Trong các giai đoạn phát triển của lợn, dịch bệnh xuất hiện đồng thời tương ứng với từng giai đoạn, ở mỗi giai đoạn mức độ ảnh hưởng của bệnh dịch với sức khoẻ của lợn là khác nhau song
Trang 1VÀ SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2011 - 2016
Thái Nguyên, 2015
Trang 2VÀ SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp: K43 - TY N02 Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2011 - 2016 Giảng viên hướng dẫn: ThS Dương Hồng Duyên
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa Chăn nuôi thú y, cô giáo hướng dẫn, Ban lãnh đạo trạm thú y thị xã Phổ Yên, cùng Ban lãnh đạo công ty CP thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet, em đã về thực tập tốt nghiệp tại địa phương
Sau quá trình học tập tại trường và thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, đến nay em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Qua đây em xin bày tỏ lòng biết
ơn chân thành và sâu sắc tới Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y, cùng các thầy cô giáo trong khoa, đã tận tình dìu dắt, giúp đỡ em trong suốt thời gian qua Đặc biệt là sự quan tâm, giúp đỡ của cô giáo Ths Dương Thị Hồng Duyên đã chỉ bảo và trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Trạm thú y thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên cùng toàn thể ban lãnh đão, cán bộ, nhân dân trên địa bàn 3
xã thuộc thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (Đông Cao, Tân Phú, Trung Thành) thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên và ban lãnh đạo Công ty CP thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet đã tạo điều kiện thuận lợi, quan tâm giúp đỡ em trong quá trình thực tập tại cơ sở
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới tất cả bạn bè, gia đình và người thân đã động viên, cùng nỗ lực cố gắng của bản thân em đã hoàn thành đề tài đúng thời gian quy định
Em xin kính chúc các thầy cô giáo luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, thành đạt trong công tác giảng dạy và thành công trong công tác nghiên cứu khoa học
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Hương
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 34
Bảng 4.2 Tình hình chăn nuôi lợn tại các xã điều tra thuộc thị xã Phổ Yên 35
Bảng 4.3 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con tại các xã điều tra 36
Bảng 4.4 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo lứa tuổi 37
Bảng 4.5 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo tính biệt 40
Bảng 4.6 Tỷ lệ nhiễm bệnh phân trắng lợn con theo tình trạng vệ sinh 40
Bảng 4.7 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo các tháng trong năm 42
Bảng 4.8 Triệu chứng của bệnh phân trắng lợn con 44
Bảng 4.9 Bệnh tích mổ khám lợn con chết do phân trắng 45
Bảng 4.10 Kết quả điều trị bệnh phân trắng lợn con của hai phác đồ 46
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Biểu đồ tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng ở các xã điều tra 36Hình 4.2: Biểu đồ tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo lứa tuổi 39Hình 4.3: Biểu đồ tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo 41Hình 4.4: Biểu đồ tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo các tháng theo
dõi 43
Trang 7MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
1.3 Mục tiêu của đề tài 3
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn con giai đoạn từ 1 - 21 ngày tuổi 4
2.1.2 Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa 4
2.1.3 Đặc điểm về cơ năng điều tiết nhiệt 5
2.1.4 Đặc điểm khả năng miễn dịch 6
2.1.5 Các thời kỳ quan trọng của lợn con 7
2.1.6 Những hiểu biết về vi khuẩn E coli 8
2.1.7 Những hiểu biết về bệnh lợn con phân trắng (Colibacillosis) 12
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 20
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 20
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 22
Phần 3 : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 23
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 23
3.3 Nội dung nghiên cứu 23
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 23
3.4.1 Phương pháp thực hiện 23
Trang 83.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi 26
3.5 Xử lý số liệu 27
Phần 4 : KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Công tác phục vụ sản xuất 28
4.1.1 Công tác thú y 28
4.1.2 Công tác khác 33
4.1.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 34
4.2 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con 35
4.2.1 Kết quả theo dõi tổng đàn lợn tại một số xã trên địa bàn thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 35
4.2.2 Kết quả theo dõi tỷ lệ lợn mắc bệnh phân trắng lợn con 36
4.2.3 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo lứa tuổi 37
4.2.4 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo tính biệt 40
4.2.5 Tỷ lệ nhiễm bệnh phân trắng lợn con theo tình trạng vệ sinh 40
4.2.6 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con qua các tháng theo dõi 42
4.2.7 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích của bệnh phân trắng lợn con 43
4.2.8 Kết quả điều trị bệnh phân trắng lợn con của hai phác đồ 45
Phần 5 : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Đề nghị 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Trang 9đó là ngành chăn nuôi lợn, hiện nay đang rất phổ biến và trở thành yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế của các hộ gia đình nông nghiệp và các trang trại, đặc biệt là các mô hình trang trại VAC Chăn nuôi lợn là nghề đang được Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm và đầu tư về công tác giống, thức
ăn, thú y Chất lượng đàn lợn không ngừng được cải thiện với mục đích đưa ngành chăn nuôi lợn trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu ngành chăn nuôi nói riêng và phát triển nông nghiệp nói chung Sự hiệu quả trong chăn nuôi lợn và mang lại lợi ích kinh tế nhanh nhất, lớn nhất đó chính
là mô hình chăn nuôi công nghiệp ở các trang trại, xí nghiệp.Đi cùng với lợi ích kinh tế là nhiều khó khăn xuất hiện, trong đó có tình hình dịch bệnh đe dọa trực tiếp đến lợi ích kinh tế và nhiều lợi ích khác Trong các giai đoạn phát triển của lợn, dịch bệnh xuất hiện đồng thời tương ứng với từng giai đoạn, ở mỗi giai đoạn mức độ ảnh hưởng của bệnh dịch với sức khoẻ của lợn
là khác nhau song đáng lưu ý là giai đoạn lợn con theo mẹ Ở giai đoạn lợn con theo mẹ bộ máy tiêu hoá của lợn chưa phát triển hoàn thiện, hơn nữa sức
đề kháng với bệnh tật còn kém, nên lợn rất dễ mắc bệnh về đường tiêu hoá,
Trang 10trong đó có bệnh lợn con ỉa phân trắng Hậu quả bệnh này gây ra với đàn lợn
đó là: lợn con gầy yếu, chậm lớn, ống tiêu hoá bị tổn thương, tỷ lệ sống thấp
từ đó dẫn đến số lượng, chất lượng con giống giảm, khiến cho năng xuất lợn thịt giảm đáng kể Phân trắng lợn con là bệnh truyền nhiễm thông thường, xảy
ra với đàn lợn con theo mẹ, gây ỉa chảy ở một số con hoặc cả đàn Bệnh xảy
ra có thể do nhiều nguyên nhân như chất lượng sữa mẹ không tốt, thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, vệ sinh chuồng trại kém, thiếu nguyên tố vi lượng sắt
Một số Serotyp vi khuẩn E coli có khả năng sản sinh ra độc tố đường ruột (Enteroxigenie Ecoli - Etec) đã và đang được coi là một trong số các nguyên
nhân thường gặp và quan trọng nhất gây bệnh lợn con ỉa phân trắng giai đoạn
từ 1 - 3 tuần tuổi Để đóng góp làm rõ hơn tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con hiện nay tại các cơ sở chăn nuôi, đồng thời tìm ra loại thuốc điều trị có hiệu quả cao trên địa bàn một số xã tại thị xã Phổ Yên, chúng tôi tiến hành
thực hiện đề tài: “Một số đặc điểm dịch tễ bệnh phân trắng lợn con giai đoạn từ 1 - 21 ngày tuổi, tại một số xã trên địa bàn thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên và sử dụng thuốc điều trị”
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
- Nâng cao được trình độ chuyên môn
- Nắm bắt được tình hình phát triển chăn nuôi ở địa phương, phương pháp chăn nuôi đúng, cách phòng chống dịch bệnh tại các cơ sở chăn nuôi
- Xác định một số đặc điểm dịch tễ của bệnh phân trắng lợn con trên đàn lợn nuôi tại 3 xã: Đông cao, Tân Phú, Trung Thành, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
- Các biện pháp phòng trị bệnh phân trắng lợn con giai đoạn từ 1 - 21 ngày tuổi
Trang 111.3 Mục tiêu của đề tài
- Khảo sát tình hình nhiễm bệnh phân trắng ở lợn con (giai đoạn từ 1 đến 21 ngày tuổi) và biện pháp điều trị
- Hiểu và xác định tình hình nhiễm bệnh phân trắng ở lợn con nuôi tại thị xã
- Biết được triệu chứng, hiểu được nguyên nhân, biết cách chẩn đoán điều trị bệnh phân trắng ở lợn con đạt kết quả cao
- Rèn luyện tay nghề nâng cao hiểu biết kinh nghiệm thực tế, góp phần giúp nâng cao năng suất, chất lượng chăn nuôi
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa khoa học
- Các kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học góp phần phục vụ
cho các nghiên cứu tiếp theo của cơ sở sản xuất lợn con giống và làm tư liệu
nghiên cứu về bệnh phân trắng tại thị xã
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
- Kết quả đề tài là cơ sở khuyến cáo người chăn nuôi có biện pháp kiểm soát và khống chế bệnh phân trắng trong đàn lợn nuôi tại cơ sở Nâng cao năng xuất và chất lượng lợn con giống thương phẩm
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn con giai đoạn từ 1 - 21 ngày tuổi
Lợn con giai đoạn từ 1 - 21 ngày tuổi có tốc độ sinh trưởng phát dục nhanh, theo dõi tốc độ tăng trưởng của lợn con cho thấy khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 2 lần lúc sơ sinh, lúc 21 ngày tuổi gấp 4 lần
Lợn con bú sữa có tốc độ sinh trưởng phát dục nhanh nhưng không đều qua các giai đoạn Tốc độ nhanh nhất là 21 ngày đầu, sau đó có thể giảm xuống Sự giảm này nguyên nhân chủ yếu là do lượng sữa của lợn mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng Hemoglobin trong máu lợn con bị giảm Để khắc phục được hiện tượng này có thể cho lợn con ăn sớm để bổ sung thức ăn cho chúng
Do lợn con có tốc độ sinh trưởng phát dục nhanh nên khả năng tích lũy chất dinh dưỡng rất mạnh
2.1.2 Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa
Cơ quan tiêu hóa của lợn con giai đoạn từ 1 - 21 ngày tuổi phát triển rất nhanh nhưng chưa hoàn thiện, chủ yếu là sự tăng về dung tích dạ dày, ruột già
và ruột non
Dung tích dạ dày lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 60 lần (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít)
Dung tích ruột non của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích ruột non lúc
sơ sinh khoảng 0,11 lít)
Dung tích ruột già của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 1,5 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 2,5 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích ruột già lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít)
Trang 13Mặc dù sinh trưởng nhanh nhưng các cơ quan chưa thành thục về chức năng, đặc biệt là hệ thần kinh.Vì vậy, lợn con phản ứng chậm với các yếu tố tác động lên chúng Do chưa thành thục nên cơ quan tiêu hóa của lợn con cũng dễ mắc bệnh, dễ rối loạn tiêu hóa Một số men tiêu hóa thức ăn ở lợn con chưa có hoạt tính mạnh, nhất là ở 3 tuần đầu sau khi sinh như: pepsin, amilaza, maltaza, saccaraza Nhìn chung, lợn con bú sữa chỉ có khả năng tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong sữa mẹ, còn khả năng tiêu hóa các chất bổ sung kém (Hà Thị Hảo và Trần Văn Phùng, 2004) [5]
- Men pepsin: ở ngày tuổi thứ 26 men pepsin trong dạ dày lợn con mới hoạt động và có khả năng tiêu hóa
- Men amilaza và maltaza có từ khi lợn con mới đẻ song hoạt tính thấp, sau 3 tuần tuổi mới tiêu hóa nhanh mạnh được tinh bột
- Men saccaraza với lợn dưới 2 tuần tuổi hoạt tính thấp Ngoài ra còn
có một số men có hoạt tính mạnh ngay từ khi lợn mới đẻ: trypsin, catepsin, lactaza, lipaza, kimozin
2.1.3 Đặc điểm về cơ năng điều tiết nhiệt
Cơ thể lợn thường sinh ra nhiệt năng, nhiệt năng có thể thải ra môi trường xung quanh, ngược lại sự thay đổi nhiệt độ môi trường lại ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới sự sinh nhiệt và tỏa nhiệt của cơ thể, hiện tượng đó được gọi là trao đổi nhiệt giữa cơ thể với môi trường
Cơ năng điều tiết nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì vỏ đại não của lợn chưa phát triển hoàn thiện, cho nên việc điều tiết than nhiệt còn kém, năng lực phản ứng còn yếu dễ bị ảnh hưởng xấu của khí hậu nóng ẩm và lạnh từ môi trường bên ngoài Lợn con thời kỳ này nếu như nhiệt độ trong chuồng có nhiệt
độ thấp ẩm độ cao, sẽ làm cho thân nhiệt của lợn con giảm xuống nhanh
Do lợn con có khả năng điều hòa thân nhiệt kém, nên cơ thể dễ bị lạnh
và phát sinh bệnh, nhất là bệnh tiêu chảy
Trang 14Theo kết quả nghiên cứu đã được công bố của Dr Bowman và Tomer thì nhiệt độ thích hợp cho lợn như sau:
Cai sữa - 3 ngày: 38,30C
Độ ẩm thích cho lợn ở nước ta là 65 - 75% (theo Tomer là 69,8%) Các kết quả nghiên cứu trong nước và ngoài nước cho thấy khả năng chịu đựng và
sự thích nghi của lợn đối với môi trường bên ngoài còn thấp, làm cho khả năng sinh trưởng phát triển của lợn bị hạn chế, lơn dễ nhiễm bệnh dẫn đến tỷ
lệ nuôi sống thấp.Trong chăn nuôi, chúng ta thường sử dụng một số biện pháp
kỹ thuật để hạn chế những tác động của các yếu tố nói trên đối với lợn, nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi cũng như điều hòa nhiệt độ và ẩm độ ở tiểu khí hậu chuồng nuôi sao cho thích hợp với lợn
2.1.4 Đặc điểm khả năng miễn dịch
Lợn con mới sinh, vỏ não và trung tâm điều khiển thân nhiệt chưa hoàn thiện nên lợn con không kịp thích ứng với sự thay đổi thời tiết khí hậu dễ bị mắc bệnh về đường tiêu hóa
Trang 15Ngoài ra, do lợn có lớp mỡ dày dưới da, lớp lông thưa và mỏng, diện tích bề mặt lớn so với khối lượng cơ thể nên khả năng chống lạnh và thích ứng với sự thay đổi đột ngột của thời tiết kém dẫn đến rối loạn tiêu hóa gây tiêu chảy ở lợn
Theo Nguyễn Thị Nội (1985) [18], do chưa hoàn thiện bộ máy tiêu hóa nên hệ vi sinh vật đường ruột ở lợn con mới sinh cũng chưa phát triển, chưa
đủ số lượng vi khuẩn có lợi, chưa đủ khả năng kháng lại tác nhân gây bệnh nên rất dễ bị nhiễm bệnh nhất là bệnh đường tiêu hóa
Cơ năng điều tiết nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt lợn con chưa ổn định, điều đó có nghĩa là sự sinh nhiệt và thải nhiệt chưa được cân bằng Khả năng điều tiết nhiệt của lợn con còn kém do nhiều nguyên nhân:
- Lớp mỡ dưới còn mỏng, lượng mỡ Glycozen dự trữ trong cơ thể lợn con thấp
- Hệ thần kinh điều khiển cân bằng nhiệt chưa hoàn chỉnh
- Diện tích bề mặt cơ thể lợn con cao, lợn con mất nhiệt
Do những đặc điểm trên mà khả năng điều tiết nhiệt của lợn con dưới 3 tuần tuổi kém, nhất là trong tuần đầu mới đẻ ra cho nên nếu nuôi lợn trong chuồng có nhiệt độ thấp và ẩm độ cao thì thân nhiệt lợn con hạ xuống rất nhanh Mức độ hạ thân nhiệt nhiều hay ít, nhanh hay chậm chủ yếu phụ thuộc vào nhiệt độ của chuồng nuôi và tuổi của lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi càng thấp thân nhiệt lợn con hạ xuống càng nhanh, tuổi lợn con càng ít thân nhiệt
hạ xuống càng nhiều
2.1.5 Các thời kỳ quan trọng của lợn con
Thời kỳ từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi: là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên của lợn con do sự thay đổi hoàn toàn về môi trường sống, bởi vì lợn con chuyển
từ điều kiện sống ổn định trong cơ thể mẹ sang tiếp xúc trực tiếp với môi
Trang 16trường bên ngoài Do vậy, nếu chăm sóc nuôi dưỡng không tốt lợn con dễ bị mắc bệnh, còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp
Thời kỳ 3 tuần tuổi: là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quy luật tiết sữa của lợn mẹ gây nên Sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần từ sau khi đẻ và đạt cao nhất ở 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa giảm nhanh, trong khi đó nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn con sinh trưởng phát dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu Để giải quyết mâu thuẫn này cần tập cho lợn con ăn sớm vào 7 - 10 ngày tuổi
Thời kỳ ngay sau khi cai sữa: là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môi trường sống thay đổi từ bú sữa mẹ đến cai sữa hoàn toàn Mặt khác, thức ăn thay đổi, chuyển từ thức ăn chủ yếu là sữa mẹ sang thức ăn hoàn toàn do con người cung cấp nên giai đoạn này nếu chăm sóc không chu đáo, lợn con rất dễ
bị còi cọc, mắc bệnh đường tiêu hoá, hô hấp
2.1.6 Những hiểu biết về vi khuẩn E coli
Trực khuẩn đường ruột Escherichia coli thuộc họ Enterobacteriaceae, giống Escherichia Trong số các vi khuẩn hiếu khí trong đường tiêu hoá của động vật thì E coli chiếm tỷ lệ nhiều nhất, khoảng 80% Escherichia coli còn
có tên khoa học là Bacterium coli commune do bác sỹ nhi khoa Đức
Escherich phân lập từ phân của trẻ em bị tiêu chảy năm 1885
* Đặc điểm hình thái
E coli là một trực khuẩn ngắn, hình gậy, hai đầu tròn, trong khi cơ thể
động vật có hình cầu, kích thước 2 - 3 x 0,6 µm những loại này thường gặp trong canh khuẩn già Trực khuẩn thường đứng riêng lẻ, đôi khi xếp thành
chuỗi ngắn Phần lớn E coli di động có lông ở quanh thân, nhưng một số
không thấy di động
Khi nhuộm Gram thì thấy vi khuẩn bắt màu Gram (-), có thể bắt màu sẫm ở hai đầu Vi khuẩn không sinh nha bào, lấy vi khuẩn từ các khuẩn lạc nhầy để nhuộm thì có thể thấy giáp mô, khi soi tươi thì không thấy được
Trang 17* Đặc điểm nuôi cấy
Theo Nguyễn Quang Tuyên (1993) [27], trực khuẩn E coli hiếu khí và
yếm khí tùy tiện, mọc trên môi trường dinh dưỡng bình thường Chúng có khả năng sinh sản thậm chí cả ở trong nước sinh lý, mọc ở nhiệt độ 15 - 160
C nhưng thích hợp nhất là 370C Độ pH thích hợp nhất là 7,2 - 7,4 Chúng có thể tồn tại ở môi trường toan tính hoặc kiềm tính
Trong môi trường dinh dưỡng đặc như thạch thịt pepton, qua 18 - 24 giờ bồi dục trong tủ ấm 370C, chúng mọc thành những khuẩn lạc ẩm ướt, ánh màu xám trắng, có kích thước trung bình, dạng tròn, mặt khuẩn lạc hơi lồi lên,
có nếp nhăn, bề mặt bóng Từ xanh xám, giữa đục xám để vài ba ngày sau khuẩn lạc có màu nâu nhạt và mọc rộng ra
Trong môi trường nước thịt, khuẩn lạc phát triển tốt, môi trường rất đục, có cặn lắng xuống đáy, màu tro nhạt, đôi khi hình thành màu xám nhạt Canh trùng có mùi hôi thối, khi lắc mạnh, cặn tan đều trong môi trường Ngoài ra còn có một số biến chủng của chúng tạo trên bề mặt môi trường một màng mỏng
Trên môi trường gelatin, vi khuẩn mọc theo vết cấy trên mặt ống thành một lớp bựa xám
Nuôi cấy trên môi trường Levin: E coli mọc thành khuẩn lạc có màu
tím thẫm hoặc đen
* Đặc tính sinh hóa
Trực khuẩn E coli có biểu hiện các đặc tính sinh hóa rất rõ rệt Trực
khuẩn đường ruột lên men lactoza tạo axit và sinh hơi như các đường: glucoza, mannit, duxit, sachroza
Phần lớn chúng tạo thành indol làm vón sữa, kết quả dương tính với phản ứng methyrot, không mọc trên môi trường axit, không phân hủy ure, không làm rữa gelatin, làm vón sữa, làm xanh methylene trong sữa
Trang 18* Cấu trúc kháng nguyên
Vi khuẩn E coli được chia thành 3 nhóm kháng nguyên là O, H, K
- Kháng nguyên O là kháng nguyên thân, chịu nhiệt khi đun ở 1000C trong 2 giờ 30 phút vẫn giữ được tính kháng nguyên, khả năng ngưng và kết hợp
- Kháng nguyên H: là kháng nguyên không có tính chịu nhiệt cao, vì vậy khi đun ở nhiệt độ 1000C trong 2 giờ 30 phút thì tính kháng nguyên, khảnăng ngưng kết, kết tủa đều bị phá hủy Tất cả các kháng nguyên O khác
nhau thuộc E coli đều có một loại type kháng nguyên tốt
- Kháng nguyên K: là kháng nguyên bề mặt (hoặc kháng nguyên vỏ, hoặc kháng nguyên bao) chúng có 3 loại được ký hiệu là L, B, A
+ Kháng nguyên L: không chịu được nhiệt, bị phân hủy ở nhiệt độ
1000C trong1 giờ Trong điều kiện đó, kháng nguyên mất khả năng ngưng kết, kết tủa và không giữ được tính kháng nguyên
+ Kháng nguyên B: là kháng nguyên chịu được nhiệt, bị phá hủy ở nhiệt độ 1000C trong 1 giờ, nhưng khác với kháng nguyên L khi bị đun kháng nguyên B chỉ bị mất tính kháng nguyên nhưng vẫn giữ được khả năng ngưng kết và kết tủa Kháng nguyên này rất đặc hiệu cho các type trong các nhóm trực khuẩn đường ruột
+ Kháng nguyên A: là kháng nguyên vỏ chịu được nhiệt, không bị phá huỷ khi đun sôi ở 1000C, nhưng khi đun sôi trong thời gian 2 giờ 30 phút thì tính kháng nguyên bị phá huỷ
Trang 19độc tố chuyển thành giải độc tố Ngoại độc tố chưa thành công, mà chỉ có thể phát hiện canh trùng của những chủng mới phân lập được Khả năng tạo độc
tố sẽ mất đi khi các chủng được giữ lâu dài hoặc cấy chuyển nhiều lần trên môi trường dinh dưỡng Ngoại độc tố có tính hướng thần kinh và gây hoại tử
- Nội độc tố (là độc tố có trong tế bào vi khuẩn, chỉ được giải phóng ra
ngoài môi trường khi tế bào vi khuẩn bị chết, bị dung giải hoặc bị phá vỡ): là yếu tố gây độc chủ yếu của trực trùng đường ruột, chúng có tế bào vi khuẩn
và gắn vào trong tế bào vi khuẩn một cách chặt chẽ Nội độc tố có thể chiết xuất bằng nhiều phương pháp: như phá vỡ vỏ tế bào bằng cơ học, chiết xuất bằng axit trichoxetic, phenol dưới tác dụng của enzym
* Sức kháng của mầm bệnh
Trực khuẩn đường ruột không chịu được nhiệt độ cao, ở 600C E coli
chết trong vòng 15 phút và chết ngay ở nhiệt độ 1000C Trong đất và nước, E
coli chỉ sống được vài tháng Các chất tiêu độc như: axit phenol, formol,
crezin, vôi, axit nồng độ thường dùng cũng làm E coli bị chết rất nhanh
Chúng có độ nhạy cảm với nhiều loại kháng sinh
Khi thử nghiệm phòng và điều trị E.coli dung huyết cho lợn con ở
Thái Nguyên và Bắc Giang, Nguyễn Thị Kim Lan (2004) [9], đã kết luận: vi
khuẩn E.coli phân lập từ lợn bệnh rất mẫn cảm với kháng sinh amikacin, kém
hơn với doxycycline, không mẫn cảm với ampicillin và cefuroxime
Như vậy, khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn nói chung và vi khuẩn đường ruột nói riêng luôn luôn thay đổi, nó phụ thuộc vào từng địa phương, loài động vật, thời điểm kháng sinh đồ khác nhau, cho kết quả khác nhau
Khi điều trị bệnh muốn đạt hiệu quả cao ta phải xác định độ mẫn cảm của vi khuẩn đối với từng loại kháng sinh khác nhau bằng kỹ thuật kháng sinh đồ, tránh tính kháng kháng sinh
Trang 202.1.7 Những hiểu biết về bệnh lợn con phân trắng (Colibacillosis)
* Tình hình dịch tễ của bệnh
Đây là bệnh rất phổ biến ở lợn con theo mẹ, đặc biệt là lợn mới sinh đến 28 ngày tuổi Có con mắc ngay sau khi sinh 2 - 3 giờ và một số con mắc muộn hơn khi đã 4 tuần tuổi Bệnh có thể mắc một vài con hoặc cả đàn Cách phòng bệnh trong chăn nuôi ít tốn phí mà có hiệu lực nhất là dựa vào công tác vệ sinh, đó là làm cho gia súc và các nguyên nhân gây bệnh cách
xa nhau Để có các biện pháp vệ sinh tốt cần tìm hiểu biết dịch tễ của bệnh Theo Hoàng Văn Tuấn (1998) [26], qua điều tra tình hình dịch bệnh và bệnh tiêu chảy ở lợn tại một trại giống hướng nạc trong 3 năm 1995, 1996, 1997, cho thấy:
- Tỷ lệ hao hụt do dịch bệnh ở lợn con theo mẹ (dưới 45 ngày tuổi) qua các năm là: 25,12 và 15% Trong đó, tỷ lệ chết do tiêu chảy chiếm 67,67 và 80% trong số lợn chết
- Ở lợn cai sữa (45 - 65 ngày tuổi): tỷ lệ hao hụt do dịch bệnh là 15,18 và12% Trong đó, tỷ lệ chết do tiêu chảy chiếm 32,52 và 38% trong số lợn chết
Đào Xuân Cương (1981) [2], cho biết, bệnh có thể phát triển quanh năm, nhiều nhất là cuối đông sang xuân, cuối xuân sang hè, sau nhiều trận mưa to, gió lớn, khí hậu thay đổi đột ngột, tỷ lệ mắc của bệnh có thể tăng lên đến 100%, tỷ lệ chết đến 30 - 40%
Trương Lăng và Xuân Giao (1999) [10], cho biết, ở nước ta, lợn con mắc bệnh tiêu chảy rất phổ biến trong các cơ sở chăn nuôi, tỷ lệ mắc bệnh từ
25 - 100%, tỷ lệ tử vong trên 70%, bệnh hầu như quanh năm, nhiều nhất ở cuối đông sang xuân, cuối xuân sang hè Điều kiện phát bệnh thường thấy:
- Thời gian nào độ ẩm cao, bệnh phát triển nhiều
- Tỷ lệ mắc bệnh ở các cơ sở chăn nuôi miền trung du, miền núi ít hơn, thời gian mắc bệnh ngắn hơn so với đồng bằng
Trang 21- Chuồng nền đất, sân chơi rộng rãi, hạn chế nhiều sự phát triển của bệnh
- Đất ở đồi núi, trung du là một điều kiện để ngăn ngừa bệnh, vì đất đồi có nhiều nguyên tố vi lượng bổ sung cho sự thiếu hụt của thức ăn
- Chuồng trại nơi trũng, ướt tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển
* Đường nhiễm bệnh
Theo Lê Văn Năm và cs (1998) [16], nguồn lây bệnh nhiều nhất các nái chờ phối (96,9%), ít nhất là nái chửa kỳ II (45%) Trong các trường hợp này
lợn con bị nhiễm E coli từ những ngày đầu tiên sau khi đẻ và đến giai đoạn sau
cai sữa giảm còn 76% Lợn ốm sau khi chữa khỏi trở thành vật mang trùng
Trong các trường hợp này, lợn con bị nhiễm E coli ngay từ những ngày
đầu tiên sau khi mới đẻ và đến giai đoạn cai sữa giảm xuống còn 67,5%, tất nhiên sau cai sữa lợn con ốm khỏi sẽ trở thành vật mang bệnh, bởi vậy người ta bố trí chuồng nái đẻ và lợn nuôi vỗ béo cách ly nhau
Mầm bệnh cũng có thể được truyền trực tiếp từ lợn mẹ bị nhiễm E coli sang lợn con khi còn là bào thai Thực tế đã chứng minh, bệnh E coli không
những xuất hiện vào những ngày đầu tiên mới đẻ mà còn vào những giờ đầu tiên sau khi sinh Điều đó cho thấy đã có sự nhiễm bệnh cả bào thai ngay từ khi còn trong bụng mẹ, do đó con vật đẻ ra là con vật bệnh Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong việc kịp thời đề xuất những biện pháp nhằm phòng trừ có hiệu quả ngay từ khi con vật còn trong bụng mẹ (Đào Trọng Đạt và cs, 1995) [3]
Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [15], cho biết, khả năng gây bệnh ở các vi khuẩn này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: lợn con mới sinh chưa có hệ thống phòng vệ hoàn chỉnh, chăm sóc nuôi dưỡng lợn mẹ chưa phù hợp, chuồng trại ẩm ướt, vệ sinh kém, không thông thoáng, thiếu sắt
và một số vitamin A, PP, B5 Bội nhiễm vi khuẩn Salmonella cholelasuis,
Staphylococus, Clostridium virus, cầu trùng, giun, sán, cùng những tác nhân
gây bệnh cho lợn con trong giai đoạn này Sau khi bám dính vào thành ruột
Trang 22non, vi khuẩn tăng sinh và sản sinh độc tố hướng ruột, những độc tố này tác động trực tiếp lên tế bào thượng bì ruột non gây ra rối loạn chức năng như: không hấp thu được các chất dinh dưỡng, mất nước của các chất điện giải quan trọng dẫn đến các triệu chứng lâm sàng, tiêu chảy trầm trọng mất nước,
giảm thể tích máu
* Quá trình sinh bệnh
Phạm Ngọc Thạch (2006) [22], khi bị bệnh, đầu tiên dạ dày giảm tiết dịch vị, nồng độ HCl giảm, làm giảm khả năng diệt trùng và khả năng tiêu hóa protein Khi độ kiềm trong đường tiêu hóa tăng cao, tạo điều kiện cho các
vi khuẩn trong đường ruột phát triển mạnh, làm thối rữa các chất chứa trong đường ruột và sản sinh nhiều chất độc Những sản phẩm trên kích thích vào niêm mạc ruột làm tăng nhu động ruột, con vật sinh ra ỉa chảy Khi bệnh kéo dài, con vật bị mất nước gây nên rối loạn trao đổi chất trong cơ thể như nhiễm độc toan hoặc mất cân bằng các chất điện giải, làm cho bệnh trở nên trầm trọng, gia súc có thể chết
* Nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con
Theo Nguyễn Xuân Bình (1996) [1], bệnh phân trắng lợn con thường xảy ra với lợn con từ 2 - 30 ngày tuổi Do nhiều nguyên nhân dẫn đến sự rối loạn tiết dịch nên chất đạm trong sữa là cafein không được tiêu hóa khi bị thải
ra ngoài nên phân có màu trắng
Do khẩu phần ăn của lợn mẹ thiếu chất dinh dưỡng, đặc biệt là vitamin
A Nên sau khi sinh sữa mẹ thường thiếu chất, lợn con bị suy dinh dưỡng, màng nhầy của ruột không được bảo vệ nên rất dễ bị cảm nhiễm với vi trùng
Colibacille, Salmonella gây bệnh phân trắng
Do thay đổi đột ngột khẩu phần ăn của lợn mẹ trong thời kỳ cho con bú hoặc sữa mẹ quá nhiều lợn con bị dư chất đạm không tiêu hóa được, trôi
xuống ruột già, ở đó có một số vi khuẩn như E coli sử dụng, phân hủy chất
Trang 23đạm, sản sinh ra một số độc tố gây rối loạn tiêu hóa dẫn đến bệnh phân trắng
Do thời tiết thay đổi đột ngột, nhiệt độ thấp mà ẩm độ cao, làm cơ thể lợn con mất cân bằng giữa sản nhiệt và truyền nhiệt Do đó, sẽ tiêu hao năng lượng của cơ thể để chống lạnh Nếu lạnh kéo dài thường xuyên, đường huyết
sẽ giảm xuống đột ngột, gây rối loạn cơ năng tiết dịch và nhu động của dạ dày, ruột dẫn tới rối loạn tiêu hóa và tiêu chảy
Do thiếu các nguyên tố vi lượng như Fe, Cu, Co vì trong thực tế lợn con muốn phát triển bình thường một ngày cần cung cấp 7 - 10 mg Fe, nhưng sữa mẹ chỉ cung cấp 1 mg Fe/ ngày, như vậy cần bổ sung thêm 6 - 9 mg Fe mỗi ngày
Do lợn mẹ bị một số bệnh khác như viêm tử cung, viêm vú, bị nhiễm độc và nhiễm trùng kế phát, lợn con bú phải sẽ bị bệnh
Lợn mẹ trước khi sinh bị nhiễm bệnh thương hàn (mặc dù điều trị đã khỏi), nhưng khi có thai vi trùng xâm nhập qua màng nhau vào thai, lợn con
đẻ ra bị nhiễm vi trùng nên gây bệnh
Theo Elwym R Miler (2001) [32], cũng nêu một số nguyên nhân gây bệnh: một số các yếu tố môi trường và ký chủ ảnh hưởng tới tỷ lệ nhiễm
E coli ở lợn sơ sinh Dạ dày và ruột của lợn con nhanh chóng bị tràn ngập vi
trùng, ngay sau khi sinh, rất nhiều trong số chúng “bất hại” nhưng nếu xuất
hiện với số lượng lớn E coli lợn con có thể bị nhiễm bệnh sau khi sinh
Số lượng lớn E coli thường hiện diện ở ngay môi trường nếu ẩm ướt, bẩn và
thông thoáng kém.Tuy nhiên, nguồn nhiễm bệnh quan trọng nhất là lợn con
khác mắc bệnh tiêu chảy E coli Những con này sẽ thải ra tới 1 tỷ E coli/ 1cc
Trang 24Lợn con không được bú sữa đầu dẫn đến sức đề kháng yếu, làm tăng khả năng cảm nhiễm bệnh; thời tiết nóng, lạnh đột ngột, độ ẩm môi trường cao cũng làm lợn con dễ mắc bệnh lợn con phân trắng
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1995) [3], bệnh lợn con phân trắng do E Coli
gây ra, là bệnh truyền nhiễm cấp tính ở dạng nhiễm trùng huyết hoặc nhiễm độc đường ruột, viêm ruột ở lợn con, nhất là sau khi sinh, thậm chí chỉ vài giờ
Có đến 48% trường hợp bị tiêu chảy ở lợn con là do E coli gây ra
Số lượng lớn E coli thường hiện diện ở ngay môi trường nếu ẩm ướt,
bẩn và thông thoáng kém.Tuy nhiên, nguồn nhiễm bệnh quan trọng nhất là
lợn con khác mắc bệnh tiêu chảy E coli Những con này sẽ thải ra tới 1 tỷ E
coli/ 1cc phân lỏng
Nhiệt độ có thể là ảnh hưởng môi trường quan trọng nhất làm lợn khỏe lên Lợn con mẫn cảm lớn với cái lạnh và yếu tố strees này làm giảm sức
đềkháng của lợn với các bệnh kể cả E coli
Sử An Ninh (1993) [17], cho biết: nguồn gốc sinh ra bệnh lợn con phân trắng có liên quan đến phản ứng thích nghi của cơ thể lợn với yếu tố stress, biểu hiện thông qua sự biến động về hàm lượng một số thành phần trong máu: đường huyết, cholesteron, kẽm, kali, natri…
* Triệu chứng lâm sàng
Lợn con bị nhiễm E coli có biểu hiện yếu, chậm chạp, bỏ bú, thân
nhiệt tăng nhẹ, tiêu chảy nhiều, mất nước, suy nhược, đôi khi có nôn mửa Phân lúc đầu có thể táo, sau đó ỉa lỏng, có thể sền sệt ở các bệnh do giun sán, phân lỏng hoặc vọt cần câu, màu trắng, vàng, xanh nhạt màu hạt đậu, có lẫn bọt khí Vì mất nước nhiều nên lợn ốm bị khát nước dẫn đến sinh loạn dưỡng trong cơ thể, bụng hóp lại, da nhăn nheo, lông xù, phân dính xung quanh hậu môn, 2 chân sau rúm lại
Nguyễn Hữu Vũ và cs (2003) [31], cho biết, lợn bị tiêu chảy có biểu hiện phân có màu trắng ngà đến vàng nhạt, mùi thối khắm, tanh, lông xơ xác,
Trang 25gầy tóp, chân đi lảo đảo không định hướng, đuôi và hậu môn luôn dính phân Bệnh tiến triển theo 2 thể:
- Thể quá cấp tính: lợn chết nhanh, từ khi phát hiện triệu chứng ăn ít đến khi chết trong vòng từ 6 - 20 giờ, lợn bỏ ăn hoàn toàn, ủ rũ, đi lại siêu vẹo, loạng choạng Ho nhiều, nước mũi đặc nhầy như mủ Phần rìa tai, mõm tím tái, niêm mạc mắt nhợt nhạt, bốn chân lạnh, thở nhanh Phân lỏng màu trắng lầy nhầy như cứt cò, có mùi tanh, khắm đặc trưng Trước khi lợn chết thường có những cơn co giật ở chân
- Thể cấp tính: thường chết chậm hơn (2 - 4 ngày sau khi phát hiện triệu chứng đầu tiên) Bệnh có thể kéo dài 7 - 10 ngày tuổi, lợn con vẫn bú nhưng giảm dần đi Phân có màu trắng đục, trắng vàng, nhiều con mắt có dửvà vàng thâm xung quanh.Lợn suy dinh dưỡng, niêm mạc nhợt nhạt, nếu chữa trị không kịp thời thường chết sau một tuần bị bệnh Lợn con từ 45 - 50 ngày tuổi vẫn còn bú mẹ nhưng bị phân trắng với các triệu chứng nhẹ hơn, lợn có ỉa phân trắng nhưng hoạt động vẫn bình thường, ăn, đi lại nhanh nhẹn, phân thường đặc hoặc nát với màu xám Lợn có thể khỏi, tỷ lệ chết thấp, nếu kéo dài lợn gầy sút, còi cọc chậm lớn
* Bệnh tích
Những lợn khi chết mổ khảo sát thấy trong dạ dày chứa đầy hơi hoặc sữa chưa tiêu, mùi khó ngửi Trong ruột rỗng, chứa đầy hơi, niêm mạc ruột già bị tổn thương, hạch lâm ba ruột sưng màu đỏ sẫm Gan nhão, hơi sưng Túi mật sưng, xuất huyết, dịch mật biến đổi màu Phổi thường ứ máu, đôi khi
có hội chứng sưng phổi nhẹ Cơ tim nhão, lách không sưng nhưng bị teo
Bên cạnh những triệu chứng bệnh tích chung thì tùy theo những nguyên nhân khác nhau lại có những biểu hiện bệnh tích khác, dẫn đến tiêu chảy ở vật nuôi Xác lợn chết gầy, bụng hóp, những lợn chết qua đêm phần bụng thường
có màu đen do quá trình hoại tử gây nên
Trang 26* Phòng bệnh
Phòng bệnh là cách chủ động để giảm thiệt hại về kinh tế do bệnh phân trắng lợn con gây ra Các biện pháp phòng xoay quanh các vấn đề môi trường, vật chủ và mầm bệnh
- Phòng bệnh bằng biện pháp quản lý và chăm sóc nuôi dưỡng
Theo Sử An Ninh (1993) [17], biện pháp phòng bệnh trước hết là hạn chế, loại trừ các yếu tố stress sẽ mang lại hiệu quả tích cực Khắc phục những bất lợi về thời tiết, khí hậu, giữ vệ sinh chuồng nuôi
Theo Phạm Khắc Hiếu và cs (1998) [7], lợn con sau khi đẻ ra cần được sưởi ấm ở nhiệt độ 340
C trong tuần lễ đầu tiên, sau đó giảm dần xuống nhưng không được thấp hơn 300C Như vậy sẽ tránh được stress lạnh ẩm
Để cho đàn gia súc non khoẻ mạnh, điều cần thiết trước tiên là nuôi dưỡng, chăm sóc thật tốt lợn nái giống khi mới chưa đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng bổ sung đầy đủ các loại vitamin, nguyên tố vi lượng cần thiết (Đào Trọng Đạt và cs, 1995) [3]
Thiết kế chuồng đẻ về kích thước, độ cao nền chuồng, bề mặt nền chuồng,… cũng rất quan trọng, vì nó ảnh hưởng đến tỷ lệ lợn con bị phân trắng
- Phòng bệnh bằng chế phẩm sinh học
Tạ Thị Vinh (1994) [30], đã công bố kết quả chiết tách thành công chế phẩm γ - globulin từ huyết thanh ngựa để phòng bệnh lợn con tiêu chảy
Phan Thanh Phương, Đặng Thị Thuỷ (2008) [20], đã công bố kết quả
phòng bệnh bằng kháng thể E coli được chiết tách từ lòng đỏ trứng gà dạng bột
Trần Thị Hạnh, Đặng Xuân Bình (2002) [4], các tác giả đã nghiên cứu
3 chế phẩm: E coli sữa, Cl pepsingen toxid dùng cho nái chửa và Baderin EBC (E coli Baderin và Cl pepsingen toxid) dùng cho lợn con để phòng và
trị bệnh tiêu chảy phân trắng lợn con
Trang 27- Phòng bệnh bằng vacxin
+ Dùng vacxin để phòng bệnh Vacxin được chế từ các chủng E coli
gây bệnh phân trắng ở lợn con, phân lập ở các địa phương thuộc các serotype sau: O143, O147, O141, O149, O129, O115, O8,… Vacxin chế dạng vô hoạt dung tiêm cho lợn mẹ 1 - 2 lần trước khi đẻ Lợn mẹ được miễn dịch sẽ truyền miễn dịch cho lợn con (miễn dịch thụ động) qua sữa, nhất là sữa đầu
để chống đỡ với các chủng E coli gây bệnh Hiệu quả đạt 60%
+ Vacxin E coli dạng uống Cùng được chế tạo từ các chủng E coli
gây bệnh, phân lập từ các địa phương dùng cho lợn uống 3 - 4 lần sau khi đẻ.Vacxin có tác dụng phòng bệnh đạt tỷ lệ 70%
Ngoài ra có thể dùng thuốc nam để phòng bệnh: hái khoảng 200 gam cây nhọ nồi cho lợn mẹ ăn sống hoặc nấu chín cùng thức ăn, cứ 2 - 3 ngày 1 lần Như vậy, lợn con sẽ không bị ỉa phân trắng
* Chữa bệnh
Theo Bùi Thị Tho (2003) [25], đã đưa ra nguyên tắc khi sử dụng kháng sinh
để tránh tác dụng phụ và hạn chế hiện tượng kháng thuốc của vikhuẩn như sau:
- Tiến hành làm kháng sinh đồ để chọn kháng sinh mẫn cảm
- Dùng đúng thuốc, đúng bệnh, đúng liều lượng, theo kinh nghiệm cho thấy khi sử dụng kháng sinh phải dùng liều cao ngay từ đầu, không dùng liều tăng dần, do vi khuẩn có khả năng kháng thuốc, nếu dùng 1 loại kháng sinh nào đó trong 3 - 5 ngày mà không đem lại hiệu quả thì cần tiến hành ngay kháng sinh đồ chọn kháng sinh khác nhạy cảm hơn
- Phối hợp kháng sinh: phối hợp kháng sinh làm tăng hiệu quả sử dụng nhưng khi phối hợp cần lưu ý tính tương kị và tính hiệp đồng giữa các kháng sinh
Điều trị bằng kháng sinh: khi sử dụng kháng sinh cần tiến hành làm kháng sinh đồ
Trang 28Điều trị bằng Đông được: Theo Trương Lăng (2004) [12], có thể điều trị theo bài thuốc sau:
Tô mộc: 500 gam
Ngũ bột tử: 300 gam
Hai thứ sắc đặc trộn lẫn vào thức ăn cho lợn ăn Nếu dùng viên tô mộc (do dược phẩm sản xuất), cũng trộn với thức ăn theo liều: 2 viên/ ngày/ con đối với lợn dưới 1 tháng tuổi và 3 viên/ ngày/ con đối với lợn từ 1 - 2 tháng tuổi.Cho ăn từ 3 - 4 ngày, tỷ lệ khỏi 85 - 90%
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Bệnh phân trắng lợn con được chú ý theo dõi từ những năm 1959 tại cơ
sở chăn nuôi tập trung
Theo Lê Văn Tạo và cs (1993) [21], đã nghiên cứu các yếu tố gây bệnh
của các chủng E coli gây bệnh, chọn chủng E coli để chế tạo vacxin chết
dưới dạng cho uống Vacxin dùng cho lợn con đẻ 2 giờ, uống với liều 1ml/con, liên tục trong 3 - 5 ngày.Kết quả làm giảm tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con từ 30 - 35% so với đối chứng
Theo Trần Văn Tường, Nguyễn Quang Tuyên (2000) [29], cho rằng: tác
nhân gây bệnh chủ yếu là vi khuẩn E coli Dựa vào cấu trúc kháng nguyên người ta xác định được vi khuẩn E coli gồm 28 type, trong đó có 8 chủng hay
gây bệnh là O55B5, O111B4, O86B5, O26B6, O127B8, O128B12, 145 và 408
Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [23], bệnh phân trắng lợn con là một hội chứng hay nói cách khác là một trạng thái lâm sàng rất đa dạng, đặc biệt là dạng viêm dạ dày ruột, tiêu chảy và gầy sút nhanh Tác nhân
gây bệnh chủ yếu là E coli, ngoài ra có sự tham gia của Salmonella và vai trò thứ yếu là Proteus, Streptococcus
Trang 29Lê Văn Năm và cs (1998) [16], cho rằng: bệnh tiêu chảy ở lợn con chủ
yếu là do trực khuẩn E coli gây ra Ngoài ra, còn một số yếu tố khác như
chuồng trại bẩn, sữa đầu ít, chăm sóc nuôi dưỡng nái chửa không đúng kỹ thuật, bất lợi về thời tiết
Theo tác giả Trương Lăng (2000) [11], cho biết: tỷ lệ mắc bệnh lợn con phân trắng từ 25 - 100%, tỷ lệ chết trên 70%
Theo Lý Thị Liên Khai (2001) [8], đã phân lập và xác định độc tố ruột
của các chủng E coli gây bệnh tiêu chảy ở lợn Tác giả cho rằng các chủng
K88 sinh độc tố ruột LT và ST; K99 và 987P sinh độc tố ruột ST trở nên rất độc khi sức đề kháng của vật chủ giảm; gây tiêu chảy ở lợn con đang bú mẹ, phổbiến ở 1 đến 2 tuần tuổi
Trần Thị Hạnh và Đặng Xuân Bình (2002) [4], công bố lợn con theo
mẹ phân lập được E coli và Cl perfigens ở hầu hết các cơ quan phủ tạng, trong đó sự có mặt của E coli luôn chiếm một tỷ lệ cao và rất phổ biến, vi khuẩn yếm khí Cl perfigens chỉ được phát hiện ở gan và ruột non với một tỷlệ khá cao Khi sử dụng các chế phẩm E coli - sữa Cl perfringens - toxid
trong quy trình phòng bệnh tiêu chảy lợn con, kết quả bước đầu cho thấy có tác dụng và hiệu quả rất rõ rệt
Trịnh Quang Tuyên (2005) [28], qua nghiên cứu cho rằng tỷ lệ nhiễm
vi khuẩn môi sinh trong các trại chăn nuôi tập trung cao và liên quan đến tình
hình dịch bệnh của đàn lợn Trong đó E coli có tỷ lệ nhiễm từ 28,5% đến 44,1%, Staphylococcus spp 29,8% đến 38,9%, Streptococcus spp từ 24,3%
đến 41,3% Giảm xuống khi cơ sở chăn nuôi được cải tạo chuồng trại và nguồn nước cấp
Từ Quang Hiển và Phan Đình Thắm (1995) [6], nhất thiết lợn con phải
bú sữa đầu để giúp lợn con có sức đề kháng chống bệnh tật.Trong sữa đầu có albumin và globulin cao hơn sữa thường, đây là chất chủ yếu giúp lợn con có sức đề kháng Vì thế cần chú ý cho lợn con sơ sinh bú sữa trong 3 ngày đầu
và đảm bảo toàn bộ số lợn con trong đàn được bú hết sữa đầu của lợn mẹ
Trang 302.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới đã có rất nhiều nhà khoa học đi sâu nghiên cứu về bệnh phân trắng lợn con
Theo Laval A (1997) [33], khi nghiên cứu về bệnh tiêu chảy và nguyên
nhân gây bệnh, ông cho rằng: Salmonella choleraesuis, Salmonella
typhymurium là hai tác nhân gây tiêu chảy ở lợn con sau cai sữa và vỗ béo
Theo Fairbrother J M và cs (2005) [35], Escherichia coli là một trong
những nguyên nhân quan trọng nhất của tiêu chảy sau cai sữa ở lợn Một sốyếu tố, chẳng hạn như sốc sau cai sữa, thiếu các kháng thể có nguồn gốc từ sữa của lợn nái và thay đổi chế độ ăn uống, góp phần làm tăng mức độ nghiêm trọng của bệnh
Akita và cs (1993) [34], đã nghiên cứu sản xuất kháng thể đặc hiệu qua lòng đỏ trứng gà dùng trong phòng và chữa bệnh tiêu chảy cho lợn con