1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình mắc bệnh cầu trùng trên gà đông tảo lai và so sánh hiệu lực điều trị cầu trùng của hai thuốc hansulcox – WSP, coxymax, tại trại gia cầm khoa chăn nuôi thú y trường đại học nông lâm thái nguyên

66 1,1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 827,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hình 2.1: Cấu tạo oocyst loài eimeria sp gây bệnh * Đặc điểm vòng đời Theo Lê Văn Năm 2003 [13], vòng đời của cầu trùng được tính từ khi gia cầm nuốt phải noãn nang có sức gây bệnh, qu

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ HẢO

Tên đề tài:

TÌNH HÌNH MẮC BỆNH CẦU TRÙNG TRÊN GÀ ĐÔNG TẢO LAI VÀ SO SÁNH HIỆU LỰC ĐIỀU TRỊ CẦU TRÙNG CỦA HAI THUỐC HANSULCOX – WSP, COXYMAX, TẠI TRẠI GIA CẦM

KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y - TRƯỜNG ĐẠI HỌC

NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi - Thú y Khóa học: 2011-2016

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ HẢO

Tên đề tài:

TÌNH HÌNH MẮC BỆNH CẦU TRÙNG TRÊN GÀ ĐÔNG TẢO LAI VÀ SO SÁNH HIỆU LỰC ĐIỀU TRỊ CẦU TRÙNG CỦA HAI THUỐC HANSULCOX – WSP, COXYMAX, TẠI TRẠI GIA CẦM

KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y - TRƯỜNG ĐẠI HỌC

NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Thú y

Khóa học: 2011 – 2016 Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Từ Trung Kiên

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cũng như thời gian thực tập tại trại Gia cầm Khoa Chăn nuôi - Thú y Tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô trong Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú

y cùng toàn thể các thầy, các cô trong khoa đã tận tình giảng dạy và dìu dắt tôi trong suốt thời gian qua

Nhân dịp này tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các thầy, các cô trong Ban Giám hiệu nhà trường, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y đã tạo mọi điều kiện tốt nhất giúp tôi hoàn thành đề tài và đúng thời gian quy định

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Từ Trung Kiên,

TS Trần Thị Hoan đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá

trình thực hiện khóa luận này

Nhân dịp này tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình và người thân đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường

Cuối cùng tôi xin kính chúc các thầy giáo, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y luôn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và đạt được nhiều thành công trong giảng dạy và trong nghiên cứu khoa học

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 12 năm 2015

Sinh viên

Nguyễn Thị Hảo

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn rất quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra rường Đây là khoảng thời gian giúp sinh viên hệ thống lại kiến thức đã học ở trường lớp để áp dụng vào thực tiễn Đồng thời, rèn luyện bản thân tác phong khoa học đúng đắn, tạo lập tư duy sáng tạo để trở thành những

kỹ sư thật sự, có trình độ và năng lực làm việc góp phần vào xây dựng và phát triển nông thôn nói riêng và đất nước nói chung

Xuất phát từ những thực tế trên, được sự nhất trí của Nhà trường, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Từ Trung Kiên và sự tiếp nhận của trại Gia cầm

khoa Chăn nuôi thú y, tôi đã thực hiện đề tài “Tình hình mắc bệnh cầu trùng trên gà Đông Tảo lai và so sánh hiệu lực điều trị cầu trùng của hai thuốc Hansulcox – WSP, Coxymax, tại trại gia cầm Khoa Chăn nuôi - Thú y Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”

Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, kiến thức chuyên môn chưa sâu, kinh nghiệm thực tế chưa nhiều và thời gian thực tập ngắn nên bản khoá luận của tôi không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ các thầy cô giáo cùng các bạn đồng nghiệp để bản khoá luận của tôi được

hoàn thiện hơn

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Vị trí ký sinh của các loài cầu trùng gà 7

Bảng 2.2 Một số đặc điểm phân loại cầu trùng gà 10

Bảng 2.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 30

Bảng 4.1 Lịch dùng vaccine cho gà sinh sản 37

Bảng 4.2 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 40

Bảng 4.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng của gà qua kiểm tra mẫu phân 42

Bảng 4.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở gà thí nghiệm theo lứa tuổi 43

Bảng 4.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng trên gà thí nghiệm theo lứa tuổi 44

Bảng 4.6 Triệu chứng của gà bị bệnh cầu trùng 47

Bảng 4.7 Bệnh tích gà bị cầu trùng 47

Bảng 4.8 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (%) 49

Bảng 4.9 Khối lượng của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (gam) 50

Bảng 4.10 Kết quả điều trị bệnh cầu trùng gà 51

Bảng 4.11 Chi phí thuốc dành cho phòng trị bệnh cầu trùng ở gà thí nghiệm 52

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Cấu tạo oocyst loài eimeria sp gây bệnh 10 Hình 2.2 Sơ đồ tóm tắt vòng đời chung của cầu trùng 12

Trang 8

MỤC LỤC

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Mục tiêu của đề tài 2

1.4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

2.1.1 Đại cương về cơ thể gia cầm 3

2.1.2 Đặc điểm của cầu trùng gây bệnhtrên gà 14

2.1.3 Đặc điểm bệnh cầu trùng gà 24

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 25

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 25

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 25

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 29

3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 29

3.1.1 Đối tượng 29

3.1.2 Địa điểm 29

3.1.3 Thời gian 29

3.2 Nội dung nghiên cứu 29

3.3 Phương pháp nghiên cứu 29

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 34

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35

4.1 Công tác phục vụ sản xuất 35

4.1.1 Công tác chăn nuôi 35

4.1.2 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 39

Trang 9

4.2 Kết quả nghiên cứu 41

4.2.1.Ảnh hưởng của 2 thuốc hansulcox - WSP và coxymax đến tỷ lệ

và cường độ nhiễm cầu trùng của gà thí nghiệm 1 – 70 ngày tuổi 41

4.2.2 Triệu chứng bệnh tích của gà bị cầu trùng 47

4.2.3 Ảnh hưởng của 2 thuốc hansulcox – WSP và coxymax đến

tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 48

4.2.4 Ảnh hưởng của 2 thuốc hansulcox-WSP và coxymax đến

sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 50

4.2.5 Hiệu lực điều trị của thuốc 51

4.2.6.Chi phí thuốc dành cho phòng, trị bệnh cầu trùng 52

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53

5.1 Kết luận 53

5.2 Đề nghị 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

Trang 10

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta đã và đang phát triển hết sức mạnh mẽ, góp phần đẩy mạnh nền kinh tế cả nước đi lên Đặc biệt, là ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng Ngành đã

có từ lâu đời, nó cung cấp lương thực phẩm lớn với hàm lượng dinh dưỡng cao, phù hợp với khẩu vị của người tiêu dùng Để phát triển ngành chăn nuôi có hiệu quả, một trong những vấn đề quan trọng là công tác phòng và trị bệnh, đặc biệt là bệnh truyền nhiễm và bệnh ký sinh trùng, các biện pháp phòng và trị bệnh kịp thời có hiệu quả sẽ có tác dụng ngăn ngừa, bao vây và ngăn chặn nguồn bệnh, hạn chế khả năng lây lan, hạn chế những thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi

Tuy nhiên, vấn đề dịch bệnh, trong đó có bệnh cầu trùng vẫn xảy ra phổ biến, gây trở ngại cho ngành chăn nuôi gia cầm nói chung và đặc điểm thời tiết khí hậu của nước ta, tình trạng kháng thuốc ký sinh trùng nói chung và cầu trùng nói riêng làm cho khả năng biến đổi và thích nghi của cầu trùng rất lớn Mặt khác, vấn đề vệ sinh thú y chưa đồng bộ ở tất cả các cơ sở chăn nuôi tập thể và tư nhân Đó chính là nguyên nhân làm cho bệnh cầu trùng gà vẫn tồn tại

và là một trong những bệnh gây thiệt hại lớn nhất cho ngành chăn nuôi gà, đặc biệt là gà nuôi theo hướng công nghiệp Theo Lê Hữu Khương (2008) [6], tỉ lệ nhiễm cầu trùng tại các trại gà từ 4 – 100%, tùy vào từng cơ sở chăn nuôi, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh thú y, giống gà, lứa tuổi, trung bình tỉ lệ nhiễm từ 30 -50%, tỉ lệ chết dao động từ 5 -15% Bệnh gây nhiễm nặng ở gà từ

2 đến 6 tuần tuổi, dẫn đến tỉ lệ chết trong đàn cao, nếu gà không chết sẽ trở thành bệnh mãn tính làm cho gà còi cọc, chậm lớn, giảm sức đề kháng mở đường cho mầm bệnh khác xâm nhập…

Trang 11

Vì vậy, để góp phần hạn chế tác hại của bệnh cầu trùng trên đàn gia 3cầm và giúp cho người chăn nuôi có hiểu biết thêm về bệnh và biện pháp

phòng, trị bệnh nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Tình hình mắc bệnh cầu trùng trên gà Đông Tảo lai và so sánh hiệu lực điều trị cầu trùng của hai thuốc Hansulcox – WSP, Coxymax, tại trại gia cầm Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Xác định được tình hình mắc bệnh và tìm ra thuốc phòng trị tốt nhất để làm cơ sở khuyến cáo trong chăn nuôi

- Bản thân tập làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học

1.3 Mục tiêu của đề tài

- Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở gà Đông Tảo lai nuôi tại trại Gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y

- Xác định hiệu lực của hai loại thuốc coxymax và hansulcox – WSP trong phòng và trị bệnh

- So sánh hiệu lực của hai loại thuốc hanlsucox – WSP và coxymac

1.4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là những thông tin khoa học bổ sung thêm những hiểu biết về một số đặc điểm dịch tễ của bệnh cầu trùng gà và một số loại thuốc trị cầu trùng hiệu quả

- Nâng cao kiến thức thực tiễn, tăng khả năng tiếp xúc với thực tế chăn nuôi từ đó củng cố và nâng cao kiến thức của bản thân

Trang 12

Phần 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Đại cương về cơ thể gia cầm

Gia cầm có nguồn gốc từ loài chim hoang dại Gia cầm có nhiều đặc điểm giống với bò sát đồng thời khác với gia súc và thú hoang là có bộ xương nhẹ, thân phủ lông vũ, chi trước phát triển thành cánh để bay và là loài đẻ trứng sau ấp nở thành gia cầm non Theo Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998) [3], cường độ trao đổi chất của gia cầm lớn, thân nhiệt cao 40 – 420C nhờ đó

mà gia cầm sinh trưởng nhanh

* Đặc điểm sinh lý tiêu hoá và trao đổi chất ở gia cầm:

Hệ tiêu hóa của gia cầm bao gồm: Khoang miệng, hầu, thực quản trên, diều, thực quản dưới, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, manh tràng, trực tràng

và lỗ huyệt, đồng thời có sự tham gia của gan và tuyến tụy Sự hình thành các

cơ quan tiêu hóa ở dạng nếp gấp của phôi gà bắt đầu từ ngày ấp thứ 2 (tức sau

24 giờ) Cấu tạo và chức năng của bộ máy tiêu hoá gia cầm cũng có những đặc điểm sau:

- Khoang miệng: Gia cầm không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ chỉ có vai

trò lấy thức ăn chứ không có tác dụng nghiền nhỏ Mặt trên lưỡi có những răng rất nhỏ hoá sừng hướng về phía trong để đưa thức ăn về phía thực quản, nuốt nguyên vẹn cả thức ăn sau khi thấm một lượng nhỏ nước bọt giúp làm dính và bôi trơn thức ăn dễ chuyển vào thực quản Các tuyến ở khoang miệng gia cầm kém phát triển, thành phần chủ yếu là nước bọt và dịch nhầy Trong nước bọt có chưa một

số ít men amylaza nên có ít tác dụng đối với men tiêu hóa

- Hầu: Hầu ở giữa khoang miệng và thực quản trên Khoang mũi và

miệng thông về phía hầu, còn phía trước hầu có khe hô hấp ở thanh quản

Trang 13

- Thực quản: Thực quản phình to thành diều.Diều gà hình túi, trong diều

có thể chứa được 100 - 120g thức ăn Trong diều thức ăn được thấm ướt chịu tác động của nhiệt trương lên làm mềm và một phần hydrat cacbon được phân hủy dưới tác dụng của men amylaza Thức ăn từ thực quản xuống dạ dày rất nhanh

-Dạ dày: Từ diều, thức ăn được đưa vào dạ dày tuyến Dạ dày tuyến được

cấu tạo từ cơ trơn và có dạng ống ngắn, có vách dày nối với dạ dày cơ bằng eo nhỏ, khối lượng 4 - 6g.Thức ăn chịu tác động của dịch vị có chứa men pepsin, axit chlohdric và chất nhầy musin Thức ăn sau khi được làm ướt sẽ được chuyển đến

dạ dày cơ Đây là một túi có dạng hình đĩa cấu tạo từ lớp cơ rất dày và khoẻ Dạ dày cơ không tiết dịch tiêu hoá mà chỉ có chức năng nghiền nhỏ và trộn đều thức

ăn với dịch vị của dạ dày tuyến Dưới tác dụng của men dịch vị dạ dày Protein được phân giải thành peptone và các axit amin

- Ruột non:Từ dạ dày cơ, các chất dinh dưỡng được chuyển vào ruột non,

tại đây có các men của dịch ruột và tuyến tuỵ làm giảm nồng độ axit tạo điều kiện thích hợp cho sự hoạt động của men phân giải protein và gluxit trong thức

ăn được chuyển hóa tạo thành những chất dễ hấp thu Ở ruột, gluxit được phân giải thành các monosacarit nhờ men amilaza của dịch tuỵ và một phần của dịch ruột, protit được phân giải đến pepton và polipeptit, tiếp đó các men proteolyse của dịch tuỵ sẽ phân giải thành các axit amin, lipit thì được chuyển hoá thành glyxerin và các axit béo nhờ men lipaza Chất xơ được tiêu hoá một lượng nhỏ

ở manh tràng nhờ quá trình hoạt động của các vi khuẩn (Nguyễn Duy Hoan và cs, 1999) [4]

* Những hiểu biết về gà Đông Tảo

Gà Đông Tảo có nguồn gốc từ xã Đông Tảo, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên là một huyện đồng bằng thuộc đồng bằng Châu thổ sông Hồng Giống gà Đông Tảo được đưa vào chương trình ―Bảo tồn quỹ gen vật nuôi‖ từ

Trang 14

năm 1992 khi chúng được xếp vào danh sách có nguy cơ tuyệt chủng do năng suất thấp Tuy nhiên giống gà này từ lâu đời đã nổi tiếng bởi chất lượng thịt và trứng rất thơm ngon

Đặc điểm nổi bật của giống gà này là chân to và thô, gà mới nở có lông trắng đục, gà mái trưởng thành có lông màu vàng nhạt, nâu nhạt, gà trống có màu lông mận chín pha đen, đỉnh đuôi và cánh có màu lông đen ángs xanh Mào kép nụ hoa hồng, giống quả dâu.Thân hình to, ngực sâu lườn rộng dài, xương to Mọc lông chậm

Theo Bùi Đức Lũng, Vũ Thị Hưng, Lê Đình Lương (2004) [9] Khối lượng gà Đông Tảo lai cao hơn các giống gà nội Khối lượng mới nở 38-40g, khối lượng lúc 20 tuần tuổi gà trống là 2435g, gà mái là 1925g Lúc trưởng thành con trống có thể đạt 5,5-6kg, con mái nặng 4kg/con

Tuổi thành thục của gà Đông Tảo là 158 ngày, muộn hơn gà Mía là 148 ngày và gà ri là 134 ngày Gà bắt đầu đẻ lúc 160 ngày tuổi Sản lượng trứng 40 quả/năm, trọng lượng trứng 58-65g (Nguyễn Huy Đạt, Vũ Thị Hưng và cs,

1999 - 2004) [1]

2.1.2 Đặc điểm của cầu trùng gây bệnh trên gà

Theo Levine và cs (1980) [30] đã phân loại cầu trùng ký sinh ở gà như sau: Ngành nguyên sinh động vật Protozoa

Giống Eimeria Schneider, 1875

Loài Eimeria tenella (Railliet - 09 ty and Lucei, 1891)

Trang 15

Loài Eimeria maxima (Tyzzer, 1929) Loài Eimeria acervulina (Tyzzer, 1929) Loài Eimeria mivati (Edgar and Seibold, 1964) Loài Eimeria brunetti (Levine, 1942)

Loài Eimeria mitis (Tyzzer, 1929) Loài Eimeria hagani (Levine, 1938) Loài Eimeria necatrix (Jonson, 1930) Loài Eimeria praecox (Jonson, 1930)

Theo Dương Công Thuận (1973) [18], ở nước ta, bệnh cầu trùng gà và các loài cầu trùng ký sinh ở gà đã được nghiên cứu từ những năm đầu thập kỷ 70,

có 4 loài cầu trùng gây bệnh ở các trại gà: E tenella, E maxima, E mitis, E necatrix

Theo Hồ Thị Thuận (1985) [19] cho biết: Gà nuôi công nghiệp ở một số

trại gà phía Nam nhiễm 5 loài cầu trùng: E tenella, E maxima, E mitis, E brunetti, E necatrix

Theo Hoàng Ngọc Thạch (1999) [15], xác định rằng: Có 6 loài cầu trùng

ký sinh ở gà tại TP Hồ Chí Minh và một số vùng phụ cận, đó là các loài: E tenella, E maxima, E acervutina, E mitis, E brunetti, E necatrix Phạm Văn Chức và cs (1991) đã tìm thấy 4 loài: E tenella, E maxima, E mitis, E necatrix và đã thử nghiệm sản xuất vaccine phòng bệnh cầu trùng bằng phương

pháp chiếu xạ gama với 4 loài này

* Đặc điểm của mầm bệnh

Theo Lê Văn Năm (2003) [13], bệnh cầu trùng được Luvenhuch A phát hiện từ năm 1632, cách đây trên 371 năm cùng thời gian các nghiên cứu về dịch tễ, lâm sàng, bệnh lý, miễn dịch và thuốc điều trị đã được các nhà khoa học mọi thời đại dày công nghiên cứu và khám phá

Năm 1863, Rivolta phát hiện ra một loài ký sinh trùng mới trong phân gà Đến năm 1864, Eimer mới xác định đây là một loài nguyên sinh động vật thuộc

Trang 16

lớp Spooa, bộ Coccidian, bộ phụ Eimridiae từ đó loài ký sinh trùng này được đặt tên là Eimeria

Bệnh cầu trùng là một trong những bệnh quan trọng nhất của gia cầm trên toàn thế giới Đó là một loại bệnh ký sinh trùng truyền nhiễm phổ biến ở

đường tiêu hóa của gia cầm và một số súc vật khác như: trâu, bò, lợn, thỏ

Bệnh có thể gây chết nhiều súc vật, tỷ lệ chết cao nhất là ở súc vật non (tỷ lệ chết cao ở gà con có thể lên tới 80 – 100 %) Ở gà đẻ bệnh cầu trùng là nguyên nhân giảm năng suất trứng từ 10 – 30 % và gây tiêu chảy hàng loạt

Bệnh do 9 chủng cầu trùng gây ra trong đó có 6 chủng thường gặp nhất gây ra cầu trùng manh tràng, cầu trùng ruột non, cầu trùng ruột già phụ thuộc vào nơi chúng khu trú…

E tenela ký sinh ruột thừa, E acervulina ký sinh tá tràng, E necaltrix

ký sinh ở ruột non nhưng không có ở tá tràng, E mitis cuối ruột non đầu ruột già, E haeami ở tá tràng, E maxima ở ruột non nhưng không có ở tá tràng, E mivati ký sinh ở tá tràng và ruột non

Cả 9 chủng cầu trùng đều là các loại đơn bào ký sinh trong các tế bào niêm mạc ruột, phá hủy cấu trúc ruột, gây chảy máu và tạo điều kiện cho các vi khuẩn có

cơ hội gây ra nhiều bệnh thứ phát khác, đặc biệt là E coli gây bại huyết

Bảng 2.1 Vị trí ký sinh của các loài cầu trùng gà

Loài Coccidia Vị trí ký sinh

E tenella Manh tràng (hoặc ruột mù)

E praecox Tá tràng và trên ruột non

E.acervulina Tá tràng và trên không tràng

E.necatrix Ruột non và manh tràng

E.brunetti Phần cuối ruột non, trực tràng, lỗ huyệt

E.hagani Phần đầu ruột non

Trang 17

* Đặc điểm của từng loài cầu trùng gà

Cầu trùng là động vật đơn bào có hình cầu, hình trứng, hình bầu dục, hình trụ hay hình elip (phụ thuộc vào từng loài cầu trùng) Cầu trùng ký sinh chủ yếu ở tế bào biểu bì ruột của nhiều loài gia súc, gia cầm và cả ở người

+ E.tenella (Orlov, 1975) [26]: Là loài cầu trùng phổ biến rộng rãi

nhất, nang trứng hình bầu dục tròn bao bọc bởi 2 lớp vỏ có màu xanh nhạt

Độ lớn nang trứng 14,2 - 31,2 × 9,5 - 14,8µ Nang trứng có hạt cực, không có

lỗ noãn, Oocyst có màu xanh nhạt Thời gian sinh sản bằng bào tử trong điều

kiện thuận lợi có thể tiến triển từ 18 - 48 giờ Khi ở nhiệt độ thấp, thời gian hình thành bào tử kéo dài hơn, còn nhiệt độ tăng trên 300C thì sự hình thành bào tử ngừng lại, các nang trứng chết

+ E Maxima (Tyzzer,1929) [31]: Nang trứng có hình bầu dục, ocyst có màu hơi vàng, vỏ Oocyst hơi sần sùi là những đặc điểm dễ nhận thấy khi phân

loại Tại đầu nhỏ của noãn nang có lỗ noãn và dưới nó là nhân phân hạt Khối nguyên sinh chất trong cầu trùng chưa hình thành, bào tử có hình hạt tròn Độ lớn nang trứng 21,4 - 42,5 × 16,5 - 29,8µ Quá trình sinh sản bào tử kéo dài 30 -

48 giờ, kí sinh ở giữa ruột non Quá trình phát triển nội sinh có thể diễn ra trên suốt chiều dài ruột non, thời kỳ tiền phát kéo dài khoảng 123 giờ

+ E mitis (Tyzzer,1929) [31]: Là loài cầu trùng có độc lực yếu Nang

trứng thường có hình tròn, vỏ bọc không có màu, không có lỗ noãn, nang trứng

có hạt cực, khối nguyên sinh chất không đều đặn Độ lớn nang trứng 11 - 19 ×

10 - 13µ Thời gian sinh sản bào tử 24 - 48 giờ Ký sinh ở phần đầu ruột non, ruột già, tá tràng Sau khi nhiễm vào cơ thể 36 giờ, trong các tế bào biểu bì nhung mao thấy những thể phân lập thành thục, thường có 6 - 21 thể phân đoạn

và các giao tử được hình thành vào ngày thứ 5

+ E acervulina (Tyzzer,1929) [31]: Đây là loài cầu trùng mới được tìm

thấy ở nước ta, noãn nang hình trứng hoặc hình ovan, không màu, khối nguyên

Trang 18

sinh chất chưa hình thành noãn nang có dạng hạt rất đều Đầu nhỏ của noãn nang có một lỗ sinh dục nhỏ Kích thước noãn nang từ 17,7 - 20,2 × 13,7 - 16,3µ, thời gian ủ bệnh khi gà nhiễm khoảng 3 ngày Thời gian sinh sản bào tử

13 - 17 giờ ở nhiệt độ 28 - 300C (ngắn nhất so với thời gian sinh bào tử của các loài cầu trùng khác) Quá trình phát triển nội sinh chủ yếu ở tá tràng và gây ra viêm ác tính

+ E necatrix (Horton và Long, 1952) [28]: Đây là loài cầu trùng có độc lực cao tuy nhiên mức độ phổ biến và khả năng gây bệnh thấp hơn so với E tenella Nang trứng không màu, hình bầu dục, có vỏ cứng và không có lỗ noãn

ở một trong hai đầu nang trứng có hạt cực Ở những cầu trùng chưa hình thành bào tử thì khối nguyên sinh chất không rõ Độ lớn nang trứng 13 - 20×11,3 - 18,3µ Thời gian hình thành bào tử 24 - 36 giờ, thời kỳ xâm nhập trong cơ thể

gà là 138 - 140 giờ

+ E brunette: Các nang trứng hình bầu dục không màu, không có lỗ

noãn, có độ lớn 20,7 - 30,3 × 18,1 - 24,2µ Thời gian sinh sản bào tử khoảng

24 giờ Thời kỳ phát triển nội sinh chủ yếu ở ruột già, phần cuối ruột non cũng như trực tràng và lỗ huyệt

+ E hagani (Levine P.D, 1980) [30]: Hình bầu dục, kích thước 15,8 - 29,9 × 14,3 - 29.5 µ Oocyst không có lỗ noãn, có thời gian sinh sản bào tử ổn định nhất so với Oocyst các loài cầu trùng ký sinh ở phần đầu ruột non (48

giờ) Ký sinh ở phần đầu ruột non

+ E praecox: Có Oocyst hình bầu dục, nguyên sinh chất dạng tròn có

nhân ở giữa, hạt cực không rõ là đặc điểm khác biệt so với các loài cầu trùng khác Kích thước 16,6 - 27,7 × 14,8- 19,4 µ Thời gian sinh sản bào tử 24 - 36

giờ, Oocyst không có lỗ noãn, ký sinh ở đầu ruột non

Trang 19

Bảng 2.2 Một số đặc điểm phân loại cầu trùng gà Diễn giải

Loài

Hình dạng Kích thước (μm) Lỗ noãn Sinh sản bào tử

E.necatrix Bầu dục 13-20 x 13,1-18,3 Không 21-24

E.brunetti Bầu dục 20,7-30,3 x 18,1-24,2 Không 24

E.hagani Bầu dục 15,8-29,9 x 14,3-29,5 Không 48

E.parecox Bầu dục 16,6-27,7 x 14,8-19,4 Không 24-36

Căn cứ vào nơi cư trú mà khi bệnh xảy ra chúng ta có thể kết luận được

loại Eimeria tenella là nguy hiểm nhất (cầu trùng ruột mù)

Hình 2.1: Cấu tạo oocyst loài eimeria sp gây bệnh

* Đặc điểm vòng đời

Theo Lê Văn Năm (2003) [13], vòng đời của cầu trùng được tính từ khi gia cầm nuốt phải noãn nang có sức gây bệnh, qua quá trình sinh trưởng, phát triển trong và ngoài cơ thể cho đến khi chúng lại tạo ra những noãn nang có sức gây bệnh Sự truyền rộng khắp của cầu trùng trên hành tinh của chúng ta

Trang 20

nhờ vào cấu trúc và vòng đời phức tạp cũng như khả năng thích nghi nhanh để tiếp tục phát triển, tồn tại lâu trong thiên nhiên

Chu kỳ của cầu trùng trải qua 3 giai đoạn phát triển: Giai đoạn sinh sản

vô tính, sinh sản hữu tính và sinh sản bào tử Hai giai đoạn đầu thực hiện trong

tế bào niêm mạc ruột của ký chủ nên còn được gọi là giai đoạn nội sinh sản (kéo dài từ 5 –7 ngày), giai đoạn 3 thực hiện ở ngoài môi trường

- Giai đoạn 1: Giai đoạn sinh sản vô tính

Cầu trùng ký sinh ở tế bào biểu mô của con vật sinh sản theo phương thức trực phân Khi noãn nang cầu trùng xâm nhập vào cơ thể theo thức ăn hoặc nước uống, dưới tác dụng trực tiếp của dịch dạ dày, ruột, mật thì lớp vỏ cứng đó bị phá vỡ các noãn nang được giai phóng Chúng lập tức xâm nhập vào trong các tế bào biểu bì ruột, thận, mật tại ðây các noãn nang lớn lên nhanh chóng, có hình tròn, ovan hoặc elip với nhiều nhân thể phân lập thuộc thế hệ

1 (sizont 1) từ đó hình thành rất nhiều tế bào dạng elip dài được gọi là merozoit sinh trưởng rất nhanh làm tan vỡ tế bào của vật chủ Khi các tế bào biểu bì nơi khu trú bị phá huỷ thì các merozoit lập tức tấn công xâm nhập

sang các tế bào biểu bì mới và quá trình này được lập lại như cũ Đến đây

chúng được gọi là sizont 2, tuỳ theo chủng cầu trùng khác nhau mà có thể hình thành nên các thế hệ kế tiếp sizont 3, 4… một cách ồ ạt theo cấp số nhân

làm cho hàng loạt tế bào biểu bì của vật chủ bị phá vỡ, gây tổn thương nặng

nề cho niêm mạc nơi bị nhiễm

Trang 21

Hình 2.2 Sơ đồ tóm tắt vòng đời chung của cầu trùng

- Giai đoạn 2: Giai đoạn sinh sản hữu tính

Khi các schizont thuộc thế hệ cuối cùng được hình thành thì chúng bắt

đầu định hướng phát triển thành giao tử đực và cái Nhân của giao tử đực phân chia và lớn lên đến chừng mực nào đó thì xung quanh mỗi nhân con hình thành nguyên sinh chất bao bọc và giao tử đực đã được trưởng thành Chúng có hình quả lê, kích thước nhỏ, một đầu có vòi sinh dục Quá trình hình thành giao tử cái cũng diễn ra tương tự như giao tử đực, chỉ khác là ở một đầu tế bào có lỗ

sinh dục gọi là micropil, thông qua lỗ này giao tử đực chui vào bên trong giao

tử cái để thực hiện chức năng thụ thai Giao tử cái to hơn, ít chuyển động hơn Sau khi thụ thai xong cả giao tử đực và cái hình thành một hợp tử chung, được bọc chung 1 vỏ mới gồm 2 lớp và chúng rơi vào lòng ruột biến thành noãn

Trang 22

nang chưa chín gọi là oocystit Hai giai đoạn trên được tiến hành ở trong cơ thể

kí chủ nên gọi là giai đoạn nội sinh sản

- Giai đoạn 3: Giai đoạn sinh sản bào tử

Theo đường tiêu hoá các noãn nang theo phân ra ngoài môi trường nên được gọi là sinh sản ngoại sinh Tại đây chúng bắt đầu phân chia thành 4

nguyên bào tử (sporoblast) Quanh mỗi nguyên bào tử lại hình thành vỏ bọc

riêng thành 4 nguyên bào tử nang nhưng cả 4 nguyên bào tử nang này vẫn nằm trong một vỏ bọc chung gồm 2 lớp rất cứng có khả năng bảo vệ tốt với các yếu

tố gây hại cho chúng như các loại thuốc khử trùng, hoá chất tiêu độc, ánh sáng mặt trời đến đây chúng trở thành các bào tử nang có sức gây bệnh và tiếp tục nhiễm vào vật chủ

Các yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nang trứng là nhiệt độ, ẩm độ cho nên thời gian phát triển của nang trứng khác nhau Đồng thời các loại cầu trùng khác nhau thì thời gian sinh bào tử cũng khác nhau Đó là đặc điểm hết sức quan trọng trong phân loại cầu trùng

Vòng đời của cầu trùng phát triển khá nhanh Sau khi gia súc ăn phải noãn nang, sau 1 – 2h các thể bảo tử xâm nhập vào niêm mạc tá tràng, 54h sau khi bị nhiễm nó đã phá vỡ rất nhiều niêm mạc và có mặt trong tế bào biểu bì sau đó 16h bắt đầu nhân lên, sau 3 - 4h sinh sản cho ra một thế hệ mới Cộng cả giai đoạn ngoài cơ thể thì thời gian hoàn thành vòng đời từ 5 - 7 ngày Lợi dụng đặc điểm này khi điều trị ta cho thuốc liên tục cho gà từ 5 -7 ngày

Trong giai đoạn sinh sản hữu tính và sinh sản vô tính là thời kỳ nung bệnh và phát triển bệnh cầu trùng trong cơ thể của gà Giai đoạn sinh sản bào

tử là nguồn bệnh Việc hàng loạt tế bào biểu bì ruột bị phá vỡ không những gây viêm xuất huyết, chảy máu mà còn mở cửa thuận lợi cho nhiễm trùng thứ phát

và phổ biến nhất là E.coli gây nên bệnh ghép nguy hiểm cấp tính

Trang 23

Vì quá trình phát triển của cầu trùng gắn liền với cơ thể sinh bệnh, do đó chúng ta cần xem xét kỹ lưỡng các giai đoạn phát triển của chúng để tìm ra phương pháp phòng và trị bệnh hiệu quả nhất

* Sức đề kháng

Bệnh cầu trùng là một bệnh phổ biến, có sức đề kháng cao đối với tác động của điều kiện khí hậu không thuận lợi, các loại thuốc sát trùng, khả năng sinh sản lại nhanh

Noãn nang cầu trùng có thể duy trì sức sống từ 4 - 9 tháng và 15 – 18 tháng ở sân râm mát Môi trường ẩm ướt và nhiệt độ ôn hòa là điều kiên thuận lợi nhất cho cầu trùng phát triển, nhiệt độ từ 22 – 30oC chỉ mất 18 – 36 giờ để cầu trùng phát triển thành bào tử con

Sức đề kháng của noãn nang đối với nhiệt độ cao và khô hạn tương đối yếu Khi độ ẩm từ 20 -30%, nhiệt độ từ 18 – 40oC thì E.tenella sau 1 -5 ngày

thì chết

Con đường mà gia cầm mắc bệnh cầu trùng là do nuốt phải noãn nang cầu trùng có sức gây bệnh Noãn nang cầu trùng có trong thức ăn, nước uống, đất, chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi Các loài chim, gia súc, ruồi muỗi đều

có thể là nguồn gieo rắc mầm bênh

2.1.3 Đặc điểm bệnh cầu trùng gà

* Qúa trình nhiễm bệnh cầu trùng của gà

Người ta đã chứng minh rằng: khi ruồi muỗi nuốt phải noãn nang cầu trùng, tới ruột thì noãn nang có khả năng duy trì sức gây nhiễm trong vòng 24h

Quá trình nhiễm bệnh chia làm 2 thời kỳ:

+ Thời kỳ tiền phát: Kéo dài từ khi gà nhiễm phải noãn nang cầu trùng cho tới khi xuất hiện nang trứng trong phân

+ Thời kỳ phát bệnh: Là khi phát hiện nang trứng trong phân đến khi nang trứng biến mất hoàn toàn khỏi cơ thể Khi nuôi dưỡng, quản lý không tốt

Trang 24

sẽ tạo điều kiện phát triển rầm rộ Vì vậy, gà nuôi trong điều kiện môi trường

ẩm ướt, mật độ cao, thức ăn không tốt, điều kiện vệ sinh kém sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh cầu trùng phát triển và lây lan Ngoài việc trực tiếp phá vỡ các tế bào niêm mạc dẫn đến rối loạn chức năng cho những cơ quan chúng khu trú, mà tại đó chúng còn phá vỡ các mao mạch, mao quản xung quanh gây chảy máu bên trong, xuất huyết,

Trần Thanh Vân và cs (2003) [21], bệnh cầu trùng thường tiến triển âm

ỉ, dễ kế phát các bệnh khác Khi gặp các điều kiện thuận lợi cầu trùng phát triển thành ổ dịch lớn, mang tính hủy diệt, tỷ lệ chết cao, đặc biệt ở gà con tỷ lệ chết

có thể lên đến 100% Ngoài ra bệnh còn làm giảm tốc độ sinh trưởng 12 - 30 %,

gà đẻ giảm 20 - 40% sản lượng trứng

* Cơ chế sinh bệnh

Bệnh cầu trùng gắn liền với công tác vệ sinh chuồng trại, chăm sóc nuôi dưỡng, phương thức chăn nuôi Nhiệt độ thay đổi đột ngột là điều kiện thuận lợi cho cầu trùng phát triển

Từ những tác động trực tiếp của mầm bệnh, các giai đoạn phát triển nội sinh của cầu trùng trong cơ thể gà và các yếu tố thứ phát nhờ khả năng tái sinh sản nhanh ở tất cả các loài, đặc biệt là loài có độc lực cao gây tổn thương lan tràn niêm mạc ruột Từ đó, một số lượng lớn tế bào biểu bì, lớp dưới niêm mạc, các mạch quản, thần kinh bị hủy hoại đã hình thành các điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật khác phát triển xâm nhập vào cơ thể làm cho bệnh càng nặng và

có thể gây bội nhiễm với các bệnh khác

Do niêm mạc bị tổn thương, nên nhiều đoạn ruột không tham gia vào quá trình tiêu hóa làm cho con vật bị thiếu dinh dưỡng gây rối loạn tiêu hóa dẫn tới ngưng đọng độc tố, phù nề các cơ quan và mô bào Sự phá hủy các tế bào ruột làm cho viêm ruột gây rối loạn chức năng hấp thụ và vận động của ruột gây ỉa chảy, quá trình viêm tăng sinh làm cho dịch rỉ tiết ra nhiều gây khó

Trang 25

khăn trong việc hấp thụ chất dinh dưỡng, làm mất cân bằng nước tiểu trong cơ thể gà

Các thể bào tử cầu trùng nhiễm vào các tế bào biểu bì ở những khe hốc ở

đó từ 24 – 48h, sự phát triển các thể phân lập ở đợt một sẽ kết thúc Mỗi thể phân lập chứa đến 900 thể phân đoạn Các thể phân đoạn vào tế bào biểu bì màng niêm mạc manh tràng sau đó di cư sâu xuống lớp biểu bì ở đó 72h Sau khi chúng nhiễm vào sẽ phát triển thành các thể phân lập đời hai Các thể phân lập đời hai này qua 24h chúng phân giải, phá hủy các lớp biểu bì bên dưới, phá hủy lưới mao mạch gây xuất huyết mạch Sau đó thể phân lập đời hai lại chui vào tế bào biểu bì màng niêm mạc và bắt đầu hình thành các tế bào giao tử cái

và các tế bào giao tử đực Thể phân lập có đời ba tiến triển ở các tế bào biểu bì

Các giai đoạn phát triển nội sinh nhất là các thể phân lập đời hai phát triển thành số lượng lớn trong các vách ruột sẽ phá hủy màng niêm mạc ruột gây ra chảy máu nhiều Lớp dưới niêm mạc, xoang ruột chứa đầy những tế bào biểu bì bị hủy hoại Do tổn thương nhiều đám lớn trong ruột nên chức năng tiêu hóa bị rối loạn, màng niêm mạc bị tổn thương là cửa mở cho vi khuẩn, các độc tố tạo ra khi phân hủy các chất chứa trong manh tràng xâm nhập vào cơ thể gây ra nhiễm trùng, nhiễm độc tố

Cầu trùng sinh ra độc tố làm gà bị trúng độc, thể hiện ở những rối loạn

về thần kinh, sã cánh, lờ đờ, kém nhanh nhẹn Cầu trùng chiếm đoạt dinh dưỡng là dịch tổ chức tế bào, biểu mô ruột làm cho gà thiếu dinh dưỡng

Những điều trên cho thấy sự biến đổi sâu sắc diễn ra trong cơ thể gà bị bệnh cầu trùng Sự phát triển quá trình bệnh lý cuối cùng dẫn đến sự suy sụp chung của gà ốm và cuối cùng là chết

* Sự miễn dịch của gà đối với bệnh cầu trùng

Miễn dịch của gà đối với bệnh cầu trùng là do sự tái nhiễm thường xuyên đã đảm bảo cho sự ổn định mầm bệnh trong cơ thể gà có miễn dịch Gà

Trang 26

từ 20 - 60 ngày tuổi bị bệnh nặng nhất Song vấn đề miễn dịch trong bệnh cầu trùng cho tới nay vẫn chưa được công nhận đầy đủ nhất, vì vậy chúng tôi cho rằng vấn đề này cần được nghiên cứu rộng rãi hơn

Theo Nguyễn Văn Quang và cs (2005) [14], tất cả các giống gà đều mắc bệnh cầu trùng Gà nuôi ở Thái Nguyên đều nhiễm cầu trùng với tỷ lệ khá cao (từ 30,1 – 67,7%) Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng có chiều hướng giảm theo tuổi gà Gà từ 15 ngày đến 2 tháng tuổi nhiễm cầu trùng nhiều và nặng nhất Gà trên 6 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm giảm đi và thường nhiễm nhẹ

Những nghiên cứu tiếp tục về miễn dịch cũng đã xác nhận rằng: cường độ miễn dịch trong bệnh cầu trùng không đồng đều và phụ thuộc vào loài cầu trùng,

và liều cầu trùng gây miễn dịch, số lượng gây nhiễm, khả năng gây bệnh của loài cầu trùng, trạng thái cơ thể gà và nhiều yếu tố khác Cường độ miễn dịch cũng phụ thuộc cả vào đặc điểm phát triển các giai đoạn nội sinh của các loài cầu trùng khác nhau

Horton và Long (1952) [28], cho rằng thời gian miễn dịch trong bệnh cầu trùng là tương đối dài nhưng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là phương pháp miễn dịch Nếu tiêm cho gà con một liều lớn nang trứng cầu trùng thì tới ngày thứ 14 ở chúng sẽ có sức đề kháng với bệnh và tới ngày thứ 42 thì sức đề kháng đó giảm đi một ít Sau khi tiêm cho gà con 3 liều nang trứng, mỗi liều cách nhau một tuần thì chúng có đủ sức đề kháng và có thể tự bảo vệ khi tiêm cho chúng một liều trên liều chết Gà còn được bảo vệ không bị tái nhiễm

Tyzzer (1992) [31], đã chứng minh bằng thực nghiệm là có hai mức miễn dịch trong bệnh cầu trùng

Mức 1: Phát sinh khi gà nhiễm phải một lượng nhỏ cầu trùng khi đó sẽ tạo ra miễn dịch yếu và nếu cho chúng liều cầu trùng rất cao (liều siêu nhiễm) thì chúng sẽ mắc bệnh lại

Trang 27

Mức 2: Khi gà bị nhiễm một liều lớn cầu trùng Trường hợp này sẽ có miễn dịch khi gà bị mắc bệnh lại Ông cho rằng cường độ miễn dịch có liên quan đến số lượng cầu trùng xâm nhập vào cơ thể Nhận định này được Beyer xác nhận khi thí nghiệm trên thỏ và Paskim xác nhận khi thí nghiệm trên gà con

Miễn dịch được tạo ra tương đối bền vững đối với loài cầu trùng, khi các giai đoạn phát triển của chúng tiến triển và xâm nhập sâu trong mô bào và miễn dịch kém bền vững khi các giai đoạn phát triển của chúng chỉ phát triển

trong lớp biểu bì niêm mạc ruột Với những loài gây bệnh yếu E mitis, E acervulina ký sinh trong tế bào biểu bì ruột non thì tạo ra miễn dịch ngắn,

không bền vững đối với lần cảm nhiễm sau Ngược lại, các thời kỳ nội sinh của

E tenella phát triển không chỉ trong biểu bì mà còn xâm nhập vào lớp dưới

biểu bì của niêm mạc và đôi khi còn thấy chúng cả dưới lớp sâu màng niêm mạc Với loài cầu trùng đó thì chỉ cần một liều nhỏ nang trứng, trong thời gian ngắn cũng đã đủ gây ra miễn dịch vững chắc

* Triệu chứng của bệnh

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [7], gà bị bệnh cầu trùng thường lờ đờ, chậm chạp, ăn kém, hoặc bỏ ăn, lông xù, cánh xã, phân loãng lẫn máu tươi, khát nước, uống nhiều nước, dễ chết do mất nước và mất máu Bệnh cầu trùng xảy ra ở mọi lứa tuổi của gà thường gặp ở gà 10 - 90 ngày tuổi, đặc biệt ở 18 - 40 ngày tuổi gà bị bệnh rất nặng, thời gian ủ bệnh từ 4 – 7 ngày Bệnh có thể cấp tính còn gà trưởng thành là vật mang trùng, gà thường mắc bệnh ở 3 thể

Thể cấp tính: Bệnh diễn biến từ 2 - 3 tuần lễ, sau thời gian nung bệnh, cả

quá trình diễn biến mà người ta ghi nhận được qua các biểu hiện lâm sàng thường kéo dài từ 3 - 7 ngày Lúc đầu gà giảm ăn, buồn ngủ, ỉa phân loãng sống (thức ăn không tiêu hóa tốt) Khi có hiện tượng viêm xuất huyết trong ruột thì gà uống nhiều nước, đứng cù rù, lẻ loi hoặc tụm đống lại một góc

Trang 28

chuồng Quan sát những gà đứng thấy gà cổ rụt, mắt nhắm nghiền, hai cách sã xuống nền (khoác áo tơi) lúc này phân sệt màu máu tươi hoặc màu nâu có gợn máu Gà nhợt nhạt vì thiếu máu, vạch hậu môn gà để khám thì thỉnh thoảng thấy phân bám xung quanh hậu môn, một số gà có biểu hiện thần kinh bán liệt hoặc liệt Thể cấp tính gây chết gà trong thời gian 3 - 4 ngày, tỷ lệ chết 70 - 80

% (nếu không điều trị kịp thời), số gà còn lại chuyển sang thể mãn tính

Thể mãn tính: Gà ốm cấp tính chuyển sang mãn tính, tuổi gà càng cao thì

sức đề kháng càng tốt cho nên gà thường mắc ở thể mãn tính Ở thể này, biểu hiện giống thể cấp tính nhưng mức độ nhẹ hơn, phân sống, lúc đầu, sau đó phân màu nâu lẫn máu hoặc gợn máu Nếu không điều trị kịp thời thì tỷ lệ chết từ 15 -

30 %

Thể mang trùng: Gà trưởng thành mang mầm bệnh tuy nhiên biểu hiện

không rõ ràng nên ít được chú ý, gà vẫn ăn uống bình thường đôi khi ỉa chảy

Ở gà đẻ trứng, sản lượng trứng bị tụt từ 15 - 20% nhưng người chăn nuôi không rõ nguyên nhân

E tenella bệnh tích chủ yếu ở manh tràng Manh tràng viêm xuất huyết

phình to, chứa đầy chất dịch có máu, trong đó có những cục máu nhỏ, xốp, vách manh tràng mỏng đi Màng niêm mạc bị huỷ hoại, phủ đầy những vết loét

từ ngoài có thể nhìn thấy rõ Ở giai đoạn cuối của bệnh, niêm mạc ruột hơi trắng, dầy và có các cục máu Ở gà non có hiện tượng ỉa chảy lẫn máu

E necatrix:Theo Levine (1980) [30]; Horton và Long (1952) [28], trên

màng niêm mạc phần giữa ruột non thấy những cục nhỏ màu trắng - xám nằm

Trang 29

sâu trong vách ruột nên có thể nhìn thấy rõ từ phía ngoài Màng niêm mạc viêm xuất huyết và đôi khi bị hoại tử Ruột sưng to, thành ruột dày lên, chất chứa ở ruột màu hồng nhạt hoặc màu xám thỉnh thoảng có lẫn cục máu

E brunetti: gây viêm xuất huyết trực tràng, manh tràng, lỗ huyệt Gây

viêm hóa sợi trong ruột (viêm ruột hóa sợi) cùng dịch xuất tiết nhày lẫn máu,

phân màu trắng có lẫn các vệt máu

E maxima: Gây viêm phần đầu ruột non, màng niêm mạc bị huỷ hoại

xuất huyết Viêm ruột xuất huyết với thành ruột dầy và xuất huyết lấm chấm, kiểm tra bằng kính hiển vi phát hiện được các trứng có kích thước lớn Ruột non chứa đầy chất nhày màu nâu hoặc hồng nhạt

E acervulina: Gây giảm trọng lượng gà, phân trắng Tá tràng dầy, sưng

phù, sung huyết đỏ Trên bề mặt ruột tá tràng hay phần đầu ruột non, những tổn thương lớn màu trắng - xám Trên tiêu bản tổ chức, vị trí cầu trùng ký sinh là ở biểu mô

E hagani: Biểu hiện bệnh tích ở manh tràng và trước ruột non Trên thành

ruột có những điểm xuất huyết to bằng đầu kim hoặc những mảng xuất huyết tròn màu đỏ niêm mạc bị viêm cata

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [5], thì cầu trùng xâm nhập vào tế bào biểu bì ruột gây tổn thương lan tràn niêm mạc ruột, từ đó một số lượng lớn tế bào biểu bì, lớp niêm mạc, các mao quản thần kinh bị phá hủy tạo điều kiện thuận lợi cho

hệ vi sinh vật phát triển xâm nhập vào cơ thể Nhiều đoạn ruột mất khả năng tiêu hóa làm cho con vật bị đói dai dẳng dẫn tới ngưng đọng, phù nề các cơ quan làm loãng máu giảm bạch cầu và mạch đập chậm

Theo nghiên cứu của các tác giả Conway, D.P., Mckenzie, M.E Và Dayton (1999) [27], kết luận rằng chính tổn thương do cầu trùng làm ảnh hưởng đến khả

* Chẩn đoán

Chẩn đoán bệnh cầu trùng cần kết hợp nhiều mặt để chẩn đoán bệnh một cách chính xác nhất

Trang 30

- Chẩn đoán dựa vào đặc điểm dịch tễ học:

Phân tích tìm hiểu trạng thái dịch tễ của địa phương như: thời gian mắc bệnh, độ tuổi, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng

Bệnh cầu trùng thường xảy ra ở gà 1- 2 tháng tuổi, mắc nặng nhất là gà con từ 3 - 5 tuần tuổi và gây tỷ lệ chết cao, từ 6 tuần tuổi trở đi bệnh thường xảy ra ở thể mãn tính sau 2 tháng gà thường ở thể mang trùng

- Chẩn đoán dựa vào triệu chứng:

Triệu chứng đặc trưng: Gà đang ăn uống bình thường trở nên ủ rũ giảm

ăn ít vận động, rụt cổ, có triệu chứng thần kinh như liệt chân xã cánh

Kiểm tra phân có máu là cơ sở cho việc chẩn đoán bệnh ở địa phương

Gà thường chết sau khi nhiễm bệnh 5 - 7 ngày

Trường hợp gà lớn bị nhiễm bệnh có triệu chứng không rõ chỉ thấy gà chậm lớn Niêm mạc nhợt nhạt, kiểm tra phân thấy noãn nang

- Chẩn đoán dựa vào bệnh tích:

Khi gà chết ta tiến hành mổ khám tùy từng căn nguyên, vị trí kí sinh ta thấy rất rõ, biến đổi niêm mạc và thành ruột ở những giai đoạn ruột khác nhau

Ở thành ruột sưng dầy lên, có những nốt xuất huyết và từng dải xuất huyết dọc theo đường ruột Một số trường hợp cuối trực tràng và lỗ huyệt thường thấy đỏ loét Bệnh xảy ra ở gà trên 1 tháng tuổi

Ở manh tràng phình to chứa đầy hơn, viêm xuất huyết, phân lẫn máu, các niêm mạc bị hoại tử, bệnh thường thấy ở gà từ 2 - 6 tuần tuổi

Các cơ quan khác không có sự biến đổi gì lớn ngoài biểu hiện của sự thiếu máu toàn cơ thể khô và còi cọc

- Chẩn đoán phân biệt với một số bệnh khác:

+ Bệnh CRD: Có triệu trứng vươn cổ lên thở, có tiếng khò khè, thường hay vẩy mỏ, con vật bỏ ăn, lông xù, xã cánh, it vận động Xuất huyết cơ ngực,

cơ đùi, khớp chân có dịch sưng phù, gà ỉa phân trắng xanh

Trang 31

+ Bệnh Gumboro: Triệu chứng lông xù, phân lúc đầu loãng có màng nhày về sau trắng, nâu đỏ, tốc độ xảy ra trong vòng 3 - 7 ngày và có tỷ lệ chết cao Bệnh tích không sưng manh tràng chỉ sưng túi fabrisius

+ Bệnh tụ huyết trùng: Cũng có triệu chứng phân đỏ có máu, trong trường hợp cấp tính nhưng bệnh thường chết nhanh, bệnh tích ở lớp mỡ vành tim xuất huyết, không sưng manh tràng

+ Bệnh bạch lỵ, thương hàn và E.coli: Gà bị tiêu chảy, phân trắng, bệnh

tích mổ ra ruột không sưng to và có vệt trắng

- Xét nghiệm phân:

Mục đích: Khẳng định bệnh và phân loại cầu trùng gà đã bị nhiễm Có thể dùng các phương pháp xét nghiệm sau:

+ Xét nghiệm phân trực tiếp

+ Xét nghiệm phân bằng phương pháp phù nổi Fulleborn

+ Xét nghiệm bằng phương pháp Darling

+ Xét nghiệm bằng phương pháp Cherbovick

Nhưng phương pháp dùng phổ biến nhất là phương pháp phù nổi Fulleborn

* Phòng và trị bệnh

Theo Lê Văn Năm (2003) [13]: Đến nay có nhiều loại thuốc có tác dụng ức chế và tiêu diệt cầu trùng nhưng chủ yếu tập trung vào sáu nhóm thuốc sau:

- Nhóm sulfanilamit bao gồm có: Sulfaguanidin, sulfathiazon, ulfarazin, sulfaquynoxalin, sulfapyrasol và sulfachlorpyrazin

- Nhóm pyrimidin: Amprolium, trimethoprin, diaveridin

- Nhóm nitrofuran gồm có: Furazolidon, furaltadon,…

- Nhóm nyridin: Clopydol (rigecoccin)

- Nhóm antibiotis: Monezin, salinomycin, lymycin

Trang 32

- Toltrazuril là hoạt dược mới, tác dụng trị cầu trùng rất hiệu quả

Để phòng và trị bệnh cầu trùng đạt kết quả tốt nhất thì công tác vệ sinh thú y đóng vai trò hết sức quan trọng trong chăn nuôi và phòng trừ dịch bệnh

Một số thuốc phòng và trị bệnh cầu trùng: Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại thuốc phòng và trị bệnh cầu trùng ở gà như:

* Coxymax:

Thành phần:

-Trị tiêu chảy do nhiễm khuẩn

- Đặc biệt hiệu quả với cầu trùng ghép

Cách dùng: 1g/1lít nước uống hoặc 100g/500k- Sulphachlozine: 30g -Tá dược vừa đủ 100g

Công dụng:

-Trị cầu trùng 100g/500kg thể trọng/ngày

Liệu trình điều trị: Pha nước uống liên tục trong 3 ngày sau đó nghỉ 2 ngày và điều trị tiếp liệu trình tiếp theo

Phòng bệnh: Liều phòng bằng liều điều trị

Thời gian ngừng thuốc: Giết mổ sau 11 – 14 ngày

Trang 33

- Liệu trình điều trị: Pha nước uống 2lần/ngày, liên tục trong 3 ngày sau

đó nghỉ 2 ngày và điều trị tiếp liệu trình tiếp theo

- Phòng bệnh: Liều phòng bằng liều điều trị

Thời gian ngừng thuốc: Giết mổ sau 5 ngày

* Các biện pháp ngăn ngừa và quản lý bệnh cầu trùng gà:

Trước khi đưa gà vào nuôi nhốt nhất thiết phải vệ sinh chuồng trại bằng cách quét dọn và cọ rửa sau đó tiến hành tiêu độc khử trùng bằng hóa chất: Han – Iodine 100 %, formol 1,5%, NaOH 2 %, sau đó 2 ngày quét vôi đặc Các dụng cụ liên quan sau khi rửa sạch được ngâm trong crezin 5 % 2 - 5 giờ và phơi thật khô Chất độn chuồng phải được phơi khô và phun han – iodine 10 % mới đưa vào trong chuồng Tuyệt đối không sử dụng dụng cụ khi chưa được sát trùng

Dứt khoát không nuôi chung gia cầm với nhiều lứa tuổi khác nhau trong cùng một khu vực Chất đệm lót sau mỗi lứa gà phải được thu gom, ủ kỹ đúng nơi quy định và thường xuyên diệt vật môi giới truyền bệnh như côn trùng, chuột,

Mỗi đàn gia cầm chỉ cho một người trực tiếp chăm sóc, không được tự ý

đi lại, ra vào trong khu vực chăn nuôi

Ngày đăng: 16/12/2016, 09:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Huy Đạt, Vũ Thị Hưng, Nguyễn Văn Thạch, (2004), Nghiên cứu đặc điểm sinh học, khả năng sản xuất và bảo tồn quỹ gen giống gà Đông Tảo.Viện Chăn nuôi, Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm sinh học, khả năng sản xuất và bảo tồn quỹ gen giống gà Đông Tảo
Tác giả: Nguyễn Huy Đạt, Vũ Thị Hưng, Nguyễn Văn Thạch
Năm: 2004
2. Từ Quang Hiển (1996), Giáo trình chăn nuôi gia cầm, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Từ Quang Hiển
Năm: 1996
3. Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998), Giáo trình chăn nuôi gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
4. Nguyễn Duy Hoan, Bùi Đức Lũng, Nguyễn Thanh Sơn, Đoàn Xuân Trúc (1999), giáo trình chăn nuôi gia cầm dùng cho Cao học và Nghiên cứu sinh ngành chăn nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình chăn nuôi gia cầm dùng cho Cao học và Nghiên cứu sinh ngành chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan, Bùi Đức Lũng, Nguyễn Thanh Sơn, Đoàn Xuân Trúc
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
5. Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996),Ký sinh trùng thú y, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phạm Văn Khuê, Phan Lục
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1996
6. Lê Hữu Khương, (2008). Ký sinh trùng thú y, (tài liệu lưu hành nội bộ), Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng thú y
Tác giả: Lê Hữu Khương
Năm: 2008
7. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Quang Tuyên (1999), Giáo trình ký sinh trùng thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ký sinh trùng thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Quang Tuyên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
8. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2002), Bệnh do ký sinh trùng ở gia cầm và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh do ký sinh trùng ở gia cầm và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2002
9. Bùi Đức Lũng, Vũ Thị Hưng, Lê Đình Lương (2004), Bảo tồn và khai thác nguồn gen gà Đông Tảo, Viện Chăn nuôi Quốc gia, trang 107-123 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và khai thác nguồn gen gà Đông Tảo
Tác giả: Bùi Đức Lũng, Vũ Thị Hưng, Lê Đình Lương
Năm: 2004
10. Lê Thị Tuyết Minh (1994), Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh cầu trùng ở gà Hydro HV.85 từ 1-49 ngày tuổi, Luận văn thạc sĩ Nông nghiệp , Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh cầu trùng ở gà Hydro HV.85 từ 1-49 ngày tuổi, Luận văn thạc sĩ Nông nghiệp
Tác giả: Lê Thị Tuyết Minh
Năm: 1994
12. Lê Văn Năm, Nguyễn Thị Hương (1996), 60 câu hỏi và đáp dành cho người chăn nuôi gà công nghiệp, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 60 câu hỏi và đáp dành cho người chăn nuôi gà công nghiệp
Tác giả: Lê Văn Năm, Nguyễn Thị Hương
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
13. Lê Văn Năm (2003), Bệnh cầu trùng ở gia súc gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh cầu trùng ở gia súc gia cầm
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
17. Nguyễn Văn Thiện(2002), Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
18. Dương Công Thuận (1995), Phòng và trị bệnh ký sinh trùng cho gà nuôi gia đình, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị bệnh ký sinh trùng cho gà nuôi gia đình
Tác giả: Dương Công Thuận
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
20. Nguyễn Quang Tuyên, Trần Thanh Vân (2001), Bệnh phổ biến ở gà và biện pháp phòng trị. Nxb Văn hóa và Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở gà và biện pháp phòng trị
Tác giả: Nguyễn Quang Tuyên, Trần Thanh Vân
Nhà XB: Nxb Văn hóa và Thông tin
Năm: 2001
22. Nguyễn Hữu Vũ, Phạm Sỹ Lăng (1997), Một số bệnh quan trọng ở gà, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. (trang 19-20) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ở gà
Tác giả: Nguyễn Hữu Vũ, Phạm Sỹ Lăng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
23. Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Đức Lưu (2000), Một số bệnh quan trọng ở gà, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.II.Tài liệu dịch tiếng nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ở gà
Tác giả: Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Đức Lưu
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
24. Archie Hunter (2000), Sổ tay dịch bệnh động vật (Phạm Gia Ninh và Nguyễn Đức Tâm dịch). Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay dịch bệnh động vật
Tác giả: Archie Hunter
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2000
25. Kolapxki và Paskin (1980), Bệnh Cầu trùng ở gia súc gia cầm (Nguyễn Đình Chí dịch), Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh Cầu trùng ở gia súc gia cầm
Tác giả: Kolapxki và Paskin
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1980
26. Orlov F.M (1975), Bệnh gia cầm (tập 1),(Nguyễn Thất, Phạm Quân, Phan Thanh Phượng). Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.II. Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh gia cầm (tập 1),(
Tác giả: Orlov F.M
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1975

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Vị trí ký sinh của các loài cầu trùng gà - Tình hình mắc bệnh cầu trùng trên gà đông tảo lai và so sánh hiệu lực điều trị cầu trùng của hai thuốc hansulcox – WSP, coxymax, tại trại gia cầm khoa chăn nuôi   thú y trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 2.1. Vị trí ký sinh của các loài cầu trùng gà (Trang 16)
Hình 2.1: Cấu tạo oocyst loài eimeria sp gây bệnh - Tình hình mắc bệnh cầu trùng trên gà đông tảo lai và so sánh hiệu lực điều trị cầu trùng của hai thuốc hansulcox – WSP, coxymax, tại trại gia cầm khoa chăn nuôi   thú y trường đại học nông lâm thái nguyên
Hình 2.1 Cấu tạo oocyst loài eimeria sp gây bệnh (Trang 19)
Bảng 2.2. Một số đặc điểm phân loại cầu trùng gà  Diễn giải - Tình hình mắc bệnh cầu trùng trên gà đông tảo lai và so sánh hiệu lực điều trị cầu trùng của hai thuốc hansulcox – WSP, coxymax, tại trại gia cầm khoa chăn nuôi   thú y trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 2.2. Một số đặc điểm phân loại cầu trùng gà Diễn giải (Trang 19)
Hình 2.2. Sơ đồ tóm tắt vòng đời chung của cầu trùng - Tình hình mắc bệnh cầu trùng trên gà đông tảo lai và so sánh hiệu lực điều trị cầu trùng của hai thuốc hansulcox – WSP, coxymax, tại trại gia cầm khoa chăn nuôi   thú y trường đại học nông lâm thái nguyên
Hình 2.2. Sơ đồ tóm tắt vòng đời chung của cầu trùng (Trang 21)
Bảng 2.3. Sơ đồ bố trí thí nghiệm - Tình hình mắc bệnh cầu trùng trên gà đông tảo lai và so sánh hiệu lực điều trị cầu trùng của hai thuốc hansulcox – WSP, coxymax, tại trại gia cầm khoa chăn nuôi   thú y trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 2.3. Sơ đồ bố trí thí nghiệm (Trang 39)
Bảng 4.1. Lịch dùng vắc xin cho gà sinh sản - Tình hình mắc bệnh cầu trùng trên gà đông tảo lai và so sánh hiệu lực điều trị cầu trùng của hai thuốc hansulcox – WSP, coxymax, tại trại gia cầm khoa chăn nuôi   thú y trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.1. Lịch dùng vắc xin cho gà sinh sản (Trang 46)
Bảng 4.2. Kết quả công tác phục vụ sản xuất - Tình hình mắc bệnh cầu trùng trên gà đông tảo lai và so sánh hiệu lực điều trị cầu trùng của hai thuốc hansulcox – WSP, coxymax, tại trại gia cầm khoa chăn nuôi   thú y trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.2. Kết quả công tác phục vụ sản xuất (Trang 49)
Bảng 4.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng của gà qua kiểm tra mẫu phân - Tình hình mắc bệnh cầu trùng trên gà đông tảo lai và so sánh hiệu lực điều trị cầu trùng của hai thuốc hansulcox – WSP, coxymax, tại trại gia cầm khoa chăn nuôi   thú y trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng của gà qua kiểm tra mẫu phân (Trang 51)
Bảng 4.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở gà thí nghiệm theo lứa tuổi - Tình hình mắc bệnh cầu trùng trên gà đông tảo lai và so sánh hiệu lực điều trị cầu trùng của hai thuốc hansulcox – WSP, coxymax, tại trại gia cầm khoa chăn nuôi   thú y trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở gà thí nghiệm theo lứa tuổi (Trang 52)
Bảng 4.5. Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng trên gà thí nghiệm theo lứa tuổi - Tình hình mắc bệnh cầu trùng trên gà đông tảo lai và so sánh hiệu lực điều trị cầu trùng của hai thuốc hansulcox – WSP, coxymax, tại trại gia cầm khoa chăn nuôi   thú y trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.5. Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng trên gà thí nghiệm theo lứa tuổi (Trang 53)
Bảng 4.6. Triệu chứng của gà bị bệnh cầu trùng - Tình hình mắc bệnh cầu trùng trên gà đông tảo lai và so sánh hiệu lực điều trị cầu trùng của hai thuốc hansulcox – WSP, coxymax, tại trại gia cầm khoa chăn nuôi   thú y trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.6. Triệu chứng của gà bị bệnh cầu trùng (Trang 56)
Bảng 4.8. Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (%) - Tình hình mắc bệnh cầu trùng trên gà đông tảo lai và so sánh hiệu lực điều trị cầu trùng của hai thuốc hansulcox – WSP, coxymax, tại trại gia cầm khoa chăn nuôi   thú y trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.8. Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (%) (Trang 58)
Bảng 4.9. Khối lƣợng của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (gam)  Tuần tuổi - Tình hình mắc bệnh cầu trùng trên gà đông tảo lai và so sánh hiệu lực điều trị cầu trùng của hai thuốc hansulcox – WSP, coxymax, tại trại gia cầm khoa chăn nuôi   thú y trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.9. Khối lƣợng của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (gam) Tuần tuổi (Trang 59)
Bảng 4.10. Kết quả điều trị bệnh cầu trùng gà - Tình hình mắc bệnh cầu trùng trên gà đông tảo lai và so sánh hiệu lực điều trị cầu trùng của hai thuốc hansulcox – WSP, coxymax, tại trại gia cầm khoa chăn nuôi   thú y trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.10. Kết quả điều trị bệnh cầu trùng gà (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w