1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý đầu tư trong hoạt động kinh doanh ngân hàng thương mại

25 421 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 365 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý luận chung về hoạt động đầu tư của các NHTMCác NHTM dùng vốn của mình để mua các loại chứng khoán khác nhau có độ rủi ro thấp, năng lực thị trường cao, chủ yếu do Chính phủ hoặc do cá

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

1 Lý luận chung về hoạt động đầu tư của các NHTM 3

1.1 K HÁI NIỆM

3 1.2 C ÁC HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA CÁC NHTM

3 1.2.1 Hoạt động đầu tư chứng khoán 4

1.2.1.1 Chức năng và mục tiêu của hoạt động đầu tư chứng khoán của NHTM 4

1.2.1.2 Các công cụ đầu tư chứng khoán của NHTM 5

1.2.2 Hoạt động góp vốn, liên doanh với các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính tín dụng 6

1.3 V AI TRÒ CỦA CÁC HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA NHTM

6 1.3.1 Vai trò đối với sự tồn tại và phát triển của chính các NHTM 6

1.3.2 Vai trò đối với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội 7

2 Rủi ro trong hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại 8

2.1 L ỢI SUẤT KỲ VỌNG

8 2.2 K HẢ NĂNG CHỊU THUẾ

9 2.3 R ỦI RO LÃI SUẤT

9 2.4 R ỦI RO TÍN DỤNG / KHẢ NĂNG VỠ NỢ

10 2.5 R ỦI RO LẠM PHÁT

10 2.6 R ỦI RO KINH DOANH

11 2.7 R ỦI RO THANH KHOẢN

11 2.8 R ỦI RO THU HỒI TRƯỚC CỦA NGƯỜI PHÁT HÀNH

11 3 Các chiến lược đầu tư 12

3.1 Chiến lược bậc thang 12

3.2 C HIẾN LƯỢC CHUYỂN ĐÁO HẠN VỀ PHÍA TRƯỚC

13 3.3 C HIẾN LƯỢC CHUYỂN ĐÁO HẠN VỀ PHÍA SAU

13 3.4 C HIẾN LƯỢC B ARBELL

14 3.5 P HƯƠNG PHÁP DỰ KIẾN LÃI SUẤT

14 4 Quản lý đầu tư tại Việt Nam: 16

5 Kiến nghị 23

5.1 Q UẢN TRỊ RỦI RO TRONG ĐẦU TƯ

23 5.2 P HÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ NGÂN HÀNG

24 5.3 Q UẢN LÝ VÀ ĐÀO TẠO NHÂN LỰC

25

Trang 3

1 Lý luận chung về hoạt động đầu tư của các NHTM

Các NHTM dùng vốn của mình để mua các loại chứng khoán khác nhau có độ rủi

ro thấp, năng lực thị trường cao, chủ yếu do Chính phủ hoặc do các doanh nhiệp lớn pháthành nhằm đáp ứng các nhu cầu thanh khoản khi cần và thu lợi nhuận Ngày nay, cácngân hàng đã tham gia ngày càng nhiều hơn vào các thị trường chứng khoán

Ngoài ra, các NHTM còn hùn vốn để liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp,các tổ chức tín dụng để kinh doanh

1.2 Các hoạt động đầu tư của các NHTM

Ngoài nghiệp vụ chính là tín dụng, các NHTM cũng tham gia các hoạt động đầu tư

để nâng cao tỷ lệ vốn điều lệ, và nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của chính NHTM

Trong kết cấu của bảng cân đối tài sản của một ngân hàng thương mại, mục đầu tưbao gồm 2 khoản :

- Đầu tư chứng khoán : trái phiếu và giấy tờ có giá khác

- Hùn vốn, liên doanh, liên kết với các tổ chức tín dụng khác

Như vậy, hoạt động đầu tư chính của các NHTM là đầu tư chứng khoán và hoạtđộng hùn vốn, liên doanh, liên kết với các tổ chức tín dụng khác

Trang 4

1.2.1 Hoạt động đầu tư chứng khoán

1.2.1.1 Chức năng và mục tiêu của hoạt động đầu tư chứng khoán của NHTM

Chức năng của danh mục đầu tư chứng khoán là:

- Ổn định thu nhập của ngân hàng: hạn chế những biến động lớn có thể xảy ra đốivới thu nhập của ngân hàng trong chu kỳ kinh doanh – khi nguồn thu nhập từ cho vaygiảm, thu nhập từ chứng khoán có thể tăng lên

- Góp phần cân bằng rủi ro tín dụng trong danh mục cho vay: ngân hàng có thểmua các chứng khoán chất lượng cao để điều hoà rủi ro từ những khoản cho vay

- Tạo sự đa dạng hoá về mặt địa ly: các chứng khoán đầu tư thường có khả năng đadạng hoá theo vùng tốt hơn các khoản tín dụng, nhờ vậy một ngân hàng có thể đa dạnghoá các khonả thu nhập

- Giảm nhẹ mức độ tác động của thuế tới hoạt động ngân hàng, đặc biệt là bù đắpcho các khoản thu nhập từ cho vay bị đánh thuế

- Các chứng khoán có thể đóng vai trò là vật bảo đảm, giúp cho ngân hàng ngănngừa thiệt hại, tổn thất gây ra bởi những thay đổi trong lãi suất

- Tạo ra sự mềm dẻo trong việc quản lý danh mục tài sản của ngân hàng bởi vìkhông giống như danh mục cho vay, các loại chứng khoán đầu tư có thể được mua bánnhanh chóng để cấu trúc lại danh mục tài sản

- Củng cố bảng cân đối tài sản của ngân hàng, làm cho ngân hàng lành mạnh hơn

về mặt tài chính bởi hầu hết các chứng khoán trong danh mục đều có chất lượng cao

Mục tiêu của đầu tư chứng khoán của NHTM:

- Nhằm cung cấp cho ngân hàng tính đa dạng, lợi tức, lợi ích về thuế và trợ giúpthanh khoản Một NHTM cũng như cả hệ thống NHTNM nhiều khi khó có thể sử dụng tất

cả các khoản tiền huy động được thự hiện các khoản cho vay như mong muốn Cũng cónhững khi, đặc biệt là khi nền kinh tế trì trệ, một lượng vốn ngân hàng ứ đọng không thể

Trang 5

cho vay được, trong khi đó, để duy trì hoạt động buộc các ngân hàng phải tiếp tục huyđộng vốn Để hạn chế bớt thiệt hại ngân hàng cũng có thể gửi tiền gửi ra nước ngoìa hoặcđầu tư chứng khoán

- Thực hiện tính đa dạng trong đầu tư dể phân tán rủi ro, đồng thời còn góp phầncung cấp và bổ sung cho dự trữ Một ngân hàng thận trọng cần thiết phải dành một phầntài sản để đầu tư vào các lĩnh vực ngoài khu vực mà nó cho vay

1.2.1.2 Các công cụ đầu tư chứng khoán của NHTM

- Các công cụ đầu tư trên thị trường tiền tệ: kỳ hạn dưới 1 năm, mức độ rủi ro thấp

và có thể được bán lại dễ dàng trên thị trường Bao gồm:

+ Tín phiếu kho bạc

+ Trái phiếu kho bạc

+ Chứng khoán của các cơ quan

+ Chứng chỉ tiền gửi, Thương phiếu chấp nhận thanh toán

+ Giấy nợ ngắn hạn

+ Trái phiếu ngắn hạn của chính quyền địa phương

- Các công cụ trên thị trường vốn:

+ Trái phiếu kho bạc

+ Trái phiếu chính quyền địa phương

+ Trái phiếu công ty

Trong đó, các chứng khoán ngắn hạn thường được xếp hàng đầu trong số cácchứng khoán thanh khoản (các chứng khoán có tính thanh khoản cao), được giữ như mộttài sản đệm cho ngân quỹ: chúng sinh lời cao hơn ngân quỹ và khi cần có thể bán để trảnhư ngân quỹ Độ an toàn của chứng khoán Chính phủ phụ thuộc nhiều vào khả năng trả

Trang 6

nợ của nước phát hành Tính thanh khoản của chứng khoán Chính Phủ phụ thuộc vào khảnăng bán, mức độ giảm giá khi bán…Một số loại chứng khoán Chính phủ có thể bán tạihầu hết các thị trường tìa hcính thế giới Nhiều ngân hàng nắm giữ chứng khoán Chínhphủ vì chúng có thể được miễn thuế hoặc là do yêu cầu của Chính quyền các cấp

Đứng sau chứng khoán ngắn hạn của Chính phủ là giấy nợ ngắn hạn do các ngânhàng, hoặc các công ty tài chính nổi tiếng phát hành hoặc chấp nhận thanh toán Một sốgiấy nợ của các công ty tài chính quốc tế nổi tiếng còn được các ngân hàng ưa chuộnghơn cả chứng khoán Chính phủ Chứng khoán Chính phủ có thời gian đáo hạn dài, chứngkhoán trung và dài hạn của các công ty khác có tỷ lệ sinh lời cao Ngân hàng thường nắmgiữ chứng khoán đến ngày đáo hạn để thu lợi Ngân hàng cũng nắm giữ chúng khonácông ty để thực hiện quyền tham dự, kiểm soát hoạt động của công ty

1.2.2 Hoạt động góp vốn, liên doanh với các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính tín

dụng

Hoạt động góp vốn, liên doanh với các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính tíndụng cũng được xem là một hoạt động đầu tư của NHTM Các NHTM dùng vốn củamình để góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp và của các tổ chức tín dụng khác Các tổchức tín dụng được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của doanhnghiệp và của các tổ chức tín dụng khác theo quy định của pháp luật Mức góp vốn, mua

cổ phần của tổ chức tín dụng trong một NHTM, tổng mức góp vốn, mua cổ phần trong tất

cả các doanh nghiệp không được vượt quá mức tối đa do Thống đốc ngân hàng Nhà nướcquy định đối với từng loại hình tổ chức tín dụng

1.3 Vai trò của các hoạt động đầu tư của NHTM

1.3.1 Vai trò đối với sự tồn tại và phát triển của chính các NHTM

Sử dụng nguồn vốn hiệu quả là điều kiện sống còn, tiên quyết để duy trì và pháttriển một ngân hàng Nâng cao hiệu quả đầu tư góp phần tăng cường năng lực tài chínhcủa NHTM, tạo ra tích luỹ và có điều kiện mở rộng đầu tư, góp phần tăng cường danhtiếng của NHTM, tạo điều kiện tốt cho ngân hàng huy động vốn cho từ nền kinh tế cũng

Trang 7

như từ các tổ chức quốc tế, do vậy có khả năng tài trợ cho các nhà đầu tư Đồng thời đầu

tư có hiệu quả, tạo ra khả năng chống đỡ rủi ro, có khả năng khắc phục được những biếnđộng bất thường của thị trường, tạo điều kiện cho các ngân hàng mở rộng các loại hìnhdịch vụ, thực hiện tốt chức năng trung gian tài chính của mình Đầu tư có hiệu quả sẽ cảithiện tình hình tài chính cảu ngân hàng, tạo thế mạnh cho ngân hàng trong quá trình cạnhtranh; tạo thuận lợi cho sự tồn tại lâu dài của ngân hàng bởi vì hiệu quả đầu tư cho phépngân hàng có những khách hàng trung thành và những khoản lợi nhuận để bổ sung vốnđầu tư; đồng thời tạo điều kiện cho ngân hàng củng cố, phát triển các mối quan hệ vớikhách hàng

Vì vậy, việc củng cố và nâng cao hiệu quả đầu tư của các NHTM là thực sự cầnthiết khách quan vì sự tồn tại và phát triển lâu dài của các NHTM

1.3.2 Vai trò đối với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội

Tăng cường hiệu quả hoạt động đầu tư tạo điều kiện cho ngân hàng làm tốt chứcnăng trung gian tài chính trong nền kinh tế quốc dân – góp phần điều hoà vốn trong nềnkinh tế Tăng cường hiệu quả đầu tư, tạo ra danh tiếng tốt cho ngân hàng, trên cơ sở đótạo ra khả năng tích tụ tập trung vốn cho nền kinh tế, mở rộng tài trợ cho các doanhnghiệp

Hoạt động đầu tư hiệu quả sẽ làm gia tăng năng lực tài chính của mỗi NHTM, từ

đó, tạo điều kiện điều hòa các dòng vốn trên thị trường

Nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng góp phần tăng thu nhập cho ngânsách

Hiệu quả đầu tư góp phần làm lành mạnh hoá quan hệ kinh tế đầu tư Hoạt độngđầu tư được mở rộng với các thủ tục được đơn giản hóa, thuận tiện nhưng vẫn tuân thủcác nguyên tắc đầu tư sẽ góp phần làm cho đầu tư đúng các đối tượng cần thiết, giảmthiểu các rủi ro và thiệt hại không đáng có

Trang 8

Để đạt hiệu quả đầu tư, ngoài sự nỗ lực của bản thân các NHTM, đòi hỏi nền kinh

tế phải ổn định và phải có một cơ chế phù hợp về chính sách, chế độ, sự phối hợp nhịpnhàng có hiệu quả giữa các cấp, các ngành tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động đầu tưcủa ngân hàng

Đầu tư có mối quan hệ mật thiết với nền kinh tế - xã hội Thiết lập một cơ chếchính sách đầu tư đồng bộ, có hiệu quả sẽ có tác động tích cực tới mọi mặt của nền kinh

tế - xã hội

2 Rủi ro trong hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại

Khi quan sát các chứng khoán do ngân hàng đầu tư và nắm giữ, điều dễ thấy làngân hàng phải xem xét nhiều nhân tố khác nhau để quyết định chứng khoán nào cần mua

và cần bán Những nhân tố cơ bản tạo nên sự lựa chọn của ngân hàng như sau:

+ Suất thu lợi kỳ vọng

+ Khả năng chịu thuế

+ Rủi ro lãi suất

+ Rủi ro tín dụng

+ Rủi ro thanh khoản

+ Rủi ro thu hồi

Trang 9

(YTM: Yield to maturity) nếu chứng khoán được giữ cho đến lúc đáo hạn hoặc lợi suấttrong khoảng thời gian hoạch định nắm giữ (HPY: planned holding period yield) nằmgiữa thời điểm mua và thời điểm bán chứng khoán

Tuy nhiên, các ngân hàng thường không nắm giữ chứng khoán của họ đến lúc đáohạn Một số chứng khoán cần phải được bán sớm để trang trải nhu cầu vay mới hoặc rúttiền gửi Để xử lý tình huống này, các ngân hàng cần phải tính lợi suất trong thời giannắm giữ chứng khoán (HPY) ngân hàng có thể thu được HPY thực chất là suất thu lợilàm cân bằng giá mua của một chứng khoán với chuỗi thu nhập kỳ vọng từ chứng khoán

đó đến khi được bán tới người đầu tư khác

2.2 Khả năng chịu thuế

Phần lớn thu nhập lãi và vốn từ đầu tư chứng khoán của ngân hàng là phải chịuthuế như mọi thu nhập kinh doanh thông thường khác Và do khả năng chịu thuế tươngđối cao, các ngân hàng quan tâm đến suất sinh lợi sau thuế trên thu nhập của các khoảnvay và đầu tư chứng khoán nhiều hơn là suất thu lợi trước thuế của chúng Vì thế, côngthức sau đây thường được các ngân hàng sử dụng:

Nếu những nhân tố khác được giữ không đổi, ngân hàng sẽ so sánh kết quả suất lợinhuận sau thuế của mỗi hình thức và công cụ đầu tư với nhau để từ đó chọn hình thức vàcông cụ đầu tư nào là tối ưu về mặt thuế đối với ngân hàng (tỷ suất lợi nhuận sau thuế caonhất)

2.3 Rủi ro lãi suất

Lãi suất biến động tạo ra rủi ro cho đầu tư của các ngân hàng Lãi suất tăng lên làmgiảm thấp giá thị trường của các chứng khoán nợ phát hành trước đó, và mức độ thiệt hạitài chính tỷ lệ thuận với kỳ hạn của mỗi chứng khoán Hơn nữa, các thời kỳ gia tăng lãisuất còn được ghi nhận bởi nhu cầu tín dụng leo thang và bởi vì ưu tiên trước hết của cácngân hàng là cấp tín dụng, nên các khoản đầu tư vào chứng khoán buộc phải thanh lý đểtạo ra nguồn ngân quỹ cho vay Phải bán chứng khoán trong điều kiện giá cả bất lợi như

Trang 10

vậy tất nhiên thường dẫn đến tổn thất vốn đáng kể cho các ngân hàng Để phòng ngừa rủi

ro lãi suất trong đầu tư chứng khoán, có nhiều công cụ đã được sử dụng trong những nămgần đây, chúng bao gồm: các hợp đồng tài chính tương lai, quyền chọn mua và bán, hoánđổi lãi suất, quản trị độ lệch

vệ quyền lợi cho người gửi tiền

Ngoài ra, các ngân hàng thương mại chỉ được phép bao tiêu các trái phiếu đô thịchính phủ và có nghĩa vụ bao quát, mặc dù một số ngân hàng được bao tiêu những chứngkhoán do công ty tư nhân phát hành và được ngân hàng trung ương chấp thuận

2.5 Rủi ro lạm phát

Rủi ro lạm phát là rủi ro về khả năng tăng giá phổ biến của các loại hàng hoá vàdịch vụ và dẫn đến hậu quả làm giảm giá trị của các tài sản tài chính Các ngân hàngthường xuyên cảnh giác với khả năng sức mua của thu nhập lãi và vốn gốc thu lại từ đầu

tư chứng khoán và cho vay bị suy giảm do tác động của lạm phát, mặc dù ngày nay vấn

đề này ít nghiêm trọng hơn so với những thập niên trước đây Lạm phát cũng có thể làmhao mòn giá trị đầu tư của các cổ đông tại một ngân hàng Bằng cách đầu tư vào cácchứng khoán ngắn hạn và có lãi suất thả nổi, các ngân hàng có thể giảm thiểu tác động bấtlợi của lạm phát đối với tài sản đầu tư và đem lại cho ngân hàng một sự năng động lớnhơn trong việc đáp ứng với mọi sức ép lạm phát

Trang 11

2.6 Rủi ro kinh doanh

Các ngân hàng thuộc mọi qui mô đều phải đối mặt với một loại rủi ro gắn liền vớisuy thoái kinh tế của khu vực thị trường họ đang phục vụ Những xu hướng tiêu cực nàythường được gọi là rủi ro kinh doanh Điều này thường được biểu hiện bởi sự giảm sútdoanh số bán hàng, gia tăng các vụ phá sản và tình trạng sa thải nhân công hàng loạt củanhiều doanh nghiệp trong khu vực Những trạng thái tiêu cực này tất yếu ảnh hưởngnhanh chóng đến danh mục cho vay của ngân hàng Ơí đây, nhiều khoản vay không cókhả năng hoàn trả sẽ xuất hiện một khi người vay đã phải tận lực để tạo ra đủ lưu lượngtiền để hoàn trả nợ cho ngân hàng

Bởi vì rủi ro kinh doanh luôn hiện hữu, nhiều ngân hàng dựa vào danh mục đầu tưchứng khoán của họ để bù trừ cho tác động của rủi ro kinh tế đối với danh mục cho vay.Điều này thường có nghĩa là, ngân hàng sẽ mua nhiều chứng khoán của nhiều doanhnghiệp nằm ngoài khu vực thị trường cho vay hiện thời của ngân hàng nhằm mục đíchcân bằng với rủi ro tác động lên trên các khoản vay

2.7 Rủi ro thanh khoản

Theo định nghĩa, chứng khoán có tính thanh khoản là những chứng khoán có sẵnthị trường cho việc bán lại một cách dễ dàng, giá cả tương đối ổn định theo thời gian, vàkhả năng cao để phục hồi nguồn vốn đã đầu tư nguyên thuỷ của ngân hàng (rủi ro đối vớivốn gốc là thấp) Khi lựa chọn chứng khoán để đầu tư, ngân hàng dứt khoát phải xem xétđến khả năng cần phải bán lại trước khi chúng đáo hạn để tái tạo nguồn vốn đầu tư banđầu Nếu khả năng tái tạo kém, nghĩa là chứng khoán khó tìm được người mua hoặc phảibán mất giá, ngân hàng sẽ gánh chịu những tổn thất tài chính lớn trong những trường hợpnhư vậy Và điều này được gọi là rủi ro thanh khoản trong đầu tư chứng khoán của ngânhàng

2.8 Rủi ro thu hồi trước của người phát hành

Phần lớn các công ty và chính phủ có phát hành chứng khoán đầu tư thường giữ lạiquyền mua lại các chứng khoán do mình phát hành trước lúc chúng đáo hạn và thanh toán

Trang 12

dứt điểm đối với chúng Do vậy, sự thu hồi như thế thường xảy ra khi lãi suất thị trườnggiảm sút (và người phát hành có thể phát hành các chứng khoán mới có lãi suất thấp hơn),ngân hàng đang đầu tư vào chứng khoán có tính chất nói trên sẽ phải tiếp nhận rủi ro mấtmát lợi nhuận bởi vì họ phải tái đầu tư nguồn vốn vừa mới thu hồi ở các mức lãi suất thấphơn hiện thời Nói chung, các ngân hàng cố gắng để tối thiểu hóa rủi ro thu hồi bằng cáchmua các chứng khoán được công bố có thời gian thu hồi tương đối dài (vì thế việc thu hồikhông thể xảy ra trong một vài năm ngân hàng nắm giữ) hoặc đơn giản hơn cả là ngânhàng tránh đầu tư vào những loại chứng khoán có đặc điểm như thế

3 Các chiến lược đầu tư

Một khi ngân hàng đã chọn loại chứng khoán nào nên đầu tư dựa trên cơ sở phântích một loạt nhân tố đã được trình bày ở trên, vấn đề còn lại ở đây là phân phối cácchứng khoán đang nắm giữ về mặt thời gian như thế nào, tức là, ngân hàng nên giữ cácchứng khoán theo những kỳ hạn nào? Ngân hàng nên đầu tư chủ yếu vào các chứngkhoán ngắn hạn, hoặc chi phí đầu tư vào những trái phiếu dài hạn, hoặc một số kết hợpnào đó của cả hai?

Nhiều chiến lược phân phối kỳ hạn khác nhau đã được phát triển trong những nămqua, và mỗi chiến lược có những điểm thuận lợi và bất lợi riêng của chúng

3.1 Chiến lược bậc thang

Đây là chiến lược được áp dụng khá phổ biến, nhất là đối với những định chế tàichính nhỏ, theo chiến lược này: trước hết, ngân hàng sẽ phải chọn kỳ hạn tối đa có thểchấp nhận được và kế đến đầu tư theo những phần giá trị chứng khoán bằng nhau vào mỗitrong số những khoảng cách kỳ hạn cho tới khi đạt tới kỳ hạn tối đa đã xác định trước

Chẳng hạn, ngân hàng quyết định rằng họ không muốn đầu tư vào bất kỳ trái phiếuhay giấy nợ nào mà có kỳ hạn dài hơn 5 năm Ngân hàng có thể quyết định đầu tư 20%danh mục đầu tư của họ vào nhứng chứng khoán có thời gian đáo hạn 1 năm hoặc ngắnhạn, 20% khác vào những chứng khoán có thời hạn đáo hạn vào phạm vi 2 năm nhưnglớn hơn 1 năm, 20% tiếp theo nằm trong khoảng 2 tới 3 năm, và cứ thế cho tới khi đạt đếnthời điểm 5 năm

Ngày đăng: 16/12/2016, 21:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w