Được tái lập từ ngày 1-1-1997 trên cơ sở tách tỉnh Bắc Thái thành hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn theo Nghị quyết kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá IX, Thái Nguyên trên cơ sở vận dụng quan điể
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HOÀNG THỊ THU HƯƠNG
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HOÀNG THỊ THU HƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Thị Thu Thủy
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực
Người thực hiện
Hoàng Thị Thu Hương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử - trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, những người đã giảng dạy tôi trong suốt hai năm học vừa qua, giúp tôi hoàn thành nghiên cứu và hoàn thiện đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS TS Hà Thị Thu Thủy - người đã trực tiếp hướng dẫn, định hướng chuyên môn, quan tâm giúp đỡ tận tình và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn các cơ quan, ban ngành, đoàn thể tỉnh Thái Nguyên
đã cung cấp tài liệu, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn
Luận văn này là kết quả bước đầu của quá trình nghiên cứu khoa học, song do điều kiện năng lực và thời gian còn hạn chế, đề tài nghiên cứu không tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót Rất mong được sự đóng góp, bổ sung của các thầy cô và các
bạn để công trình thêm hoàn thiện
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2016
Tác giả
Hoàng Thị Thu Hương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích, đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 7
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 7
5 Đóng góp của đề tài 9
6 Cấu trúc của đề tài 9
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 10
1.1 Lí luận chung về an sinh xã hội 10
1.1.1 Khái niệm ASXH 10
1.1.2 Nội dung của ASXH 14
1.1.3 Vai trò hệ thống ASXH 19
1.2 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 21
1.2.1 Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ 21
1.2.2 Đặc điểm môi trường tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 23
1.2.3 Đặc điểm dân cư và xã hội 26
1.2.4 Tình hình kinh tế 28
1.2.5 Cơ sở hạ tầng 30
Tiểu kết chương 1 32
Trang 6Chương 2 CÁC TRỤ CỘT CỦA CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI VÀ
QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN Ở TỈNH THÁI NGUYÊN (1997 - 2011) 34
2.1 Về Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế 34
2.2 Về trợ giúp xã hội 37
2.3 Về ưu đãi xã hội 43
2.4 Về xóa đói giảm nghèo 49
Tiểu kết chương 2 62
Chương 3 ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI CỦA TỈNH THÁI NGUYÊN TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2011 63
3.1 Kết quả đạt được 63
3.1.1 ASXH góp phần nâng cao năng suất lao đô ̣ng của người lao đô ̣ng 63
3.1.2 ASXH góp phần giải quyết thất nghiê ̣p 65
3.1.3 ASXH góp phần đảm bảo công bằng xã hô ̣i, giảm bất bình đẳng 68
3.1.4 ASXH góp phần ổn đi ̣nh chính tri ̣ - xã hô ̣i 71
3.2 Những tồn tại trong quá trình thực hiện chính sách ASXH ở tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 1997 - 2015 75
3.2.1 Tính chủ động, sáng tạo của Đảng bộ, chính quyền trong việc xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện chính sách ASXH còn hạn chế 75
3.2.2 Nhận thức về ASXH chưa đầy đủ 75
3.2.3 Sự thiếu hoàn chỉnh, đồng bộ của hệ thống chính sách 77
3.2.4 Trình độ, năng lực quản lý, thực hiện của cán bộ làm công tác ASXH còn hạn chế 78
Tiểu kết chương 3 80
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASXH : An sinh xã hội
BHYT : Bảo hiểm y tế
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Diện tích, dân số, mật độ dân số tỉnh Thái Nguyên chia theo huyện,
thành phố, thị xã năm 2011 21 Bảng 1.2 Cơ cấu sử dụng đất theo mục đích sử dụng tính đến năm 2011 24 Bảng 1.3 Dân số và lao động tỉnh Thái Nguyên năm 2011 27 Bảng 1.4 Thu nhập bình quân tháng của người lao động phân theo khu vực
thành thị, nông thôn 28 Bảng 1.5 Giá trị sản xuất công nghiệp tỉnh Thái Nguyên theo giá so sánh
1994 phân theo huyện, thành phố, thị xã 29 Bảng 2.1 Tổng kinh phí cứu trợ đột xuất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai
đoạn 1997 - 2011 40 Bảng 2.2 Thống kê số trẻ em bị khuyết tật, tàn tật được chăm sóc tại các cơ
sở bảo trợ xã hội tỉnh Thái Nguyên 41 Bảng 2.3 Tỷ lệ xã/ phường/ thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế phân theo
huyện/ thành phố/ thị xã ở tỉnh Thái Nguyên 42 Bảng 2.4 Số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo tính đến 31/12 hàng năm trên địa
bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2005 - 2010 57 Bảng 2.5 Số lao động được tạo việc làm trong năm trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên giai đoạn 1997 - 2011 61 Bảng 3.1 Năng suất lao động các lĩnh vực kinh tế trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 64 Bảng 3.2 Mức độ hiểu biết về các chính sách ASXH của các đối tượng đang
thụ hưởng chính sách 76 Bảng 3.3 Trình độ chuyên môn của các cán bộ làm công tác ASXH 79
Trang 9DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Thái Nguyên 22 Hình 3.1 Nhận thức của người dân về chính sách ASXH 76
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong xã hội nguyên thủy, truyền thống tương trợ, san sẻ nhau xuất hiện khi con người cùng nhau săn bắt, hái lượm để tồn tại, chiến đấu với thú dữ, thiên tai, … Ngày nay, trước những biến cố, rủi ro của cuộc sống, tinh thần ấy vẫn được phát huy mạnh mẽ và ngày càng có những hình thức đa dạng như bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội, trợ cấp gia đình, các chương trình xoá đói giảm nghèo, các quỹ tiết kiệm xã hội,
… (gọi chung là ASXH)
Ở Việt Nam, việc bảo đảm ngày càng tốt hơn ASXH luôn là một chủ trương, nhiệm vụ lớn của Đảng và Nhà nước, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ và có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững của đất nước Qua 25 năm (1986 - 2011) đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường - hội nhập định hướng XHCN đã đem lại cho đất nước những biến đổi sâu sắc: sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng mới, thu nhập bình quân đầu người tăng… Việt Nam
đã thành công trong nỗ lực giảm tỷ lệ nghèo từ hơn 60% năm 1990 xuống còn 18,1% năm 2004 (theo chuẩn cũ), năm 2008 còn 13% (theo chuẩn mới) và 8,1% năm 2011, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, với mức tăng bình quân 6-8%/năm Duy trì được đà tăng trưởng kinh tế hiện nay là điều kiện cần nhưng chưa đủ Tăng trưởng phải đi liền với bình đẳng và phải mang lại lợi ích cho tất cả các vùng và nhóm dân cư trong nước Phần đông người nghèo ở nước ta sống trong hoàn cảnh bị tách biệt về mặt địa
lý, dân tộc, ngôn ngữ, xã hội và kinh tế, tình trạng chênh lệch và bất bình đẳng xã hội giữa các vùng, giới tính và nhóm dân cư ngày càng tăng Trong khi các vùng đô thị được hưởng lợi nhiều nhất từ các chính sách cải cách, tăng trưởng kinh tế và hệ thống
an sinh xã hội, thì tình trạng nghèo vẫn giai dẳng ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam
và ở mức độ cao Cùng với việc nỗ lực trong việc hội nhập với nền kinh tế toàn cầu
sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho sự tăng trưởng, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với
sự nghiệp giảm nghèo Cùng với tăng trưởng kinh tế, điều hết sức quan trọng là phải tạo ra các mạng lưới ASXH nhằm giúp các nhóm dân cư dễ bị tổn thương nhất khỏi
bị đẩy trở lại tình trạng nghèo đói do yếu sức khoẻ, tàn tật hay chi phí giáo dục gia tăng cho con em họ
Trang 11Những năm qua, hệ thống ASXH của tỉnh Thái Nguyên cũng được hình thành
và phát triển Được tái lập từ ngày 1-1-1997 trên cơ sở tách tỉnh Bắc Thái thành hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn (theo Nghị quyết kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá IX), Thái Nguyên trên cơ sở vận dụng quan điểm, chủ trương của Đảng vào thực tiễn địa phương đã lãnh đạo thực hiện chính sách ASXH đạt được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực: xoá đói giảm nghèo; lao động và việc làm; chính sách đối với người có công với cách mạng; chính sách bảo hiểm, bảo trợ xã hội… Tuy nhiên, bên cạnh các thành tựu, còn tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém cần phải khắc phục
Xuất phát từ những vấn đề trên, tác giả lựa chọn hướng nghiên cứu: “Quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội của tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2011” để thực hiện luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Tuyên ngôn nhân quyền do Đại hội đồng UN thông qua ngày 10/12/1948 viết:
“Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng an sinh xã hội Quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cần cho nhân cách và sự tự do phát triển con người…”
Ngày 25/6/1952, Hội nghị toàn thể của ILO thông qua Công ước số 102 (Công ước về ASXH) trên cơ sở tập hợp các chế độ về ASXH đã có trên toàn thế giới thành
9 bộ phận Với công ước này, quan niệm của ILO về ASXH “… là sự bảo vệ của xã hội với các thành viên của mình thông qua hàng loạt các biện pháp công cộng nhằm chống lại tình cảnh khốn khổ về KT-XH gây ra bởi tình trạng bị ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhâp do ốm đau, thai sản, thương tật lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, tử vong, sự cung cấp về chăm sóc y tế và cả sự cung cấp các khoản tiền trợ cấp cho các gia đình đông con”
Trong các công trình nghiên cứu về chính sách ASXH của một số nước trên thế giới phải kể đến một số công trình tiêu biểu sau: Tác giả Nguyễn Duy Dũng trong cuốn
“Chính sách và biện pháp giải quyết phúc lợi xã hội ở Nhật Bản” (Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, 1998) đã khái quát sự hình thành và phát triển chế độ phúc lợi xã hội ở Nhật Bản; các hình thức và biện pháp nhà nước đảm bảo phúc lợi xã hội ở Nhật Bản (Chế độ chăm sóc sức khoẻ; phúc lợi đối với bà mẹ và trẻ em; phúc lợi xã hội đối với
Trang 12người già; phúc lợi xã hội đối với người tàn tật; phúc lợi xã hội đối với người có thu nhập thấp); tổ chức quản lý và tài chính cho việc thực hiện chính sách phúc lợi xã hội
của Nhật Bản Ngoài ra, trong cuốn sách “Bảo đảm xã hội trong nền KTTT Nhật Bản hiện nay” (Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2008), tác giả Trần Thị Nhung cũng đã
giới thiệu chi tiết hệ thống chính sách đảm bảo xã hội trong nền KTTT Nhật Bản hiện nay Tác giả đã nêu và phân tích được khái niệm và lịch sử phát triển của hệ thống đảm bảo xã hội của Nhật Bản Trên cơ sở đó, tác giả cung cấp thông tin một cách đầy đủ về đặc điểm, các loại hình, vai trò, chức năng của nhà nước cũng như những khó khăn, thách thức trong việc thực hiện các chế độ đảm bảo xã hội của nhà nước như: Chế độ đảm bảo thu nhập, bảo hiểm chăm sóc sức khoẻ và TGXH, …
Công trình “Hệ thống ASXH của EU và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” do
Đinh Công Tuấn làm chủ biên (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008) đã phân tích tổng quan về hệ thống ASXH của châu Âu nói chung (khái niệm, quá trình hình thành và phát triển; nhu cầu và thách thức trong việc cải cách hệ thống ASXH của châu Âu hiện nay) và một số quốc gia điển hình như: Hệ thống ASXH theo mô hình “thị trường xã hội” của Đức; hệ thống ASXH theo mô hình “xã hội dân chủ” của Thuỵ Điển; hệ thống ASXH theo mô hình “thị trường tự do” của Anh Ngoài ra, công trình còn chỉ ra những thành công, hạn chế, xu thế cải cách hệ thống ASXH của một số nước châu Âu và đưa
ra nhiều bài học kinh nghiệm cho Việt Nam hiện nay Mặc dù còn một khoảng cách không nhỏ giữa trình độ phát triển KT-XH của các nước châu Âu với nước ta, song những kinh nghiệm trong đảm bảo ASXH hơn một thế kỷ qua vẫn là thực tiễn sinh động, cung cấp nhiều luận cứ khoa học cho Nhà nước xây dựng và thực hiện chính
sách ASXH phù hợp với điều kiện của Việt Nam hiện nay Công trình “Mô hình phát triển xã hội của một số nước phát triển châu Âu: Kinh nghiệm đối với Việt Nam” (Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, 2011) do tác giả Nguyễn Quang Thuấn và Bùi Nhật Quang biên soạn lại chỉ ra cách thức nhà nước cung cấp các dịch vụ ASXH cho người dân ở một số quốc gia phát triển ở châu Âu
Trong các đánh giá về chính sách ASXH của Việt Nam không thể không
đề cập đến các công trình nghiên cứu của các tổ chức như Ngân hàng Thế giới (WB), Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Chẳng hạn, trong khuôn khổ dự án
Trang 13đối thoại chính sách, Chương trình phát triển Liên hợp quốc tại Việt Nam đã công
bố các tài liệu liên quan như “Khuôn khổ hệ thống ASXH quốc gia hợp nhất ở Việt Nam” (2005); “An sinh Việt Nam luỹ tiến đến mức nào?”; “Về bảo trợ và thúc đẩy xã hội: Thiết kế và triển khai các mạng lưới an sinh hiệu quả” của nhóm tác
giả thuộc WB,
2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Nhiều công trình nghiên cứu về chính sách xã hội, hệ thống chính sách ASXH nói chung đã trình bày một cách rõ nét những vấn đề cơ bản của chính sách ASXH trong nền KTTT; thực trạng hệ thống chính sách ASXH ở nước ta hiện nay; phương hướng, giải pháp xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH ở Việt Nam Vấn đề ASXH có nội hàm rất rộng và có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong giai đoạn đẩy mạnh CNH - HĐH, hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, cho nên nghiên cứu về ASXH vẫn luôn có ý nghĩa cả về lý luận
và thực tiễn
Tác giả Hoàng Chí Bảo với công trình “Một số vấn đề về chính sách xã hội ở nước ta hiện nay” do Nxb Chính trị quốc gia xuất bản năm 1993 đã đề cập đến
các vấn đề lý luận chung về chính sách xã hội; cấu trúc chính sách xã hội, quan
hệ của chính sách xã hội với các chính sách khác; quan hệ của chính sách xã hội với các tầng lớp, giai cấp xã hội; đổi mới chính sách xã hội trong tình hình hiện nay
Nhóm tác giả Đỗ Minh Cương, Mạc Văn Tiến trong công trình “Góp phần đổi mới và hoàn thiện chính sách bảo đảm xã hội ở nước ta hiện nay” (1996) do Nxb
Chính trị quốc gia ấn hành đã làm rõ một số nội dung của chính sách ASXH qua việc phân tích cơ sở lý luận của bảo đảm xã hội, quy định của công ước quốc tế về bảo đảm xã hội và kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc thực hiện chính sách bảo đảm xã hội; lịch sử hình thành chính sách bảo đảm xã hội ở Việt Nam; vấn đề đổi mới chính sách bảo đảm xã hội nói chung và chính sách ASXH nói riêng trên các lĩnh vực như BHXH, cứu trợ xã hội, ƯĐXH Mặc dù vẫn chưa phân định rõ ràng giữa bảo đảm xã hội với ASXH song có thể nói, công trình đó đã đưa ra nhiều luận cứ quan trọng cho việc đổi mới và hoàn thiện chính sách ASXH nói riêng và chính sách xã hội nói chung ở Việt Nam trong giai đoạn vừa qua
Trang 14Công trình “Tiến bộ xã hội: Một số vấn đề lý luận cấp bách” (Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, 2000) do tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn chủ biên đã chỉ ra một số vấn đề có liên quan đến chính sách xã hội nói chung như: Quy luật vận động, phát triển và tiến bộ mang tính khách quan của xã hội; những quan niệm tiến bộ xã hội trước Mác và quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh về tiến bộ xã hội; một số quan điểm hiện đại về tiến bộ xã hội; những vấn đề đạo đức và văn hoá của tiến bộ xã hội,
Để thực hiện chính sách ASXH, nhà nước cần phải thể chế hoá và hình thành
hệ thống pháp luật về ASXH Điển hình cho cách tiếp cận này là giáo trình “Luật ASXH” của Đại học Luật Hà Nội (Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2005) Công trình
này đã trình bày một cách toàn diện các vấn đề cơ bản như: Luật ASXH trong hệ thống pháp luật Việt Nam; Quan hệ pháp luật ASXH và tranh chấp ASXH Ngoài ra,
từ góc nhìn luật học, cuốn sách còn đề cập khá chi tiết đến các quy định của pháp luật Việt Nam về các BHXH, ƯĐXH, cứu trợ xã hội
Cuốn sách “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH ở Việt Nam hiện nay” (Nxb Chính trị quốc gia, 2009) do tác giả Mai Ngọc Cường làm chủ biên trong khuôn khổ đề tài “Cơ sở khoa học của việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH ở nước ta giai đoạn 2006 - 2015” là công trình nghiên cứu có hệ thống về chính
sách ASXH ở Việt Nam hiện nay Công trình này đã khái quát, phân tích và đánh giá thực trạng chính sách ASXH ở Việt Nam trong những năm gần đây và đề xuất nhiều giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH, tiến tới xây dựng mô hình ASXH phù hợp với điều kiện KTTT định hướng XHCN, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước
Tác giả Nguyễn Văn Nhường trong cuốn “Bàn về chính sách ASXH với người nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp: Nghiên cứu tại Bắc Ninh” (Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, 2011) cũng đã đưa ra những khuyến
nghị nhằm hoàn thiện chính sách đảm bảo ASXH đối với nông dân trong diện thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp
Cuốn “ASXH ở Việt Nam hướng tới 2020” (Nxb Chính trị quốc gia, 2012)
do tác giả Vũ Văn Phúc chủ biên là tập hợp các bài viết trình bày về:1) Những vấn
đề lý luận chung và kinh nghiệm thế giới về ASXH; 2) Những vấn đề về thực tiễn ASXH ở nước ta
Trang 15Những công trình nghiên cứu trên ở các góc độ cách tiếp cận khác nhau nhưng đều có chung mục đích là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về ASXH (ở một địa bàn cụ thể) Đó là cơ sở quan trọng để tác giả phân tích, đánh giá hiệu quả của việc thực hiện chính sách ASXH ở tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2011
2.3 Những nghiên cứu ở Thái Nguyên
Tỉnh Thái Nguyên, là trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi đông bắc nói chung và là cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ Kể từ khi tái thành lập tỉnh cho đến nay, đã có nhiều công trình, nghiên cứu tìm hiểu về tỉnh Thái Nguyên
Điển hình là cuốn “Địa chí Thái Nguyên” (Nxb Chính trị quốc gia, 2009) do nhiều tác giả biên soạn Cuốn “Địa chí Thái Nguyên” gồm có 7 phần, đây là cuốn
sách quý, là nguồn tư liệu phong phú, chính xác về lịch sử phát triển tự nhiên, xã hội, kinh tế - chính trị, nguồn lực tự nhiên và con người Thái Nguyên giúp các nhà nghiên cứu, bạn đọc có cái nhìn tổng quan về tỉnh Thái Nguyên
Tiếp đến là cuốn “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên” do Ban Chấp hành Đảng
bộ tỉnh Thái Nguyên xuất bản, tập I (năm 2003), tập II (2005) Cuốn sách đã dựng lại một cách có hệ thống quá trình ra đời, xây dựng và trưởng thành của Đảng bộ và quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng kinh tế - xã hội của tỉnh
Đối với các công trình nghiên cứu về chính sách ASXH tại tỉnh Thái Nguyên; hiện nay, chưa có cuốn sách nào đi sâu một cách cụ thể; mới chỉ dừng lại ở bài viết lẻ
tẻ, và một số công trình luận văn
Đề tài Luận văn Thạc sĩ: “Chính sách an sinh xã hội đối với người có hoàn cảnh khó khăn ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay” của Tạ Thị Hồng (Chuyên ngành Khoa
học quản lý) bảo vệ năm 2014 tại trường Đại học Khoa học và Xã hội Nhân văn, đề tài có đề cập đến chính sách ASXH nhưng chỉ dừng lại ở chính sách đối với người có hoàn cảnh khó khăn, và trong gian đoạn ngắn từ năm 2010 đến năm 2014
Như vậy, những cuốn sách và tư liệu đề cập đến vấn đề ASXH rất ít và chung chung, chưa mang tính bao quát, đi vào từng trụ cột chính của ASXH một cách cụ thể, chi tiết và đưa ra giải pháp Vì vậy, nghiên cứu quá trình thực hiện chính sách ASXH của tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2011 là rất cần thiết
Trang 163 Mục đích, đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình thực hiện chính sách ASXH của tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2011 với các trụ cột chính, đó là bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), trợ giúp xã hội, ưu đãi xã hội và xóa đói giảm nghèo
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát cơ sở lý luận về ASXH và địa bàn tỉnh Thái Nguyên
- Phân tích quá trình triển khai chính sách an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2011 với bốn trụ cột chính
- Đánh giá thành tựu, hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội của tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2011
3.4 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Tỉnh Thái Nguyên theo đơn vị hành chính từ năm 1997 đến nay
- Về thời gian: Các số liệu thống kê, phân tích chủ yếu từ năm 1997 đến năm 2011
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
- Nguồn tư liệu chung: Các công trình nghiên cứu về chính sách ASXH của các nhà khoa học trong và ngoài nước đã công bố xuất bản
- Nguồn tư liệu địa phương: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, Địa chí tỉnh Thái Nguyên, Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên (1997 - 2011), Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên các năm, Báo cáo tổng kết các giai đoạn phát triển KT-XH trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên qua các thời kỳ
- Nguồn tư liệu điền dã thông qua quá trình thực tế tại tỉnh Thái Nguyên, quan sát địa hình, cảnh quan, tổ chức, hành chính, đời sống văn hóa, xã hội… của nhân dân địa phương Từ đó, thấy được tác động của chính sách ASXH đối với tỉnh Thái Nguyên
Trang 174.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu Trong đó, đề tài chú trọng sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp lịch sử: Trong nghiên cứu quá trình thực hiện chính sách ASXH
của Tỉnh Thái Nguyên, tác giả sử dụng phương pháp này nhằm phân tích, đánh giá quá trình thực hiện chính sách ASXH của Tỉnh Thái Nguyên theo đúng trình tự thời gian Thông qua các nguồn tư liệu, đề tài luận chứng đầy đủ chủ trương của Đảng và Nhà nước, tỉnh Thái Nguyên,… trong việc nâng cao chất lượng của hệ thống ASXH Tác giả tập trung phản ánh chi tiết, trung thực quá trình thực hiện, kết quả đạt được, hạn chế cần khắc phục trong việc thực hiện chính sách ASXH của tỉnh
Phương pháp logic: Trên cơ sở khái quát về tỉnh Thái Nguyên, lí luận chung
về ASXH, chủ trương của Đảng, của tỉnh Ủy Thái Nguyên về ASXH Điều này giúp cho tác giả có cái nhìn biện chứng về quá trình thực hiện, kết quả đạt được cùng với những hạn chế từ đó đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng của
hệ thống ASXH ở tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới
Phương pháp nghiên cứu phân tích - tổng hợp: Thông qua phương pháp
nghiên cứu này, tác giả đi từ cái chung, cái tổng hợp (khái niệm, trụ cột, hệ thống của ASXH) để đi đến cái chi tiết của vấn đề nghiên cứu của đề tài Sau đó, tác giả đi từ cái riêng, những đặc tính riêng của các vấn đề nghiên cứu tạo thành một hệ thống những nội dung mang tính chất hệ thống phù hợp với những yêu cầu, đòi hỏi của vấn
đề nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế - chính trị
Phương pháp nghiên cứu thống kê - so sánh: Đây là phương pháp được sử
dụng phổ biến trong quá trình thực hiện Đề tài sử dụng phương pháp thống kê để thu thập số liệu các lĩnh vực và số liệu việc huy động các điều kiện cho việc thực hiện ASXH Tác giả tiến hành so sánh, đối chiếu giữa các lĩnh vực, điều kiện khác nhau để rút ra sự khác nhau giữa những số liệu thống kê Từ đó, rút ra được những kết luận quan trọng, tìm ra nguyên nhân, đưa ra giải pháp cho vấn đề mà đề tài nghiên cứu
Phương pháp điền dã: Trong nghiên cứu đề tài, tác giả vâ ̣n du ̣ng phương pháp
này để khảo sát thực tế quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh Thực hiê ̣n đề tài này, tác giả đã tiến hành quan sát, ghi chép, mô tả, chụp ảnh, trao đổi với một số Sở, Ban, ngành, các lãnh đạo, các chuyên gia, về những
Trang 18vấn đề liên quan đến quy trình hoạt động và cách thức tổ chức, đánh giá hiệu quả
của chính sách an sinh xã hội
5 Đóng góp của đề tài
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về ASXH và quá trình thực hiện ASXH trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Từ đó, khẳng định rõ bản chất, đặc điểm, mối quan hệ, nội dung và những điều kiện quá trình thực hiện ASXH
- Phân tích quá trình, đánh giá kết quả việc thực hiện ASXH trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
- Chỉ ra những tồn tại trong hệ thống ASXH của tỉnh; từ đó, tìm ra giải pháp góp phần phát triển bền vững KT-XH trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
6 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của đề tài được chia làm 03 chương:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu
Chương 2: Các trụ cột của chính sách an sinh xã hội và quá trình thực hiện ở tỉnh Thái Nguyên (1997 - 2011)
Chương 3: Đánh giá quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội của tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2011
Trang 19Chương 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ
ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1 Lí luận chung về an sinh xã hội
1.1.1 Khái niệm ASXH
Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, mặc, ở… Để thoả mãn nhu cầu tối thiểu này, con người phải lao động làm ra những sản phẩm cần thiết Của cải xã hội càng nhiều, mức độ thoả mãn nhu cầu càng cao, nghĩa là việc thoả mãn nhu cầu phụ thuộc vào khả năng lao động của con người Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời, không phải khi nào con người cũng có thể lao động tạo ra được thu nhập Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn, bất hạnh, rủi ro xảy ra làm cho con người bị giảm, mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác, chẳng hạn, bị bất ngờ ốm đau, tai nạn, mất người nuôi dưỡng, tuổi già, tử vong… Hơn nữa, cuộc sống của con người trên trái đất phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên và môi trường sống Những điều kiện thiên nhiên và xã hội không thuận lợi đã làm cho một bộ phận dân cư cần phải có sự giúp đỡ nhất định để bảo đảm cuộc sống bình thường Do đó, để tồn tại và phát triển, con người đã có nhiều biện pháp khác nhau để khắc phục khó khăn
Từ xa xưa, trước những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống, con người đã tự khắc phục, như câu phương ngôn “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn”; đồng thời, còn được sự san sẻ, đùm bọc, cưu mang của cộng đồng Sự tương trợ dần dần được
mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau Những yếu tố đoàn kết, hướng thiện đó đã tác động tích cực đến ý thức và công việc xã hội của các Nhà nước dưới các chế độ xã hội khác nhau Trong quá trình phát triển xã hội, đặc biệt là từ sau cuộc cách mạng công nghiệp, hệ thống ASXH đã có những cơ sở để hình thành và phát triển Quá trình công nghiệp hoá làm cho đội ngũ người làm công ăn lương tăng lên, cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập do lao động làm thuê đem lại Sự hẫng hụt về tiền lương trong các trường hợp bị ốm đau, tai nạn, rủi ro, bị mất việc làm hoặc khi về già…, đã trở thành mối đe doạ đối với cuộc sống bình thường của những người không có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương Sự bắt buộc phải đối mặt với những nhu cầu thiết yếu hàng ngày đã buộc những người làm công ăn
Trang 20lương tìm cách khắc phục bằng những hành động tương thân, tương ái (lập các quỹ tương tế, các hội đoàn…); đồng thời, đòi hỏi giới chủ và Nhà nước phải có trợ giúp bảo đảm cuộc sống cho họ
Năm 1850, lần đầu tiên ở Đức, nhiều Bang đã thành lập quỹ ốm đau và yêu cầu công nhân phải đóng góp để dự phòng khi bị giảm thu nhập vì bệnh tật Từ đó, xuất hiện hình thức bắt buộc đóng góp Lúc đầu chỉ có giới thợ tham gia, dần dần các hình thức bảo hiểm mở rộng ra cho các trường hợp rủi ro nghề nghiệp, tuổi già và tàn tật Đến cuối những năm 1880, ASXH (lúc này là BHXH) đã mở ra hướng mới Sự tham gia là bắt buộc và không chỉ người lao động đóng góp mà giới chủ và Nhà nước cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình (cơ chế ba bên) Tính chất đoàn kết và san sẻ lúc này được thể hiện rõ nét: mọi người, không phân biệt già - trẻ, nam - nữ, người khoẻ - người yếu mà tất cả đều phải tham gia đóng góp
Mô hình này của Đức đã lan dần ra châu Âu, sau đó sang các nước Mỹ Latinh, rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX Sau chiến tranh thế giới thứ hai, ASXH đã lan rộng sang các nước giành được độc lập ở châu Á, châu Phi
và vùng Caribê Ngoài BHXH, các hình thức truyền thống về tương tế, cứu trợ xã hội cũng tiếp tục phát triển để giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn như những người già cô đơn, người tàn tật, trẻ em mồ côi, người goá bụa và những người không may gặp rủi ro vì thiên tai, hoả hoạn… Các dịch vụ xã hội như dịch vụ y tế, dự phòng tai nạn, dự phòng y tế tái thích ứng; dịch vụ đặc biệt cho người tàn tật, người già, bảo
vệ trẻ em… được từng bước mở rộng ở các nước theo những điều kiện tổ chức, chính trị, kinh tế - xã hội, tài chính và quản lý khác nhau Hệ thống ASXH được hình thành
và phát triển rất đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhau ở từng quốc gia, trong từng giai đoạn lịch sử, trong đó BHXH là trụ cột chính Đạo luật đầu tiên về ASXH (Social Security) trên thế giới là Đạo luật năm 1935 ở Mỹ
Đạo luật này quy định thực hiện chế độ bảo vệ tuổi già, chế độ tử tuất, tàn tật
và trợ cấp thất nghiệp Thuật ngữ ASXH được chính thức sử dụng Đến năm 1941, trong Hiến chương Đại Tây Dương và sau đó Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) chính thức dùng thuật ngữ này trong các công ước quốc tế ASXH đã được tất cả các nước thừa nhận là một trong những quyền con người Nội dung của ASXH đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày
Trang 2110/12/1948 Trong bản Tuyên ngôn có viết: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng ASXH Quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cần cho nhân cách và sự tự do phát triển con người…” [60, tr 9] Ngày 25/6/1952, Hội nghị toàn thể của ILO đã thông qua Công
ước số 102, được gọi là Công ước về ASXH (tiêu chuẩn tối thiểu) trên cơ sở tập hợp các chế độ về ASXH đã có trên toàn thế giới thành 9 bộ phận
Tuy nhiên, cho đến nay, do tính chất phức tạp và đa dạng của ASXH nên vẫn còn nhiều nhận thức khác nhau về vấn đề này Khái niệm về ASXH cũng còn khá khác biệt giữa các quốc gia
Trong tiếng Anh, ASXH là Social Security và khi dịch ra tiếng Việt, ngoài ASXH thì thuật ngữ này còn được dịch là bảo đảm xã hội, bảo trợ xã hội, an ninh xã hội, an toàn xã hội… với những ý nghĩa không hoàn toàn tương đồng nhau Theo nghĩa chung nhất, Social Security là sự đảm bảo thực hiện các quyền của con người được sống trong hòa bình, được tự do làm ăn, cư trú, di chuyển, phát biểu chính kiến trong khuôn khổ luật pháp; được bảo vệ và bình đẳng trước pháp luật; được học tập, được có việc làm, có nhà ở; được đảm bảo thu nhập để thoả mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, tai nạn, tuổi già… Theo nghĩa này thì tầm “ bao” của Social Security rất lớn và vì vậy khi dịch sang tiếng Việt có nhiều nghĩa như trên cũng là điều dễ hiểu Theo nghĩa hẹp, Social Sec urity được hiểu là sự bảo đảm thu nhập và một số điều kiện sinh sống thiết yếu khác cho người lao động và gia đình họ khi bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già
cả, cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người nghèo đói và những người bị thiên tai, dịch hoạ… Theo chúng tôi, ASXH mà chúng ta đang nói tới, nên được hiểu theo nghĩa hẹp của khái niệm Social Security này Bên cạnh khái niệm này, từ những cách tiếp cận khác nhau, một số nhà khoa học đưa ra những khái niệm rộng - hẹp khác nhau về ASXH, chẳng hạn: Theo H Beveridge, nhà kinh tế học và xã hội học người Anh (1879 -1963), ASXH là sự bảo đảm về việc làm khi người ta còn sức làm việc và bảo đảm một lợi tức khi người ta không còn sức làm việc nữa
Trong Đạo luật về ASXH của Mỹ, ASXH được hiểu khái quát hơn, đó là sự bảo đảm của xã hội, nhằm bảo tồn nhân cách cùng giá trị của cá nhân, đồng thời tạo lập cho con người một đời sống sung mãn và hữu ích để phát triển tài năng đến tột độ
Trang 22Theo khái niệm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đang sử dụng:
“ASXH là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để chống lại tình cảnh khốn khổ về kinh tế
và xã hội gây ra bởi tình trạng bị ngưng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật trong lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già và tử vong;
sự cung cấp về chăm sóc y tế và các khoản tiền trợ cấp giúp cho các gia đình
đông con” [65, tr 11]
Đảm bảo ASXH là một yêu cầu của sự phát triển bền vững, là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới, cũng là một đòi hỏi cấp thiết đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã có nhận thức rất sớm về chính sách ASXH và tiếp cận nó từ góc độ quyền con người
Hiến pháp năm 1946 đã xác định: “Người lao động được bảo đảm quyền việc làm, nghỉ ngơi, BHXH, cứu tế; phụ nữ được nghỉ trước khi đẻ…” Hiến pháp năm
1992 đã nêu rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo xã hội cho mọi người Trong đó nhấn mạnh, Nhà nước thực hiện chế độ BHXH đối với người công chức nhà nước và người làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với người lao động
Ở Việt Nam, lần đầu tiên trong nghị quyết tại Đại hội IX của Đảng đã sử dụng
thuật ngữ ASXH và chủ trương: “Mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội” [57, tr 34]
Đến Đại hội XI, thuật ngữ ASXH được nhắc đến nhiều lần trong Văn kiện, được xác định là một hệ thống chính sách xã hội trọng yếu, nội dung cơ bản trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước Điểm mới đáng lưu ý trong kỳ đại hội này ASXH được khẳng định là sự cam kết, trách nhiệm của Đảng và Nhà nước thực hiện những cơ chế, chính sách, biện pháp trợ giúp, bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên
trong xã hội, nhất là các đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương: “ Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội” [58, tr 35]; “Bảo đảm an sinh xã hội; tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là những đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương” [58, tr 43]
Trang 23Từ những quan điểm nêu trên có thể định nghĩa: An sinh xã hội là mạng lưới các chương trình, hệ thống chính sách cụ thể từ nhà nước hoặc các tổ chức xã hội nhằm trợ giúp, hỗ trợ, bảo vệ cá nhân và toàn xã hội, đặc biệt là các cá nhân gặp phải rủi ro hay khó khăn trong cuộc sống, bảo đảm mức sống tối thiểu và góp phần nâng cao đời sống của họ, từ đó, thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội
1.1.2 Nội dung của ASXH
ASXH gồm bốn trụ cột cơ bản:
Thứ nhất là Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế
Thứ hai là Trợ giúp xã hội
Thứ ba là Ưu đãi xã hội
Thứ tư là Chính sách xóa đói giảm nghèo
BHXH, Bảo hiểm y tế
Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã mang lại
bộ mặt tươi sáng cho sự phát triển toàn diện của đất nước Cùng với sự phát triển kinh tế là
sự lớn mạnh không ngừng của hệ thống ASXH, đặc biệt là chính sách BHXH (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) đóng vai trò trụ cột trong hệ thống ASXH, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Đây là bộ phận lớn nhất trong hệ thống ASXH Có thể nói, không có BHXH thì không thể có một nền ASXH vững mạnh BHXH ra đời và phát triển từ khi cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện ở châu Âu BHXH nhằm bảo đảm cuộc sống cho những người công nhân công nghiệp và gia đình họ trước những rủi ro xã hội như ốm đau, tai nạn, mất việc làm…, làm giảm hoặc mất thu nhập Tuy nhiên, cũng do tính lịch sử và phức tạp của vấn đề, khái niệm BHXH đến nay cũng chưa được hiểu hoàn toàn thống nhất và gần đây có xu hướng hòa nhập giữa BHXH với ASXH Khi đề cập đến vấn đề chung nhất, người ta dùng khái niệm SOCIAL SECURITY và vẫn dịch là BHXH, nhưng khi đi vào cụ thể từng chế độ thì BHXH được hiểu theo nghĩa của từ SOCIAL INSURANCE Tuy nhiên, sự hòa nhập này không có nghĩa là hai thuật ngữ
này là một Theo nghĩa hẹp, cụ thể, có thể hiểu BHXH là “sự bảo đảm thay thế hoặc
bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp rủi ro hoặc sự kiện bảo hiểm làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia
đình họ góp phần đảm bảo ASXH” [65, tr 19]
Trang 24BHXH có những điểm cơ bản là: BHXH dựa trên nguyên tắc cùng chia sẻ rủi
ro giữa những người tham gia; đòi hỏi tất cả mọi người tham gia phải đóng góp tạo nên một quỹ chung; các thành viên được hưởng chế độ khi họ gặp các “sự cố” và đủ điều kiện để hưởng; chi phí cho các chế độ được chi trả bởi quỹ BHXH; nguồn quỹ được hình thành từ sự đóng góp của những người tham gia, thường là sự chia sẻ giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, với một phần tham gia của Nhà nước; đòi hỏi tham gia bắt buộc, trừ những trường hợp ngoại lệ; phần tạm thời chưa sử dụng của Quỹ được đầu tư tăng trưởng, nâng cao mức hưởng cho người thụ hưởng chế độ BHXH; các chế độ được bảo đảm trên cơ sở các đóng góp BHXH, không liên quan đến tài sản của người hưởng BHXH; các mức đóng góp và mức hưởng tỷ lệ với thu nhập trước khi hưởng BHXH…
Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm mang tính cộng đồng cao chia sẻ sâu sắc được áp dụng trong lĩnh vực khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho mọi người, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế (Luật này đã được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 14/11/2008 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 /7/2009)
Trợ giúp xã hội
Đó là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội về thu nhập và các điều kiện sinh sống thiết yếu khác đối với mọi thành viên của xã hội trong những trường hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng để tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình
Trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ thêm của cộng đồng và xã hội bằng tiền hoặc bằng các điều kiện và phương tiện thích hợp để đối tượng được giúp đỡ có thể phát huy khả năng tự lo liệu cuộc sống cho mình và gia đình, sớm hòa nhập trở lại với cuộc sống của cộng đồng
Hoạt động trợ giúp xã hội có thể biểu hiện ở nhiều chính sách xã hội có liên quan như: cứu tế xã hội, trợ cấp xã hội, trợ cấp gia đình Những mảng chính sách này
có thể do Chính phủ thống nhất ban hành và cũng có thể do chính quyền địa phương quyết định Các chính sách liên quan đến trợ giúp xã hội thường được coi là lưới che chắn thứ hai hoặc thứ ba cho mọi thành viên trong cộng đồng và cũng không nằm ngoài mục đích chung của ASXH
Trang 25Đặc điểm của trợ giúp xã hội là: Tính pháp lí luôn bị hạn chế do đối tượng rộng, nên phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện kinh tế xã hội của mỗi nước; chính sách trợ giúp
xã hội có liên quan tới tất cả cộng đồng xã hội không phân biệt vùng miền, tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc hay địa vị xã hội… Hoạt động để thực hiện chính sách trợ giúp xã hội rất phong phú đa dạng Hoạt động này không chỉ được thực hiện bởi Nhà nước, mà còn được thực hiện bởi các tổ chức kinh tế - xã hội, các đoàn thể và từng cá nhân trong cộng đồng Đồng thời hoạt động trợ giúp xã hội không chỉ bó hẹp trong phạm vi quốc gia mà nó còn được thực hiện trên phạm vi quốc tế; Nhà nước thực hiện chính sách trợ giúp xã hội chủ yếu thông qua chính sách thuế để huy động sự đóng góp của các cá nhân, các tổ chức vào ngân sách này để trợ giúp cho những người có hoàn cảnh khó khăn, không may gặp thiên tai, địch họa hoặc lâm vào hoàn cảnh yếu thế không tự lo liệu được cuộc sống của mình
Ưu đãi xã hội
Đất nước ta trải qua thời kỳ đấu tranh giữ nước chống giặc ngoại xâm kéo dài
vì thế khi thống nhất đất nước, ưu đãi người có công là một vấn đề chính trị, xã hội, kinh tế văn hóa đặc biệt Đến năm 2010, cả nước còn 1,5 triệu người hưởng ưu đãi thường xuyên Ngân sách nhà nước chi trả trợ cấp ưu đãi hàng tháng gần 20 tỷ đồng/năm Ưu đãi người có công trong hệ thống ASXH ở Việt Nam luôn là mối quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước ta
Là chính sách đặc thù dành cho những người hoặc thân nhân những người đã cống hiến, hi sinh cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ
tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế Chính sách ưu đãi xã hội về bản chất là ghi nhận, trân trọng tôn vinh, đền ơn đáp nghĩa với người có công, chăm lo, bù đắp bằng vật chất, tinh thần đối với những cống hiến, đóng góp, hi sinh của người có công cho sự nghiệp cách mạng
Thực hiện chính sách ưu đãi xã hội là một việc làm tất yếu bởi vì bất kì chính sách nào xây dựng cũng dựa trên nền tảng được xã hội công nhận Đối với chính sách
ưu đãi xã hội, cơ sở nền tảng để xây dựng và thực hiện chính sách là đạo đức xã hội
và nguyên tắc công bằng xã hội
Dưới góc độ về đạo đức xã hội, chính sách ưu đãi xã hội thể hiện truyền thống
“ăn quả nhớ kẻ trồng cây” của dân tộc Việt Nam Để có được cuộc sống hòa bình, ổn
Trang 26định, kinh tế phát triển như ngày hôm nay, chúng ta phải biết ơn và thực hiện đền ơn đáp nghĩa những người đã cống hiến hi sinh giúp đỡ cách mạng hay trực tiếp tham gia cách mạng
Về khía cạnh công bằng xã hội, việc thực hiện chính sách ưu đãi xã hội thể hiện nguyên tắc đóng góp - hưởng lợi Rõ ràng mọi thành quả không tự nhiên mà có
mà là kết quả của những đóng góp, cống hiến từ quá khứ Nếu coi thành quả cách mạng là bảo vệ nền độc lập dân tộc, đem lại hòa bình thống nhất đất nước, làm cho đất nước không ngừng phát triển thì những người đóng góp cho sự phát triển đó có quyền hưởng lợi từ thành quả đạt được Như vậy việc người có công với cách mạng hưởng chính sách ưu đãi mang ý nghĩa công bằng xã hội
Việc luận giải cơ sở thực hiện chính sách ưu đãi xã hội nêu trên không chỉ để khẳng định sự cần thiết thực hiện chính sách mà còn là cơ sở để xây dựng cách tiếp cận xây dựng, thực hiện chính sách ưu đãi xã hội Mặc dù chính sách ưu đãi xã hội được xây dựng trên hai khía cạnh nhưng khía cạnh đạo đức, tinh thần vẫn giữ vị trí, ý nghĩa quan trọng bởi sự cống hiến hi sinh của những người có công với cách mạng là không thể đo đếm để có thể bù đắp (theo nguyên tắc công bằng như phân phối quyền lợi trong kinh tế) được
Đối tượng hưởng chính sách ưu đãi xã hội được phân tách theo các tiêu chí sau: Phân theo đối tượng trực tiếp hay gián tiếp: chính sách ưu đãi xã hội hướng tới cả đối tượng trực tiếp tham gia cách mạng, đồng thời với đối tượng là thân nhân của những người có công với cách mạng Theo cách phân nhóm này thì nhóm hưởng lợi trực tiếp là người có công bao gồm: thương binh, anh hùng, thanh niên xung phong, cán bộ tiền khởi nghĩa; nhóm đối tượng là thân nhân như gia đình liệt sĩ, mẹ Việt nam anh hùng…
Phân theo hình thức cống hiến, mức độ hi sinh: Rất nhiều hình thức cống hiến,
hi sinh cho cách mạng của người có công như hi sinh tính mạng (liệt sĩ), một phần xương máu (thương binh), một thời tuổi trẻ (thanh niên xung phong)…
Việc xem xét theo nhóm đối tượng với những tiêu chí khác nhau là cơ sở để xác định cách tiếp cận xây dựng, thực hiện chính sách ưu đãi xã hội một cách phù hợp đạo lý và nguyên tắc công bằng xã hội
Trang 27Như đã trình bày ở trên cơ sở lý luận xây dựng và thực hiện chính sách xã hội dựa trên nền tảng tư tưởng là truyền thống uống nư ớc nhớ nguồn và nguyên tắc công bằng
xã hội (hay quyền được hưởng) Tuy nhiên câu hỏi đặt ra là chính sách ưu đãi thực hiện như thế nào? Mức độ ưu đãi ra sao? Lại phụ thuộc vào cơ sở thực tiễn phát triển kinh tế
xã hội của đất nước và đời sống của các đối tượng chính sách ưu đãi xã hội
Chính sách ưu đãi xã hội trong những năm qua đã đạt nhiều kết quả và thành tựu đáng ghi nhận, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nâng cao mức sống người có công và gia đình, phù hợp với khả năng của nền kinh tế qua các thời kỳ, đặc biệt là qua các lần cải cách tiền lương, BHXH và ưu đãi người có công Trong thời gian tới cần tích cực giải quyết và khắc phục những điểm hạn chế, bất cập của chính sách và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng tiếp tục thực hiện cải cách ưu đãi người có công; xử lý dứt điểm các trường hợp còn tồn đọng về xác nhận, công nhận người có công đồng thời bổ sung thêm đối tượng người có công mới; giải quyết nhu cầu về nhà
ở, việc làm cho gia đình người có công và mở rộng phong trào xã hội hóa công tắc chăm sóc người có công
Xóa đói giảm nghèo
Theo Ủy ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương: “nghèo đói là trạng thái một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương”
Ở Việt Nam, nghèo được hiểu là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thỏa mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện (nguồn: chinhphu.vn) Theo chương trình xóa đói giảm nghèo và phương hướng từ năm 2006 - 2010 của Thủ tướng Chính phủ, đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống Hộ nghèo là những hộ có thu nhập bình quân đầu người trong hộ dưới ngưỡng nghèo đói
Về chuẩn mực nghèo đói ở Việt Nam, có thể thấy giai đoạn 2000- 2010 (theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ký ngày 08/7/2005) chuẩn nghèo áp dụng cho hai khu vực, ở khu vực nông thôn thu nhập bình quân 200.000 đồng/người/tháng được xếp vào diện hộ nghèo, ở khu vực thành thị thu nhập
Trang 28bình quân 260.000 đồng/người/tháng được xếp vào diện hộ nghèo; giai đoạn 2011 -
2015 mức chuẩn này tăng lên (theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 21/99/2010): khu vực nông thôn thu nhập bình quân 400.000 đồng/người/tháng (4.800.000 đồng/người/năm) đư ợc xếp vào diện hộ nghèo, khu vực thành thị thu nhập bình quân 500.000 đồng/người/ tháng (6.000.000 đồng/người/năm) được xếp vào diện hộ nghèo)
Chính sách xóa đói giảm nghèo là tổng thể các biện pháp, chính sách của Nhà nước và xã hội hướng vào người nghèo hay là của chính những đối tượng diện nghèo đói, nhằm tạo điều kiện để họ tăng thu nhập, thoát khỏi tình trạng thu nhập không đáp ứng những nhu cầu tối thiểu trên cơ sở chuẩn nghèo đã được quy định
Công tác xóa đói giảm nghèo luôn là vấn đề hết sức quan trọng, thể hiện tinh thần, sự quyết tâm của chính phủ đồng thời cũng là việc thể chế hóa các quan điểm, nghị quyết của Trung ương Đảng về sự phát triển kinh tế đất nước gắn với giải quyết các vấn đề xã hội, đảm bảo ASXH trong đó nhiệm vụ xóa đói giảm nghèo luôn được coi là vấn đề nhiều khó khăn và thách thức nhất
Xóa đói giảm nghèo đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm từ rất sớm, sau Cách mạng tháng Tám 1945, trong bối cảnh thiếu lương thực trầm trọng trên phạm vi cả nước, đói được xem là giặc, “diệt giặc đói” đã trở thành khẩu hiệu trong tăng gia sản xuất
Đến thời kỳ đổi mới và mở cửa, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu phát triển mạnh
mẽ, nhưng cùng với tăng trưởng là phân hóa giàu nghèo có xu hướng ngày càng tăng
và xóa đói giảm nghèo đã chính thức trở thành một chương trình nghị sự quốc gia vào những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ XX Đánh dấu bằng chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1998-2000 sau đó là giai đoạn 2001- 2005, 2006- 2010, 2011- 2015…và những cam kết quốc tế về thực hiện mục tiêu giảm nghèo
1.1.3 Vai trò hệ thống ASXH
Hệ thống ASXH có vai trò là quản lý và đối phó với rủi ro, bao gồm ba nấc: Một là, phòng ngừa rủi ro thông qua hệ thống các chính sách BHXH Bảo hiểm xã hội là bộ phận quan trọng nhất, có ý nghĩa vô cùng to lớn và thiết thực đối với đời sống của người lao động trong hệ thống ASXH Với việc mở rộng đối tượng BHXH đến mọi người dân dưới hai hình thức tham gia bắt buộc và tự nguyện; với
Trang 29chế độ BHXH bằng các khoản trợ cấp dài hạn, trợ cấp ngắn hạn và BHYT; với việc quản lý và thực hiện bảo hiểm xã hội tập trung thống nhất, và với việc quỹ BHXH được thanh toán độc lập dưới sự bảo trợ và điều hành của Nhà nước, thì hệ thống ASXH sẽ hoàn toàn có thể làm tốt chức năng phòng ngừa rủi ro
Trong cuộc sống hầu như không ai không một lần gặp rủi ro, bất hạnh Có những rủi ro đột xuất không thể dự đoán được, như tai nạn nghề nghiệp, thất nghiệp, nhưng cũng có những rủi ro không ai có thể tránh được như bệnh tật, tuổi già Bởi vậy, phòng ngừa rủi ro là nhiệm vụ của mỗi người, của toàn dân mà Nhà nước là người đứng ra tổ chức, điều hành Phòng ngừa rủi ro phải phòng ngừa từ xa Từ lúc con người còn trẻ khỏe, làm việc, sống bình thường, phải lo tích lũy một số vốn nào
đó trong quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm y tế… để khi đã già, yếu không còn sức lao động nữa họ vẫn có thể sống được nhờ vào lương hưu, tiền bảo hiểm tuổi già, tiền bảo hiểm y tế tại các bệnh viện Thực tế cho thấy, chi phí cho phòng ngừa rủi ro sẽ thấp hơn rất nhiều so với chi phí để khắc phục rủi ro
Hai là, giảm thiểu rủi ro Rủi ro xảy ra có thể rất nặng nề, gây nên những mất mát rất lớn về vật chất và tinh thần, nhưng với hệ thống các chính sách ASXH, hậu quả của các rủi ro đó hoàn toàn có thể được giảm nhẹ, được khống chế ở mức độ có thể chấp nhận được Để có thể giảm thiểu rủi ro, một mặt, Nhà nước phải có một hệ thống tổ chức, điều hành chặt chẽ, nhưng linh hoạt hệ thống ASXH; mặt khác, mọi thành viên trong xã hội cũng cần phải có ý thức tự giác tham gia vào các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quỹ phòng chống thiên tai, quỹ an sinh xã hội v.v trước hết vì cuộc sống của bản thân và gia đình của mỗi người, sau nữa là vì cộng đồng, sự ổn định và phát triển của xã hội Việc giảm thiểu rủi ro này chủ yếu thuộc về các chính sách bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các chính sách trợ giúp xã hội có liên quan đến giáo dục, dạy nghề, tạo việc làm
Ba là, khắc phục rủi ro được thực hiện chủ yếu thông qua các chính sách trợ giúp xã hội (trợ cấp xã hội, tương trợ xã hội và cứu tế xã hội) Có hai chế độ trợ giúp: thường xuyên (áp dụng đối với các đối tượng người già cô đơn, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, người tàn tật nặng…) và trợ giúp đột xuất đối với những đối tượng chẳng may gặp rủi ro, hoạn nạn Hệ thống ASXH phải có trách nhiệm chủ đạo trong việc khắc phục các rủi ro đó nhằm giúp cho mọi thành viên trong xã hội mau chóng
ổn định cuộc sống
Trang 301.2 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
1.2.1 Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ
Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng Trung du miền núi Bắc Bộ, phía nam giáp Thủ đô Hà Nội, phía bắc giáp Bắc Kạn, phía đông giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, phía tây giáp các tỉnh Tuyên Quang, Phú Thọ Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 3531,7 km2 dân số trung bình đến 31/12/2011 là 1.139.444 nghìn người Tọa độ địa lí nằm 20020’- 22025’B; 105025’-106016’Đ [39, tr 17]
Bảng 1.1 Diện tích, dân số, mật độ dân số tỉnh Thái Nguyên
chia theo huyện, thành phố, thị xã năm 2011
(km 2 )
Dân số trung bình (người)
Mật độ dân số (người/km 2 )
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2011
Với vị trí địa lý như vậy, Thái Nguyên được xem là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục y tế của Việt Nam nói chung, của vùng Trung du miền Đông Bắc nói riêng, là một trong những vùng chè nổi tiếng của cả nước, một trung tâm công nghiệp gang thép của phía bắc, cửa ngõ giao lưu KT-XH giữa trung du miền núi với đồng bằng Bắc Bộ Sự giao lưu được thực hiện thông qua hệ thống đường bộ đường sắt, đường sông hình dẻ quạt mà TP Thái Nguyên là đầu nút Đây là nơi tụ hội các nên văn hoá dân tộc, đầu mối của các hoạt động văn hoá, giáo dục của vùng núi phía Bắc rộng lớn Với 9 trường Đại Học, trên 20 trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật Thái Nguyên xứng đáng là trung tâm văn
Trang 31hóa, nghiên cứu khoa học và giáo dục - đào tạo của các tỉnh miền núi phía Bắc Vị trí địa lý của tỉnh đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng giao lưu kinh tế với các tỉnh, thành phố trong vùng, trong cả nước cũng như với nước ngoài trong thời kỳ hội nhập và phát triển kinh tế
Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Thái Nguyên
Nguồn: Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Thái Nguyên
Trang 321.2.2 Đặc điểm môi trường tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Về địa hình, Thái Nguyên là tỉnh miền núi có độ cao trung bình so với mặt biển
khoảng 200 - 300m, thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông Tỉnh Thái Nguyên được bao bọc bởi các dãy núi cao Bắc Sơn, Ngân Sơn và Tam Đảo Đỉnh cao
nhất thuộc dãy Tam Đảo có độ cao 1592m Địa hình phân hóa thành 3 vùng rõ rệt:
Vùng địa hình vùng núi: Bao gồm nhiều dẫy núi cao ở phía Bắc chạy theo hướng Bắc - Nam và Tây Bắc - Đông Nam Các dãy núi kéo dài theo hướng Tây Bắc
- Đông Nam Vùng này tập trung ở các huyện Đại Từ, Định Hóa và một phần của huyện Phú Lương Đây là vùng có địa hình cao chia cắt phức tạp do quá trình castơ phát triển mạnh, có độ cao từ 500 -1000m, độ dốc thường từ 25-35 độ
Vùng địa hình đồi cao, núi thấp: là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi cao phía Bắc và vùng đồi gò đồng bằng phía Nam, chạy dọc theo sông Cầu và đường quốc lộ 3 thuộc huyện Đồng Hỷ, Nam Đại Từ và Nam Phú Lương Địa hình gồm các dãy núi thấp đan chéo với các dải đồi cao tạo thành các bậc thềm lớn và nhiều thung lũng Độ cao trung bình từ 100-300m, độ dốc thường từ 15-25 độ
Vùng địa hình nhiều ruộng ít đồi: Bao gồm vùng đồi thấp và đồng bằng phía Nam tỉnh Địa hình tương đối bằng, xen giữa các đồi bát úp dốc thoải là các khu đất bằng Vùng này tập trung ở các huyện Phú Bình, Phổ Yên, thị xã Sông Công và thành phố Thái Nguyên và một phần phía Nam huyện Đồng Hỷ, Phú Lương Độ cao trung bình từ 30-50m, độ dốc thường <10 độ
Về đất đai, ở Thái Nguyên đất đồi núi chiếm chủ yếu diện tích (chiếm đến
85,8% tổng diện tích tự nhiên) Do sự chi phối của địa hình và khí hậu đất đồi núi của tỉnh bị phong hóa nhanh, mạnh, triệt để, đồng thời cũng đã bị thoái hóa, rửa trôi, xói mòn mạnh một khi mất cân bằng sinh thái Do tính đa dạng của nền địa chất và địa
hình đã tạo ra nhiều loại đất có các đặc điểm đặc trưng khác nhau
Đất phù sa: Diện tích 19.448 ha, chiếm 5,49% diện tích tự nhiên Loại đất này phân bố tập trung chủ yếu dọc Sông Cầu, Sông Công và các sông suối trên địa bàn tỉnh, trong đó có 3.961 ha đất phù sa được bồi hằng năm ven sông thuộc huyện Phổ Yên, Đồng Hỷ, thị xã Sông Công và thành phố Thái Nguyên Đất phù sa của tỉnh thường có thành phần cơ giới trung bình, đất ít chua, hàm lượng dinh dưỡng khá, rất thích hợp cho phát triển các loại cây trồng nông nghiệp, đặc biệt là cây trồng ngắn ngày (lúa, ngô, đậu đỗ, rau mầu)
Trang 33Đất bạc màu: Diện tích chỉ có 4.331 ha, chiếm 1,22% diện tích tự nhiên Loại đất này phân bố ở các huyện phía nam tỉnh Đất bằng hiện đã được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp
Đất dốc tụ: diện tích 18.411 ha, chiếm 5,20% diện tích tự nhiên Loại đất này được hình thành và phát triển trên sản phẩm rửa trôi và lắng đọng của tất cả các loại đất ở các chân sườn thoải mái hoặc khe dốc, nên thường có độ phì khác nhau và phân tán trên địa bàn các huyện trong tỉnh Đây là loại đất rất thích hợp với trồng ngô, đậu
đỗ và các loại cây công nghiệp ngắn ngày
Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa: diện tích 4.380 ha, chiếm 1,24 % diện tích tự nhiên Loại đất này phân bố phân tán ở hầu khắp các thung lũng trên địa bàn các huyện trong tỉnh, hiện đã được sử dụng trồng lúa và một số cây trồng ngắn ngày khác
Đất đỏ vàng trên phiến thạch sét: diện tích 136.880 ha, chiếm 38,65% diện tích tự nhiên, đây là loại đất có diện tích lớn nhất Phân bố tập trung thành các vùng lớn thuộc các huyện Phú Lương, Võ Nhai, Đồng Hỷ, Đại Từ, Định Hóa Đất có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, cấu trúc dạng cục, ngập nước lâu ngày
sẽ có quá trình glây hóa mạnh Trên loại đất này có khoảng 48,5% diện tích có độ dốc
từ 8-250, rất thích hợp với phát triển cây chè, cây ăn quả
Bảng 1.2 Cơ cấu sử dụng đất theo mục đích sử dụng tính đến năm 2011
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2011
Trang 34Về khí hậu, do nằm sát chí tuyến Bắc trong vành đai Bắc bán cầu, nên khí hậu
của tỉnh Thái Nguyên mang tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên vào mùa nóng (mưa nhiều) từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình khoảng 23-280C và lượng mưa trong mùa này chiếm tới 90% lượng mưa cả năm Mùa đông có khí hậu lạnh (mưa ít) từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Song do có sự khác biệt rõ nét ở độ cao và địa hình, địa thế nên trên địa bàn Thái Nguyên hình thành các cụm tiểu vùng khí hậu khác nhau Sự đa dạng về khí hậu của Thái Nguyên đã tạo nên
sự đa dạng, phong phú về các tập đoàn cây trồng, vật nuôi Đặc biệt tại Thái Nguyên, chúng ta có thể tìm thấy cả cây trồng, vật nuôi có nguồn gốc nhiệt đới, á nhiệt đới và
ôn đới Đây chính là cơ sở cho sự da dạng hóa cơ cấu sản phẩm nông nghiệp, phát huy
lợi thế so sánh của các yếu tố sinh thái của tỉnh
Về khoáng sản, Thái Nguyên nằm trong vùng sinh khoáng Đông Bắc - Việt
Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương Là một tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản rất phong phú về chủng loại và trữ lượng, trong đó có nhiều loại có ý nghĩa đối với cả nước như mỏ sắt, mỏ than (đặc biệt là than mỡ) Than mỡ có trữ lượng tiềm năng khoảng trên 15 triệu tấn, chất lượng tương đối tốt, trong đó trữ lượng tìm kiếm thăm dò khoảng 8,5 triệu tấn Than đá có trữ lượng tìm kiếm và thăm
dò khoảng trên 90 triệu tấn, phân bố tập trung ở mỏ Khánh Hòa, Núi Hồng, Cao Ngạn Quặng sắt trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 47 mỏ và điểm quặng, trữ lượng trên
50 triệu tấn Sét xi măng có trữ lượng khá lớn (khoảng 84,6 triệu tấn) phân bố ở Cúc Đường, Khe Me Đá vôi xây dựng: Trữ lượng khá lớn (khoảng 10 tỷ tấn) Tập trung ở khu núi Voi, La Giàng, La Hiên khoảng 222 triệu tấn
Ngoài ra, Thái Nguyên có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch, về mặt tự nhiên có một số thắng cảnh tiêu biểu:
Thắng cảnh Hồ Núi Cốc cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 15 km về hướng tây nam Núi Cốc trải nhựa phẳng phiu, uốn lượn là tới khu du lịch Núi Cốc Hồ nằm giữa một khung cảnh thiên nhiên kỳ thú, sơn thuỷ hữu tình Nơi đây đã nổi tiếng bởi nét đẹp thiên tạo từ bao năm Núi Cốc tên gọi một vùng đất, vùng hồ nên thơ, lung linh sắc màu huyền thoại của câu chuyện tình thủy chung trong truyền thuyết gắn với nàng Công - chàng Cốc Hồ Núi Cốc là hồ nhân tạo, chắn ngang dòng Sông Công, nằm trên địa phận huyện Đại Từ, ở trên lưng chừng núi hồ được khởi công xây dựng năm
Trang 351993, hoàn thành vào năm 1994 hồ gồm một đập chính dài 480m và 6 đập phụ diện tích mặt hồ rộng 25 km2 Trên mặt hồ rộng mênh mông có tới hơn 89 hòn đảo, lòng hồ sâu 23m, dung tích nước hồ là 175 triệu m3 Hồ có khả năng khai thác từ 600 - 800 tấn
cá/ năm Hồ Núi Cốc là danh thắng và là nơi nghỉ mát lý tưởng
Di tích hang Phượng Hoàng, suối Mỏ Gà thuộc xã Phú Thượng, huyện Võ Nhai, cách thành phố Thái Nguyên 42 km về phía đông bắc Đây là một quần thể thắng cảnh đẹp của tỉnh Thái Nguyên bởi phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ, hang động đẹp, nhiều dáng vẻ kì thú Nơi đây có thác nước, dòng suối trong xanh, mùa hạ khí hậu ôn hoà, mát mẻ Di tích danh thắng phượng hoàng, suối nước và bến tắm hang
mỏ gà được nhà nước xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1994
1.2.3 Đặc điểm dân cư và xã hội
1.2.3.1 Dân cư và nguồn lao động
Theo Niên giám thống kê 2011, năm 2011 dân số toàn tỉnh là 1.139.444 người, trong đó dân số khu vực thành thị là 322.207 người chiếm 28,28% và dân số khu vực nông thôn là 817.237 người chiếm 71,72% dân số toàn tỉnh
Theo kết quả của cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, quy mô hộ gia đình tại tỉnh Thái Nguyên là 3,4 người/hộ Tỉ số già hóa là 39,5% và tỉ số phụ thuộc
là 42,2% Tuổi kết hôn trung bình lần đầu của cư dân Thái Nguyên là 24 tuổi, trong
đó nam là 25,7 tuổi và nữ là 22,3 tuổi, thấp hơn trung bình cả nước với các số liệu tương ứng là 24,5 tuổi, 26,2 tuổi và 22,8 tuổi Tỷ lệ xuất cư là 30,2‰/năm còn tỷ lệ nhập cư là 39,6‰/năm Tỉ lệ biết chữ đạt 96,5%, cao hơn mức trung bình cả nước là 93,5% Diện tích nhà ở bình quân của Thái Nguyên là 20,1m²/người, trong đó nhà ở kiên cố đạt 61,7%, nhà ở bán kiên cố đạt 25,6%, nhà ở thiếu kiên cố đạt 4,5% và nhà
ở đơn sơ đạt 8,2% 93,7% nhà ở tại Thái Nguyên là nhà riêng Khoảng 35,4% số người xuất cư khỏi Thái Nguyên có điểm đến là Hà Nội và 8,5% có điểm đến làThành phố Hồ Chí Minh Các địa phương có số người nhập cư nhiều nhất đến Thái Nguyên lần lượt là Bắc Giang, Hà Nội, Bắc Kạn và Cao Bằng
Cũng như toàn quốc, Thái Nguyên có một dân số trẻ với nhóm tuổi lao động
từ 15 đến 60 là 779.261 người, chiếm 69,38% tổng dân số Nhóm tuổi dưới 15 có 249.001 người, chiếm 22,17% tổng dân số còn nhóm người trên 60 tuổi có 94.854 người, tức chiếm 8,45%
Trang 36Không như nhiều tỉnh trung du miền núi phía bắc khác, tỉnh Thái Nguyên có
đa số dân cư là người Kinh (73,1%), tỉ lệ người Kinh chiếm cao hơn tại tỉnh lị, thị xã Sông Công và các huyện phía nam như Phổ Yên, Phú Bình cũng như tại các khu vực ven quốc lộ, tỉnh lộ và thị trấn tại các huyện còn lại
Bảng 1.3 Dân số và lao động tỉnh Thái Nguyên năm 2011
về phổ cập trung học cơ sở Đội ngũ giáo viên ngày càng được hoàn thiện về số lượng và chất lượng Tỷ lệ giáo viên mầm non đạt chuẩn là 91,15%, giáo viên tiểu học là 97,02 %, giáo viên trung học cơ sở là 97,16%, giáo viên trung học phổ thông
là 95,12% Công tác xã hội hóa giáo dục ngày càng được tăng cường
Trang 37Thái Nguyên đóng vai trò quan trọng của vùng trung du miền núi Bắc Bộ trong lĩnh vực đào tạo Đại học, Trung học và Dạy nghề Với hệ thống giáo dục đào tạo dạy nghề phong phú cả về số lượng và cấp trình độ Trong giai đoạn 2001 - 2008
đã đào tạo bình quân hàng năm khoảng 21 vạn lao động, cung cấp lao động có chuyên môn kỹ thuật cho không những trong tỉnh mà còn cho các tỉnh khác, góp phần quan trọng thực hiện các mục tiêu phát triển Kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời gian qua cũng như tạo tiền đề cho thành công của thời kỳ tới
Về y tế, tính đến năm 2011 trên địa bàn tỉnh có 541 cơ sở y tế với 4371 giường bệnh cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, khám và chữa bệnh cho nhân dân (trong đó có 21 bệnh viện y tế, 26 phòng khám đa khoa khu vực, 181 trạm y tế xã phường) Trên địa bàn tỉnh còn có hệ thống y tế quân đội gồm Bệnh viện 91 và các bệnh xá ở các đơn vị
Bảng 1.4 Thu nhập bình quân tháng của người lao động phân
theo khu vực thành thị, nông thôn
Dưới sự lãnh đạo của các cấp đảng và chính quyền địa phương các cấp, với sự
nỗ lực phấn đấu của nhân dân các dân tộc trong tỉnh, tỉnh đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, đạt được những thành tựu đáng kể trong phát triển kinh tế:
Ngành công nghiệp - xây dựng: tăng trưởng ngành công nghiệp - xây dựng bình quân 5 năm giai đoạn 2001-2005 đạt 12,45%/năm, riêng ngành công nghiệp tăng nhanh hơn với tốc độ 13,65%/năm Giai đoạn 2006 - 2010 dự ước đạt 14,9%/ năm Sản phẩm công nghiệp phát triển đa dạng và phong phú hơn về chủng loại, chất lượng được cải thiện, từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh, đáp ứng được nhu cầu
Trang 38tiêu dùng nội địa và xuất khẩu Tỷ trọng của ngành trong GDP toàn tỉnh liên tục tăng lên qua các năm và cho tới nay ngành này vẫn đóng góp nhiều nhất cho GDP tỉnh Giai đoạn 2001- 2005 ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 38,64% GDP toàn tỉnh, giai đoạn 2006-2010 chiếm 41,54%
Bảng 1.5 Giá trị sản xuất công nghiệp tỉnh Thái Nguyên theo giá so sánh 1994
phân theo huyện, thành phố, thị xã
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2008, năm 2011
Ngành dịch vụ: Khu vực dịch vụ có tốc độ tăng trưởng tương đối ổn định, mặc
dù chịu ảnh hưởng chung từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới và suy thoái kinh tế toàn cầu Tốc độ tăng trưởng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội bình quân 5 năm 1997- 2000 là 9%, 2001- 2005 đạt 14,5%, 2006 - 2010 đạt 21%, năm 2011- 2015 đạt 32,2%.Dịch vụ thương mại đạt tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006-2010 tăng 11,86%, chuyển dịch cơ cấu trong các năm 2006-2009 từ 35,08% tăng lên 36,92%
Ngành Nông - lâm nghiệp - thủy sản: Vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, thiên tai, dịch bệnh, … ngành nông nghiệp trong giai đoạn 2006 - 2010 đã phát triển với tốc độ khá, tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp đạt 4,14% mặc dù không đạt mục tiêu đề ra song trong điều kiện diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp để
Trang 39phục vụ cho nhu cầu đô thị hóa, phát triển công nghiệp thì mức tăng trưởng trên là đáng khích lệ; đặc biệt ngành chăn nuôi có mức tăng trưởng khá, đạt bình quân trên 8%, chăn nuôi đã bắt đầu phát triển theo hướng chăn nuôi trang trại, chăn nuôi công nghiệp tuy mức chuyển dịch cơ cấu nội ngành còn chưa rõ nét song bước đầu đã đem lại một số kết quả nhất định
Kinh tế nông thôn và đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện hơn trước, việc đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn, đầu tư phát triển giống mới có năng suất, chất lượng cao, phát triển các cụm công nghiệp, làng nghề tiểu thủ công nghiệp đã có tác động tích cực đến việc phát triển sản xuất, tạo việc làm và xóa đói giảm nghèo
1.2.5 Cơ sở hạ tầng
Hệ thống giao thông
Thái Nguyên là một tỉnh có hệ thống đường giao thông khá đầy đủ là điều kiện tốt cho việc giao lưu kinh tế và văn hóa giữa nhân dân trong tỉnh và các vùng lân cận Tổng chiều dài đượng bộ 2.753 km trong đó đường quốc lộ là 183km; tỉnh lộ là 105,5
km, huyện lộ là 659 km; đường liên xã là 1764 km
Các đường tỉnh lộ và quốc lộ được dải nhựa và hàng năm có chi thường xuyên
để tu bổ và bảo trì hoạt động Hệ thống quốc lộ phân bố khá hợp lý trên địa bàn tỉnh, phần lớn các trường đều xuất từ trục dọc quốc lộ 3 đi trung tâm các huyện lỵ, thị xã, các khu kinh tế, vùng mở, khu du lịch và thông tới các tỉnh lân cận Quốc lộ 3 từ Hà Nội lên Bắc Kạn, Cao Bằng cắt dọc toàn bộ tỉnh Thái Nguyên, chạy qua thành phố Thái Nguyên, nối Thái Nguyên với Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Sông Hồng Các quốc lộ 37, 18, 259 cùng với hệ thống tỉnh lộ, huyện lộ là mạch máu giao thông quan trọng và thuận lợi nối Thái Nguyên với các tỉnh xung quanh Đặc biệt dự án đầu tư đường cao tốc quốc lộ 3 từ Nội Bài lên Thái Nguyên và tuyến đường tránh thành phố Thái Nguyên (đường Bắc Kạn, Cao Bằng) đang được thi công sẽ tạo điều kiện thuận lợi về giao thông Hệ thống đường sắt từ Thái Nguyên đi các tỉnh khá thuận tiện; đảm bảo phục vụ vận chuyển hành khách và hàng hóa với các tỉnh trong cả nước Gồm có tuyến đường sắt Hà Nội - Quán Triều chạy qua nối Thái Nguyên với Hà Nội; tuyến đường sắt Lưu Xá - Khúc Rồng nối với tuyến đường sắt Hà Nội - Quán Triều, tuyến đường sắt này cũng nối Thái Nguyên với tỉnh Bắc Ninh (đến Ga Kép) và tỉnh Quảng Ninh Tuyến đường sắt Quán Triều Núi Hồng rất thuận tiện cho việc vận chuyển
Trang 40khoáng sản Hệ thống đường thủy, Thái Nguyên có hai tuyến đường sông chính là: Đa Phúc - Hải Phòng dài 161 km; Đa Phúc - Hòn Gai dài 211km Trong tương lai sẽ tiến hành nâng cấp và mở rộng mặt bằng cảng Đa Phúc, cơ giới hóa việc bốc dỡ, đảm bảo công suất bốc xếp được 1.000 tấn hàng hóa/ngày đêm Ngoài ra, Thái Nguyên có hai con sông chính là sông Cầu và sông Công sẽ được nâng cấp để vận chuyển hàng hóa
Hệ thống điện, bưu chính viễn thông và ngân hàng
Nằm trong hệ thống lưới điện miền Bắc, Thái Nguyên là tỉnh có lưới điện tương đối hoàn chỉnh Toàn bộ các huyện trong tỉnh đều có lưới điện quốc gia, trong đó thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công và các thị trấn, huyện có lưới điện hoàn chỉnh đáp ứng tốt cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất Và có hệ thống thông tin viễn thông kết nối với toàn quốc và quốc tế với mạng lưới truyền dẫn vững chắc bằng thiết bị vi ba và tổng đài điện tử - kỹ thuật số Với tổng đài 27.000 số hiện nay đã đạt dung lượng 18.000 thuê bao đã giúp cho nhu cầu trao đổi thông tin liên lạc diễn ra thuận tiện và thông suốt Những năm gần đây, hệ thống ngân hàng liên tục được mở rộng ngoài các ngân hàng nhà nước như ngân hàng Công thương, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, ngân hàng phát Phát triển, ngân hàng Đầu tư còn có ngân hàng tư nhân như ngân hàng Nam Việt, ngân hàng Quốc tế… Sự phát triển hệ thống ngân hàng một mặt đáp ứng nhu cầu về vốn của nền kinh tế, hỗ trợ các doanh nghiệp, các cá nhân tổ chức đặc biệt là người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn, mặt khác nó thu hút nguồn lực nhàn rỗi trong xã hội, và kiểm tra thu nhập của công chức nhà nước qua hệ thống trả lương qua tài khoản Chắc chắn sự phát triển của nền kinh tế không thể thiếu ngân hàng vững mạnh và làm ăn hiệu quả Công tác giảm nghèo và thực hiện các chính sách ASXH được quan tâm chỉ đạo thường xuyên, qua các chương trình mục tiêu quốc gia
Từ những điều kiện về tự nhiên, dân cư xã hội của tỉnh, ta thấy rằng tỉnh cũng
có những tiềm năng nhất định, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên với đặc điểm là một tỉnh miền núi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, phần lớn các xã là các xã miền núi và vùng cao, địa hình tương đối phức tạp, trình độ dân trí còn chưa cao Tỷ lệ hộ nghèo năm 2011: 16,69%; Tỷ lệ hộ cận nghèo: 10,94% Thu nhập bình quân đầu người còn thấp Hiện nay tỉnh Thái Nguyên không còn hộ đói tuy nhiên sự phân hoá giàu nghèo đang diễn ra mạnh mẽ và là vấn đề bức xúc toàn xã hội phải quan tâm, tỷ lệ hộ nghèo giảm chậm, số hộ tái nghèo còn ở mức cao Bên cạnh đó