song phần lớn các công trình nêu trên có phần chịu sự chi phối của cơ chếquản lý kinh tế theo kiểu tập trung quan liêu, bao cấp, nhận thức giản đơn về chủnghĩa xã hội
Trong lĩnh vực quân sự, phân phối cho tiêu dùng cá nhân bước đầu được một
số tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu Phần lớn các bài đã tham khảo đều tậptrung đề cập mối tương quan về thu nhập, đời sống và tiền lương giữa lao độngquân sự với các lĩnh vực hoạt động hoạt động dân sự, chưa có tác giả nào nghiêncứu một cách đầy đủ đặc điểm, tính chất của lao động quân sự làm cơ sở cho việc
đề xuất những chủ trương, chính sách phân phối của xã hội đối với lao động quân
sự (56, 74, 111, 160, 182) Còn việc vận dụng phân phối theo lao động vào nội bộlao động quân sự chỉ mới có những ý kiến bước đầu
Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những thành quả nghiên cứu của các tác giả đitrước, luận án tiếp tục nghiên cứu, làm rõ thêm một số vấn đề về lý thuận và thựctiễn của việc phân phối theo lao động đối với cán bộ, công nhân, viên chức Nhànước (bao gồm cả lực lượng vũ trang) và xã viên hợp tác xã sản xuất nông nghiệp,góp phần nhỏ vào giải đáp những vấn đề đang đặt ra về vận dụng quy luật phânphối theo lao động trong chặng đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nướcta
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án.
Mục đích của luận án là luận chứng có căn cứ khoa học và đề xuất một sốkiến nghị về việc vận dụng quy luật phân phối theo lao động trong thành phần kinh
tế xã hội chủ nghĩa và đối với lao động quân sự trong điều kiện nền kinh tế hànghoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhànước Để đạt được mục đích đặt ra, luận án sẽ giải quyết những nhiệm vụ sau:
Trang 31 Xác định tính đúng đắn của những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê-nin về phân phối theo lao động, làm sáng tỏ thêm sự phụ thuộc của nó vào quan
-hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan -hệ quản lý và trình độ phát triển của lựclượng sản xuất, về vai trò, vị trí của nó trong nền kinh tế ở chặng đầu của thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội
2- Phân tích một cách có hệ thống thực tiễn vận dụng quy luật phân phối theolao động trong thời gian qua Đề xuất một số phương hướng chủ yếu về phân phốiđối với cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước và xã viên hợp tác xã trong chặngđầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
3- Phân tích đặc điểm của lao động quân sự trong mối quan hệ tổng thể củaphân công lao động xã hội, vai trò, vị trí của phân phối cho tiêu dùng cá nhân đốivới sức mạnh chiến đấu của quân đội và nâng cao hiệu quả chi phí quốc phòng, kếthợp kinh tế với quốc phòng Kiến nghị một số vấn đề về vận dụng nguyên tắc phânphối theo lao động đối với lao động quân sự và trong nội bộ lao động quân sự
Cái mới về mặt khoa học của luận án.
1- Từ những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đề xuất một sốđiểm về việc vận dụng nguyên tắc phân phối theo lao động trong điều kiện nềnkinh tế còn nhiều loại hình quan hệ sản xuất, chịu sự tác động của thị trường và sựquản lý của Nhà nước
2- Phân tích một cách tương đối có hệ thống quá trình vận dụng các quan hệphân phối khách quan của Đảng và Nhà nước ta trong từng giai đoạn lịch sử cụthể, gắn với từng nhiệm vụ chính trị trung tâm của dân tộc; chỉ ra những biểu hiệntrì trệ trong việc xác định chính sách phân phối khi điều kiện khách quan đã thayđổi, làm nảy sinh những lực cản đối với sự phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội3- Kiến nghị những giải pháp nhằm hoàn thiện phân phối cho tiêu dùng cánhân trên cơ sở vận dụng quy luật phân phối theo lao động trong kinh tế quốcdoanh, tập thể và khu vực hành chính - sự nghiệp phù hợp với nền kinh tế ở chặngđầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đó là, chủ trương phi tập trung hoáchế độ tiền lương, gắn nó với quyền tự chủ sản xuất - kinh doanh của từng đơn vịkinh tế cơ sở, với sự tác động của cơ chế thị trường, và chế độ tiền lương tập trungthống nhất đối với lao động hành chính - sự nghiệp
4- Trên cơ sở luận chứng tính hiệu quả của việc vận dụng nguyên tắc phânphối theo lao động vào lĩnh vực quân sự và phân tích đặc điểm của lao động quân
sự Kiến nghị về yêu cầu phân phối cho tiêu dùng cá nhân đối với lao động quân sựphù hợp với tính chất của loại lao động đặc biệt và coi đó là một nội dung kết hợpkinh tế với quốc phòng; đề xuất việc phân loại thành phần đối với sĩ quan, nhânviên chuyên môn kỹ thuật - những người lấy hoạt động quân sự làm nghề nghiệp
Trang 4Ý nghĩa của đề tài.
Với kết quả khiêm tốn, luận án có thể góp phần vào khẳng định tính khoa học,cách mạng của nguyên lý phân phối theo lao động; tác dụng lịch sử của chính sáchphân phối của Đảng, Nhà nước ta trong những điều kiện lịch sử đặc biệt của dântộc, nhất là trong tình hình hiện nay Góp phần vào việc nghiên cứu, xác địnhnhững nội dung kinh tế - xã hội của chính sách phân phối cho tiêu dùng cá nhân.Đặc biệt là đối với lao động quân sự và nội bộ lao động quân sự
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy một số nội dung
về kinh tế chính trị và kinh tế quân sự ở các nhà trường trong và ngoài quân đội
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
Cơ sở lý luận và phương pháp luận để nghiên cứu và viết luận án là các họcthuyết của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, vềchiến tranh và quân đội, đặc biệt là các tác phẩm của Lê-nin về xây dựng chủ nghĩa
xã hội; các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng và Nhànước, các chỉ thị của Bộ Quốc phòng
Luận án còn được thực hiện trên cơ sở phân tích những thông tin được công
bố trên báo chí, điều tra xã hội học, khảo sát thực tế và các số liệu của Tổng cụcthống kê nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tham khảo một số tác phẩmcủa các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án
Kết cấu của luận án.
Luận án gồm có : Mở đầu, hai chương (bốn tiết), kết luận, tám bản phụ lục và
danh mục tài liệu tham khảo CHƯƠNG I
PHÂN PHỐI THEO LAO ĐỘNG TRONG CHẶNG ĐẦU CỦA THỜI KỲ
QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM I.1 Phân phối theo lao động-nguyên tắc phân phối cơ bản cho tiêu dùng
cá nhân của chủ nghĩa xã hội
Mỗi một phương thức sản xuất có một phương thức phân phối, mà trực tiếp là
do tính chất của quan hệ sản xuất, quan hệ kinh tế trong từng xã hội quyết định Ph.Ăng-ghen khẳng định rằng: “ sự phân phối luôn luôn là kết quả tất nhiên củanhững quan hệ sản xuất và trao đổi trong một xã hội nhất định” (22) Như vậy, tínhlịch sử của các quan hệ phân phối là tính lịch sử của các quan hệ sản xuất Điều đó
có nghĩa là phân tích các quan hệ phân phối đồng nhất với việc cụ thể hoá quátrình nghiên cứu quan hệ sản xuất tương ứng với hình thái phân phối ấy là đẻ rahình thái phân phối ấy
Trang 5Trong tất cả các phương thức sản xuất từ trước đến nay, việc phân phối sảnphẩm của lao động đều phục vụ lơi ích của những người làm chủ tư liệu sản xuất.Nếu tư liệu sản xuất thuộc về giai cấp bóc lột thì việc phân phối nhằm làm giàucho giai cấp bóc lột Nếu tư liệu sản xuất thuộc về toàn xã hội, trong đó mọi ngườilao động đều có quyền làm chủ thì việc phân phối là vì lợi ích của người lao động,chủ thể của xã hội đó Trong quan hệ phân phối, phân phối cho sản xuất quyết định
sự phân phối cho tiêu dùng “Bất kỳ một sự phân phối nào về tư liệu tiêu dùngcũng chỉ là hậu quả của sự phân phối chính ngay những điều kiện sảnxuất; ”(12) Đó là cơ sở khoa học của những nguyên lý phân phối mà C.Mác đã
đề cập trong tác phẩm “ Phê phán cương lĩnh Gô-Ta” Ở đây C.Mác đã chỉ ra sựphụ thuộc giữa phân phối sản phẩm lao động với phân phối tư liệu sản xuất Bỏqua mối quan hệ đó mọi kết luận về quan hệ phân phối đều thiếu cơ sở khoa học.Cũng trong tác phẩm này, C.Mác đã đề xuất phương thức phân phối cho tiêudùng cá nhân dưới chủ nghĩa xã hội - giai đoạn thấp của chủ nghĩa cộng sản Trongtổng sản phẩm xã hội, sau khi đã trừ đi các khoản cần thiết cho sản xuất và tiêudùng chung của xã hội, với chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất, phân phốicho tiêu dùng cá nhân của những người lao động tuân theo nguyên tắc “phân phốitheo lao động”,tức là phân phối tuỳ thuộc vào số lượng và chất lượng lao động màtừng cá nhân đã đóng góp cho xã hội Như vậy, phạm vi của quan hệ phân phối nóichung rộng hơn quan hệ phân phối theo lao động
Qua nghiên cứu những tư tưởng của C.Mác và các luận điểm của V.I Lê-nin(29) cho thấy cần nhận thức về phân phối theo lao động từ hai góc độ Một là, phânphối theo lao động với tư cách là quy luật khách quan tất yếu thể hiện sự phụ thuộctrực tiếp giữa trả công lao động với sự đóng góp lao động có ích Ở đây quan hệphân phối chủ yếu áp dụng cho loại hình lao động sản xuất vật chất Hai là, phânphối theo lao động được hiểu như là phương thức phân phối, trong đó lấy kết quảcủa hoạt động lao động làm tiêu chuẩn để phân phối quỹ tiêu dùng xã hội Khácvới lao động sản xuất vật chất, ở đó thời điểm trả công đồng thời cũng là thời điểmxác định chính xác phần đóng góp lao động có ích (kết quả lao động thì ở đây hoạtđộng lao động của người nhận tiền công có thể trong một khoảng thời gian dài, tíchluỹ dần tay nghề, hoặc chế định trước kết quả thông qua chất lượng lao động cóđược của họ
Cho nên nguyên tắc phân phối theo lao động được áp dụng trong cả lĩnh vực
sử dụng quỹ tiêu dùng xã hội (ở Liên Xô 70-75% quỹ tiêu dùng xã hội được sửdụng có gắn với số lượng và chất lượng lao động), mà ở đó tuy không phải là tất cảnhưng chủ yếu là lao động phi sản xuất vật chất Có nghĩa là nó được áp dụngtrong các loại hình lao động khác nhau trong toàn bộ quá trình phân công lao động
xã hội Và như vậy cần phân biệt hai khái niệm: đóng góp lao động có ích với
Trang 6nghĩa rộng, tức là hoạt động lao động sau một khoảng thời gian tương đối dài, có
thể g ọi đây là loại lao động tích luỹ, mà chủ yếu là chất lượng của bản thân laođộng như: thâm niên, tay nghề, bậc thợ, bằng cấp và các loai cấp bậc khác thể hiện
sự đóng góp lao động khác nhau Và khái niệm lao động có ích với nghĩa hẹp của
nó, tức là các hao phí lao động thường ngày được kết tinh trong sản phẩm làm ra,
có thể gọi đây là thành quả lao động trực tiếp, mà nó thể hiện rõ nết nhất trong lĩnhvực sản xuất vật chất Đây là những cơ sở lý luận căn bản xuyên suốt toàn bộ cácvấn đề phân phối cho tiêu dùng cá nhân và quan niệm khoa học về phân công laođộng xã hội Nó thể hiện ở chỗ mọi loại hình lao động trong xã hội trực tiếp haygián tiếp đều có tác dụng hữu ích cho nhau Mối quan hệ đó được thể hiện bằngviệc sử dụng quỹ tiêu dùng xã hội, mọi người nhận được ở đó một phần không với
tư cách như là người sản xuất vật chất mà như là một thành viên trong xã hội.C.Mác viết: “ Mặc dầu cái mà người sản xuất với tư cách là cá nhân, bị mất đi thìvới tư cách là thành viên của xã hội, người đó lại nhận được một cách trực tiếp haygián tiếp” (12) Chúng tôi muốn nhấn mạnh “trực tiếp” hay “gián tiếp” ở đây liênquan đến tính chất hữu ích chung của phân công lao động xã hội
Phân phối theo lao động là một tất yếu kinh tế nảy sinh từ những điều kiệnkinh tế, xã hội của chủ nghĩa xã hội Khi mà của cải chưa được sản xuất dạt dàonhư nước chảy, khi mà xã hội còn mang những dấu vết của xã hội cũ để lại thìnguyên tắc phân phối cho tiêu dùng cá nhân không thể là phân phối theo nhu cầu
mà chỉ có thể là phân phối theo lao động
phân phối theo lao động, theo C.Mác, là phương thức phân phối đặc trưng,duy nhất của chủ nghĩa xã hội (không tính đến chỗ dự phần của người lao độngtrong các quỹ phúc lợi xã hội), trong điều kiện mọi tư liệu sản xuất đã thuộc quyền
sở hữu của toàn xã hội, mọi thành viên đều bình đẳng đối với tư liệu sản xuất,
“Không một ai có thể cung cấp một cái gì khác ngoài lao động của mình và mặtkhác, vì ngoài những vật phẩm tiêu dùng cá nhân ra thì không còn cái gì khác để
có thể trở thành sở hữu cá nhân được”(12) Với chế độ công hữu về tư liệu sảnxuất thì lao động cũng đã xã hội hoá một cách trực tiếp Nhà nước kế hoạch hoásản xuất và tiêu dùng, trên cơ sở đó phân phối lao động các ngành, các lĩnh vựctheo một tỷ lệ hợp lý giữa tư liệu sản xuất và sức lao động Lao động mang tínhcộng đồng và tính tập thể; lao động của cá nhân tồn tại trực tiếp như là một bộphận cấu thành của tổng lao động xã hội; sản phẩm tiêu dùng được phân phối trựctiếp cho các thành viên mà không cần qua trao đổi, tức là toàn bộ người lao động
có một quỹ tiêu dùng chung, dưới hình thái hiện vật để phân phối cho cá nhân.C.Mác viết: “Anh ta nhận của xã hội một cái phiếu chứng nhận rằng anh đã cungcấp một số lao động là bao nhiêu (sau khi đã khấu trừ số lao động của anh ta làmcho các quỹ xã hội) và với cái phiếu ấy, anh ta lấy ở kho của xã hội ra một số
Trang 7lượng vật phẩm tiêu dùng trị giá ngang với một số lượng lao động anh ta đã cungcấp” (12); mặt khác dưới chủ nghĩa xã hội, năng suất lao động xã hội đã tương đốicao và đồng đều, tuy chưa đủ thoả mãn theo nhu cầu của mọi thành viên trong xãhội, nhưng đã có khả năng đem lại cho người lao động một cuộc sống ấn no, tự do,hạnh phúc, phong phú cả về vật chất và tinh thần Tất cả những vấn đề đó theochúng tôi là những điều kiện khách quan về kinh tế để thực hiện phân phối theo laođộng theo cách thức mà C.Mác đã dự kiến Còn đứngv ề mặt xã hội, “Ở đây khôngphải là một xã hội cộng sản chủ nghĩa đã phát triển trên những cơ sở của chính nó,
mà trái lại là một xã hội cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ
nghĩa, do đó là một xã hội, về mọi phương diện - kinh tế, đạo đức, tinh thần - cònmang những dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lòng ra”(12) Một xã hội như vậythì trình độ thành thạo nghề nghiệp, ý thức, thái độ của mọi người đối với lao độngcòn khác nhau và do đó kết quả lao động giữa họ cũng khác nhau Trong điều kiệnkinh tế và xã hội đó, việc phân phối sản phầm cho tiêu dùng cá nhân giữa nhữngngười lao động chỉ có thể dựa vào mức độ cống hiến của từng người
Việc căn cứ vào số lượng và chất lượng lao động để phân phối vật phẩm chotiêu dùng cá nhân người lao động là điều kiện cho sự phát triển tình thần, thái độlao động mới, nâng cao trình độ kiến thức, trình độ khoa học - kỹ thuật, chuyênmôn nghiệp vụ và tăng cường kỷ luật lao động để đạt năng suất lao động cao Vì
nó kích thích người lao động làm nhiều, làm tốt để được phân phối nhiều và thôngqua việc bảo đảm lợi ích cá nhân người lao động để phát triển sản xuất, tăngtrưởng kinh tế và đẩy nhanh tiến bộ xã hội Đúng như V.I Lê-nin đã khẳng định:
“Phân phối là phương pháp, công cụ, thủ đoạn để đẩy mạnh sản xuất” (39)
Dưới chủ nghĩa xã hội, phân phối theo lao động còn là sự đảm bảo cho côngbằng xã hội: làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, có sức lao động mà không
làm thì không được hưởng “Quyền của người sản xuất là tỷ lệvới lao động mà
người ấy đã cung cấp; sự ngang nhau là ở chỗ người ta đo bằng một thước đo nhưnhau, tức là bằng lao động”(12) Quyền ngang nhau ấy còn là “quyền tư sản” vìgiữa những người lao động còn có sự khác nhau về thể chất, tinh thần năng lực laođộng, về gia đình con cái phải nuôi nấng do đó mà cùng một công việc ngangnhau, những người lao động được dự phần vào quỹ tiêu dùng xã hội không bằngnhau, thu nhập thực tế không như nhau Sự bình đẳng trong điều kiện của chủnghĩa xã hội còn lấy bất bình đẳng làm tiền đề, nó chỉ có thể được thực hiện đầy đủkhi xã hội đã đi lên chủ nghĩa cộng sản Do đó, mọi sự đòi hỏi về một chính sáchphân phối hoàn toàn công bằng hiện nay là điều không thể chấp nhận được, nó tráivới điều kiện khách quan hiện có của xã hội và nếu thực hiện sẽ đưa lại những hậuquả tai hại cả về mặt phát triển sản xuất và về tiến bộ xã hội
Trang 8Phương pháp nghiên cứu của C.Mác cho thấy: một là, phân phối theo laođộng là phương thức phân phối vật phẩm tiêu dùng, là quy luật kinh tế của chủnghĩa xã hội; hai là, mọi hình thức phân phối được căn cứ và quyết định bởi sựđóng góp lao động có ích của các thành viên xã hội đều thuộc phạm vi của quan hệphân phối theo lao động; ba là, khi nghiên cứu các tiền đề khách quan của phânphối theo lao động phải đặt chúng trong mối quan hệ qua lại với quan hệ chiếmhữu tư liệu sản xuất, phân công lao động xã hội và đặc tính xã hội của lực lượngsản xuất.
Từ những nội dung lý luận đã nêu trên, có thể khẳng định rằng phân phối theolao động là một tất yếu kinh tế, một quy luật kinh tế, một nguyên tắc cơ bản củachủ nghĩa xã hội Đó là điều hoàn toàn không thể phủ nhận được Những nguyên lý
cơ bản mà C.Mác đã nêu ra về quan hệ phân phối nói chung, phân phối theo laođộng nói riêng là khách quan khoa học trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội khinhững yếu tố của nó đã chín muồi: lực lượng sản xuất đạt đến trình độ xã hội hoácao, chỉ còn hai hình thức sở hữu là sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất và sở hữu
cá nhân của người lao động về tư liệu tiêu dùng; lao động đã mang tính chất xã hộitrực tiếp, quan hệ hàng hoá - tiền tệ không còn tồn tại, Nhà nước là cơ quan điềuhành tập trung việc sản xuất và phân phối của toàn xã hội
Từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa và ởnước ta, từ những thành côngvà thất bại, quá trình tìm tòi, thể nghiệm xây dựngchủ nghĩa xã hội theo tư duy kinh tế mới hình như đã phủ nhận những quan điểmtrên của C.Mác ? Hoàn toàn không phải như vậy Bởi vì, C.Mác dựa trên nhữnglập luận khoa học đã dự đoán một xã hội tương lai, đó là xã hội xã hội chủ nghĩa.Còn quá trình xây dựng nó, tìm tòi các mô hình của nó trong thực tế lại là vấn đềhoàn toàn khác Trong xã hội hiện nay không chỉ tồn tại một chế độ sở hữu duynhất về tư liệu sản xuất là chế độ sở chữu công cộng với hai hình thức sở hữu tưnhân, cá thể về tư liệu sản xuất (khi nó còn tác dụng phát triển sản xuất), hình thức
sở hữu hỗn hợp dưới dạng công ty liên doanh hoặc cổ phần (kẻ cả với tư bản nướcngoài) Phương thức phân phối duy nhất đa dạng hơn, phân phối theo lao độngkhông còn là phương thức phân phối duy nhất Lao động chưa mang đầy đủ tínhchất xã hội trực tiếp, Nhà nước chỉ có chức năng quản lý hành chính - kinh tế, cácđơn vị kinh tế cơ sở có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, tự chủ về tàichính, tổ chức quản lý sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, bố trí sấp xếp lao động và trảcông lao động Quan hệ hàng hoá - tiền tệ, hoạt động theo cơ chế thị trường có sựquản lý của Nhà nước là yêu cầu tất yếu khách quan của nền kinh tế trongchặngđầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Người lao động dự phần vàophân phối sản phẩm tiêu dùng không phải trực tiếp bằng hiện vật mà thông quahình thức tiền lương, tiền lương đó vừa dựa vào một khung thang bảng lương
Trang 9thống nhất vừa tuỳ thuộc vào hiệu quả kinh tế của đơn vị cơ sở, lấy thước đo là sốlượng và chất lượng lao động, thể hiện trên kết quả cuối cùng của sản xuất kinhdoanh.
Tư duy kinh tế mới về chủ nghĩa xã hội không hề phủ nhận nguyên tắc phânphối theo lao động, coi đó là một nguyên tắc cơ bản trong việc phân phối cho tiêudùng cá nhân, tuy về mặt phương thức phân phối có đa dạng hơn, hình thức vàbiện pháp phân phối linh hoạt hơn, phù hợp với một nền kinh tế có điều tiết, từ cơchế tập trung quan liêu, bao cấp sang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủnghĩa
Như vậy ta có thể nhận thức quan điểm và tìm hiểu những căn cứ khoa học,tiền đề về mặt lô gích và lịch sử của sự phát sinh và phát triển quan hệ phân phốitheo lao động của C.Mác như thế nào ?
Theo chúng tôi, có thể nhìn nhận vấn đề từ hai mặt Một là, phải chăng ở đâyC.Mác vận dụng phương pháp trừu tượng hoá khoa học, như C.Mác đã vận dụngphương pháp đó trong nghiên cứu chủ nghĩa tư bản mà tập trung nhất là ở Bộ “Tưbản”, gạt bỏ những hiện tượng không bản chất, riêng lẻ, ngẫu nhiên để nắm lấythuộc tính bản chất, tất yếu, bên trong, xem xét xã hội tư bản như một xã hội thuầntuý chỉ còn có mối quan hệ kinh tế giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản C.Máccũng hình dung chủ nghĩa xã hội như một xã hội thuần tuý, đã xoá bỏ chế độ tưhữu cả tư hữu tư bản chủ nghĩa và tư hữu nhỏ, thiết lập chế độ sở hữu toàn dân về
tư liệu sản xuất trên toàn xã hội, lao động đã trở thành lao động xã hội trực tiếp,tiền đề cho kinh tế hàng hoá không còn tồn tại, giai cấp công nhân làm chủ trên tất
cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do Nhà nước làm đại biểu Ph.Ăng-ghen, sau
đó từ nghiên cứu “Vấn đề nông dân ở Pháp và Đức” đã bổ sung, đề xuất tư tưởng
về hợp tác hoá để đưa những người nông dân cá thể, sản xuất nhỏ đi lên con đường
xã hội chủ nghĩa, hình thành nên hình thức sở hữu tập thể
Cần phải thấy rằng, từ phân tích sự vận động của xã hội tư bản, Mác - ghen đã dự kiến cách mạng vô sản sẽ nổ ra ở phần lớn các nước văn minh, lànhững nước tư bản phát triển ở trình độ cao nhất, nơi đó mâu thuẫn cơ bản của chủnghĩ tư bản đã phát triển hết sức sâu sắc, lực lượng sản xuất xã hội hoá cao trongkhi chế độ chiếm hữu tư bản chủ nghĩa lại quá chật hẹp Giai cấp tư sản hầu nhưnắm hết những tư liệu sản xuất chủ yếu, các tầng lớp trung gian ngày một suy tàn
Ăng-và tiêu vong đi với sự phát triển của đại công nghiệp, giai cấp công nhân ngày mộttăng thêm về số lượng và trưởng thành lên về chính trị Nếu dự kiến của Mác -Ăng-ghen biến thành hiện thực, cách mạng vô sản nổ ra và giành được thắng lợi thìchủ nghĩa xã hội với phương thức sản xuất và phân phối như C.Mác đã hình dungtrên đại thể không phải là không hiện thực Tuy nhiên, lịch sử phát triển của xã hội
đã không diễn ra như dự kiến của hai ông
Trang 10Lê-nin đã kế tục và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác trong điều kiện lịch sửmới, khi mà chủ nghĩ tư bản đã chuyển sang đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vôsản trở thành yêu cầu trực tiếp Luận điểm của Lê-nin về khả năng thắng lợi trướctiên của chủ nghĩa xã hội ở một nước - mặt khâu yếu nhất của chủ nghĩa đế quốc
mà nước đó không nhất thiết là một nước tư bản phát triển cao, đã là tiền đề về lýluận cho sự thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Mười Nga, một nước tư bản ởtrình độ phát triển trung bình Cách mạng giành được thắng lợi chưa bao lâu thì nộichiễn nổ ra Lê-nin phải áp dụng chính sách cộng sản thời chiến để tổ chức sảnxuất và phân phối sản xuất Kinh tế hàng hoá không còn tồn tại, Nhà nước trưngthu lương thực thừa của nông dân để cung cấp cho công nhân và Hồng quân, thời
kỳ đó người ta đã lập ra danh mục những vật phẩm tiêu dùng cho một người laođộng và phân phối hiện vật Sau nội chiến, tình hình kinh tế, xã hội ở Nga lâm vàotrạng thái khủng hoảng nặng nề, sản xuất đình trệ và giảm sút nghiêm trọng, côngnhân và nông dân không thiết tha với sản xuất Chính sách kinh tế mới (NEP) đã làmột sự chuyển hướng thiên tài về chỉ đạo chiến lược cách mạng mà những nộidung cơ bản của nó là thay chế độ trưng thu lương thực thừa bằng thuế nôngnghiệp, phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước, khôi phục lại quan hệ hàng hoá tiền
tệ Trong xí nghiệp quốc doanh, thực hiện hạch toán kinh tế, phân phối theonguyên tắc phân phối theo lao động thông qua hình thức tiền lương, quan tâm kícnthích lao động bằng lợi ích vật chất Chỉ sau khi ban hành và thực hiện chính sáchkinh tế mới không lâu, cục diện chính trị, kinh tế, xã hội nước Nga đã có một bướcchuyển biến tích cực
“Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản, từ một xã hộivốn là thuộc đia, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất rất thấp Đất nước trải quahàng chục năm chiến tranh, hậu quả để lại còn nặng nề Những tàn dư thực dân,phong kiến còn nhiều” (71) Thực trạng đó và còn chi phối đến mức độ hoạt độngcủa các quy luật kinh tế nói chung và quy luật phân phối theo lao động nói riêng
Và việc “phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xãhội chủ nghĩa” sẽ làm cho phương thức phân phối cho tiêu dùng cá nhân đa dạng.Các thành phần kinh tế với chế độ sở hữu khác nhau nên phương thức phân phốikhác nhau, phù hợp với tính chất của từng chế độ sở hữu đó Kinh tế quốc doanh
và kinh tế thập thể tuy bước đầu được xây dựng còn non yếu, phương thức phânphối ở đây tất nhiên không thể không tuân theo nguyên tắc phân phối theo laođộng Với kinh tế quốc doanh thuộc hình thức sở hữu toàn dân, phân phối theo laođộng là phương thức phân phối cơ bản, chủ yếu, tuy nhiên, do quyền tự chủ sảnxuất kinh doanh của từng đơn vị kinh tế và sự chi phối của cơ chế thị trường, nhiềukhi những người công nhân ở các đơn vị khác nhau cùng bỏ ra một lượng lao độngnhư nhau nhưng thu nhập lại khôngbằng nhau Việc phân phối theo lao động chỉmới được thể hiện ở từng cơ sở, thông qua phân phối phần doanh thu có được
Trang 11trong sản xuất - kinh doanh Nó thể hiện ở chỗ ngoài tiền lương, người công nhâncòn được phân phối thông qua kinh tế phụ gia đình, tiền vốn cổ phần đóng góp vào
xí nghiệp và nhiều hình thức khác Tuy nhiên ở đây phải phân biệt mối liên hệ trựctiếp giữa thu nhập và đóng góp lao độngcó ích của người lao động với mối liên hệ
có thể là gián tiếp, giữa hai yếu tố đó trong phân phối theo giá trị, thông qua thịtrường
Với kinh tế hợp tác xã thuộc hình thức sở hữu tập thể, thực hiện chế độ khoángọn đến từng hộ gia đình xã viên, phân phối theo lao động được thực hiện thôngqua thu nhập từ kinh tế gia đình là chủ yếu, cộngvới phần phân phối của hợp tác xãtuỳ theo sự đóng góp lao động hoặc góp vốn của xã viên vào hợp tác xã
Nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là nền kinh tế hàng hoánhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đilên theo định hướng xã hội chủ nghĩa, quy luật phân phối theo lao động không thểphát huy tác dụng đối với toàn bộ nền kinh tế Đối với các thành phần kinh tếngoài quốc doanh và tập thể, phân phối theo lao động không là quy luật nội tại, nóchỉ có thể tác động ở mức độ nhất định thông qua hoạt động quản lý kinh tế vĩ môcủa Nhà nước bằng nhiều chính sách (luật lao động, các thứ thuế) nhằm điều tiếtthu nhập của các thành phần kinh tế đó Quy luật phân phối theo lao động chỉ cóthể phát huy tác dụng ngày càng đầy đủ và tính ưu việt của nó hơn các hình thứcphân phối khác trong toàn bộ nền kinh tế khi mà công cuộc cải tạo xã hội chủnghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội giành được thắng lợi có tính chất quyết định.Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải cải tạo xãhội cũ thành một xã hội mới, một xã hội không có chế độ người bóc lột người, một
xã hội bình đẳng, nghĩa là ai cũng phải lao động và có quyền lao động, ai làmnhiều thì hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng” (47)
Qua nội dung đã phân tích trên, có thể rút ra những kết luận sau đây:
Một là: Nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về phân phối theo laođộng dưới chủ nghĩa xã hội là hoàn toàn đúng đắn, khách quan, khoa học,l à mộttrong những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa xã hội mà các Đảng Cộng sản cầnnhận thức một cách nghiêm chỉnh để đưa đất nước đi theo con đường xã hội chủnghĩa, tiến lên chủ nghĩa cộng sản Xa rời nguyên tắc đó thì nhận thức lại chủnghĩa xã hội, cải cách, đổi mới sẽ không tránh khỏi sai lầm và đi chệch hướng.Hai là: nắm vững tinh thần, thực chất nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác -Lê-nin về phân phối nói chung và phân phối theo lao động nói riêng thể hiện ở sựvận dụng sáng tạo vào từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể của từng nước, từng thời kỳcách mạng và từng lĩnh vực hoạt động của kinh tế - xã hội Tính sáng tạo được cụthể hoá bằng sự nhận thức khoa học về sự hoạt động của quy luật phân phối theo
Trang 12lao động dựa trên những điều kiện tiên quyết khách quan về lực lượng sản xuất,quan hệ kinh tế - tổ chức và kinh tế - xã hội, bằng việc thường xuyên tổng kết thựctiễn và rút ra những kết luận chính xác cho chỉ đạo hành động, lấy động lực tăngtrưởng kinh tế và tiến bộ khoa học kỹ thuật làm tiêu chuẩn.
Ba là: Mọi nhận thức và hành động thái quá bằng cách: hoặc phủ nhận sạchtrơn tất cả các biểu hiện của quy luật phân phối theo lao động; hoặclà đề cao quámức phạm vi hoạt động của nó, nóng vội áp dụngvào thực tiễn những hình thứcphân phối mà thực chất nó chưa có đầy đủ các tiền đề vật chất và kinh tế - xã hội,đều mang lại những hậu quả xấu cho phát triển sản xuất và nhân cách con người,
và nói chung đều là có hại
Và để làm rõ điều này chúng tôi xin phân tích và đề cập đến ở phần sau
I.2 Quá tình thực hiện và một số vấn đề về phương hướng vận dụng quy luật phân phối theo lao động trong chặng đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, từ khi quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được xác lập, Đảng vàNhà nước xác định: “Phân phối theo lao động là một tất yếu khách quan dophương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa quyết định”(136) Đối với cán bộ, côngnhân, viênchức Nhà nước, phân phối theo lao động là “nguyên tắc cơ bản của tiềnlương dưới chế độ xã hội chủ nghĩa” (136) Phân phối theo lao động được coi làđòn bẩy “khuyến khích sản xuất, nâng cao năng suất lao động - sắp xếp lao độngmột cách có kế hoạch giữa các ngành kinh tế quốc dân”(136) Từ nhận thức vai trò
và tầm quan trọng của phân phối theo lao động trong thời kỳ khôi phục và cải tạokinh tế (1958-1960), Nhà nước đã hai lần cải tiến chế độ tiền lương (117) Cùngvới chính sách tiền lương, tiền thưởng, các khoản phụ cấp bổ sung thêm vào phânphối theo lao động, việc lãnh đạo sản xuất, quản lý thị trường, ổn định vật giá đãlàm cho tiền lượg thực tế ổn định, có tác dụng khuyến khích người lao động làmviệc Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thực hiện hai nhiệm vụchiến lược của Đảng, miền Bắc vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa phát huy tinhthần tự lực, tự cường của dân tộc vừa dựa vào viện trợ của các nước xã hội chủnghĩa, cùng với phân phối theo lao động , chúng ta đã cố gắng bảo đảm đời sốngvới những nhu cầu cơ bản cho toàn xã hội để động viên sự chi viện toàn diện củamiền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam Chính sách phân phối nhằm phục vụnhiệm vụ chính trị hàng đầu: bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam thống nhất
Tổ quốc Trong điều kiện đó, những quan hệ kinh tế vừa tuân theo quy luật kinh tếvừa chịu sự chi phối của quy luật chiến tranh và “giao thoa” với quy luật chiếntranh Quy luật phân phối theo lao động cũng chịu sự chi phối đó
Trang 13Chúng tôi cho rằng chính sách phân phối, chính sách tiền lương thời kỳ đó cótác dụng tăng cường sự đoàn kết toàn dân, chi viện sức người, sức của cho tiềntuyến, góp phần giành thắng lợi trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước Những chínhsách cụ thể, trong từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể đã có tác dụng lớn lao khi nó phùhợp với đòi hỏi tất yếu của giai đoạn lịch sử đó Quan niệm như vậy vừa có tínhbiện chứng vừa có tính lịch sử Tuy nhiên, để rút ra những kết luận về mặt kinh tếmột cách chính xác khó có thể dựa trên một thực tế có sự ảnh hưởng của rất nhiềucác yếu tố phi kinh tế, đó là các yếu tố của chiến tranh Chính vì vậy mà áp dụnghay duy trì quá lâu các phương pháp hay cơ chế quản lý thời chiến như cơ chế tậptrung quan liêu, bao cấp vào giai đoạn xây dựng đât nước trong thời bình đã khôngđưa lại kết quả như mong muốn, mà còn gây ra những hậu quả tiêu cực Ngày nayđiều kiện lịch sử đã thay đổi mà chính sách phân phối vẫn duy trì trên cơ chế cũ.Xét về mọi phương diện, đến nay nước ta vẫn còn ở chặng đầu của thời kỳ quá độ,việc vận dụng quy luật phân phối theo lao động như ở một xã hội xã hội chủ nghĩa
đã hoàn thiện làm cho quan hệ phân phối trở thành nhân tố kìm hãm sự phát triểnkinh tế và tiến bộ xã hội
Không còn nghi ngờ gì nữa, những sai lầm vừa qua liên quan trực tiếp đếnnhận thức và vận dụng quy luật phân phối theo lao động, thể hiện trước hết ở chủnghĩa bình quân; tiền lương không đủ tái sản xuất sức lao động; phần lương theocấp bậc kỹ thuật và chức vụ ngày càng chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng thu nhập; nhữngchênh lệch bất hợp lý trong thu nhập của cán bộ, công nhân và viên chức nhànước
Chủ nghĩa bình quân trong tiền lươnglà một thiếu sót kéo dài, xa lạ với chế độphân phối theo lao động Nó không những không khuyến khích tài năng và nhữngngười lao động giỏi, thù lao đúng mức những người có cống hiến nhiều cho xã hội,
mà còn gây ra tâm trạng làm việc tắc trách, ỷ lại, lười biếng Chủ nghĩa bình quântrong tiền lương biểu hiện trước hết trong thang, bảng lương: mức chênh lệch vềtiền lương danh nghĩa giữa lao động phức tạp với lao động giản đơn; giữa lao độngđào tạo với không đào tạo; giữa thợ bậc cao và thợ bậc thấp là không đáng kể Ví
dụ như: lương công nhân cơ khí luyện kim bậc 3/7 so với cán bộ tốt nghiệp đại học
là 299đ/299đ và theo cách tính lại lương là 30.600đ/29.920đ (137,138,139; lươngcủa cán bộ khoa học, kỹ thuật xếp cùng khung bậc lương của cán sự và nhân viênhành chính - sự nghiệp (137) (Xem thêm phụ lục 1 và 2)
Đã có thời kỳ, tiền lương hiện vật (chủ yếu là bằng hiện vật cung cấp theo giáthấp) không gắn liền với kết quả lao động của người ăn lương, mang tính bao cấpnặng nề Ví dụ Phiếu E cấp cho những người có mức lương từ 60 đồng trở xuống;phiếu D cho những người có mức lương 61-90 đồng; từ 91-105 đồng hưởng phiếuC; việc cung cấp cho cả người ăn theo càng tăng thêm tính chất bình quân và
Trang 14không hợp lý Bởi vì, hàng cung cấp có định lượng ổn định chiếm tỷ trọng lớntrong tổng chi ngân sách gia đình: năm 1960=65,4, năm 1965=76,4%, năm1971=69,7% và năm 1975=64,8% (55) Chế độ thưởng, bồi dưỡng bữa ăn trưathường được căn cứ vào ngày công trong tháng, năm để phân chia, chứ không căn
cứ vào năng suất, chất lượng và hiệu quả công tác càng làm tăng thêm tính chấtbình quân
Cùng với chủ nghĩa bình quân là tình trạng tiền lưưong thực tế liên tục bịgiảm sút, không đủ bảo đảm tái sản xuất sức lao động một cách bình thường Bàn
về giá trị của sức lao động dưới chủ nghĩa tư bản, c.Mác đã viết: “ Để phát triển
và duy trì đời sống của mình, con người ta phải tiêu dùng một số lượng tư liệu sinhhoạt nhất định Nhưng, giống như máy móc con người cũng hao mòn và phải đượcthay thế bằng một người khác Ngoài số lượng những tư liệu sinh hoạt cần thiết để
duy trì bản thân người công nhân , người đó còn phải có một số lượng tư liệu
sinh hoạt nữa để nuôi nấng con cái nhằm thay thế người ấy trên trị trường lao động
và duy trì mãi mãi mãi giống người công nhân Hơn nữa, muốn phát triển sức laođộng của mình và có được một kỹ năng nhất định, ngưòi ấy còn phải tiêu phí thêmmột lượng giá trị nhất định nữa” (8) Quan điểm của C.Mác vẫn đúng trong điềukiệncủa chủ nghĩa xã hội
Do vậy, chính sách phân phối tiền lương phải luôn được hoàn thiện trên cơ sởphát huy các chức năng cơ bản của nó: một là, tiền lương phải bảo đảm tái sản xuấtsức lao động, coi tiền lương thực sự là một yếu tố của sản xuất và nằm ngay trongsản xuất (C+V) Quan điểm như vậy mới có thể khắc phục được tình trạng bìnhquân, coi tiền lương như là một bộ phận của chính sách xã hội Tuy nhiên, tiềnlương dưới chủ nghĩa xã hội không chỉ để tái sản xuất ra sức lao động, nó là mộtphần của số lượng và chất lượng lao động mà người công nhân đã cung cấp cho xãhội và được xã hội phân phối sau khi đã trừ đi các khoản khấu trừ cho mở rộng sảnxuất và tiêu dùng chung của xã hội Nó là một phần của giá trị mới mà anh ta đãsáng tạo ra và được xã hội bù đắp lại, không chỉ để tái sản xuất ra sức lao động màcòn để thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng lên, bảo dảm sự phát triển tự do và toàndiện của người lao động Hai là, tiền lương có tác dụng kích thích người lao độngnâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả Mâu thuẫn giữa một bên là nhu cầutiêu dùng của cuộc sống ngày càng tăng và có tính xã hội cao với một bên là thunhập có được để thoả mãn các nhu cầu đó, biến các nhu cầu đó thành nhu cầu cókhả năng thành toán, lại bị giới hạn bởi ngay chính sự đóng góp sức lao động của
họ Đây là động lực thúc đẩy họ phải thường xuyên nâng cao tay nghề, làm hếtnăng lực, và làm việc với chất lượng cao hơn Ba là, phân phối có chức năng liênkết sản xuất với tiêu dùng Việc xác định tỷ lệ trong quỹ tiêu dùng xã hội làm chosản phẩm đến với từng người tiêu dùng có một ý nghãi quan trọng trong tái sản
Trang 15xuất xã hội Tuy nhiên thực tế cho thấy có thể thực hiện quá trình đó theo phươngthức, hoặc tiền tệ hóa các thu nhập và mọi nhu cầu của người lao động được thoảmãn trên cơ sở mua và bán, hoặc ở mức độ phát triển cao của xã hội, thoả mãn nhucầu được hiện thông qua các hình thức phân phối trực tiếp như các nhà kinh điểncủa chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã dự đoán Bốn là, phân phối còn góp phần bảo đảmcông bằng xã hội Ở đây đòi hỏi mọi nhận thức về công bằng phải được thể hiệnbằng sự xứng đáng người lao động được hưởng thông qua việc đóng góp của họvào sản phẩm chung của xã hội Công bằng không thể đồng nhất với cào bằng vàchủ nghĩa bình quân trong phân phối.
Không thể đồng nhất phân phối theo lao động - nguyên tắc phân phối của chủnghĩa xã hội với phân phối theo giá trị của sức lao động, tức tiền lương của ngườicông nhân làm thuê Hai cơ chế này thể hiện sự tác động khác nhau của các nhân
tố quyết định lượng thu nhập của người lao động Một mặt, thu nhập của họ phụthuộc một cách trực tiếp vào tính hiệu quả và chất lượng lao động của chính bảnthân người lao động Mặt khác, là do nhiều yếu tố bên ngoài, mà ngay bản thânngười lao động cũng không làm chủ được tình thế như: điều kiện thiên nhiên, xahay gần thị trường, cạnh tranh thị trường, trang bị kỹ thuật tốt hay xấu, quan hệcung cầu về sức lao động, v.v Biểu hiện bề mặt của hiện tượng đó được phân biệtlà; nếu phân phối theo lao động phải đảm bảo rằng: ai làm tốt, người đó sẽ sốngtốt, thì phân phối theo giá trị sức lao động đảm bảo “số phận” tốt cho ai, là ngườikhông chỉ làm tốt mà còn gặp thời (vận may) trong thị trường
Ở nước ta từ sau năm 1975 đến nay tiền lương chưa làm tròn vai trò của nóđối với những người lấy đồng lương làm thu nhập chủ yếu hoặc duy nhất Có thểnói: “Mấy năm qua ở nước ta, tiền lương thực tế của công nhân, viên chức baogồm cả phần hiện vật và phần bằng tiền liên tục bị giảm sút, không đủ bảo đảm táisản xuất sức lao động một cách bình thường” (137) Trải qua nhiều lần cải tiến,điều chỉnh, tính lại và phụ cấp lương, chính sách tiền lương chưa có sự thay đổicăn bản, toàn diện, triệt để mà thường chắp vá, vì vẫn dựa trên cơ sở thang bảnglương cũ, v.v tình hình thực tế là tiền lương danh nghĩa tăng nhưng lương thực
tế lại giảm, vì nhịp độ tăng lương và các khoản phụ cấp chậm hơn nhiều so với sựgia tăng của giá cả Theo số liệu của Tổng công đoàn (Tổng liên đoàn lao độngViệt Nam), lương bình quân của một công nhân viên chức năm 1960 mua được
140 kg gạo, năm 1985 chỉ còn 2/5 của lương bình quân năm 1960 Mức tiền lươngdành cho ăn liên tục giảm: năm 1960 đạt 2300 calo/ngày, tháng 7-1987 chỉ còn
1651 calo/ngày, tháng 9-1985 đạt 2030/ngày, tháng 7-1987 chỉ còn 1651caolo/ngày (mức 1700-1980 calo/ngày là mức suy dinh dưỡng) (147) Cuối năm
1987 so với năm 1985 giá cả tăng khoảng 50-60 lần (183) Nếu tính từ năm 1960đến năm 1975, lương bình quân hàng tháng tăng lên 13%, thu nhập bình quân đầu
Trang 16người hàng tháng tăng 28%, nhưng thu nhập thực tế giảm 21% (55) “So với mứccuối năm 1985, tiền lương thực tế hiện nay (cuối năm 1990) chỉ bằng khoảng1/2”(141).
Trong điều kiện tổng thu nhập bằng tiền nhỏ hơn tổng giá cả những vật phẩmtiêu dùng thiết yếu do sự gia tăng giá cả, đòi hỏi hoặc phải tăng lương cùng nhịp
độ với tăng giá cả mặc dù không có sự thay đổi chất và lượng lao động, hoặc phảigiảm giá những hàng hoá tiêu dùng thiết yếu Nhưng việc bù giá, trợ cấp lương dotrượt giá thường chậm làm cho người ăn lương thiệt, đời sống khó khăn Việcchậm lương có thời kỳ trở thành phổ biến, đặc biệt đối với những đơn vị sản xuấtngành than, điện, các đơn vị hành chính - sự nghiệp, y tế, văn hoá giáo dục, lựclượng vũ trang, người về hưu và những người hưởng chính sách xã hội là nhữngđối tượng gặp nhiều khó khăn Tình hình đó làm cho công nhân không gắn bó vớicông việc và kết quả lao động, kiếm sống bằng mọi cách kể cả bất chấp luật lệ vàlàm thuê cho tư nhân để kiếm tiền chi dùng hàng ngày (94) Giáo viên bỏ nghề, bỏgiờ với con số đến mức báo động (từ tháng 9-1988 đến tháng 4-1989), ở mười tỉnhphía Nam, số giáo viên bỏ nghề lên đến gần 7.600 người (65) Ở các tỉnh phía Bắcgiáo viên bỏ nghề chưa phổ biến nhưng đã báo động
Tiền lương không đủ tái sản xuất sức lao động là một trong những nguyênnhân làm “tha hoá” người lao động, họ không thiết tha, gắn bó với nghề nghiệp,mất khả năng sáng tạo, suy giảm lòng tin vào chế độ xã hội, nảy sinh nhiều hiệntượng tiêu cực tác động xấu đến tiến bộ xã hội, phát triển kinh tế Nhấ là khi tiền tệhoá một phần tiền lương (ngoài các khoản như: học hành, nhà ở, phương tiện đi lại,dịch vụ y tế v.v ), đối tượng chịu nhiều thiệt thòi là lao động nặng nhọc, độc hại,lực lượng vũ trang, hao phí lao động lớn mà thu nhập thấp, còn lao động ở các cơ
sở xuất nhập khẩu, du lịch, dịch vụ, công nghiệp nhẹ, v mức hao phí lao độngthấp hơn lại có thu nhập cao hơn Bởi vì, một mặt, đối với các đối tượng này phần
họ được hưởng trong các khoản chưa được tiền tệ hoá là rất ít; mặt khác, nhữngkhoản đã được tiền tệ hoá vào lương lại bị giảm sút do giá cả tăng, các khoản phụccấp không tương ứng với lương hiện vật trước đây Do đó lương thực tế của cácđối tượng này càng giảm hơn so với các đối tượng khác Tình trạng trên đây cónguyên nhân sâu xa là do trình độ của lực lượng sản xuất còn thấp kém Nhưng vềmặt chủ quan là Nhà nước chưa xuất phát từ yêu cầu bảo đảm tái sản xuất sức laođộng, chưa căn cứ vào số lượng và chất lượng lao động để xác định mức lương chophù hợp
Hiện nay tại nhiều đơn vị kinh tế, tiền lương chiếm tỷ lệ nhỏ trong thu nhậpcủa người lao động (bao gồm tiền lương, tiền thưởng và các khoản phụ cấp nhiềuloại - xem phụ lục 3,4) Chúng tôi cho rằng tiền lương cấp bậc công việc, chức vụ,nghề nghiệp phải thực sự là bộ phận chủ yếu trong thu nhập của người lao động, có
Trang 17ý nghĩa quyết định trong việc bảo đảm và nâng cao đời sống của họ Có như vậy,
nó mới đóng vai trò quan trọng trong kích thích người lao động làm việc tốt hơn,quan tâm thiết thân hơn đến kết quả lao động và nâng cao trình độ tay nghề Vìvậy, tiền lương phải dựat rên cơ sở số lượng và chất lượng của lao động, nhằmkích thích tính tích cực của người lao động, nó khác với các biện pháp thuần tuýnhằm tăng mức sống chung cho người lao động
Việc vi phạm nguyên tắc phân phối theo lao động còn thể hiện ở sự chênhlệch bất hợp lý về tiền lương và thu nhập trong đội ngũ cán bộ, công nhân, viênchức Nhà nước làm việc trong các ngành, cơ sở sản xuất - kinh doanh khác nhau.Theo chúng tôi, sự khác nhau về tiền lương, thu nhập và mức sống phải thực sự dokết quả lao động, do năng lực, thể chất và hoàn cảnh gia đình của mỗi ngườiquyết định Thực tế ở ta vừa qua, do chế độ tiền lương theo kiểu tập trung, bao cấptoàn xã hội đã trở nên xơ cứng và trì trệ
Trong cơ chế quản lý kinh tế bao cấp, chính sách khấu hao tài sản cố định củaNhà nước quá thấp cũng là điều kiện để có thu nhập cao cho những cơ sở trực tiếp
sử dụng tài sản đó Cùng với thu khấu hao thấp do định giá tài sản cố định thấphơn giá trị, dưới giá vốn, những đơn vị kinh tế được Nhà nước cấp vật tư trongnước mua theo giá thoả thuận Bởi vì vật tư mua theo giá thoả thuận thường caohơn và không ổn định nên giá thành sản phẩm sản xuất ra cao Mặt khác, trong tìnhhình giá thường xuyên tăng và tăng với nhịp độ cao thì những đơn vị được cungứng nhiều vật tư sẽ có nhiều vật tư tồn đọng là điều kiện có lãi cao, trong trườnghợp đó, nếu không dùng vật tư để sản xuất mà đem bán vẫn có lãi
Chính sách hai giá trước đây là nguồn kiếm lợi đối với những người làm việctrong lĩnh vực phân phối lưu thông Sự chênh lệch giữa giá bán cung cấp trong cửahàng Nhà nước với giá bán tự do trên thị trường đã làm nảy sinh hiện tượng mậudịch viên tuồn hàng cho bọn con buôn, bán trong nội bộ, mua giá thấp, bán giá caocho người tiêu dùng để ăn chênh lệch giá “Khoản thu nhập không hợp lý nàythường do đem sản phẩm lưu thông ở thị trường tự do thu được chênh lệch giá cao,
do cân đong dối trá và bớt xén của nhân dân, do tuồn hàng Nhà nước cho conbuôn”(131) Ngoài ra những chênh lệch thu nhập bất hợp lý còn do các khoản baocấp khác của Nhà nước cho một số đối tượng
Nếu như hệ thống thang bảng lương hiện nay có mức chênh lệch không đáng
kể, phân biệt không rõ giữa lao động giản đơn và lao động phức tạp, những khoảnbao cấp bằng hiện vật trước đây làm mất tác dụng khuyến khích lao động, vi phạmnguyên tắc phân phối theo lao động, thì việc sơ hở, thiếu đồng bộ trong quản lýkinh tế ở tầm vĩ mô và thiếu những chính sách bảo đảm công bằng xã hội đã tạo ralãi giả, tạo ra sự chênh lệch về thu nhập giữa các đơn vị sản xuất kinh doanh vớinhau, giữa các đơn vị đó với các lĩnh vực hoạt động khác trong xã hội Mức phân
Trang 18hoá thu nhập trong thực tế tăng gấp nhiều lần so với quy định trong thang bảnglương danh nghĩa, chênh lệch đến mức phi lý, thu nhập của lao động phức tạp (cán
bộ giảng dạy, kỹ sư, bác sĩ, nhà khoa học) thấp hơn lao động giản đơn Sự chênhlệch đó không khuyến tài năng và lao động sáng tạo, không thể không phương hạiđến lợi ích của đông đảo quần chúng lao động, lợi ích của Nhà nước đến phát triểnkinh tế và tiến bộ xã hội
Những điều phân tích ở trên nói lên rằng, mối liên hệ giữa thu nhập và tiềnlương đang quá lỏng lẻo Tình trạng đó chẳng những làm cho nguyên tắc phân phốitheo lao động và công bắng xã hội bị vi phạm, bị coi nhẹ và kém hiệu lực mà còntạo điều kiện cho việc hình thành các khoản thu nhập phi lao động, thu nhập bấtchính trong xã hội Thực tế đã bức bách đòi hỏi phải cải cách chế độ tiền lương,xoá bỏ tận gốc chế độ bao cấp, thực hiện tiền tệ hoá tiền lương
Một vấn đề khác cần quan tâm là sự phân hoá thu nhập không định hướng,trong xã hội đã và đang tạo điều kiện cho các hiện tượng phân phối tùy tiện thiếu
cơ sở khoa học, những chệnh lệch do thu nhập bất chính đã vi phạm nguyên tắcphân phối theo lao động và làm tăng thêm những bất công xã hội Tình trạng đó đãgây ra sự bất bình trong đội ngũ những người lao động chân chính, đặc biệt là độingũ trí thức, lực lượng vũ trang
Với việc chuyển sang cơ chế tự chủ và hạch toán kinh doanh xã hội chủnghĩa, các cấp, các ngành, các đơn vị tìm mọi cách để tăng thêm thu nhập cho côngnhân viên chức của mình Nhìn chung, việc trả lương theo cơ chế mới đã có tácdụng tích cực thúc đẩy tính năng động trong sản xuất, kinh doanh, tinh thần tráchnhiệm và sáng tạo của người lao động Từ đó, cùng một trình độ như nhau nhưngđơn vị nào làm ăn giỏi, tiền lương của người lao động ở đó cao hơn là hoàn toànhợp lý Tuy nhiên, hiện nay có tình trạng mức lương, tiền lương giữa các đơn vịkinh tế lại chênh lệch nhau một cách quá xa, không hợp lý Có thể giữa nhữngngười lao động không hơn kém nhau về trình độ lành nghề, trình độ đào tạo, nănglực, thể chất và kết quả lao động nhưng thu nhập lại hơn kém nhau nhiều lần, thậmchí những người có trình độ lành nghề cao, lao động tốt, cống hiến cho xã hội vàtập thể nhiều lại có thu nhập thấp hơn những người có kỹ năng nghề nghiệp kém,lao động tồi, cống hiến ít Nguồn gốc của sự chênh lệch bất hợp lý đó có thể do sựtuỳ tiện của các đơn vị cơ sở, sơ hở trong quản lý, điều hành nền kinh tế ở tầm vĩ
mô Đó là chưa kể đến có những xí nghiệp, công ty làm ăn không trung thực, tẩután tài sản của Nhà nước, buôn bán vật tư vòng vèo để ăn chênh lệch giá, lậu thuế,trốn thuế, thậm chí buôn lậu để có lợi nhuận cao nhằm phân phối nội bộ, càng tạonên tình trạng bất hợp lý trong thu nhập của cán bộ,công nhân, viên chức, giữa đơn
vị kinh tế và cơ quan hành chính - sự nghiệp
Trang 19Từ sau đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng và Nhà nước
đã có những cải tiến trong chính sách phân phối, tiền lương, quản lý v.v nhằmvừa khắc phục tình trạng bình quân, tiền lương không đủ sống, ổn định đời sống vànâng dần tiền lương thực tế,vừa khắc phục tình trạng “thu nhập chênh lệch quá bấthợp lý, gây mất ổn định và bất bình trong xã hội”(124) Nhưng đến nay tình hình
đó vẫn chưa được khắc phục đáng kể
Trong hợp tác xã sản xuất nông nghiệp nông thuộc thành phần kinh tế tập
thể, nguyên tắc phân phối theo lao động được vận dụng để hình thành thu nhập cánhân của xã viên hợp tác xã Do đặc điểm đặc thù của kinh tế tập thể, phân phốithu nhập cho xã viên vừa bằng hiện vật vừa bằng giá trị Tuy nhiên, đó không phải
là cách phân phối duy nhất Bởi vì, tình hình chính trị, xã hội của đất nước có chiphối đến chính sách phân phối, có thời kỳ chỉ căn cứ vào ngày công, có thời kỳ lạinhằm trước hết bảo đảm nhu cầu cơ bản về lương thực cho các đối tượng trong hợptác xã hoặc là vừa phân phối theo ngày công vừa chú ý đến nhu cầu cơ bản vềlương thực Nếu kể từ khi hợp tác xã sản xuất nông nghiệp được thành lập cho đếnnăm 1980, chúng tôi cho rằng: phân phối thu nhập trong hợp tác xã sản xuất nôngnghiệp đã diễn ra theo hai cách chủ yếu (giai đoạn hợp tác xã sản xuất nông nghiệpbậc thấp, phân phối thu nhập vừa căn cứ vào ngày công điểm vừa theo hoa lợiruộng đất và công cụ của từng hộ vào kinh tế hợp tác xã, nhưng giai đoạn này rấtngắn so với khoảng thời gian từ 1958-1980)
Cách thứ nhất: dựa trên công điểm của từng người đóng góp cho tập thể đểphân phối hiện vật Căn cứ dự phần phân phối là lao động - ngày công đóng gópcho kinh tế tập thể - theo phương châm “ai làm nhiều, làm tốt được phân phốinhiều, ai làm ít, làm kém hưởng ít, ai có khả năng lao động mà không làm thìkhông được phân phối Cách phân phối này trong thời kỳ đầu đã có tác dụng tíchcực, khuyến khích xã viên tích cực lao động để có nhiều ngày công, nhất là đối vớinhững người có ít vốn góp vào sản xuất khi hợp tác xã sản xuất nông nghiệp còn ởbậc thấp Bởi vì, nếu điều kiện tự nhiên, thời tiết ít biến động phức tạp, tính côngchấm điểm cho những khâu, công đoạn công việc theo những định mức lao động
Từ đó tinh thần, thái độ, kỷ luật lao động được nâng cao, xã viên gắn bó với đồngruộng, quan tâm đến kết quả sản xuất và năng suất lao động có thu nhập cao Songcách phân phối này tỏ ra quá cao so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
đã đạt được trong nông nghiệp, không thích hợp với đặc điểm, quá trình sản xuấtnông nghiệp Sản xuất nông nghiệp khác với sản xuất công nghiệp Trong côngnghiệp, quá trình sản xuất là dùng công cụ, máy móc để chế biến nguyên liệu thànhphẩm: còn trong nông nghiệp, sự tác động của lao động là nhằm tạo ra những điềukiện thuận lợi để các vật nuôi, cây trồng sinh sôi phát triển Đểđạt được sản lượng
và năng suất cao, đòi hỏi sự chăm sóc thường xuyên, điều chỉnh các hoạt động sản
Trang 20xuất cho phù hợp với sự biến động của khí huậu, thời tiết Do đó khó có thể đánhgiá chất lượng, kết quả công việc để trả công trước khi có kết quả cuối cùng và khó
đo lường, đánh giá lao động bằng đơn vị thời gian một cách trừu tượng Không thểtrả công theo hoàn thành công việc từng công đoạn, khó có thể chuyen môn hoáhẹp từng công đoạn chi tiết một cách cứng nhắc Việc trả công điểm theo côngđoạn sản xuất, lấy ngày công làm thước đo và căn cứ dự phần trong phân phối thunhập đã làm cho người lao động chỉ quan tâm đến ngày công, để có nhiều ngàycông, kể cả khai khống, làm dối, làm ẩu chứ không quan tâm đến năng xuất, kếtquả cuối cùng của sản xuất, tạo ra tình trạng rong công phóng đểm Kết quả sảnxuất không chỉ phân phối cho trực tiếp sản xuất mà cả công quản lý, công văn hoá
xã hội, công xây dựng cơ bản cho hợp tác xã, công nghĩa vụ với Nhà nước, côngchiến đấu, tập quân sự, hội họp, tiếp khách v.v Tình hình trên đây dẫn đến sốngày công của hợp tác xã rất cao còn giá trị ngày công lại thấp Trong quan hệ vớiNhà nước, người xã viên không còn tư cách chủ thể của sản xuất, của sản phẩm laođộng, mà chỉ là người giao nộp lương thực, sản phẩm nông nghiệp theo chỉ tiêupháp lệnh Việc giao nộp không dựa trên một quan hệ kinh tế nào Bởi vì, số lượngsản phẩm và giá cả được Nhà nước định sẵn với giá rẻ hơn nhiều lần so với giá cảthị trường Chúng tôi cho rằng, việc phân phối thu nhập cho người lao động tronghợp tác xã sản xuất nông nghiệp là phân phối theo nguyên tắc “còn lại” Tạm gọinhư vậy và có thể khái quát thành công thức: SP-CP-NV-Q-V (SP: sản phẩm củalao động; CP; bù đắp chi phí sản xuất dưới hình thức hiện vật để sản xuất năm sau;NV: nghĩa vụ với Nhà nước; Q: các loại quỹ hợp tác xã; V: phần dành phân phốicho ngày công) Cách phân phối này được thể thiện trong điều 29 điều lệ hợp tác
xã sản xuất nông nghiệp bậc thấp Với công thức phân phối thu nhập này, phảichăng những năm thiên tai mất mùa, nếu trừ đi các khoản quỹ của hợp tác xã,nghĩa vụ với Nhà nước theo số lượng xác định, phần còn lại không đủ nuôi sống xãviên ở mức tối thiểu
Việc áp dụng nguyên tắc “còn lại” như vậy phải chăng xuất phát từ sự nhậnthức một cách giáo điều, rập khuôn theo sơ đồ mà C.Mác đã đề cập trong Phê pháncương lĩnh Gô ta Người ta đã không lường trước được rằng, lợi ích người lao động
- động lực trực tiếp của phát triển sản xuất - đã vô tình hay hữu ý bị coi nhẹ, gạtxuống hàng thứ yếu Và đây là một trong những nguyên nhân làm thất bại mô hìnhhợp tác xã kiểu cũ tồn tại trước khi có khoán 100
Cách thứ hai: trong thời kỳ chiến tranh phân phối lương thực theo định xuất,bảo đảm định lượng lương thực cho các đối tượng trong hợp tác xã, nếu có thunhập theo ngày công cao hơn định suất thì phần lớn hơn đó được phân phối bằngtiền Hội đồng chính phủ đã ra nghị quyết về phân phối lương thực như sau: “mức
ăn lương thực của người lao động nhiều nhất cũng không quá mức của công nhân
Trang 21công nghiệp, tuỳ theo loại lao động mà có mức ăn khác nhau, số ngày công còn lạiđược phân phối bằng tiền” Và đến năm 1978 Nhà nước vẫn có chủ trương: Tổng
số lương thực sau khi đã trích nộp thuế, lập quỹ của hợp tác xã, trừ hao hụt, trừmức ăn theo định lượng, phần còn lại Nhà nước thu mua 90% Chính sách phânphối này tồn tại đến năm 1980
phân phối theo định suất không chỉ mang tính chất bình quân, không phânbiệt sự đóng góp lao động khác nhau cho tập thể, lao động giỏi với lao động kém,siêng năng với chây lười, mà còn mang tính bao cấp tràn lan do diện ưu tiên, điềuhoà lương thực ngày càng đông Phải nói rằng “chế độ phân phối lương thực màchúng ta xây dựng trên những nguyên tắc bình quân đã tạo nên một chế độ dànđều, đôi khi có hại cho việc đẩy mạnh sản xuất”(39) Bởi vì, sự chây lười hay tíchcực không làm thay đổi tương quan về thu nhập và mức sống giữa họ; người laođộng dựa dẫm, ỷ lại tập thể, không quan tâm đến kết quả sản xuất; mọi tiềm năngtrong nông nghiệp không được khai thác hết và sử dụng có hiệu quả Song đứng vềmặt lịch sử mà xét, cách phân phối lương thực theo định suất, định lượng “tối thiểumười ba, tối đa mười tám, số lương thực còn lại Nhà nước thu mua” là phù hợ vớiđiều kiện thời chiến đã được xã viên ở hậu phương và người chiến sĩ tiền tuyếnchấp nhận Thực tế lịch sử không phủ nhận vai trò tích cực và hiệu lực thực sự củachính sách phân phối thu nhập trong hợp tác xã sản xuất nông nghiệp ở thời kỳ đó,góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước Tuy nhiên, ở đây xétthực trạng của sự phân phối bình quân ngoài nguyên nhân của chiến tranh còn cócác nguyên nhân của bản thân kinh tế nông nghiệp Đó là trình độ thấp kém củakinh tế nông nghiệp, việc tập thể hoá gần như tuyệt đối về tư liệu sản xuất và sứclao động, việc tạo ra những quan hệ xã hội chủ nghĩa khi chưa có những điều kiệncần và đủ thì khó tránh khỏi tình trạng phân phối bình quân, không thể thực hiệnđầy đủ nguyên tắc phân phối theo lao động
Qua phân tích hai cách phân phối thu nhập trong hợp tác xã sản xuất nôngnghiệp, nếu không kể đến kiểu phân phối trong điều kiện cả nước có chiến tranh,chúng tôi, có thể rút ra kết luận bước đầu: phân phối theo ngày công, khoán việctrong hợp tác xã sản xuất nông nghiệp từ cuối năm 1980 trở về trước chưa quántriệt đầy đủ nguyên tắc: “bảo đảm và vì lợi ích cá nhân người lao động”, chưa lấylợi ích cá nhân xã viên làm động lực trực tiếp trong quá trình hợp tác hoá và hoạchđịnh chính sách phân phối thu nhập trong hợp tác xã sản xuất nông nghiệp Do đógây nên sự phản ứng tiêu cực trong xã viên, làm mất đi những động lực kinh tếthúc đẩy phát triển nông nghiệp và khai thác các tiềm năng của nông thôn Sự trìtrệ và tan rã của phong trào hợp tác hoá, chế độ hợp tác xã nông nghiệp cũng bắtnguồn từ đó
Trang 22Từ khi thực hiện chỉ thị “100-CT/TW”, dựa trên sản lượng khoán và nhữngkhoản phải nộp, người lao động có thể tính toán sơ bộ được thu nhập của mình,đặc biệt là được hưởng toàn bộ phần vượt khoán Lợi ích của người lao động đượcđảm bảo hơn Do đó, họ quan tâm đến kết quả cuối cùng của sản xuất, tăng thêmđầu tư về lao động và vật tư vào ruộng nhận khoán (xem phụ lục 6), kết quả là: sảnlượng lương thực bình quân đầu người từ 268,2 kg năm 1980 lên 304 kg năm 1985(190) mặc dù tốc độ tăng dân số từ năm 1981-1985 vẫn là 2,1% tốc độ tăng bìnhquân của sản xuất nông nghiệp cùng thời kỳ là 5,3% (190) Tuy niên với chínhsách khoán theo chỉ thị “100-CT/TW” bộ máy quản lý hợp tác xã vẫn cồng kềnh,tuy người nhận diện tích khoán chỉ đảm nhiệm một số khâu: chăm bón và thuhoạch còn một số khâu thuộc đội chuyên đảm nhiệm nhưng người nhận khoán vẫnphải chịu trách nhiệm về sản lượng Quá trình thực hiện khoán, các hợp tác xã tuỳtiện nâng, thay đổi mức khoán, phân phối lại ruộng và các khoán phải nộp, phânphối theo ngày công, tệ rong công phóng điểm và tham ô chè chén trong banquản lý vẫn còn làm cho lợi ích người nhận khoán bị vi phạm Quan hệ với Nhànước về trao đổi vật tư và sản phẩm nông nghiệp phải qua nhiều khâu trung giancũng gây ra thiệt hại, thua lỗ cho nông dân, v.v Tất cả những vấn đề đó làm chothu nhập của xã viên từ kinh tế tập thể giảm sút, họ trả bớt ruộng khoán, lao độngkém tích cực, tình hình sản xuất nông nghiệp lại lâm vào trì trệ, giảm sút Sảnlượng lương thực năm 1986 so với năm 1985 chỉ tăng 1%, năm 1987 giảm 4,1% sovới năm 1986 (93).
Sự chuyển biến tích cực của nông nghiệp có tính chất bước ngoặt là thời kỳthực hiện Nghị quyết 10 củ Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá
VI (5-4-1988) “về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” Mỗi một hộ xã viên làmột đơn vị cơ sở, có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, lợi ích cá nhân ngườilao động được bảo đảm hơn Đảm nhận khâu nào được trả công bằng sản phẩm
khâu ấy; chế độ phân phối theo ngày công bị xoá bỏ; ổn định ruộng và sản lượng
khoán với thời hạn dài hơn; ngoài thuế là nghĩa vụ bắt buộc duy nhất, quan hệ kinh
tế giữa người lao động, hợp tác xã và tập đoàn sản xuất, Nhà nước với nhau làquan hệ trao đổi hàng hoá theo giá thoả thuận thông qua hợp đồng kinh tế thịtrường và mua bán tự do trên thị trường Do đó khắc phục được tình trạng bao cấpqua giá; xóa bỏ những chi phí bất hợp lý như: lấy thu nhập của hợp tác xã trợ cấpcho cán bộ Đảng và các đoàn thể; việc lập quỹ được tính toán chặt chẽ hơn; bộmáy quản lý phổ biến giảm từ 30-35%(171) v.v Kết quả là thu nhập của người laođộng cao hơn trước, những hộ có lao động, vốn là kinh nghiệm sản xuất càng cóthu nhập cao Theo số liệu từ hội nghị sơ kết thực hiện Nghị quyết 10 do Ban bíthư tổ chức, sau gần một năm thực hiện khoán sản phẩm theo Nghị quyết 10, ngườisản xuất được hưởng từ 35-45% sản lượng khoán; số hộ có lao động, vồn nhiều
đảm nhận nhiều khâu được hưởng 60-70% (trước là 15-20%) Sản lượng vượt
Trang 23khoán cao hơn, hạn chế khê đọng sản phẩm, thu hồi được nợ cũ, v.v (133) (xemphụ lực 7) Lợi ích người lao động được bảo đảm đã thực sự thúc đẩy sản xuất pháttriển Ví dụ: năm1988 sản lượng lương thực đạt 19,58 triệu tấn, tăng so với năm
1987 hơn 2 triệu tấn; năm 1989 đạt 20,6 triệu tấn, giải quyết được một bước nhucầu về lương thực (319kg/người) và xuất khẩu được 1,5 triệu tấn gạo (tương đương
3 triệu tấn thóc) (190) Mặt tích cực của khoán theo nghị quyết10 còn được thểhiện ở tính công khai của lợi ích cá nhân ngay từ khi nhận khoán, khắc phục đượcchủ nghĩa bình quân, loại trừ bớt yếu tố ăn bám v.v vì vậy, Nghị quyết 10 đượcquần chúng đón nhận một cách hào hứng, phấn khởi, tích cựclao động, đầu tư thâmcanh, tăng vụ và mở rộng diện tích
Song cuộc sống cũng xác nhận sự hạnchế trong quá trình vận dụng nghị quyết
10 như: có những địa phương, hợp tác xã tuỳ tiện đặt nhiều khoản thu ngoài quyđịnh; Nhà nước và các cơ quan cung ứng nâng giá vật tư nông nghiệp khi chưa cóchính sách bảo hộ sản xuất nông nghiệp, cung ứng chậm hoặc không đủ cũng làmcho thu nhập của người nhận khoán giảm sút; chính sách xã hộỉ nông thôn chưathống nhất, do đó đối tượng hưởng chính sách đang là những người gặp nhiều khókhăn trong đời sống
Từ những nội dung phân tích trên, chúng ta thấy mỗi khi thu nhập của ngườilao động gắn với kết quả làm việc của họ thì quan hệ phân phối có tác dụng rất lớntrong việc nâng cao năng suất lao động Phân phối theo lao động là cách phân phốitiến bộ so vớ chế độ phân phối trong các xã hội có giai cấp bóc lột Ở nước ta, xét
về mọi phương diện, chúng ta chưa có chủ nghĩa xã hội, việc vận dụng quy luậtphân phối theo lao động vừa qua chưa tính đến những đặc điểm của một xã hộiđang ở chặng đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cho nên có lúc đã đềcao quá mức tính ưu việt của chế độ công hữu đối với tư liệu sản xuất khi nó mới
xã hội hoá trên hình thức Khi đề xuất chính sách phân phối đã không tính đếnnhững yếu tố tiêu cực do vận dụng một cách nóng vội những quy luật mà trên thực
tế chúng chưa có điều kiện để phát huy đầy đủ tác dụng Đã có thời kỳ Nhà nước,các tổ chức tập thể trở thành người ban phát bao cấp cho mọi đối tượng trong xãhội, phân phối mang nặng tính bình quân, tình trạng ỷ lại, lười biếng kéo dài, hiệuquả kinh tế thấp, những người có thu nhập cao không gắn với sự cống hiến của họ,công bằng xã hội bị vi phạm nghiêm trọng
Tóm lại: Việc phân phối cho tiêu dùng cá nhân ở khu vực quốc doanh và tậpthể từng bước gắn bó hơn với nguyên tắc phân phối theo lao động, đã thể hiện tácdụng của nó đối với nền sản xuất xã hội Tuy nhiên, đất nước ta chưa ra khỏikhủng hoảng kinh tế, xã hội, chế độ tiền lương còn nhiều mặt bất hợp lý, thu nhậpcủa những người lao động, đặc biệt những người ăn lương thấp, đời sống một bộphận rất khó khăn, tình trạng bất công xã hội còn nặng nề Để thoát ra khỏi tình
Trang 24trạng đó, từng bước ổn định và phát triển kinh tế, khâu phân phối đóng vai trò quantrọng Nắm vững những đặc điểm của đất nước trong chặng đầu của thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội để có chính sách phân phối, điều tiết thu nhập hợp lý là hếtsức cần thiết.
Những lập luận và phân tích trên đây mới chỉ ra được những bất hợp lý trongnội tại phạm vi tiền lương Để có lời giải triệt để đòi hỏi phải nghiên cứu một cáchtổng quan toàn bộ hệ thống phân phối và trước hết là phân phối tổng sản phẩm xãhội, tức là quan hệ giữa nó (C+V+m) với tiền lương(V) Vất đề này vượt ra ngoàinhiệm vụ của luận án đặt ra nên chúng tôi chưa bàn đến
Từ những luận cứ khoa học và thực trạng phân phối cho tiêu dùng cá nhânđược trình bày ở trên, chúng tôi cho rằng mức độ tác dụng của các quy luật kinh tếnói chung và quy luật phân phối theo lao động nói riêng chịu sự chi phối đáng kểcủa những đặc điểm kinh tế, xã hội mà trong đó quy luật hoạt động, do đó khi vậndụng quy luật phải nắm vững tính phổ biến của nó, đồng thời căn cứ và xuất phát
từ những đặc điểm đó mới có thể hành động có hiệu quả, tránh được giáo điều rậpkhuôn, chủ quan duy ý chí
Nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội, những tư duy mới về kinh tế giúp ta xácđịnh được mô hình nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.Như Đại hội lần thứ VII của Đảng khẳng định: đó là nền kinh tế hàng hoá bao gồmnhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý, điều tiết của Nhànước Nền kinh tế đó vừa hạn chế mức độ hoạt động của quy luật phân phối theolao động, vừa làm cho quy luật phân phối theo lao động từng bước đóng được vaitrò là hình thức phân phối cơ bản của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa và cókhả năng chi phối các hình thức phân phối của các thành phần kinh tế khác Thờigian cải cách và đổi mới chưa nhiều, nhưng cũng đủ cho chúng ta khẳng địnhnhững cái đúng và những cái sai, lệch lạc, từ đó xác định phương hướng vận dụngquy luật một cách khách quan, khoa học hơn
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đặc bệt là trong chặngđầu, các thành phần kinh tế song song tồn tại, đan xen vào nhau khá phức tạp, vừacạnh tranh vừa hợp tác trong một nền kinh tế thống nhất và bình đẳng với nhautrước pháp luật Mỗi một thành phần hoạt động theo những quy luật riêng, có lợiích riêng, có quỹ tiêu dùng riêng và hình thức phân phối riêng
Do khuôn khổ nhiệm vụ của luận án không đề cập đến toàn bộ vấn đề phânphối trong nền kinh tế nhiều thành phần mà mục đích chỉ là để thấy sự tồn tạikhách quan của nó, sự đan xen tác động lẫn nhau giữa các hình thức phân phối, đềcập một số vấn đề về phương hướng vận dụng quy luật phân phối theo lao độngtrong thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa, từng bước phát huy tác dụng chi phối
Trang 25của quy luật kinh tế đó đối với nền kinh tế, một mắt khâu quan trọng làm cho thànhphần kinh tế xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển lớn mạnh, thực hiện được vaitrò chủ đạo của nó đối với toàn bộ nền kinh tế.
Để cho thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa giành thắng lợi, lịch sử đã chứngminh và kết luận là không thể dùng mệnh lệnh, sức mạnh của chuyên chính vô sản
để xoá bỏ các thành phần kinh tế khác, mà là quá trình thành phần kinh tế xã hộichủ nghĩa ngày càng lớn mạnh và chiếm vị trí thống trị khi kết thúc thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội, liên kết, dẫn dắt các thành phần kinh tế khác đi lên chủ nghĩa
xã hội, là sự “tự nguyện” rút lui của các thành phần kinh tế đó khi tỏ ra không còntác dụng đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất Điều đó có thể và chỉ diễn rakhi thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa chiếm được ưu thế về mọi mặt trong nềnkinh tế quốc dân, trong đó đặc biệt là năng suất lao động Bởi vì, như V.I Lê-nin
đã nói: “Xét đến cùng, thì năng suất lao động là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhấtcho thắng lợi của chế độ xã hội mới”(34) Hiện nay nếu xét về quy mô, trang bị kỹ
thuật, chất lượng đội ngũ lao động, v.v rõ ràng thành phần kinh tế quốc doanh đã chiếm ưu thế hơn các thành phần kinh tế khác, môi trường hoạt động cũng thuận
lợi hơn Nhưng xét về mặt hiệu quả kinh tế, năng suất lao động, phân phối cho tiêudùng của người lao động, thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa chưa thực sự chiếm
ưu thế Trong nhiều trường hợp, thu nhập của những người lao động trong các cơ
sở kinh tế tư nhân lại cao hơn trong thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa Với nềnkinh tế cơ cấu nhiều thành phần, thực tế đó không được khắc phục sẽ làm xuất hiện
sự di chuyển của những người lao động giỏi, có tài từ thành phần kinh tế xã hộichủ nghĩa, cơ quan Nhà nước sang các thành phần kinh tế khác Điều đó cản trởđến xác lập vai trò nền tảng của kinh tế xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp đổi mới Do
đó, chế độ, chính sách phân phối phải xuất phát từ lợi ích của người lao động, laođộng trong thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa có thu nhập cao hơn những ngườilàm trong các thành phần kinh tế khác Có nghĩa là phân phối theo lao động phảitạo ra năng suất lao động cao hơn so với trả công theo giá trị hàng hoá sức laođộng
Phân tích mối quan hệ qua lại giữa thu nhập và năng suất lao độngcho thấy,không thể có năng suất lao động cao nếu không có điều kiện sống và điều kiện làmviệc tốt, song muốn có thu nhập cao để cải thiện các điều kiện đó phải tạo ra năngsuất lao động cao Có như vậy mới có thể giành thắng lợi cho chủ nghĩa xã hộitrong cuộc đấu tranh “ai thắng ai” Bởi vì, thông qua cơ chế vận hành nguyên tắc
“làm theo năng lực hưởng theo lao động” sẽ kích thích làm theo và làm hết nănglực với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, tạo điều kiện cho sự phát triển mạnh
mẽ của lực lượng sản xuất xã hội Nhưng để thu nhập gắn với kết quả lao động,cống hiến hữu ích của từng người, phải sắp xếp lại lao động trong hoạt động sản
Trang 26xuất kinh doanh và cơ quan Nhà nước một cách hợp lý Chế độ bao cấp trong sảnxuất và tiêu dùng trước đây đã khiến mọi người tìm cách để được vào biên chế Nhànước, vì nó là cái bảo đảm công ăn việc làm suốt đời, dù cho kết quả lao động nhưthế nà, do đó biên chế ngày càng tăng, không chỉ trong bộ máy quản lý Nhà nước
mà cả trong lĩnh vực sản xuất, kinh tế Bao cấp là thời kỳ ai cũng có việc làm,nhưng không có đủ việc để làm hết công suất, hoặc không ai chịu làm việc hết khảnăng, còn thu nhập thì chia nhau một phần của cải ít ỏi và do đó quỹ tiền lương trởthành cứu tế, ban phát cho người lao động Tình hình đó làm cho nền kinh tế trì trệ,khủng hoảng
Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới, đem lại sức sống và sự chiến thắng chocon đường xã hội chủ nghĩa, xét trên lĩnh vực phân phối, phải sắp xếp lại biên chếtrong hoạt động kinh tế và bộ máy quản lý sao cho tinh giản, bớt lãng phí lao động,nâng cao thu nhập của người lao động Tuy nhiên, việc giảm biên chế, sắp sếp và
bố trí lại lao động trong thời kỳ đầu không khỏi dẫn đến hậu quả là làm cho độingũ những người không có công ăn việc làm tăng lên Những vấn đề mấu chốt lúcnày là hiệu quả kinh tế, xã hội, không còn con đường nào khác là phải khắc phụctình trạng bình quân bao cấp trong sắp xếp lao động cũng như phân phối
Đứng về hiệu quả kinh tế - xã hội mà xét, vừa bảo đảm sản xuất, hoạt độngkinh tế có hiệu quả vừa giải quyết đầy đủ công ăn việc làm cho người lao động làmột vấn đề có tính chiến lược lâu dài, trong tương lai gần, cần thiết tính toán, giảithể hoặc chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với những đơn vị làm ăn thua lỗkéo dài, giải thể những cơ quan không cần thiết, giảm biên chế đến mức có thể,tiến tới thực hiện chế độ hợp đồng, có như vậy những người đang làm việc mớichăm lo đến chất lượng và năng suất lao động, đồng lương mới có cơ sở để nângcao Đi đôi với việc giảm biên chế cần sử dụng nhiều biện pháp, chính sách để giảiquyết công ăn việc làm, đảm bảo đời sống cho những người dôi ra với một tinhthần tích cực và với ý thức trách nhiệm cao
Nói đến ưu thế của phần phối theo lao động, nếu chỉ đề cập đến số lượng, chấtlượng lao động đóng góp cho tập thể và xã hội thì chưa đủ, nhiều khi có số lượng,chất lượng lao động mà chưa hẳn đã có sản phẩm có ích được xã hội thừa nhận Do
đó, vận dụng quy luật phần phối theo lao động còn phải phù hợp với nền kinh tếhàng hoá và các phạm trù có liện quan như: giá trị, giá cả, cung cầu, thị trườngv.v những vấn đề nảy sinh từ chuyển nền kinh tế hiện vật sang kinh tế hàng hoá,
từ tập trung bao cấp sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa
Trải qua mấy chục năm xây dựng xã hội chủ nghĩa, chúng ta thường quanniệm nền kinh tế xã hội chủ nghĩa như một xưởng máy, một công trường khổng lồtrong đó lao động mang tính chất xã hội trực tiếp Làm việc ở bất cứ lĩnh vực nàođều thuộc Nhà nước quản lý, đều được coi là lao động xã hội cần thiết và hưởng
Trang 27thu nhập theo số lượng và chất lượng lao động Việc xác định số lượng và chấtlượng lao động được căn cứ vào lao động tiềm tàng, cấp bậc đào tạo, v.v và quyđịnh một cách tập trung thống nhất, chi tiết đến từng loại xí nghiệp, đơn vị, cơquan Tiền lương không được đưa vào hạch toán không chỉ đối với bộ phận hưởnglương từ ngân sách mà cả đối với những đơn vị sản xuất kinh doanh Vì lươngkhông chỉ bằng tiền mà một phần lớn bằng hiện vật, lương hiện vật do ngân sáchchi và do đó không đưa vào hạch toán.
Việc chuyển nền kinh tế hiện vật, bao cấp sang kinh tế hàng hoá và hạch toánkinh doanh, mở rộng quyền tự chủ sản xuất- kinh doanh của các xí nghiệp, hợp tác
xã là sự phản ánh trình độ xã hội hoá hiện nay, phù hợp với trình độ phát triển củalực lượng sản xuất Do đó, từng đơn vị kinh tế có quỹ tiền lương riêng, trên cơ sởkinh doanh sản phầm hàng hoá, sau đó việc phân phối quỹ lương đó theo sự đónggóp lao động của cá nhân Đây là hình thức hoạt động mới của quy luật phân phốitheo lao động Nói cách khác, đây là sự đan xen giữa quy luật phân phối theo laođộng với các quy luật của thị trường Và cùng với việc xác định các xí nghiệp, hợptác xã là những chủ thể sản xuất hàng hoá thì thu nhập của từng đơn vị, của ngườilao động không thể căn cứ vào hao phí lao động cá biệt để sản xuất ra sản phẩm màphải căn cứ vào hao phí lao động xã hội cần thiết (được xác định trên thị trường)thông qua doanh thu trong quá trình thực hiện sản phẩm Có nghĩa là , tiền lươngkhông tuỳ thuộc vào hao phí lao động cá biệt của từng đơn vị kinh tế mà tùy thuộcvào hao phí lao động xã hội cần thiết
Do căn cứ để xác định tiền lương như vậy, nên theo chúng tôi, đối với cácđơn vị, xí nghiệp, hợp tác xã đã thực hiện tự chủ trong sản xuất - kinh doanh, Nhànước không quy định thang, bảng, mức lương một cách thống nhất, trực tiếp, màchỉ cần có một khung lương mang tính hướng dẫn, còn các xí nghiệp, đơn vị tự tổchức việc trả lương: vận dụng nguyên tắc phân phối theo số lượng, chất lượng laođộng và dựa trên cơ sở kết quả cuối cùng của sản xuất-kinh doanh Một số chínhsách trả lương như vậy là sự “phi tập trung hoá quỹ lương”, quỹ lương được tạolập và phân phối ở từng xí nghiệp, cơ sở, chủ thể sản xuất hàng hoá, chứ không tậptrung trong tay Nhà nước như trước đây
Tuy nhiên, việc tiền tệ hoá tiền lương và hoạch toán một cách đầy đủ vào giáthành sẽ làm nảy sinh một thực tế là giá thành sản phẩm, hao phí cá biệt để sảnxuất ra hàng hoá cùng loại rất khác nhau, nhưng trên thị trường các loại hàng hoágiống nhau đều trao đổi theo một giá phản ánh lao động xã hội cần thiết, tác độngcủa quan hệ cung cầu Bởi vì trong nền kinh tế của ta hiện nay và cả trong mộttương lai gần (do chủ trương chú trọng công nghệ thu hút nhiều lao động, tạo ranhiều việc làm), trình độ trang bị về vốn, thiết bị, kỹ thuật, công nghệ giữa các xínghiệp, các ngành rất khác nhau mà những trang, thiết bị, kỹ thuật này chủ yếu từ
Trang 28số vốn ban đầu do Nhà nước cấp Tình hình đó làm cho những người lao động ởnhững đơn vị sản xuất kinh doanh khác nhau, mặc dù có cùng trình độ đào tạo nhưnhau, hao phí lao động như nhau, cùng một địa vị như nhau đối với những tư liệusản xuất của xã hội như tiền lương, thu nhập, mức sống cao thấp khác nhau Thực
tế trên dẫn đến tình trạng có những đơn vị sản xuất, kinh doanh có ý nghĩa và tầmquan trọng to lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân và sự nghiệp củng
cố quốc phòng, doanh thu thấp, lãi ít hoặc không có lãi, thậm chí lỗ, do đó tiềnlương, thu nhập của cán bộ, công nhân thấp hơn so với các đơn vị sản xuất, kinhdoanh khác
Để bảo đảm công bằng xã hội, góp phần thúc đẩy phân công lao động xã hội ,tận dụng mọi tiềm năng của đất nước để phát triển kinh tế, củng cố quốc phòngmâu thuẫn trên đòi hỏi phải được giải quyết Khả năng giải quyết vượt quá quyềnhạn của xí nghiệp, đơn vị, nó thuộc phạm vi, quyền hạn của Nhà nước thông quacác công cụ vĩ mô như thuế, thu quốc doanh v.v Các đơn vị, tổ chức sản xuất -kinh doanh khi tính mức nộp ngân sách Nhà nước, phải tính đến sự khác biệt vềđiều kiện sản xuất, thông qua phân loại xí nghiệp, kiểm kê và đánh giá tài sản cốđịnh theo giá hiện hành, như thế để tạo ra mặt bằng về vốn và điều kiện sản xuấttheo điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay chứ không thể bằng cách thay đổi đồngloạt trang bị, kỹ thuật
Trong xã hội còn có những hoạt động khác như y tế, giáo dục và đào tạo,nghiên cứu khoa học và hành chính nghiệp vụ trong cơ quan Nhà nước mà từ trướcđến nay gọi chung là hành chính - sự nghiệp Tiền lương trả cho người lao độngtrong khu vực này theo chúng tôi thì hiện nay và trong một thời gian nữa vẫn lấy từquỹ tiêu dùng xã hội cho nên nó có chung một quỹ lương Lao động ở khu vực nàymang tính cộng đồng cao, được tuyển dụng theo nhu cầu của Nhà nước, thườngkhó định mức và xác định được kết quả, mà chỉ thông qua yếu tố thời gian, taynghề tiềm năng, ít có sự chi phối tác động của quan hệ thị trường Do đó có tểdùng những thang bản lương chung Tuy nhiên, để phân phối đúng với nguyên tắc
“làm theo năng lực, hưởng theo lao động”, cần phải có tổ chức thi tuyển, kiểm tra
để xác định trình độ, năng lực theo chức danh, sắp xếp đúng ngành đào tạo, làmcấp nào hưởng lương cấp ấy,làm công việc gì hưởng lương theo công việc ấy Đó
là giải pháp chung về vận dụng nguyên tắc phân phối xã hội chủ nghĩa đối với lĩnhvực hành chính - sự nghiệp Nhưng trong tình hình chuyển nền kinh tế hiện vật,bao cấp sang kinh tế hàng hoá và hạch toán kinh doanh thì việc tổ chức trả lươngcho khu vực này còn nhiều vấn đề cụ thể phải bàn mà theo chúng tôi, đây là vấn đềphức tạp nhưng rất cấp bách khi đặt và xét nó ở khía cạnh hiệu quả kinh tế - xã hội.Đối với khu vực hành chính, nghiên cứu khoa học cơ bản, không có mộtkhoản thu nàođể tự trang trải, do vậy tiền lương của cán bộ, viên chức phải lấy từ
Trang 29ngân sách thì giải pháp phân phối như đã trình bày ở trên là hợp lý Vấn đề cần bànthêm là đối với hoạt động y tế, giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học ứngdụng, văn hoá nghệ thuật Theo Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ươngĐảng Cộng sản Việt Nam lần thứ sáu khoá VI “chuyển các cơ quan sự nghiệp nhưbệnh viện, trường học, cơ sở , nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, văn hoá - nghệthuật sang cơ chế tự trang trải từng bước và từng phần”(124).
Thực tế cho thấy, gắn với cơ quan nghiên cứu khoa học ứng dụng với các cơ
sở sản xuất, liên kết hoặc nghiên cứu theo đơn đặt hàng của các đơn vị sản xuấtkinh doanh là một chủ trương đúng đắn, vừa thúc đầy sản xuất, phục vụ đời sốngvừa kích thích, tạo điều kiện về tài chính cho sự phát triển của bản thân khoa học.Khoa học đã trở thành một lực lượng sản xuất, kinh doanh ở chỗ: một đề tài, côngtrình dù đã có luận chứng về kinh tế - kỹ thuật thì cũng chưa hẳn đã cho kết quảngay từ đầu, có thể chi phí tốn kém hơn dự kiến ban đầu và sản phẩm nghiên cứukhó có thể lượng hoá và trở thành hàng hoá ngay được Trong trường hợp đó, ai sẽ
là người ứng tiền trả lương cho các nhà khoa học ? Do đó trong điều kiện hiện nay,nếu yêu cầu hoàn toàn tách khỏi tài trợ của Nhà nước thì rất khó thực hiện Theochúng tôi, hiện nay tiền lương trong lĩnh vực khoa học phải lấy từ ngân sách Nhànước, các khoản thu được từ kết quản nghiên cứu do cơ sở sản xuất thanh toándùng để mua sắm, thay đổi trang thiết bị, cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ nghiêncứu và trích thưởng khuyến khích những người tham gia đề tài Để phân phối đúngkết quả cống hiến của từng người, cần tổ chức lao động khoa học như: giao nhiệm
vụ, định mức về khối lượng và chất lượng công trình, thời gian hoàn thành chotừng người, tổ, nhóm và bảo đảm những điều kiện cần thiết cho việc nghiên cứu.Đối với lĩnh vực y tế, giáo dục và đào tạo, cùng với xoá bỏ bao cấp, trong cácbệnh viện, cơ sở y tế, các trường phổ thông từ cấp II trở lên và các trường đại học,dạy nghề đã thu một phần viện phí, học phí theo chủ trương từng bước tự trangtrải vừa qua chúng ta đã thu viện phí, học phí, nhưng tổng số thu còn quá nhỏ sovới ngân sách cấp trước đây nên không đủ để trả lương cho cán bộ, viên chức, giáoviên v.v ở khu vực này Mặt khác, tuy mới phải nộp một phần rất nhỏ so với yêucầu thực thu, nhiều người không có tiền để nằm viện, mua thuốc, học sinh phải bỏhọc, hoặc học xong phổ thông trung học không có điều kiện thi và học đại học, họcnghề Đó là chưa nói đến một bộ phận trong dân cư thuộc diện chính sách xã hộiđược miễn, giảm học phí, viện phí càng làm cho khả năng tự trang trải càng hạnchế Trong điều kiện đó, hoặc là quan tâm đến tự trang trải để đỡ nguồn chi ngânsách, để trình độ dân trí thấp, đội ngũ lao động được đào tạo, xã hội thiếu ổn địnhv.v hoặc vẫn phải có sự tài trợ của ngân sách, ít nhất cũng một kế hoạch nămnăm Chúng tôi cho rằng, vẫn cần có sự tài trợ của ngân sách Nhà nước Nhữngkhoản thu hiện nay còn quá ít nên chỉ để bổ sung, thay thế, tu bổ nhà cửa, trang
Trang 30thiết bị, đồ dùng và một tỷ lệ nhất định cải thiện đời sống cho các đối tượng làmviệc trong khu vực này.
Đối với hoạt động văn hoá nghệ thuật, việc hạch toán kinh doanh và dựa trên
đó hình thành thu nhập cho những người làm việc trong lĩnh vực này đang mở ramột khả năng thực tế hơn so với giáo dục và y tế Nhưng nếu chuyển nhanh sanghạch toán, tự trang trải, màn ảnh, sách báo những nội dung “hấp dẫn”, “ăn khách”:còn nội dung tư tưởng lành mạnh lại quá ít ỏi Thực tế tình hình đã xẩy ra như vậy
Do đó, chúng tôi cho rằng, trong lĩnh vực này, hiện nay Nhà nước vẫn cần dùngngân sách tài trợ một phần cho chi phí và trả lương Một vấn đề được đặt ra là côngbằng xã hội giữa các lĩnh vực này với hoạt động sản xuất, kinh doanh chỉ quy địnhlương tối thiểu, không quy định lương tối đa Sự quy định này theo chúng tôi làđúng, nhưng cùng với quy định đó, những quy định khác như chính sách thu quốcdoanh, khấu hao tài sản cố định, thuế vốn, thuế thổ trạch v.v còn thiếu chặt chẽ và
sơ hở Dođó thu nhập của lao động ở đây tuy chưa đến giới hạn phải nộp thuế thunhập nhưng cũng cao hơn rất nhiều so với khu vực hành chính - sự nghiệp Trongkhi đó phần lớn lao động trong các lĩnh vực y tế, giáo dục và đào tạo, khoa học,văn hoá - nghệ thuật, hành chính là lao động trí óc, lao động phức tạp Ph.Ăng-ghen đã từng nói: “sẽ là một điều kỳ quái nếu thừa nhận rằng thời gian lao độngcủa một người đẩy xe bò và thời gian lao động của một kiến trúc sư đều hoàn toànngang nhau về mặt kinh tế (23) Mặc dù vậy tình trạng đó đến nay vẫn còn tồn tạitrong xã hội ta Vì vậy, cùng với việc ban hành những chính sách mới trong khuvực sản xuất - kinh doanh, Nhà nước cần phải có biện pháp giải quyết bất hợp lýnày
Nhưng để làm được điều đó, nên chăng Nhà nước cần phải tăng nguồn thu vào ngân sách, thu đủ và thu đúng các khoản phải thu ở các đơn vị, tổ chức sản
xuất, kinh doanh, trước hết là thuế Thuế là khoản nộp có tính chất pháp lệnh đốivới cá nhân và các tổ chức (chủ yếu là các tổ chức kinh tế) vào ngân sách để duytrì và bảo đảm cho sự hoạt động của bộ máy Nhà nước Tất nhiên đó không phải làvai trò duy nhất của thuế, thuế còn có tác dụng thúc đẩy kinh tế phát triển, điều tiếtsản xuất, kinh doanh và tiêu dùng một cách hợp lý, điều tiết thu nhập của từng tầnglớp dân cư, bảo đảm công bằng xã hội Vai trò của thuế đối với sự tồn tại và hoạtđộng có hiệu quả của bộ máy nhà nước được Lê-nin hết sức quan tâm Người nói:
“Củng cố nền tài chính xô viết là một trong những nhiệm vụ khó khăn nhất, nhưnghiện nay nhiệm vụ đó lại được đặt lên hàng đầu Bộ máy tài chính của chúng taphải dốc hết lực lượng của mình để có thể trong một thời gian ngắn nhất, bắngcách thu thuế mà bảo đảm cấp cho nhà nước công nông những kinh phí cần thiếtcho tất cả các cơ quan nhà nước tiến hành công việc được tốt”(42)
Trang 31Thực vậy, thuế là một nguồn thu quan trọng và chiếm tỷ lệ rất lớn trong ngânsách các nước Ví dụ: ở Thuỵ Điển, thuế chiếm 90% trong tổng thu ngân sách:Trung Quốc 95% và các nước đang phát triển khoảng 70%, v.v (155) Ở nước ta,một số lĩnh vực, đối tượng chưa có pháp luật thuế như: thuế sử dụng tài nguyên,thuế vốn Nhà nước cấp phát, thuế đất xây dựng, thuế nghĩa vụ quân sự v.v Việcthu thuế chưa thành nền nếp và thất thu thuế còn nhiều Chẳng hạn theo số liệuđiều tra, đầu năm 1989, 40-50% số hộ và 60% doanh số không khai báo Thất thutrước tháng 9/1985 khoảng 30%, năm 1989 hơn 50% tổng số nguồn thuế cần thu(99), cuối năm 1990 thất thu thuế còn nghiêm trọng chiếm 30-40% số hộ và 40-50% so với doanh thu (162).
Một điều kiện khác để tăng tiền lương cho người làm việc trong khu vực hành
chính - sự nghiệp là tổ chức sắp xếp lại lao động một cách hợp lýđể tinh giảm biên chế Với một quỹ lương không đổi nhưng giảm biên chế cũng làm cho tiền lương
tăng lên Tuy nhiên họ phải làm việc với tinh thần trách nhiệm và năng suất caohơn
Trong kinh tế tập thể nông nghiệp, giải pháp phân phối thu nhập phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là tiếp tục thực hiện khoán sản phẩm theoNghị quyết 10 của Bộ Chính trị Thực vậy, “khoán 10” vừa là tổ chức lại sản xuất,đổi mới công tác quản lý, vừa vận dụng nguyên tắc phân phối theo lao động có tínhđến đặc điểm, tính chất của sản xuất nông nghiệp, dựa trên cơ sở bảo đảm lợi ích
cá nhân người lao động, gắn chặt lợi ích của người lao động với kết quả cuối cùng
Do đó, tạo ra động lực giải phóng sức sản xuất, phát huy và khai thác được mọinguồn lực của nông dân, nông nghiệp Bởi vì, nó khắc phục được chủ nghĩa bìnhquân, tệ rong công phóng điểm, nạn tham nhũng của cán bộ, tinh giản được bộmáy quản lý Tuy nhiên, không hẳn cứ thực hiệnc hế độ khoán sản phẩm là có chế
độ phân phối thu nhập công bằng, hợp lý theo nghĩa thu nhập tỷ lệ thích đáng vớilao động bỏ ra Việc thực hiện phân phối có theo lao động hay không và tiến gầnsát với nguyên tắc đó mức độ nào còn tuỳ thuộc vào các khoản người nhận khoáphải nộp cho Nhà nước và hợp tác xã như: thuế nông nghiệp, thuỷ lợi phí, bảo vệthực vật, lao động công ích và các loại quỹ của hợp tác xã: ngoài ra còn vấn đềđịnh mức thu nhập cho từng khâu công việc, giá cả vật tư nông nghiệp, giá bán sảnphẩm làm ra v.v
Chúng tôi cho rằng, để bảo đảm sự thống nhất các khoản thu của Nhà nước vàhợp tác xã một cách có căn cứ, cần thể chế hoá những khoản thu của Nhà nước,khung định mức mang tính hướng dẫn các loại quỹ của hợp tác xã, có như thế mớitránh được hiện tượng các địa phương, hợp tác xã tuỳ tiện đề ra những khoản thu
và tỷ lệ thu thiếu căn cứ Đó là vai trò chỉ đạo quản lý vĩ mô nhằm bảo vệ quyền vàlợi ích người lao động, động lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế Còn các khoản
Trang 32khác như thuỷ lợi phí, vật tư sản xuất, bảo vệ thực vật thì căn cứ vào chi phí thực
tế Vấn đề là ở chỗ quy định giá cả điện, máy móc, phân bón, thuốc trừ sâu như thếnào để các đơn vị làm nhiệm vụ cung ứng đủ khả năng tự trang trải và phía ngườinhận khoán không bị thiệt Trong trường hợp có những tác động làm hạn chế đếnphát triển sản xuất nông nghiệp, Nhà nước cần có chính sách tài trợ, trợ giá để bảo
vệ sản xuất nông nghiệp, giữ và tăng sản lượng nông sản hàng hoá Kinh nghiệmmấy năm qua cho thấy,vấn đề trăn trở đối với người sản xuất nông nghiệp là tìnhtrạng độc quyền trong cung ứng vật tư, tình hình đó có thể dẫn đến hạn chế sự pháttriển của nông nghiệp nếu nó không được khắc phục Biện pháp có thể mang lạihiệu quả là tăng cường chức năng dịch vụ của hợp tác xã, không ép giá, trao chongười nhận khoán quyền lựa chọn trên thị trường vật tư và tiêu thụ sản phẩm nôngnghiệp
Cùng với việc phân tích những đặc điểm và những giải pháp vận dụng quyluật phân phối theo lao động cho phù hợp với quá trình chuyển nền kinh tế hiện vậtsang nền kinh tế hàng hoá, cơ chế hành chính quan liêu bao cấp sang hạch toán
kinh doanh, việc phân phối quỹ tiêu dùng xã hội cũng cần vận dụng cho phù hợp
với sự đổi mới kinh tế - xã hội
Xóa bỏ baoc ấp, theo chúng tôi, không đồng nghĩa với xoá bỏ quỹ tiêu dùng
xã hội và thực hiện chính sách xã hội Nhưng cho phân phối thông qua quỹ tiêudùng xã hội là mầm mống của quan hệ phân phối cộng sản chủ nghĩa cũng khônghoàn toàn đúng, và có lẽ đó là một những thiếu sót trong chính sách phân phối ởnước ta vừa qua Việc phân phối thông qua quỹ phúc lợi xã hội có lúc đã cào bằng,
đổ đồng cho mọi đối tượng, không tính đến hiệu quả kinh tế - xã hội Thiết nghĩ,đây là một phương thức phân phối đặc thù của chủ nghĩa xã hội, cần phải tính đếnnâng cao tính hiệu quả của quỹ này Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả là việc sử dụng
nó phải nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển, tiến bộ xã hội, nâng cao tính tích cực,đời sống vật chất và tinh thần của người lao động Đó là mục tiêu của chính sách
xã hội và cũng là mục tiêu của phát triển kinh tế, mục tiêu vì con người và pháthuy mạnh mẽ, đầy đủ sức mạnh của nhân tố con người như chiến lược ổn định vàphát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 đã khẳng định: “Mục tiêu và động lựcchính của sự phát triển vì con người, do con người Chiến lược kinh tế - xã hội đặtcon người vào vị trí trung tâm” (67)
Để đạt được yêu cầu đó, chúng tôi cho rằng nguyên tắc phân phối theo laođộng cũng cần được áp dụng ở mức độ nhất định trong phân phối thông qua quỹtiêu dùng xã hội như: xác định mức lương khi về hưu, trợ cấp tạm thời, chế độ andưỡng, đi du lịch v.v Tuy nhiên, quỹ tiêu dùng xã hội không hoàn toàn áp dụngnguyên tắc phân phối theo lao động vì có những trường hợp người được hưởng lạikhông gắn với kết quả lao động, với cống hiến của mình như: trợ cấp cho những
Trang 33người không có khả năng lao động, trẻ em mồ côi, người tàn tật, cải thiện điều kiệnlao động và môi trường sống, một phần trong giáo dục , y tế, dịch vụ, văn hoá,công cộng
Trong thực hiện chính sách xã hội, theo chúng tôi, có những đối tượng màviệc bảo đảm đời sống cho bản thân và gia đình họ thuộc về trách nhiệm của toàn
xã hội chứ không của riêng ngành nào, cấp nào Đó là đối với thương binh, bệnhbinh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng Chính sách đối với họkhông phải là sự ưu đãi, mà là sự đền ơn, trả nghĩa
Đất nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế lạc hậu, bị chiếntranh tàn phá nên gặp nhiềukhó khăn chiến tranh đã để lại những hậu quả nặng nề
về mặt xã hội mà chúng ta còn phải giải quyết trong nhiều năm và phải giải quyếtmột cách hợp đạo lý, hợp tình đời Hiện nay, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội,
sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc ta vẫn chưa hết nguy cơ bị đe doạ thì việc thựchiện chính sách xã hội tốt càng có ý nghĩa quan trọng Cho nên, một chính sách xãhội công bằng, hợp lý sẽ tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lốisống, nhiệt tình hăng say đối với nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, quả cảm,kiên cường, đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ cách mạng và bảo vệ cuộcsống hoà bình của nhân dân trong hiện tại và tương lai
Trong việc thực hiện chính sách xã hội cũng nảy sinh những mâu thuẫn phảigiải quyết Do những điều kiện lịch sử cụ thể của từng địa phương nên số ngườitham gia vào công cuộc kháng chiến khác nhau và do đó, các đối tượng chính sách
ở từng địa phương cũng nhiều ít khác nhau Tình trạng phổ biến hiện nay là địaphương nào nhiều đối tượng chính sách thì phải san sẻ nhiều hơn và các đối tượngchính sách ở đó có đời sống khó khăn hơn Đặc biệt là ở những vùng trước đây làtrọng điểm đánh phá của địch và những địa phương hay bị thiên tai, mất mùa.Xuất phát từ nhiệm vụ đền ơn trả nghĩa đối với những người và gia đình đãcống hiến, hy sinh cho cách mạng, cho sự nghiệp giải phóng đất nước, bảo vệ Tổquốc là của toàn dân, và các đối tượng chính sách trong cả nước phải được đối sửnhư nhau, thiết nghĩ Nhà nước cần động viên sự đóng góp của toàn dân, quỹ chochính sách xã hội đối với thương bình, gia dình liệt sĩ, người có công với cáchmạng còn tuỳ thuộc vào lòng hảo tâm và khả năng của từng địa phương, từng đơn
vị cơ sở Đặc biệt là ở nông thông khi chuyển sang thực hiện khoán sản phảm theoNghị quyết 10 của Bộ Chính trị, các đối tượng chính sách không được điều hoàlương thực của hợp tác xã mà được nhận một diện tích ruộng đất nhất định để tựbảo đảm lấy lương thực Tuy nhiên, các đối tượng này được ưu tiên nhận ruộng tốt,ruộng gần, ở một số địa phương còn được miễn, giảm thuế, thuỷ lợi phí, v.v Trong đó, ưu tiên có ý nghĩa kinh tế là về thuế, thuỷ lợi phí, đóng góp vào các quỹhợp tác xã, còn ruộng tốt và gần thì đã được xác định mức khoán Do đó, đối tượng
Trang 34chính sách xã hội không còn sự ưu tiên nào đáng kể, đời sống của họ và gia đình
họ gặp rất nhiều khó khăn
Phải chăng, những bất cập trong sử dụng quỹ tiêu dùng xã hội, thực hiệnchính sách xã hội, là do quá trình chuyển đổi cơ chế chúng ta chưa có những chínhsách hợp lý hay là do điều kiện kinh tế, xã hội chế ước ? Hiện nay đất nước quá độlên chủ nghĩa xã hội, gắn với các chức năng của Nhà nước, đã xuất hiện nhữngđiều kiện kinh tế - xã hội cho sự ra đời và phát triển quỹ tiêu dùng xã hội Songvấn đề cần bàn không chỉ là tăng hay giảm quỹ tiêu dùng xã hội trong thu nhậpquốc dân mà quan trọng hơn là xác định một tỷ lệ hợp lý và nâng cao tính hiệu quả
và sử dụng quỹ này
Qua những nội dung trình bảy ở trên, chúng tôi cho rằng phân phối theo laođộng chỉ được thực hiện một cách đầy đủ theo đúng nghĩa của nó khi tư liệu sảnxuất được xã hội hoá trên thực tế ở trình độ cao, lao động mang tính chất xã hộitrực tiếp, nền kinh tế như là một công trường khổng lồ, chịu sự chi phối, điều hành
từ một trung tâm Cái mà cá nhân có thể đóng góp cho xã hội là lao động, toàn bộnhững người lao động có một quỹ tiêu dùng cá nhân chung và vật phẩm tiêu dùng
là sở hữu cá nhân duy nhất, chỉ trong điều kiện đó mới có thể căn cứ vào một chỉtiêu duy nhất là số lượng và chất lượng lao động đóng góp cho xã hội để phân phốicho tiêu dùng cá nhân
Đối với nước ta, xét về mọi phương diện, chưa có chủ nghĩa xã hội với đầy đùnhững thuộct ính cơ bản của nó như việc vận dụng quy luật phân phối theo laođộng mang tính nóng vội, chủ quan, không tính đến những đặc điểm kinh tế, xã hộicủa chặng đầu thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Do đó đã làm mất vai trò độnglực của chính sách phân phối và trên thực tế cũng chưa có phân phối theo lao độngmột cách thực sự vì tình trạng bao cấp và phân phối bình quân mới được khắc phụcmột bước
Với quá trình đổi mới đang diễn ra trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xãhội trên đất nước ta, với những tư duy mới về mô hình nền kinh tế trong thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội cho phép chúng ta nhìn nhận đầy đủ hơn thực trạngphân phối trong mấy chục năm qua và sự cần thiết phải thay đổi chế độ, chính sáchphân phối cho tiêu dùng cá nhân Nói một cách khác, là vận dụng quy luật phânphối theo lao động cho phù hợp với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa, với cơ chế quản lý đã thay đổi, bằng những giải phápthích hợp
Sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế kéo theo sự tồn tại của nhiều quan hệ phânphối, trong đó sức mạnh này càng tăng của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa và
Trang 35tính ưu việt của nó là tiền đề cho việc xác định vai trò, vị trí của phân phối theo laođộng trong nền kinh tế quốc dân.
Đồng thời trong nền kinh tế hàng hoá, những đơn vị sản xuất, kinh doanh xãhội chủ nghĩa là những chủ thể khác nhau có quỹ tiêu dùng riêng, do đó không thểđồng nhất về phân phối tiền lương và thu nhập, không chỉ căn cứ vào số lượng vàchất lượng lao động ở từng đơn vị kinh tế mà còn tuỳ thuộv vào doanh thu do sựtác động của quan hệ thị trường, quy luật giá trị và quan hệ cung cầu Tuy nhiên,đối với từng chủ thể sản xuất - kinh doanh, số lượng và chất lượng lao động vẫn làcăn cứ xác định mức lương và thu nhập cho từng cá nhân Những chênh lệchkhông hợp lý sẽ được Nhà nước điều chỉnh thông qua các công cụ quản lý vĩ mô.Bên cạnh sự phân phối theo lao động, xã hội còn có nhiều hình thức phân phốikhác đặc trưng cho từng thành phần kinh tế và thể hiện sự điều tiết của cơ chế thịtrường
Đặt trong những điều kiện lịch sử cụ thể của chặng đầu của thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội, với sự đổi mới tư duy kinh tế, về chủ nghĩa xã hội, về thời kỳ quá
độ, tuân thủ, vận dụng quy luật phương pháp theo lao động với những hình thức,bước đi thích hợp, không xa rời nguyên tắc nhưng cũng không máy móc giáo điều,
là một trong những yêu cầu khách quan tất yếu để đưa nền kinh tế nước ta thoát rakhỏi tình trạng khủng hoảng và từng bước phát triển đi lên theo con đường xã hộichủ nghĩa
Bất luận là ở lĩnh vực hay hình thức lao động nào trong hệ thống phân cônglao động xã hội, khi quá trình lao động không riêng lẻ mà tạo ra một quỹ tiêu dùngchung, khi xã hội hoá về lao động và sản xuất làm cho người lao động hoà nhậpvào một tập thể dù nhỏ hay lớn thì khi đó việc sử dụngquỹ chung được tạo lập lêntrong quá trình đó là phải căn cứ vào số lượng và chất lượng lao động cũng như sựđóng góp lao động có ích của các thành viên trong tập thể đó Cơ sở lý luận đócũng đúng đối với lao động quân sự
Chương II VẬN DỤNG PHÂN PHỐI THEO LAO ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC QUÂN
SỰ II.1 Lao động quân sự và yêu cầu phân phối đối với lao động quân sự
Hoạt độngquân sự gắn liền với sự tồn tại của xã hội loài người từ buổi sơkhai, nhưng lúc đầu nó mới chỉ là hình thức tự vệ nhằm giữ gìn, bảo vệ tài sản củathị tộc và bộ lạc Đó là tổ chức “nhân dân vũ trang”, không phải là công cụ áp bứctrong công xã, thị tộc và cũng chưa phải là công cụ để xâm lược, nô dịch bộ tộckhác vì lợi ích của một nhóm người Lúc đó lao động quân sự chưa trở thành chứcnăng thường xuyên của một bộ phận dân cư có vũ trang, chưa trở thành một nghề
Trang 36trong phân công lao động xã hội Do đó chỉ đến khi xã hội loài người phân chiathành giai cấp, và Nhà nước với những công cụ đàn áp của nó như quân đội, cảnhsát, nhà tù, lao động quân sự mới trở thành một bộ phận hay một dạng thức củaphân công lao động xã hội Tức là hình thành một nhóm người chuyên môn đảmđương chức năng đặc biệt là bảo vệ xã hội chống lại các thế lực xâm lược và bảo
vệ lợi ích của giai cấp thống trị Nhưng vì bản thân lao động quân sự không tạo racủa cải vật chất (với chức năng thuần tuý của nó) chỉ có thể tồn tại trên cơ sở sửdụng một phần sản phẩm thặng dư trong tái sản xuất xã hội Chức năng lao độngquân sự được tách ra và tồn tại khi có sự điều phối chung về thu nhập của lao độngnhư các loại thuế khoá
- Như vậy là lao động quân sự không thể không bắt nguồn từ trình độ pháttriển nhất định của lực lượng sản xuất, năng suất lao động và xã hội hoá sản xuất.Khái niệm lao động quân sự xuất hiện cùng với sự ra đời của chế độ tư hữu và Nhànước, khi trong xã hội loài người xuất hiện tổ chức của những người có vũ trangdưới hình thức các tổ chức vũ trang thường trực - quân đội Hoạt động của họ trởthành một lĩnh vực chuyên nghiệp trong xã hội - hoạt động lao động quân sự
Nếu xem xét đặc điểm của lao động quân sự, sự phụ thuộc vào trình độ pháttriển của kinh tế và các yếu tố về kỹ thuật của lao động quân sự thì khó có thể thấy
sự khác nhau về bản chất giữa lao động quân sự dưới các chế độ bóc lột và laođộng quân sự xã hội chủ nghĩa Tính chất ưu việt của lao động quân sự xã hội chủnghĩa bắt nguồn trước hết từ chế độ chính trị, kinh tế- xã hội, từ bản chất nhà nước
mà nó phục vụ Lịch sử đã xác nhận “Khả năng phòng thủ, sức mạnh quân sự củamột nước mà ngân hàng đã được quốc hữu hoá thì cao hơn khả năng phòng thủ củamột nước mà ngân hàng còn ở trong tay tư nhân Sức mạnh quân sự của một nướcnông dân, trong đó ruộng đất ở trong tay những uỷ ban nông dân, thì cao hơn sứcmạnh quân sự của một nước còn chế độ địa chủ chiếm hữu ruộng đất” (30) Hiệuquả lao động quân sự của Hồng quân Liên Xô trong chiến tranh giữ nước vĩ đại, vàcủa Quân đội nhân dân Việt Nam chống kẻ thù xâm lược trong mấy thập kỷ qua đãchứng minh tính đúng đán của quan điểm đó
Dưới chế độ tư bản, tổ chức lao động quân sự là công cụ duy trì địa vị thốngtrị, áp bức, bóc lột nhân dân lao động trong nước và tiến hành chiến tranh xâmlược, mở rộng sự thống trị ra ngoài nước của giai cấp cầm quyền Trong điều kiện
đó, lao động quân sự không có tác dụng tiến bộ mà trái lại là sự kìm hãm tiến trìnhphát triển của lịch sử xã hội loài người
Lao động quân sự trong chế độ xã hội chủ nghĩa, xét về vai trò, tác dụng của
nó thì đó là lao động hữu ích trong hệ thống phâm công lao động xã hội, là lĩnhvực hoạt động không thể thiếu với sự tồn tại, phát triển của chủ nghĩa xã hội trongđiều kiện xã hội loài người còn giai cấp đối kháng và đấu tranh quyết liệt giữa các
Trang 37giai cấp đó Xét về bản chất, lao động quân sự xã hội chủ nghĩa hoàn toàn đối lậpvới lao động quân sự tư bản chủ nghĩa Lao động quân sự xã hội chủ nghĩa dựatrên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và quyền làm chủ của những ngườilao động nên có tính tự giác rất cao, thể hiện tập trung nhất ở sự sẵn sàng hy sinh,
kể cả hy sinh tính mạng của mình vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa;bảo vệ lợi ích của nhân dân Đó là sự khác biệt về chất của lao động quân sự xã hộichủ nghĩa so với lao động quân sự mang tính chất làm thuê trong chế độ tư bản chủnghĩa
Lao động quân sự chiếm vị trí đặc biệt trong hệ thống tổ chức lao động xãhội Cái đặc trưng tính chất đặc biệt của lao động quân sự là lao động chiến đấu,(thiếu nó quân đội không còn đặc điểm riêng về chất và ý nghĩa tồn tại) Lao độngquân sự tính chất căng thẳng về trạng thái tâm lý, tinh thần , đòi hỏi khẩn trươngtheo yêu cầu nhiệm vụ quân sự, không kể thời gian, không gian, thời tiết như thếnào, ác liệt, nguy hiểm đến tính mạng con người Tuy nhiên, để có được lao độngquân sự thuần tuý như vậy, trong lĩnh vực quốc phòng, trong thời bình phải có quátrình chuẩn bị về phương tiện vũ khí, vật chất kỹ thuật và huấn luyện bộ đội rấtcông phu
“Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường ít đổ máu”
Trong thời đại ngày nay, do sự tác động của khoa học vào lĩnh vực quân sựlàm cho nội dung hoạt động của quân nhân cũng thay đổi: lao động trí óc ngàycàng tăng so với lao động chân tay, quá trình thao tác chiến đấu cũng phức tạp hơn.Trong khoảnh khắc, phải tiếp nhận, đánh giá, xử lý một khối lượng thông tin lớn,chỉ số và tín hiệu của các loại máy, do đó làm tăng thêm sự căng thẳng về tinh thần
- tâm lý, khiến con người mệt mỏi, tinh thần bị ức chế, để không phạm sai lầm vàkhông lỡ thời cơ trong tác chiến, đòi hỏi con người phải tập trung sự chú ý và trínhớ đến cao độ, vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại hơn, khả năng sát thương lớn nên
sự nguy hiểm về tính mạng của quân nhân cũng tăng lên nhiều so với các cuộcchiến tranh trước đây
Lao động quân sự, trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu thường xuyên và caocũng không kém phần căng thẳng và mệt mỏi
Với tính chất đó của lao động quân sự đòi hỏi sự huy động cao độ về tinh thần
và trí tuệ, có trình độ chuyên môn thành thạo và thể lực cường tráng, thích nghi vớimọi điều kiện, hoàn cảnh Do đó, đội ngũ lao động quân sự (bao gồm cả người chỉhuy và binh sĩ) phải được huấn luyện, đào tạo và rèn luyện một cách công phu, vất
vả với cường độ cao, hao phí nhiều về sức óc, thần kinh, bắp thị, chịu đựng nhiềukhó khăn thiếu thốn trong đời sống hàng ngày, v.v
Trang 38Từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi cho rằng lao động quân sự là loại hìnhlao động đặc biệt, không loại lao động nào so sánh được Có lẽ đó là điều có thểcắt nghĩa tại sao hiện nay trên thế giới, khoảng 130 nước có quân đội thường trực,không kể chế độ chính trị - xã hội như thế nào, đều thống nhất ở một điểm, đóchính là chính sách ưu đãi đối với những người phục vụ trong quân đội (có nướcquân nhân được hưởng tới 250 khoản ưu đãi (160) Tính chất đặc biệt của lao độngquân sự không chỉ xuất phát từ những đặc điểm về tâm sinh lý mà còn vì nó là yếu
tố trực tiếp quyết định thắng lợi hay thất bại của mỗi bên tham gia chiến tranh màchiến tranh lại là sự thử thách nghiêm khắc nhất đối với mỗi quốc gia dân tộc Dùcho sự phát triển như vũ bão của khoa học- kỹ thuật làm xuất hiện nhiều vũ khí,phương tiện, khí tài tối tân, hiện đại, nhưng tối tân hiện đại đến đâu vai trò quyếtđịnh vẫn là con người Con người làm chủ kỹ thuật, vũ khí và sử dụng có hiệu quả
kỹ thuật, vũ khí mới giành được thắng lợi trong chiến tranh
Kết cục của chiến tranh phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng xét cho cùng là sosánh tương quan về số lượng và chất lượng của lao động quân sự của các bên thamchiến Nếu giả thiết giữa các bên tham chiến, trình độ hiện đại của vũ khí, khí tài
và phương tiện chiến tranh như nhau thì vấn đề còn lại là số lượng và chất lượnglao động quân sự Số lượng và chất lượng lao động quân sự là một đại lượng biếnđổi, sự biến đổi đó tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố: chính trị - tinh thần, kinh tế, khoahọc kỹ thuật, nhưng xét đến cùng là tính chất và trình độ phát triển của nền kinh tế
Do vậy, việc duy trì một đội ngũ lao động quân sự đối với một quốc gia,ngoài đường lối quân sự và nghệ thuật quân sự còn phụ thuộv vào các giới hạnnhư: so sánh lực lượng và mức độ đe dọa của kẻ thù; khả năng cho phép của nềnkinh tế; số lượng dân, sự giúp đỡ của các nước đồng minh Vị trí của lao độngquân sự về mặt kinh nghiệm được thể hiện bẳng tỷ lệ chi phí cho quốc phòng trongngân sách quốc gia Một tỷ lệ tối ưu sẽ chẳng những giúp thúc đẩy nền kinh tế pháttriển mà còn đảm bảo có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của lao động quân sự.Nhu cầu của lao động quân sự rất đa dạng, còn khả năng vật chất và nhân lựccủa một nước không phải là vô hạn Trong trường hợp đó nếu không tính toán,không tìm được phương án tối ưu để xây dựng đội ngũ lao động quân sự, không có
sự kết hợp đúng đắn hài hoà giữa nhiệm vụ quân sự và nhiệm vụ kinh tế đều có thểdẫn đến những hậu quả nghiêm trọng Huy động quá mức khả năng nhân tài, vậtlực để tăng cường củng cố quốc phòng sẽ làm suy yếu nền kinh tế hoặc chỉ tậptrung cho phát triển kinh tế, coi nhẹ nhiệm vụ quốc phòng thì thành quả lao độngcũng bị uy hiếp, đe dọa
Khi xẩy ra chiến tranh, việc huy động nhân lực bổ sung cho đội ngũ lao độngquân sự có thể tăng lên nhiều lần so với thời bình Chẳng hạn, “Trong những nămkháng chiến, hàng triệu thanh niên miền Bắc đã lên đường chiến đấu, nhịp độ bổ
Trang 39sung nhân lực cho tiền tuyến mỗi năm một tăng Những năm đầu của chiến tranh(1961-1964) hậu phương giành 19,5% tổng quân số động viên cho tiền tuyến, đếngiai đoạn cuối chiến tranh, tỷ lệ đó lên gần 60% và vào những năm cuối cùng, 80%
số quân chiến đấu ở tiền tuyến lớn miền Nam do hậu phương miền Bác cungcấp”(69) Nhưng mức độ tăng cũng có giới hạn, giới hạn đó không chỉ bởi sự quyđịnh của việc bảo đảm sức sống cho nền kinh tế, mà còn bởi chính ngay khả năngbảo đảm nhu cầu vật chất cho đời sống và trang bị vũ khí, khí tài cho lao độngquân sự theo yêu cầu của mặt trận, chiến tranh Theo kinh nghiệm các cuộc chiếntranh vừa qua, ở các nước tham chiến cứ một quân nhân có vài người trong cácngành kinh tế phục vụ Ví dụ: trong chiến tranh giữ nước vĩ đại của nhân dân Liên
Xô, muốn bảo đảm cho một chiến dịch có từ một đến hai triệu người tham gia, thìtrong các ngành sản xuất vũ khí, trang bị và giao thông phải có khoảng 10-12 triệungười phục vụ và huy động đến 90% tổng số toa xe của đất nước; khoảng 9 phần
10 các loại vũ khí được sản xuất trong quá trình chiến tranh (192) Từ đó nảy sinhmẫu thuẫn gay gắt giữa nhu cầu cung cấp lao động cho lao động quân sự và nguồnnhân lực hiện có Mâu thuẫn đó khó có thể giải quyết được nếu không có sẵnnhững tiền đề được tạo ra trong thời bình, trong quá trình xây dựng và phát triểnkinh tế
Lao động quân sự là lao động phi sản xuất, không trực tiếp tạo ra của cải vậtchất, nhưng thông qua việc tạo điều kiện an toàn cho công cuộc lao động hoà bìnhcủa các thành viên trong xã hội cũng góp phần tái sản xuất ra chế độ chính trị vàcác quan hệ kinh tế xã hội chủ nghĩa Bởi vì nó là điều kiện hàng đầu, trực tiếpbảovệ sản xuất, bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đẩy lùi mọi âm mưuxâm lược của kẻ thù và giành thắng lợi nếu chiến tranh xẩy ra Tuy nhiên, chi phí
từ ngân sách cho quân đội không thể không làm cho quá trình tái sản xuất chungtoàn xã hội bị ảnh hưởng Bởi vậy, mức độ chi phí, một mặt phải thực sự xứngđáng với lao động quân sự - loại hình lao động đặc biệt trong phân công lao động
xã hội, mặt khác phải có tỷ lệ hợp lý để không tổn hại đến mức sống của người laođộng và tiến hành tích luỹ xã hội chủ nghĩa
Sự tồn tại tất yếu của lao động quân sự xã hội chủ nghĩa gắn liền với sự nghiệp đấu tranh giai cấp trên phạm vi thế giới của từng nước.
Để cứu vãn hệ thống tư bản chủ nghĩa đã lỗi thời, chủ nghĩa đế quốc và cácthế lực phản động trên thế giới tìm mọi cách để xoá bỏ chủ nghĩa xã hội, kể cảdùng lực lượng quân sự tấn công các nước xã hội chủ nghĩa Điều đó buộc cácnước xã hội chủ nghĩa phải thường xuyên sẵn sàng đối phó với chiến tranh Khảnăng phòng thủ vững chắc và đội ngũ lao động quân sự mạnh sẽ bảo đảm điều kiệnhoà bình cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện chính sách đối ngoạihoà bình tích cực Tình hình thế giới vừa qua và hiện nay đã kiểm chứng quan