Ô nhiễm nước biển ven bờ trên thế giới Vấn đề ô nhiễm nước biển hiện nay đã và đang được quan tâm trên phạm vi toàn thế giới do ô nhiễm biển làm mất dần đi hệ sinh thái biển, tác động đ
Trang 1ĐÀM THỊ HẠNH
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ MÔ PHỎNG MỨC ĐỘ Ô NHIỄM NƯỚC BIỂN VEN BỜ THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ Ngành: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐÀM THỊ HẠNH
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ MÔ PHỎNG
MỨC ĐỘ Ô NHIỄM NƯỚC BIỂN VEN BỜ
THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
Mã số ngành: 60 44 03 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ Ngành: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Văn Hùng
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài: “Đánh giá hiện trạng và mô phỏng mức độ ô nhiễm nước biển ven bờ thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
Thái Nguyên, ngày… Tháng 10 năm 2016
Tác giả
Đàm Thị Hạnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ, động viên, chỉ bảo của các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp và người thân
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Hoàng Văn Hùng - giám đốc Phân hiệu Đại Học Thái Nguyên tại Lào Cai, người đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo trong phòng đào tạo, Khoa Môi Trường, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã luôn giúp đỡ tạo mọi điều kiện cho tôi trong thời gian qua
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và cán bộ Chi Cục Bảo vệ Môi trường Quảng Ninh, Chi Cục Biển và Hải Đảo, Trung Tâm Quan Trắc môi trường tỉnh Quảng Ninh và Ban Quản lý Vịnh Hạ Long, cùng tất cả các bạn bè đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này
Cuối cùng tôi xin cảm ơn sâu sắc tới gia đình đã động viên, tạo mọi điều kiện
về vật chất cũng như tinh thần trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài này
Một lần nữa tôi xin chân trọng cảm ơn và cảm tạ !
Thái Nguyên, ngày… tháng 10 năm 2016
Tác giả
Đàm Thị Hạnh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC……….iii
DANH MỤC BẢNG……… iv
DANH MỤC HÌNH……….……… v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT……….vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học 4
1.1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.2 Cơ sở pháp lý 5
1.2 Kiểm soát ô nhiễm biển ven bờ 6
1.2.1.Khái niệm Vùng biển ven bờ 6
1.2.2.Các yếu tố gây ô nhiễm nước biển ven bờ 7
1.1.3 Thực trạng ô nhiễm biển ven bờ trên thế giới và Việt Nam 7
1.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 11
1.3.1 Một số kết quả nghiên cứu ô nhiễm biển trên thế giới 11
1.3.2 Kết quả nghiên cứu ô nhiễm biển ở Việt Nam 13
1.3.3 Một số nghiên cứu về môi trường nước biển Vịnh Hạ Long 15
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 18
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 18
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 18
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 18
Trang 62.3 Nội dung nghiên cứu 18
2.4 Phương pháp nghiên cứu 19
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 19
2.4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 20
2.4.3 Phương pháp điều tra, phỏng vấn 20
2.4.4 Phương pháp mô phỏng mức độ ô nhiễm trên ArcGIS 20
2.4.5 Phương pháp kế thừa 21
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
3.1 Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Hạ Long 22
3.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 22
3.1.2 Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội 25
3.1.3 Biển, các đảo và hang động 29
3.1.4 Đa dạng sinh học 30
3.1.5 Các tiềm năng của Vịnh Hạ Long 32
3.2 Hiện trạng chất lượng nước biển ven bờ thành phố Hạ Long 33
3.2.1 Vị trí mạng lưới các điểm quan trắc 33
3.2.2 Kết quả quan trắc chất lượng nước biển ven bờ năm 2016 35
3.2.3 Diễn biến chất lượng nước biển ven bờ thành phố Hạ Long 45
3.2.4 Thực trạng công tác kiểm soát ô nhiễm trên địa bàn thành phố Hạ Long 46
3.3 Mô phỏng thực trạng chất lượng ô nhiễm từ các điểm quan trắc ven bờ thành phố Hạ Long 55
3.3.1 Các hoạt động tác động đến chất lượng nước biển ven bờ thành phố Hạ Long 55
3.3.2 Nhận thức về chất lượng nước trên địa bàn qua phiếu điều tra một số nhóm đối tượng 60
3.3.4 Mô phỏng mức độ ô nhiễm môi trường nước biển ven bờ thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 66
3.4 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát môi trường ven bờ thành phố Hạ Long 71
Trang 73.4.1 Ngăn ngừa và giảm thiểu ô nhiêm biển từ các hoạt động kinh tế - xã hội trên
đất liền và trên biển 71
3.4.2 Cải thiện chất lượng môi trường tại các điểm nóng ô nhiễm 71
3.4.3 Nâng cao năng lực cho các cán bộ quản lý môi trường 72
3.4.4 Nâng cao nhận thức và huy động sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan trong kiểm soát ô nhiễm biển 73
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74
1 Kết luận 74
2 Kiến nghị 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3 1.Tình hình văn hóa xã hội của Hạ Long 26 Bảng 3 2 Kết quả thực hiện các mục tiêu phát triển xã hội của Hạ long 28 Bảng 3 3 Kết quả thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế của Hạ long 29 Bảng 3 4 Mạng lưới các điểm quan trắc nước biển ven bờ thành phố Hạ Long 34 Bảng 3 5 Kết quả đo các thông số quan trắc nước tại các điểm ven bờ biển thành phố Hạ Long năm 2016 35 Bảng 3 6 Kết quả đo các thông số quan trắc nước tại các điểm ven bờ biển thành phố Hạ Long năm 2016 43 Bảng 3 7 Xu thế diễn biến chất lượng nước ven bờ qua các năm 46
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3 1: Bản đồ hành chính thành phố Hạ Long 22
Hình 3 2 Sơ đồ vị trí mạng lưới điểm quan trắc môi trường biển ven bờ Vịnh Hạ Long 35
Hình 3 3.Biểu đồ hàm lượng pH trong nước biển ven bờ 36
Hình 3 4 Biểu đồ thể hiện hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) 37
Hình 3 5 Hàm lượng dầu mỡ khoáng tại các điểm nghiên cứu 39
Hình 3 6 Kết quả đo nồng độ Amoni tại các điểm nghiên cứu 40
Hình 3 7 Kết quả đo nồng độ Sắt (Fe) tại các điểm nghiên cứu 41
Hình 3 8.Hàm lượngKẽm Zn tại các điểm nghiên cứu 42
Hình 3 9.Hàm lượng Mangan tại các điểm nghiên cứu 43
Hình 3 10 Hàm lượng Colifrom tại các điểm nghiên cứu 44
Hình 3 11.Hàm lượng DO tại các điểm nghiên cứu 45
Hình 3 12 Cảm quan về chất lượng nước trong 5 năm vừa qua 60
Hình 3 13.Quan sát hiện trạng chất lượng nước của các nhóm đối tượng 61
Hình 3 14.Dấu hiệu ô nhiễm nước quan sát được 62
Hình 3 15.Những nguồn ô nhiễm nước chính trên địa bàn 63
Hình 3 16 Ý kiến của các đối tượng về các nguồn ô nhiễm chính 64
Hình 3 17 Tác động của chất lượng nước tới du lịch 65
Hình 3 18.Trách nhiệm bảo vệ nguồn nước của các đối tượng 65
Hình 3 19 Sự tham gia bảo vệ môi trường nước của các đối tượng 66
Hình 3 20 Vị trí quan trắc vùng biển ven bờ thành phố Hạ Long 67
Hình 3 21 Số liệu quan trắc được đưa vào bản đồ như trên 67
Hình 3 22 Mô phỏng sự lan truyền dầu mỡ từ các điểm quan trắc 68
Hình 3 23 Mô phỏng sự lan truyền TSS từ các điểm quan trắc 69
Hình 3 24 Mô phỏng sự lan truyền Amoni từ các điểm quan trắc 69
Hình 3 25 Mô phỏng sự phân bố nồng độ các chất ô nhiễm từ các điểm quan trắc 70
Trang 10DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TCXD Tiêu chuẩn xây dựng
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
BTNMT Bộ tài nguyên môi trường
BVMT Bảo vệ môi trường
UNESCO
United Nations Educational Scientific and Cultural
Liên hiệp quốc)
UB D Ủy ban nhân dân
ADB Ngân hàng Phát triển châu Á
TSS Total Suspended Solids (Chất rắn lơ lửng tổng số)
DO
sinh vật nước BOD Biochemical Oxygen Demand (nhu cầu oxy sinh hoá)
COD Chemical Oxygen Demand (nhu cầu oxy hóa học)
XLNT Xử lý nước thải
IUCN Tổ chức bảo tồn thiên nhiên Thế giới
GHCP : Giới hạn cho phép
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kiểm soát ô nhiễm môi trường là một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong công tác quản lý môi trường quốc gia, cũng như quản lý môi trường ở mỗi địa phương, nhằm mục đích theo dõi kịp thời ô nhiễm môi trường, xác định đúng nguyên nhân gây ra ô nhiễm và cải thiện chất lượng để bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ các hệ sinh thái và đảm bảo phát triển bền vững
Quảng Ninh là tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, có tiềm năng lớn về phát triển du lịch biển, đảo Là một trong 4 ngư trường lớn nhất cả nước (UBND Tỉnh Quảng Ninh,2013)[33] Dọc chiều dài 250 km bờ biển Quảng Ninh có trên 40.000 ha bãi biển, 20.000ha eo vịnh và hàng chục nghìn ha vũng nông ven bờ
là môi trường thuận lợi để phát triển nuôi và chế biến hải sản xuất khẩu (Báo Quảng Ninh,2014)[27] Đặc biệt có tài nguyên du lịch đặc sắc vào loại nhất của cả nước,
có nhiều bãi biển đẹp, có cảnh quan nổi tiếng của vịnh Hạ Long, Bái Tử Long cùng các hải đảo đã được tổ chức UNESCO công nhận là “di sản văn hoá thế giới” cùng hàng trăm di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật tập trung dọc ven biển với mật độ cao vào loại nhất của cả nước…, tạo khả năng mở nhiều tuyến du lịch kết hợp rất hấp dẫn, trên đất liền và trên các đảo (Cổng thông tin điện tử Quảng Ninh)[26]
Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh là trung tâm hành chính – kinh tế - xã hội, là khu vực phát triển mạnh mẽ không chỉ về kinh tế - xã hội mà còn phát triển ngành du lịch, giao thông vận tải biển Các hoạt động này có những tác động không nhỏ tới vùng Vịnh Hạ Long Ảnh hưởng và đe dọa trực tiếp là môi trường nước Vịnh do những nguồn thải từ đất liền và các hoạt động trên Vịnh Vịnh Hạ Long là khu vực có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc điều hòa khí hậu và phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hạ Long Tuy nhiên chất lượng nước biển ven
bờ vùng Vịnh ngày càng có xu hướng ô nhiễm nghiêm trọng, gây ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch và đe dọa đến sự sinh tồn của các loài sinh vật biển Chính vì vậy, nghiên cứu chất lượng nguồn nước và đưa ra các giải pháp hiệu quả để giảm thiểu ô nhiễm và một vấn đề cấp thiết hiện nay
Trang 12Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự nhất trí của Ban giám hiệu Nhà trường và Phòng Đào tạo (Sau Đại học), Khoa Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Hoàng Văn Hùng, tôi đề cuất
nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng và mô phỏng mức độ ô nhiễm nước biển ven
bờ thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” Nhằm góp phần nâng cao chất lượng môi
trường cảnh quan thành phố Hạ Long nói chung và vùng Vịnh Hạ Long nói riêng
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Đánh giá hiện trạng và mô phỏng mức độ ô nhiễm nước khu vực ven biển làm cơ sở cho việc giám sát và quản lý ô nhiễm nước ven bờ vịnh Hạ Long
2.2 Mục tiêu nghiên cứu chi tiết
- Đánh gia hiện trạng chất lượng và xác định nguyên nhân gây ô nhiễm nước
biển khu vực ven bờ thành phố Hạ Long
- Mô phỏng mức độ ô nhiễm và chất lượng nước biển ven bờ khu vực thành phố
+ Củng cố kiến thức cơ sở cũng như kiến thức chuyên ngành, tạo điều kiện tốt hơn để phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường sau này
Trang 13+ Sự thành công của đề tài là cơ sở để nâng cao được phương pháp làm việc có khoa học, có cơ sở, giúp học viên biết tổng hợp bố trí thời gian hợp lý trong công việc
- Ý nghĩa trong thực tiễn:
- Đưa ra được các tác động của hoạt động gây ô nhiễm tới môi trường nước biển, để từ đó giúp cho đơn vị tổ chức quản lý có các biện pháp quản lý, ngăn ngừa, giảm thiểu các tác động xấu tới môi trường nước biển, cảnh quan và con người
Trang 14Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học
1.1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1.1 Khái niệm tài nguyên biển
Tài nguyên biển, hải đảo là các dạng tài nguyên sinh vật, tài nguyên phi sinh
vật, tài nguyên vị thế và các dạng tài nguyên khác tái tạo, không tái tạo trên các vùng ven biển, vùng biển và hải đảo Việt Nam (Nghị định số 25/2009/NĐ-CP)[16]
Quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường biển, hải đảo là quản lý liên ngành,
liên vùng, bảo đảm lợi ích quốc gia kết hợp hài hòa lợi ích của các ngành, lĩnh vực, địa phương và các tổ chức, cá nhân liên quan đến việc quản lý, khai thác, sử dụng tài
nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo (Nghị định số 25/2009/NĐ-CP)[16]
1.1.1.2 Ô nhiễm biển
Biển là nơi tiếp nhận phần lớn các chất thải từ lục địa theo các dòng chảy sông suối, các chất thải từ các hoạt động của con người trên biển như khai thác khoáng sản, giao thông vận tải biển (Lê Văn Khoa,2001)[12]
Ô nhiễm biển là hiện tượng làm biến đổi, xáo trộn các thành phần hoá học của nước biển gây ra do các hoạt động trên biển như vận tải (dầu lan vào nước biển khi các tàu chở dầu bị đắm hoặc các tàu hàng, tàu khách tẩy rửa các thùng nhiên liệu mới ), khai thác dầu lửa (sự rò rỉ dầu từ các dàn khoan, các ống dẫn dầu, các nhà máy lọc dầu ), hoặc do các nguồn ô nhiễm phát sinh từ đất liền (các chất thải phóng xạ độc hại do các nước công nghiệp dùng tàu đổ xuống biển ) ảnh hưởng tới đời sống của các loài sinh vật dưới biển và tác động xấu đến sự tăng trưởng, phát triển của chúng (Lê Văn Khoa, 2001)[12]
Biển và ven biển là nơi nhiều ngành kinh tế cùng khai thác Nhiều đô thị lại đ
ặt ở vùng này Du lịch và giải trí ở vùng ven biển kể cả thể thao
cũng để lại hậu quả xấu cho đa dạng sinh học biển (Lê Văn Khoa, 2001)[12]
Trang 151.1.2 Cơ sở pháp lý
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 được Quốc hội nước CHXHCNVN khóa XIII kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 23/06/2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015;
- Luật Tài nguyên nước đã được Quốc hội nước CHXHCNVN thông qua ngày 21/6/2012;
- Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo số 82/2015/QH13 ngày 25 tháng 6 năm 2015
- Luật Hàng hải Việt Nam số 40/2005/QH11
- Luật Thủy sản số 17/2003/QH11
- Nghị định số 162/2013/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trên các vùng biển, đảo và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Nghị định 21/2008/NĐ-CP sửa đổi bổ xung nghị định 80/2006/NĐ-CP về việc quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của luật BVMT;
- Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước;
- Nghị quyết của Quốc hội ngày 23/6/1994 về việc phê chuẩn Công ước về Luật Biển năm 1982 của Liên Hiệp Quốc
- Nghị định số 25/2009/NĐ-TTg ngày 26/3/2009 của Chính phủ về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo
- Quyết định số 568/QĐ-TTg ngày 28/4/2010 của Thủ tướng về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển kinh tế biển, đảo Việt Nam đến năm 2020
- TCVN 5943:1995 Chất lượng nước Tiêu chuẩn chất lượng nước biển ven bờ Số trang : 4
- TCVN 5998:1995 Chất lượng nước Lấy mẫu Hướng dẫn lấy mẫu nước biển Số trang : 11
- TCVN 6276:2003 Quy phạm các hệ thống ngăn ngừa ô nhiễm biển của tàu Số trang : 99
Trang 16- TCVN 6276:2003/SĐ 3:2007 Quy phạm các hệ thống ngăn ngừa ô nhiễm biển của tàu Số trang : 32
- TCVN 6986:2001 Chất lượng nước Tiêu chuẩn nước thải công nghiệp thải vào vùng nước biển ven bờ dùng cho mục đích bảo vệ thuỷ sinh Số trang : 4
- TCVN 6987:2001 Chất lượng nước Tiêu chuẩn nước thải công nghiệp thải vào vùng nước biển ven bờ dùng cho mục đích thể thao và giải trí dưới nước Số trang : 4
- QCVN 08:2015/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt
- QCVN 09-MT:2015/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước dưới đất
- QCVN 10-MT:2015/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển
- QCVN 11:2015/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải chế biến thủy sản
1.2 Kiểm soát ô nhiễm biển ven bờ
1.2.1.Khái niệm Vùng biển ven bờ
Bờ biển (hoặc ven bờ biển, duyên hải) được xác định là nơi đất liền và biển tiếp giáp nhau Ranh giới chính xác được gọi là đường bờ biển, tuy nhiên yếu tố này rất khó xác định do sự ảnh hưởng của thủy triều Thuật ngữ "đới bờ biển" cũng được sử dụng để thay cho bờ biển vì nó đề cập đến một khu vực xảy ra các quá trình tương tác giữa biển và đất liền (Phạm Minh Huấn,1992)[21]
Theo Điều 4, chương II, Nghị định của chính phủ số 123/2006/NÐ-CP ngày
27 tháng 10 năm 2006 về quản lý hoạt động khai thác thuỷ sản của tổ chức, cá nhân Việt Nam trên các vùng biển, thì Vùng biển ven bờ được tính từ bờ biển (ngấn nước khi thuỷ triều thấp nhất) đến đường nối liền các điểm cách bờ biển 24 hải lý (tương đương 44.448,0m) do Vịnh Hạ Long có nhiều đảo lớn nhỏ nên theo Quyết định ngày 6 - 8- 1998, UBND tỉnh Quảng Ninh số 2055/QĐ-UB về việc phân công trách nhiệm quản lý, thu gom, xử lý chất thải rắn trên Vịnh Hạ Long cho từng ban, ngành
Trang 17cụ thể, trong đó giao TP.Hạ Long đảm trách việc thu gom và xử lý rác thải trong phạm vi dải ven bờ cách mép nước 500 m trở vào Do đó, vùng biển ven bờ là vùng biển từ cách mép nước 500m trở vào(Các quy định pháp luật, 2005, 2010)[3]
1.2.2.Các yếu tố gây ô nhiễm nước biển ven bờ
Theo UNEP (2000), trong những năm của thập kỷ 1990, tổng lượng chất thải độc hại trên toàn thế giới vào đại dương khoảng 400 triệu tấn Trong đó, chủ yếu các chất thải có nguồn gốc từ các hoạt động công nghiệp trong đất liền như hóa chất, khai thác mỏ, chế biến, thuộc da, chiếm hơn 70% và hoạt động hàng hải trên biển Dựa vào nguồn gốc, có thể phân loại các chất thải như sau(Nguyễn Phương Hoa và cs, 2011)[18].:
- Các chất thải có nguồn gốc từ lục địa như chất thải công nghiệp và chất thải trong sinh hoạt tại các đô thị: 37%
- Các chất xuất phát từ các hoạt động hàng hải: 33%
- Các chất thải do sự cố tràn dầu: 12%
- Ô nhiễm có nguồn gốc từ không khí: 9%
- Ô nhiễm có nguồn gốc từ các nguồn tự nhiên khác: 7%
- Ô nhiễm do hoạt động khai thác dầu khí: 2%
1.1.3 Thực trạng ô nhiễm biển ven bờ trên thế giới và Việt Nam
1.1.3.1 Ô nhiễm nước biển ven bờ trên thế giới
Vấn đề ô nhiễm nước biển hiện nay đã và đang được quan tâm trên phạm vi toàn thế giới do ô nhiễm biển làm mất dần đi hệ sinh thái biển, tác động đến cuộc sống của con người thông qua việc làm giảm nguồn lợi thủy sản, và các nguồn tài nguyên khác từ biển, ảnh hưởng đến sức khỏe con người khi tham gia các hoạt động thể thao, nghiên cứu và các hoạt động khác dưới nước và đặc biệt gây nguy cơ về các thiên tai do biển mất đi những khu vực đệm chắn sóng ven bờ như san hô v.v.v Các vấn đề về ô nhiễm hữu cơ cũng đặc biệt được nhiều khu vực, quốc gia quan tâm trong đó phải kể đến các chất hữu cơ như Polycyclic aromatic hydrocarbons (PAHs), polychlorinated biphenyls (PCBs), các loại thuốc trừ sâu cơ clo, polybrominated diphenyl ethers, phthalates and alkylphenols Nghiên cứu tại khu vực ven biển Comunidad Valenciana của Tây Ban Nha cũng cho thấy các chất
Trang 18VOCs, thuốc trừ sâu cơ clo, phtalates và tributyltin (TBT) xuất hiện trong nước biển
và hàm lượng octylphenol, pentachlorobenzene, DEHP và TBT vượt quá hàm lượng trung bình hàng năm theo tiêu chuẩn chất lượng môi trường (EQS-AAC) và hầu hết các chất ô nhiễm xác định được cũng có mặt trong nước thải của các trạm xử lý [40] Vùng biển Baltic khu vực Bắc Âu cũng phát hiện thấy các chất ô nhiễm hữu
cơ độc hại bao gồm các chất hữu cơ bay hơi (VOC), các chất halogen hữu cơ bay hơi (VOX), chlorophenols, phenoxyacids, polychlorinated biphenyls (PCBs) and polycyclic aromatic hydrocarbons (PAHs) trong khoảng thời gian từ 1996 – 2001 Nồng độ của VOX trong khoảng từ một vài ng/dm3 đến 250 ng/dm3 Nồng độ trung bình của chlorophenols and phenoxyacids trong khoảng từ 0,1 và 6,0 và 0,05 and 2,2ug/dm3[40] Nồng độ kim loại (Cr, Cu, Fe, Mn, Pb và Zn) trong nước biển khu vực bến cảng Brest Harbour thuộc vùng Tây Bắc Nước Pháp đạt tới nồng độ xấp xỉ 7 mg/l đối với Mn, 60 mg/l đối với Zn giải phóng ra từ trầm tích do sự ô nhiễm axit trong khu vực[40]
Vùng ven biển Tỉnh Hà Bắc, phía tây biển Bột Hải, Trung Quốc cũng đã phát hiện các chất ô nhiễm từ các hoạt động trên đất liền Thông qua chỉ số ô nhiễm hữu
cơ, chỉ số phú dưỡng, nồng độ phosphate và nhu cầu oxy hóa để đánh giá các điều kiện chất lượng nước Kết quả cho thấy rằng ô nhiễm là trong mùa khô nặng hơn nhiều so với mùa lũ năm 2006 Dựa trên COD và nồng độ phosphate, kết quả cho thấy vùng biển gần sông Shahe, sông Douhe, sông Yanghe, và Luanhe sông đã bị ô
nhiễm nặng nề[40]
1.1.3.2 Ô nhiễm biển ven bờ ở Việt Nam
Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, báo cáo khoa học và các bài báo về vấn đề ô nhiễm biển từ các hoạt động trong bờ đặc biệt là ô nhiễm các chất hữu cơ Dấu hiệu bị ô nhiễm thể hiện ở các vùng nước ven bờ bởi các tác nhân như dầu, kẽm, và chất thải sinh hoạt Các chất rắn lơ lửng, NH4 và PO4 cũng ở mức đáng lo ngại Hàm lượng hoá chất bảo vệ thực vật chủng anđrin và enđrin trong các mẫu sinh vật đáy ở các vùng cửa sông ven biển phía bắc đều cao hơn giới hạn cho phép Đa dạng sinh học động vật đáy ở ven biển miền bắc và thực vật nổi ở miền
Trang 19trung suy giảm rõ rệt Lượng hoá chất bảo vệ thực vật tồn lưu trong cơ thể các loài thân mềm hai mảnh vỏ được xác định cao nhất là tại Sầm Sơn và cửa Ba Lạt (11,14- 11.83 mg/kg thịt ngao), thấp nhất là tại Trà Cổ (1,54 mg/kg) Các chất anđrin, enđrin, đienđrin, đặc biệt là anđrin và enđrin có hầu hết ở các mẫu phân tích, biến đổi từ 0,12 đến 3,11 mg/kg (Trần Đức Thạnh và Đtg, 2011)[30]
Nước biển của một số khu vực có biểu hiện bị axit hoá do độ pH trong nước biển tầng mặt biến đổi trong khoảng 6,3-8,2 Nước biển ven bờ có biểu hiện bị ô nhiễm bởi chất hữu cơ, kẽm, một số chủng thuốc bảo vệ thực vật Hiện tượng thuỷ triều đỏ xuất hiện tại vùng biển nam trung bộ, đặc biệt tại Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận làm chết các loại tôm cá đang nuôi trồng tại vùng này Chất lượng môi trường biển thay đổi dẫn đến nơi cư trú tự nhiên của loài bị phá huỷ gây tổn thất lớn
về đa dạng vùng bờ Có khoảng 85 loài hải sản có mức độ nguy cấp khác nhau và trên 70 loài đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam Hiệu suất khai thác hải sản giảm rõ rệt, thêm vào đó, tình trạng dùng các ngư cụ đánh bắt có tính chất huỷ diệt diễn ra khá phổ biến như xung điện, chất nổ, đèn cao áp quá công suất cho phép… làm cạn kiệt các nguồn lợi hải sản ven bờ Nguồn lợi hải sản có xu hướng giảm dần về trữ lượng, sản lượng và kích thước cá đánh bắt[40]
Ở một số vùng biển khác như khu vực nước biển ven bờ vịnh Đà Nẵng có dấu hiệu bị ô nhiễm KLN, COD và TSS nguyên nhân chủ yếu là do nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt, hoạt động nuôi tôm, và các hoạt động của tàu thuyền trên biển Đa số nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp thải trực tiếp ra vịnh
Đà Nẵng mà chưa qua xử lý Chất lượng nước biển ven bờ xuống cấp gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động du lịch và đe dọa đến sự sinh tồn, phát triển của hệ sinh thái rạn san hô Đà Nẵng[40]
Theo Báo cáo Môi trường Quốc gia năm 2010, các vùng biển ven bờ của Việt Nam chịu nhiều áp lực từ các hoạt động như phát triển du lịch ven biển, phát triển công nghiệp ven biển, khai thác nuôi trồng thuỷ sản, các hoạt động hàng hải và một phần không nhỏ do từ việc gia tăng dân số Dưới tác động của các áp lực này, vùng biển ven bờ của Việt Nam có hàm lượng một số chất ô nhiễm đáng quan tâm như TSS, COD, NH4+ , dầu mỡ, CN- Hàm lượng TSS trong nước biển ven bờ cao
Trang 20ở vùng đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long, thấp ở khu vực miền Trung và có
xu thế giảm ở miền Bắc, tăng cao ở miền Nam trong giai đoạn 2005- 2009 Nhu cầu oxy hoá học có xu hướng tăng dần vào các khu vực ven biển phía nam và hàm lượng dầu mỡ đang là vấn đề cần đặc biệt quan tâm do giá trị đo được tại hầu hết các điểm đo đều vượt tiêu chuẩn so sánh với QCVN 10:2008/BTNMT – Quy chuẩn
kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển ven bờ (0,2mg/l) cho mọi mục đích sử dụng và cao nhất ở các vùng biển miền Trung Hàm lượng các kim loại nặng như
Cu, Pb, Zn, Cd, Hg, As nằm trong giới hạn cho phép (Vũ Thùy Linh, 2010) [39]
Cùng với các vùng biển được đặc biệt quan tâm, vùng biển ven bờ khu vực vịnh Hạ Long đã và đang được các tổ chức thuộc chính phủ và phi chính phủ tập trung nhiều nguồn lực để nghiên cứu nhằm bảo vệ môi trường vịnh Hạ Long, bảo vệ các giá trị di sản thiên nhiên được thế giới công nhận Từ năm 1998, dự án Nghiên cứu môi trường vịnh Hạ Long đã được cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản thực hiện với những kết quả sơ bộ cho thấy tiềm năng ô nhiễm vịnh Hạ Long theo sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Ninh [38] Kết quả nghiên cứu từ những năm
2000 và 2006 trong các đề tài luận văn thạc sĩ của các tác giả Phạm Văn Lượng và Đoàn Thị Thu Trà cũng cho thấy các ảnh hưởng của hoạt động của con người từ bờ đến chất lượng môi trường ven biển vịnh Hạ Long thể hiện qua sự biến đổi của hàm lượng các kim loại nặng và các chất hữu cơ Kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy
có dấu hiệu ô nhiễm nước biển ven bờ khu vực vùng đệm của vịnh Hạ Long thể hiện thông qua các thông số như nhu cầu oxy hóa học (COD) và nồng độ nitơ amoni vượt quá giá trị tiêu chuẩn ven bờ ở gần như tất cả các điểm lấy mẫu do ảnh hưởng bởi nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp Bên cạnh đó, nước ven bờ dọc theo thành phố Hạ Long có nồng độ dầu và mỡ tương đối cao do các hoạt động của tàu thuyền ảnh hưởng đến chất lượng nước trong vùng đệm Vịnh Hạ Long Tại cửa sông của suối Lộ Phong, quan sát thấy nồng độ COD và kim loại nặng tương đối cao Có thể nói rằng hoạt động khai thác than tại khu vực thượng nguồn suối Lộ Phong đã ảnh hưởng tới chất lượng nước [27] Kết quả quan trắc hiện trạng môi trường nước biển ven bờ theo mạng điểm quan trắc của tỉnh Quảng Ninh năm 2011,
2012 và 2013 cũng cho thấy dấu hiệu của ô nhiễm chất hữu cơ khu vực ven biển
Trang 21vịnh Hạ Long do các hoạt động của khu công nghiệp và đô thị hóa thể hiện trong thông số nhu cầu oxy sinh hóa cao với khoảng dao động từ 5 đến 32 mg/l tập trung
ở các khu vực cảng tàu du lịch Bãi Cháy, Bãi tắm Bãi Cháy, nước biển ven bờ khu vực sau chợ Hạ Long 1, Sông Diễn Vọng – khu vực Cầu Bang, nước biển ven bờ khu vực Cột 5 – cột 8 và khu vực cảng Nam Cầu Trắng Hàm lượng dầu đo được trong các khu vực này cũng 8 đặc biệt cao và vượt quá ngưỡng cho phép của quy chuẩn Việt Nam về chất lượng nước biển ven bờ áp dụng cho những khu vực khác khu vực bãi tắm và nuôi trồng thủy sản từ 1,5 đến 2,5 lần với giá trị đo được trong khoảng từ 0,3 đến 0,5 mg/l, đặc biệt cao tại khu vực bến chợ Hạ Long 1 và cảng tàu
du lịch Bãi Cháy (Nguồn: Báo cáo kết quả quan trắc môi trường tỉnh Quảng Ninh
năm 2011, 2012, 2013, 2014)[27]
1.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Một số kết quả nghiên cứu ô nhiễm biển trên thế giới
Trước những mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế- xã hội và bảo vệ môi trường không ngừng tăng lên, năm 1986, GESAMP (Group of Experts on the Scientific Aspects of Marine Pollution) - nhóm các chuyên gia khoa học về ô nhiễm biển được các tổ chức IMO, FAO, UNESCO, WMO, WHO, IAEA, UN, UNEP tài trợ đã xuất bản tài liệu "Sức tải môi trường - Một cách tiếp cận để ngăn ngừa ô nhiễm biển, trong đó đã đưa ra khá đầy đủ các khái niệm, thuật ngữ, định nghĩa và các hướng dẫn liên quan đến đánh giá sức tải của thuỷ vực (Nguyễn Đình Hoè, 1998)[17]
Cho đến nay, việc đánh giá ô nhiễm biển và sức tải môi trường ở các thuỷ vực ven bờ biển (vũng, vịnh, đầm phá, cửa sông) đã được tiến hành chủ yếu ở các nước phát triển trong nhiều lĩnh vực liên quan khác nhau nhằm xác định giới hạn của các hoạt động phát triển, chủ yếu phục vụ cho mục tiêu bảo vệ môi trường biển
và phát triển bền vững Ví dụ, đã có công trình nghiên cứu đánh giá như nuôi cá trong các đầm ven biển tại Scotlen, vùng Haifa của Israel, Vịnh Chesapeake và cửa sông York của Mỹ(Dellapena và nnk, 1998)[43], Tây Nam Vịnh Mêhicô (Manickchand-Heileman và nnk, 1998)[43], nuôi trồng thuỷ sản mũi nhọn ở Vịnh Mulroy ởAnh (Trevor Telfor & Karen Robinson, 2003) Một số nghiên cứu tập trung vào khả năng đồng hoá-tự làm sạch các chất gây ô nhiễm của thuỷ vực, khả
Trang 22năng lọc và xử lý chất thải của các đối tượng sinh học như rừng ngập mặn, cỏ biển
và các loài nhuyễn thể tại các khu vực biển ven bờ Các kết quả nghiên cứu này có thể được sử dụng như là một trong những cơ sở cho việc tính toán cũng như xây dựng các giải pháp cải thiện năng lực tải của môi trường
Michael Dennis, K Wayne Forsythe, Cameron Hare, and Adrian Gawedzki ( 2012), đã nghiên cứu về sử dụng Kriging trên arcgis 10.1 để nghiên cứu giá trị ô nhiễm trầm tích trên hồ Kết quả đã xây sựng một quy trình sử dụng công cụ trên arcmap để xây dựng bản đồ ô nhiễm nước (Michael Dennis, K Wayne Forsythe, Cameron Hare, and Adrian Gawedzki, 2012)[43]
Michael A Mallin, Kathleen E Williams, E Cartier Esham, and R Patrick Lowe (2000) Đã nghiên cứu về sự phát triển cảu con người có ảnh hưởng như thế nào tới sự ô nhiễm nước ven biển (Michael A Mallin, Kathleen E Williams, E Cartier Esham, and R Patrick Lowe ,2000)[44]
Các vấn đề ô nhiễm hữu cơ cũng đặc biệt được nhiều khu vực, quốc gia quan tâm trong đó phải kể đến các chất hữu cơ như PolyBcyclic aromatic hydrocarbons (PAHs), polychlorinated biphenyls (PCBs), các loại thuốc trư sâu có clo, polybrominated diphenyl ethers, phthalates and alkylphenols Nghiên cứu tại khu vực ven biển Comudad Valenciana của Tây Ban Nha cũng cho thấy các chất VÓC, thuốc trừ sâu cơ clo, phtalates và tributyltin (TBT) xuất hiện trong nước biển và hàm lượng octylphenol, pentachlorobenzenne, DEHP và TBT vượt quá hàm lượng trung bình hàng năm theo tiêu chất chất lượng môi trường (EQS-AAC) và hầy hết các chất ô nhiễm xác định được cũng có mặt trong nước thải của các trạm xử lý Vùng biển Balatic khu vực Bắc Âu cũng phát hiện thấy các chất ô nhiễm hữu cơ bay hơi (VOC), các chất halogen hữu cơ bay hơi (VOX), chlorophenols, phenoxyacids, polychlorinated biphenyls (PCBs) and polycyclic aromatic hydrocarbons (PAHs) trong khoảng thời gian từ năm 1996 – 2001 Nồng độ VÕ trong khoảng từ một vài ng/dm3 đến 250 ng/dm3 Nồng độ trung bình 2,2ug/dm3
Nồng độ kim loại (Cr, Cu, Fe, Mn, Pb và Zn) trong nước biển khu vực bến cảng Brest Harbour thuộc vùng Tây Bắc Nước Phát đạt tới nồng độ xấp xỉ 7 mg/l
Trang 23đối với Mn, 60 mg/l đối với Zn giải phỏng ra từ trầm tích do sự ô nhiễm axit trong khu vực
Vùng ben biển Tỉnh Hà Bắc, phía tây biển Bột hải, Trung Quốc cũng đã phát hiện các chất ô nhiễm từ các hoạt động trên đất liền Thông qua chỉ số ô nhiễm hữu
cơ, chỉ số phú dưỡng, nồng độ phosphate và nhu cầu oxy hóa để đánh giá các điều kiện chất lượng nước Kết quả cho thấy rằng ô nhiễm là trong mua khô nặng hơn nhiêu so với mùa lũ năm 2006 Dựa trên COD và nồng độ phosphate, kết quả cho thấy vùng biển gần sông Shahe, sông Douhe, sông Yanghe, và Luanhe sông đã bị ô nhiễm nặng nề
1.3.2 Kết quả nghiên cứu ô nhiễm biển ở Việt Nam
Đối với môi trường biển và các thuỷ vực ven bờ biển Việt Nam, vấn đề ô nhiễm biển và khả năng tự làm sạch, sức tải môi trường đã được quan tâm từ lâu, cách tiếp cận đúng hướng nhưng do hạn chế về kỹ thuật và công cụ đánh giá, nên chưa có được những tài liệu tổng hợp, hệ thống và định lượng Đỗ Trọng Bình (1997) đã nghiên cứu vai trò của thực vật nổi đối với khả năng làm sạch môi trường Vịnh Hạ Long Kết quả cho thấy, vào mùa khô, năng suất sinh học sơ cấp thô trung bình đạt 66,6mgC/m3/ngày, năng suất sinh học sơ cấp tính trung bình đạt 37,8mgC/m3/ngày Khả năng tái phục hồi dinh dưỡng và phân giải chất hữu
cơ cao nên đã duy trì ở mức tương đối ổn định các chất hữu cơ và chất vẩn lơ lửng trong vực nước, góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường (Lưu Đức Hải, Nguyễn Ngọc Sinh, 2000) [14]
Nghiên cứu của Nguyễn Đức Cự (1998), cho thấy việc san lấp mặt bằng ven
bờ hay sử dụng vùng triều nuôi trồng thuỷ sản và khai hoang nông nghiệp đã làm giảm khả năng tự làm sạch của Vịnh Hạ Long Tính đến 1998, đất ngập triều Vịnh
Hạ Long - Cửa Lục bị mất 1089 ha do san lấp mặt bằng, 16 ha do khai hoang nông nghiệp, 2564 ha do đắp đầm nuôi thuỷ sản Theo tính toán, khai hoang nông nghiệp
và san lấp mặt bằng làm mất năng lực giảm P-T 0,117kg/ha/ngày, N-T 0,234kg/ha/ngày và TSS 409,5kg/ha/ngày Các khu khoanh đắp đầm nuôi thuỷ sản
Trang 24làm mất khả năng giảm P-T 0,09kg/ha/ngày, N-T 0,180kg/ha/ngày và TSS 315kg/ha/ngày (Trần Đông Phong, Nguyễn Quỳnh Hương (2000) [28]
Từ những năm 90 của thế kỷ trước, Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng, nay là Viện Tài nguyên và Môi trường biển đã tiến hành nhiều đợt khảo sát và đánh giá môi trường khu vực Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long, trọng tâm là thực trạng ô nhiễm và nguồn thải (Trần Đông Phong, Nguyễn Quỳnh Hương (2000) [28]
Trong những năm gần đây, cán bộ khoa học của Viện Tài nguyên và Môi trường biển đã tích cực ứng dụng mô hình toán để đánh giá, dự báo chế độ thuỷ động lực và chất lượng môi trường nước các thuỷ vực ven bờ Trong đó, có một số nghiên cứu tập trung vào khu vực Vịnh Hạ Long - Bái Tử Long
Tại khu vực Hạ Long - Bái Tử Long, mô hình lan truyền chất gây ô nhiễm cho một loạt các yếu tố ô nhiễm hữu cơ, các chất dinh dưỡng và một số kim loại nặng cơ bản đã thực hiện cho cả hệ thống vịnh, từ đó đã tiếp tục nghiên cứu đánh giá sức tải môi trường để đề xuất các giải pháp quản lý, bảo vệ môi trường khu vực này (Trần Đông Phong và CS, 2000) [28]
Dấu hiệu ô nhiễm thể hiện ở các vùng nước ven bờ bởi các tác nhân như dầu, kẽm, và các chất thải sinh hoạt Các chất rắn lơ lửng, NH4 và PO4 cũng ở mức đáng
lo ngại Hàm lượng hóa chất bảo vệ thực vật chủng anđrin và enđrin trong các mẫu sinh vật đáy ở các vụng xử sông ven biển phía bắc đều cao hơn giới hạn cho phép
Đa dạng sinh học động vật đáy ven biển miền Bắc và thực vật nổi ở miền trung suy giảm rõ rệt Lượng hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu trong cơ thể các loài thân mềm hai mảnh vỏ được xác định cao nhất là tại Sầm Sơn và của Bà Lạt (11,83 mg/kg), thấp nhất là tại Trà Cổ (1,54 mg/kg) Các chất andrin, endrin, diendrin, đặc biệt là anđrin và enđrin có hầu hết ở các mẫu phân tích, biến đổi từ 0,12 đến 3,11 mg/kg (Đoàn Văn Tiến, 2014) [7]
Nước biển của một số khu vực có biểu hiện bị axit hóa do độ PH trong nước biển tầng mặt biến đổi trong khoảng 6,3- 8,2 Nước biển ven bờ có biểu hiện bị ô nhiễm bởi chất hữu cơ, kẽm, một số chủng thuốc bảo vệ thực vật Hiện tượng thủy triều đổ xuất hiện tại vùng biển nam trung bộ, đặc biệt tại Khánh Hòa, Ninh Thuận,
Trang 25Bình Thuận làm chết các loài tôm các đang nuôi trồng tại vùng này (Đặng Xuân Thường và CS, 2015) [6]
Ở một số vùng biển khác như khu vực nước biển ven bờ vịnh Đà Nẵng có dấu hiệu ô nhiễm KLN, COD và TSS nguyên nhân chủ yếu do nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt, hoạt động nuôi tôm, các hoạt động của tàu thuyền trên biển Đa số nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp thải trực tiếp ra vịnh Đà Nẵng mà chưa qua xử lý Chất lượng nước biển ven bờ xuống cấp gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động du lịch và đe dọa đến sự sinh tồn và phát triểu của hệ sinh thái rạn san hô Đà Nẵng (Nguyễn Phương Hoa và CS, 2011) [18]
Theo Báo cáo Môi trường Quốc gia năm 2010, các vùng biển ven bờ của Việt Nam chịu nhiều áp lực từ các hoạt động như phát triển du lịch ven biển, phát triển công nghiệp ven biển, khai thác nuôi trồng thủy sản, các hoạt động hàng hải và một phần không nhỏ do từ việc gia tăng dần số Dưới tác động của các áp lực nà, vùng biển ven bờ của Việt Nam có hàm lượng một số chất ô nhiễm đáng quan tâm như TSS, COD, NH4+, dầu mỡ, CN- Hàm lượng TSS trong nước biển ven bờ ở vùng đồng bằng Sông Hồng và Sông Cửu Long, thấp ở khu vự miền Trung và có xu thể giảm ở miền Bắc, tăng cao ở miền Nam trong giai đoạn 2005-2009 Nhu cầu oxy hóa học có xu hướng tăng dần vào các khu vực ven biển phái nam và hàm lượng dầu mỡ đang là vấn đề cần đặc biệt quan tâm do giá trị đo đều vượt quá tiêu chuẩn so sánh với QCVN 10:2008/BTNMT
Những kết quả nghiên cứu này, ngoài tạo dựng được bộ tư liệu khoa học phục vụ nhu cầu quản lý môi trường các khu vực nghiên cứu, còn từng bước góp phần hệ thống hoá và hoàn thiện các phương pháp nghiên cứu và đánh giá sức tải môi trường của thuỷ vực ven biển trong điều kiện thực tế của nước ta
1.3.3 Một số nghiên cứu về môi trường nước biển Vịnh Hạ Long
Trong những năm gần đây, kinh tế của tỉnh Quảng Ninh đã phát triển nhanh chóng Thành tựu này có sự đóng góp rất lớn từ các hoạt động kinh tế tại khu vực vịnh Hạ Long với sự tập trung của các ngành kinh tế mũi nhọn như khai thác và chế biến than, công nghiệp, cảng và giao thông thuỷ, du lịch - dịch vụ, nuôi trồng khai thác, chế biến thuỷ sản Tuy nhiên, phát triển kinh tế làm gia tăng mâu thuẫn với
Trang 26bảo tồn tự nhiên, bảo vệ tài nguyên - môi trường và cảnh quan thiên nhiên của khu vực Sự suy giảm chất lượng môi trường nước, tăng quá trình bồi lắng gây nông hoá đáy vịnh, suy giảm tài nguyên sinh vật, biến dạng cảnh quan đang là những vấn đề môi trường nổi cộm ở khu vực này Chỉ riêng hoạt động khai thác than đá cũng đã gây ra các tác động đáng lo ngại như gây bụi cho không khí, gây đục nước, bồi lắng đáy vịnh, ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm kim loại nặng [8]
Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường biển, Nhà nước
và tỉnh Quảng Ninh đã quan tâm và tạo điều kiện cho phép thực hiện một số đềtài
và dự án, kể cả một số nhiệm vụ có tài trợ Quốc tế nhằm nghiên cứu, đánh giá nhằm
đề xuất các phương án, giải pháp bảo vệ môi trường biển khu vực vịnh Hạ Long Đáng chú ý, dự án Nghiên cứu quản lý môi trường vịnh Hạ Long của JICA (1997 - 1998) đã đưa ra quy hoạch quản lý môi trường vịnh phù hợp với mục tiêu bảo tồn thiên nhiên và các hoạt động con người trên cơ sở các nghiên cứu đánh giá tài nguyên và môi trường, kinh tế - xã hội theo hướng quy hoạch tổng hợp khu vực giai đoạn 2000, 2005 và 2010 Tuy nhiên, hoạt động kinh tế khu vực phát triển rất nhanh
và sôi động với nhiều lĩnh vực đã vượt xa ngoài mức độ dự báo của các chuyên gia JICA từnăm 1998 [30]
Năm 2004, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh tiến hành đánh giá tải lượng bồi lắng và ô nhiễm môi trường nước trên lưu vực vinh Cửa Lục (cửa biển
đổ ra vịnh Hạ Long) Báo cáo đã chỉ ra một số yếu tố gây ảnh hưởng đến môi trường nước ven biển vịnh Hạ Long đó là hoạt động của cảng biển, hoạt động tàu thuyền trên biển và chất thải từ khu dân cư (Đoàn Văn Tiến (2014)[7]
Liên quan đến đánh giá chất lượng môi trường nước vịnh Cửa Lục, năm
2008 tác giả Vũ Thùy Linh đã thực hiện đề tài: “Đánh giá chất lượng nước khu vực Cửa Lục - vịnh Hạ Long” Báo cáo đề tài chỉ ra rằng môi trường nước ven biển tại khu vực này đã bị ô nhiễm chất hữu cơ và dầu mỡ Hàm lượng NH4 + vượt QCVN 10:2008 3,1 lần, hàm lượng dẫu mỡ vượt quy chuẩn cho phép từ 10,3 lần đến 18,7 lần [15] Năm 2007, được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, trường đại học Khoa học tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện dự án “Quy hoạch bảo vệ môi trường vùng Hạ Long - Cẩm Phả - Yên Hưng đến năm 2010 định hướng đến năm 2020” Trong báo cáo dự án cũng nêu ra nguồn gây ô nhiễm môi trường nước ven biển vịnh Hạ Long là do nước thải sinh hoạt, nước thải từ hoạt động du
Trang 27lịch dịch vụ Ngoài ra hoạt động khai thác khoáng sản, hoạt động lấn biển xây dựng
đô thị cũng gây ra một áp lực không nhỏ tới chất lượng môi trường nước ven biển Biện pháp được đề xuất theo dự án quy hoạch và bảo vệ môi trường vùng Hạ Long chủ yếu là việc quy hoạch xây dựng nhà máy xử lý nước thải từ khu dân cư, du lịch
và dịch vụ Đặc biệt đối với những khu mỏ khai thác than cần ngăn chặn sự phát tán các chất gây ô nhiễm môi trường ra xung quanh, nghiên cứu xây dựng công trình xử
lý nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường [37]
Năm 2011 Nguyễn Phương Hoa và Trần Đình Lân tiến hành đánh giá tải lượng các chất ô nhiễm từ ven biển đưa vào vịnh Hạ Long - Bái Tử Long Báo cáo kết luận việc quản lý, kiểm soát các nguồn ô nhiễm chưa hiệu quả Hầu hết các nguồn ô nhiễm chưa được xử lý trước khi thải ra môi trường Các chất ô nhiễm vào vịnh Hạ Long qua hai đường chính là rửa trôi các nguồn ô nhiễm trên đất liền qua
hệ thống sông suối, lạch triều và đổ trực tiếp các chất ô nhiễm vào Vịnh từ các hoạt động của dân cư, khách du lịch, nuôi thủy sản ở khu vực sát đường bờ hoăc trên mặt nước Vịnh, đổ bùn thải vào Vịnh Mỗi năm vịnh Hạ Long và Bái Tử Long tiếp nhận khoảng 43 nghìn tấn COD, 9 nghìn tấn BOD, 5,6 nghìn tấn nitơ tổng số; gần 2 nghìn tấn phốt pho tổng số, khoảng 135 tấn kim loại nặng và khoảng 777,5 nghìn tấn chất rắn lửng lơ Các chất hữu cơ và dinh dưỡng được đưa vào vùng Vịnh nhiều nhất từ khu vực thành phố Hạ Long (khoảng 30 – 60%) Theo dự báo đến năm
2020, mỗi năm vùng vịnh tiếp nhận khoảng 37,7 nghìn tấn COD; 5,2 nghìn tấn BOD; 5,2 nghìn tấn nitơ tổng số; 2,7 nghìn tấn phố pho tổng số; khoảng 106 tấn kim loại nặng và khoảng 736,5 nghìn tấn TSS Các chất đưa vào vịnh chủ yếu từ khu vực Hạ Long và Cẩm Phả (Nguyễn Phương Hoa và Đtg, 2011)[18]
Mới đây, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam - Cục điều tra và kiểm soát Tài nguyên Môi trường biển cũng đã xây dựng “Kế hoạch kiểm soát ô nhiễm môi trường biển tỉnh Quảng Ninh” theo dự án “Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển do các hoạt động kinh tế - xã hội vùng biển Quảng Ninh – Hải Phòng, Đà Nẵng – Quảng Nam và Bà Rịa Vũng Tàu – Thành phố Hồ Chí Minh” Báo cáo chỉ ra các vấn đề môi trường biển của tỉnh Quảng Ninh trong đó có vịnh Hạ Long và đề xuất
kế hoạch kiểm soát ô nhiễm môi trường biển đến năm 2020 [4]
Trang 28Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Hiện trạng chất lượng nước khu vực ven bờ thành phố Hạ Long: hiện trạng
và nhận thức của người dân địa phương về chất lượng nước
- Công tác quản lý chất lượng nước của các bên liên quan: các bên liên quan chính với vấn đề quản lý chất lượng nước và các doanh nghiệp du lịch
- Tác động môi trường của ngành du lịch: tác động của các thuyền du lịch tới chất lượng nước
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Vùng Bờ: Thành phố Hạ Long: 20 phường kéo dài từ Đông sang Tây
- Vùng ven biển: Nước biển ven bờ vịnh Hạ Long 3 hải lý cách bờ (5,5 km)
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Phạm vi khu vực biển ven bờ thành phố Hạ Long
- Thời gian tiến hành nghiên cứu: 15/9/2015 tới 5/3/2016
2.3 Nội dung nghiên cứu
Nôi dung 1: Tổng quan về khu vực nghiên cứu
+ Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (vị trí địa lý, đặc điểm địa hình, khí hậu thủy văn, dân số, tài nguyên thiên nhiên…
và điều kiện kinh tế xã hội)
+ Biển và hải đảo, hang động trên vịnh Hạ Long
+ Đặc điểm địa chất, địa mạo
+ Đa dạng sinh học
+ Các tiềm năng của vịnh Hạ Long
Nội dung 2: Hiện trạng chất lượng nước biển ven bờ thành phố Hạ Long
+ Kết quả quan trắc hiện trạng nước mặt ven bờ thể hiện qua các thông số như: PH, Coliform, TSS, Amoni, dầu mỡ khoáng…và các kim loại nặng trong nước như: Zn, Mn, Fe
+ Diễn biến chất lượng nước biển ven bờ thành phố Hạ Long
Trang 29+ Hiện trạng công tác kiểm soát ô nhiễm trên địa bàn thành phố Hạ Long
Nội dung 3: Mô phỏng thực trạng chất lượng nước từ các điểm quan trắc
+ Các hoạt động tác động đến chất lượng nước biển ven bờ thành phố Hạ Long + Cảm quan chất lượng nước trên địa bàn nghiên cứu qua bộ phiếu điều tra + Mô phỏng mức độ ô nhiễm từ các điểm quan trắc
Nội dung 4: Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát và quản lý môi trườngnước biển ven bờ thành phố Hạ Long
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
Các tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hôi ( Dân số, việc làm,
cơ sở hạ tầng…) của TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Tổng hợp, thu thập các tài liệu liên quan đến hiện trạng ô nhiễm từ báo cáo hiện trạng môi trường hàng năm của tỉnh Quảng Ninh, các số liệu được tổng hợp, đánh giá theo nhóm trên cơ sở mức độ độc hại ảnh hưởng đến môi trường:
+ Nhóm các thông số hiện trường: PH, nhiệt độ, là thông số đánh giá sơ bộ ban đầu về chất lượng nước
+ Nhóm các thông số trực quan: TSS, độ đục, độ trong…là các thông số có thể quan sát bằng mắt thường
+ Nhóm thông số dinh dưỡng là các thông số gây hiện tượng phú dưỡng đến môi trường như: Amoni (NH4
+) + Nhóm thông số kim loại nặng: Fe, Cu, Mn, Zn
+ Nhóm thông số dầu mỡ: váng dầu, dầu mỡ khoáng, dầu mỡ động thực vật Tài liệu về báo cáo hiện trạng môi trường địa phương và kết quả quan trắc môi trường hàng năm tại địa bàn nghiên cứu
Tài liệu về công tác quản lý chất lượng môi trường tại địa bàn nghiên cứu
Tài liệu về các văn bản pháp quy về môi trường nước biển, du lịch biển, về bảo vệ môi trường, về quản lý tài nguyên nước, các tiêu chuẩn Việt Nam… và các tài liệu có liên quan
Trang 302.4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Nghiên cứu khảo sát thực địa nhằm thu thập các số liệu, điều tra nguồn thải
và xác định các thành phần của chúng
Đây là phương pháp rất quan trọng để tiến hành kiểm tra, đánh giá hiện trạng
và các tác động của nó tới môi trường Kết quả của đề tài phụ thuộc vào kết quả khảo sát thực địa nhằm thu thập, cập nhật các dữ liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, điều tra hiện trạng và diễn biến phát sinh, các hoạt động làm ảnh hưởng đến môi trường nước biển ven bờ như: xả thải, các họa động dịch vụ du lịch, hoạt động khai thác than và các hoạt động khác của con người Giúp thu thập,
bổ sung số liệu về tự nhiên, kinh tế, xã hội, làm cơ sở chỉnh sửa hoàn thiện công trình nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu có phối hợp với Trung tâm Quan trắc của Sở Tài Nguyên và Môi trường, Ban Quản lý Vịnh Hạ Long, Chi Cục Biển và Hải Đảo và Phòng TNMT thành phố Hạ Long tổ chức nghiên cứu, khảo sát
2.4.3 Phương pháp điều tra, phỏng vấn
Lập phiếu điều tra phỏng vấn gồm các nội dung:
Tiến hành phỏng vấn:
+ Phạm vi phỏng vấn: địa bàn ven bờ thành phố Hạ Long
+ Hình thức phỏng vấn: phỏng vấn trực tiếp, phát phiếu điều tra
+ Đối tượng phỏng vấn: điều tra, khảo sát bốn nhóm đối tường: Chủ nhà hàng, chủ quản lý cơ sở lưu trú, khách sạn, chủ tàu
Tổng số phiếu là 200 phiếu trong đó khảo sát, điều tra:
+ 46 phiếu đối tượng quản lý cơ sở lưu trú
+ 28 phiếu đối tượng chủ tàu
+ 110 thuyền trường
+ 36 phiếu quản lý nhà hàng
2.4.4 Phương pháp mô phỏng mức độ ô nhiễm trên ArcGIS
* Số liệu trên ArcGIS
- Phương pháp thành lập bản đồ nền: Tích hợp giữa cơ sở dữ liệu không gian (bản đồ nền) và cơ sở dữ liệu thuộc tính ( các số liệu quan trắc, phân tích môi
Trang 31trường) để thành lập bản đồ mô phỏng mức độ ô nhiễm nước ven biển tại khu vực nghiên cứu
- Phương pháp chồng ghép bản đồ bằng công nghệ GIS: Ứng dụng phần mềm AcrGIS để xử lý, chuyển dữ liệu từ bản đồ hiện trạng sử dụng đất trên phần mềm Microstation tạo ra bản đồ nền, kết hợp xây dựng cơ sở dữ liệu thuộc tính từ
số liệu quan trắc thu thập được và tổ chức theo các trường cụ thể: ID, PH, độ muối, độ đục, dầu mỡ, TSS, amoni, Fe v v Các trường xây dựng luôn theo đúng trường ID trên dữ liệu các điểm quan trắc để khi kết nối dữ liệu có kết quả chính xác Sau đó ta dùng công cụ Kriging trong Arcgis để tính lan truyền ô nhiễm các chỉ số
* Xử lý số liệu trên Exel
Các số liệu phân tích, điều tra, phỏng vấn được sẽ được xử lý thống kê bằng phần mềm excel để tổng hợp kết quả nghiên cứu của khu vực liên quan đến đề tài
Trang 32Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Hạ Long 3.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
3.1.1.1 Vi trí địa lý
Hình 3 1: Bản đồ hành chính thành phố Hạ Long
Thành phố Hạ Long nằm ở vị trí chiến lược quan trọng trong khu vực Đông Bắc Việt Nam, gần hai đô thị lớn nhất miền Bắc là thủ đô Hà Nội (165km), Hải Phòng (70 km) và tương đối gần đường biên giới với Trung Quốc Với vị trí gần với các trung tâm dân cư lớn của khu vực phía Bắc như Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long cùng trực thuộc Tỉnh với hai vùng phát triển chiến lược khác là Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái và Đặc khu kinh tế Vân Đồn Thực tế, quy hoạch tổng thể kinh tế -
xã hội của Tỉnh đã xác định Hạ Long là trung tâm phát triển trong chiến lược "một tâm hai tuyến đa chiều, hai mũi đột phá"
Trang 33Hơn nữa, với đường bờ biển trải dài trên Vịnh Bắc Bộ, thành phố có vị trí thuận lợi là địa phương quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, trong quan hệ thương mại quốc tế và đảm bảo an ninh quốc phòng
Các Hiệp định thương mại tự do (FTA) và các Thỏa thuận hội nhập kinh tế (EIA) sẽ thúc đẩy hội nhập kinh tế của hành lang ASEAN - Việt Nam - Trung Quốc
cả trong nội bộ các nước thành viên và các nước đã ký những thỏa thuận này Những FTA/EIA đã ký và đang thương thảo sẽ có tác động thúc đẩy những tiềm năng phát triển kinh tế của Hạ Long
3.1.1.2 Đặc điểm địa hình
Hạ Long được hình thành bởi các đảo đá vôi và đá phiến, phía lục địa là các đồi và núi đá Vịnh Hạ Long được nối với biển mở phía ngoài qua các luồng lạch có
độ sâu khá lớn Nền đáy Vịnh được bao phủ bởi lớp trầm tích hạt mịn, khu vực ven
bờ đặc trưng bởi các bãi triều lầy, các đồi và núi đá tuổi Mesozoic sớm Các bãi triều thường lớn, được che phủ bởi rừng ngập mặn và đặc trưng bởi hệ thống các kênh và lạch triều
3.1.1.3 Khí hậu, thủy văn
- Nhiệt độ không khí: Nhiệt độ trung bình năm 23,7oC dao động từ 16,7oC – 28,6oC
- Lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm là 1832 mm, phân bố không đều trong năm và chia thành 2 mùa
- Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 84% Cao nhất
có tháng lên tới 90% và thấp nhất là 68%
- Chế độ gió: Do đặc điểm vị trí địa lý, ở Hạ Long có 2 loại gió: Gió mùa
đông bắc và gió tây nam Tốc độ gió trung bình năm là 2,8 m/s, hướng gió mạnh
nhất là tây nam 45 m/s Là vùng biển kín
- Sương muối, sương mù: Mùa đông thường có sương mù dày đặc, sương
muối thường xuất hiện từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, tập trung nhiều ở những
vùng đồi núi
Trang 34- Thủy triều: Vùng biển Hạ Long chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ nhật triều vịnh Bắc Bộ, biên độ dao động thủy triều trung bình là 3,6 m
Vịnh Hạ Long có chế độ nhật triều thuần nhất với độ lớn từ 3,5 - 4,5m, triều
thấp vào các tháng 3, 4, 8 và 9, triều cao vào các tháng 1, 6, 7 và 12
3.1.1.4 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên chủ yếu
– Than đá: Hạ Long có một số tài nguyên khoáng sản không tái tạo
Trong đó, than đá được sử dụng trong hơn 90% các phân ngành kinh tế sử dụng nguồn tài nguyên không tái tạo của Thành phố
– Các nguồn khoáng sản khác: Đá vôi phần lớn nằm trên các đảo và
dưới dạng các nền đá mới với trữ lượng khoảng 1,3 tỷ tấn, phân bố chủ yếu ở địa bàn phường Hà Phong và phường Đại Yên
– Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên của Thành phố là 27,195 ha
(bao gồm 486 km2 diện tích bề mặt biển), trong đó 9.487,81 ha là đất nông nghiệp (34,89%), 16.336,57 ha (60,07%) là đất phi nông nghiệp Diện tích đất chưa sử dụng là 1.370,65 ha (5,04%)
– Danh lam thắng cảnh : Thành phố Hạ Long nằm dọc theo bờ vịnh Hạ
Long Bao gồm 1.969 hòn đảo lớn nhỏ với tổng diện tích 1.553 km2, kèm theo hệ thống hang động phức tạp và tuyệt đẹp, vịnh Hạ Long là nguồn tài nguyên du lịch độc đáo mang tầm vóc quốc tế
– Biển và bờ biển: khu vực quanh đảo Tuần Châu có nhiều điều kiện
thuận lợi để phát triển ngành nuôi trồng thủy hải sản, đặc biệt là tôm, cá, ngọc trai, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu Hạ Long còn có đường bờ biển hơn 50
km, để phát triển cảng Hiện tại có 8 bãi biển đang hoạt động ở Hạ Long trong đó bao gồm bãi tắm Thanh Niên, Hoàng Gia, Ti Tốp và Tuần Châu
– Tài nguyên nước ngọt: Các sông chính chảy qua địa phận Thành phố
gồm sông Diễn Vọng, Vũ Oai, Man, Trới, cả 4 sông này đều đổ vào vịnh Cửa Lục rồi chảy ra vịnh Hạ Long
Trang 35– Rừng: Theo số liệu thống kê sử dụng đất vào ngày 2014, diện tích rừng
của Thành phố là 7.002,19 ha, chiếm 25,75% diện tích đất tự nhiên Trong số này, 1.678,74 ha rừng được sử dụng cho sản xuất, 5.025,97 ha là rừng phòng hộ
– Tài nguyên văn hóa và du lịch:
Di sản văn hóa vật thể: Ngoài vịnh Hạ Long, ba tài sản văn hóa vật thể
quan trọng nhất của Hạ Long là núi Bài Thơ, đền thờ Đức Ông Trần Quốc Nghiễn
và chùa Lôi Âm
Di sản văn hóa phi vật thể: Hạ Long còn có một số các tài sản văn hóa phi
vật thể, trong đó quan trọng nhất là múa rối nước, văn hóa Hạ Long và các lễ hội truyền thống khác tiêu biểu cho văn hóa Việt Nam, bao gồm lễ hội Yên Tử, lễ hội chùa Quỳnh Lâm, lễ hội Bạch Đằng và lễ hội đền Cửa Ông
3.1.2 Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Các hoạt động và mức tăng trưởng kinh tế
Giá trị sản xuất (GTSX)
Hạ Long liên tục tăng trưởng trong gần một thập kỷ qua Giá trị sản xuất tăng gần gấp 3 lần từ năm 2008 đến năm 2015 với các ngành kinh tế trọng điểm là xây dựng, khai khoáng, chế biến thực phẩm, vận tải, bán buôn – bán lẻ và du lịch Vào năm 2015, các ngành kinh tế này chiếm gần 85% tổng giá trị sản xuất của Hạ Long
Tỷ lệ tăng trưởng bình quân hàng năm từ năm 2010 đến 2015 là 9,2 Điều này là do điều kiện kinh tế vĩ mô không thuận lợi năm 2010 và 2011 đã ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực dịch vụ, vốn là ngành kinh tế chủ đạo của Hạ Long Mức độ ảnh hưởng được đánh giá là lớn hơn tại Hạ Long do mức độ phụ thuộc cao hơn vào ngành này của Thành phố
Ngành Công nghiệp và Xây dựng: Ngành Công nghiệp và Xây dựng của
Hạ Long chiếm khoảng 70% tổng giá trị sản xuấtchủ yếu bao gồm khai khoáng, chế biến thực phẩm và xây dựng
Trang 36Ngành dịch vụ: Ngành dịch vụ chiếm khoảng 23% tổng giá trị sản xuất, trong đó phần lớn là từ du lịch, thương mại, vận tải và tài chính
Ngành Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản: Ngành Nông, lâm nghiệp và
thủy sản chỉ chiếm khoảng 0,6% của tổng giá trị sản xuất các ngành của toàn thành
2.1 Thu nhập bình quân danh nghĩa (triệu VND)* 53
(Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hạ Long, Phòng Tài Chính - Kế hoạch, Phòng Y tế, Quy hoạch KT-XH thành phố Hạ Long đến năm 2015, tầm nhìn 2020; Phân tích của nhóm tư vấn)
Trang 37
Dân số
Hạ Long là thành phố lớn nhất của tỉnh Quảng Ninh, với dân số khoảng 229.000 người vào năm 2013, có mật độ dân số cao nhất trong Tỉnh, đạt 843 người người/km2 Mật độ này gần gấp đôi so với các đô thị khác trong Tỉnh như Cẩm Phả, Uông Bí, Đông Triều và vào khoảng 4 lần mức trung bình của tỉnh Quảng Ninh
Việc làm
Hạ Long đã đạt được tốc độ tăng trưởng việc làm bền vững ở mức 4,2% trong giai đoạn 5 năm 2009-2013, với số lượng lao động có việc làm ngày càng tăng
từ khoảng 110.000 lao động vào năm 2009 đến khoảng 130.000 lao động vào năm
2014 nhờ sự tăng trưởng trong các ngành Dịch vụ lưu trú - ăn uống và ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo Một sự tiến bộ đáng chú ý, đặc biệt khi so sánh với tốc độ tăng trưởng dân số trong độ tuổi lao động vào khoảng 1,2% so với cùng kỳ
Giáo dục – đào tạo
Hạ Long hiện có 20 trường trung học, 17 trường tiểu học, 11 trường THPTvà
29 trường mầm non Nhờ đó, Hạ Long có năng lực giáo dục cho khoảng 52.563 học sinh mỗi năm, từ bậc học mầm non, tiểu học cho đến trung học Đến năm 2020, số lượng trường học sẽ tăng từ 76 trường lên 79 trường
Năm 2014, Hạ Long có tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở đạt loại giỏi cao nhất (xấp xỉ 37%) Tỷ lệ này cao gấp 1,5 lần so với tỷ lệ của Cẩm Phả, địa
phương đứng thứ hai về tỷ lệ học sinh tốt nghiệp đạt loại giỏi với xấp xỉ 24%
Y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng
Hạ Long là trung tâm dịch vụ y tế của tỉnh Quảng Ninh Chăm sóc y tế được cải thiện đáng kể ở Hạ Long trong thập kỷ qua Hạ Long hiện có tỷ lệ giường bệnh
là khoảng 91/1 vạn dân với số lượng nhân viên y tế của thành phố cũng tăng tương
ứng từ 1.544 người năm 2009 lên 2.187 người năm 2013
Thu nhập
Thu nhập bình quân của lao động thành phố Hạ Long chỉ tăng mạnh khoảng 21%/năm trong giai đoạn 2009-2013, đạt đỉnh điểm ở mức khoảng 53 triệu đồng vào năm 2013
Trang 38 Lao động
Nhìn chung, với Hạ Long là một trung tâm về giáo dục và đào tạo trong Tỉnh, với nhiều cơ sở đào tạo nghề, các trường cao đẳng trên địa bàn thành phố Trong 5 năm qua, tỷ lệ lao động qua đào tạo của Thành phố tăng từ khoảng 66% lên khoảng 76% Thành phố đạt cao hơn mức trung bình của toàn Tỉnh ở mức 54% và vượt các địa phương khác như Cẩm Phả (60-65%), Uông Bí (60-65%) và Đông Triều (20-30%)
Tỷ lệ nghèo
Tuy nền kinh tế của thành phố phát triển chậm lại trong một vài năm trở lại đây, Hạ Long vẫn đạt được thành công trong xóa nghèo với việc giảm tỷ lệ hộ nghèo trong thành phố Trong năm 2013, tỷ lệ hộ nghèo của Hạ Long ở mức 0,58%, thấp hơn nhiều so với mức trung bình của Tỉnh, đạt 5,1% và thấp hơn mức mục tiêu 1,0% đến năm 2010 của Thành phố đề ra
3.1.3.3 Đánh giá tổng quan về kinh tế - xã hội thành phố Hạ Long
Nhìn chung, Hạ Long đã làm tốt và đạt được phần lớn những mục tiêu xã hội được Thành phố đề ra trong giai đoạn này Bảng trên đây sẽ thể hiện những bước tiến của thành phố trong lĩnh vực này Có thể thấy, Hạ Long đã đạt những chỉ tiêu như về tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ nghèo, tỷ lệ lao động qua đào tạo, số lượng giường bệnh trên 10.000 dân Chỉ tiêu 90% lao động phi nông nghiệp đến năm 2015, Hạ Long hiện đang dự kiến có thể đạt được chỉ tiêu này, khi mà 88,5% lao động năm
2013 đang làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp
Bảng 3 2 Kết quả thực hiện các mục tiêu phát triển xã hội của Hạ long
(Nguồn: (Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hạ Long, Phòng Tài Chính - Kế hoạch, Phòng Y tế, Quy hoạch KT-XH thành phố Hạ Long đến năm 2015, tầm nhìn
Trang 39Bảng 3 3 Kết quả thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế của Hạ long
2020; Phân tích của nhóm tư vấn)
3.1.3 Biển, các đảo và hang động
3.1.3.1 Biển và đảo
Các đảo ở vịnh Hạ Long có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch, tập trung ở hai vùng chính là vùng phía Đông Nam Vịnh Bái Tử Long và vùng phía Tây Nam vịnh Hạ Long Theo thống kê của ban quản lý vịnh Hạ Long, trong tổng
số 1.969 đảo của vịnh Hạ Long có đến 1.921 đảo đá với nhiều đảo có độ cao khoảng 200m Vùng tập trung các đảo đá có phong cảnh ngoạn mục và nhiều hang động đẹp là vùng trung tâm Di sản Thiên nhiên vịnh Hạ Long, bao gồm phần lớn vịnh Hạ Long (vùng lõi), một phần vịnh Bái Tử Long và vịnh Lan Hạ thuộc quần đảo Cát
Bà (vùng đệm)
Các đảo trên vịnh Hạ Long có những hình thù riêng, không giống bất kỳ hòn đảo nào ven biển Việt Nam và không đảo nào giống đảo nào Có chỗ đảo quần tụ lại nhìn xa ngỡ chồng chất lên nhau, nhưng cũng có chỗ đảo đứng dọc ngang xen kẽ nhau, tạo thành tuyến chạy dài hàng chục kilômét như một bức tường thành Đó là một thế giới sinh linh ẩn hiện trong những hình hài bằng đá đã được huyền thoại hóa Đảo thì giống khuôn mặt ai đó đang hướng về đất liền (hòn Đầu Người); đảo thì giống như một con rồng đang bay lượn trên mặt nước (hòn Rồng); đảo thì lại giống như một ông lão đang ngồi câu cá (hòn Lã Vọng); phía xa là hai cánh buồm nâu đang rẽ sóng nước ra khơi (hòn Cánh Buồm); đảo lại lúp xúp như mâm xôi cúng (hòn Mâm Xôi); rồi hai con gà đang âu yếm vờn nhau trên sóng nước (hòn Trống Mái); đứng giữa biển nước bao la một lư hương khổng lồ như một vật cúng tế trời đất (hòn Lư Hương); đảo khác
Trang 40tựa như nhà sư đứng giữa mặt Vịnh bao la chắp tay niệm Phật (hòn Ông Sư); đảo lại có hình tròn cao khoảng 40m trông như chiếc đũa phơi mình trước thiên nhiên (hòn Đũa),
mà nhìn từ hướng khác lại giống như vị quan triều đình áo xanh, mũ cánh chuồn, nên dân chài còn gọi là hòn Ông v.v
Bên cạnh các đảo được đặt tên căn cứ vào hình dáng, là các đảo đặt tên theo
sự tích dân gian (núi Bài Thơ, hang Trinh Nữ, đảo Tuần Châu), hoặc căn cứ vào các đặc sản có trên đảo hay vùng biển quanh đảo (hòn Ngọc Vừng, hòn Kiến Vàng, đảo Khỉ v.v.)
3.1.3.2 Hang động
Không chỉ những biến đổi của những đảo đá màu xanh đen trên mặt nước biếc vùng Vịnh hấp dẫn du khách, trên những chiếc thuyền dơi màu nâu đỏ xuất phát từ bến tàu Hạ Long bắt đầu hành trình ngoạn cảnh, những khám phá lại tiếp tục khi du khách lên đảo, thăm thú những hang động ẩn chứa nhiều chứng tích lịch sử Những hang động tại Hạ Long, theo các nhà thám hiểm địa chất người Pháp, khi nghiên cứu về vịnh Hạ Long đầu thế kỷ 20, khẳng định rằng hầu hết trong số chúng đều được kiến tạo trong thế Pleistocen kéo dài từ 2 triệu đến 11 ngàn năm trước, nằm trong 3 nhóm hang ngầm cổ, hang nền Karst và các hàm ếch biển
Các hang động nổi tiếng như: Hang Sửng Sốt; Động Thiên Cung; Hang Đầu
Gỗ và một số hang động khác
3.1.4 Đa dạng sinh học
3.1.4.1 Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới
Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở vịnh Hạ Long rất đặc trưng, phong phú với tổng số loài thực vật sống trên các đảo khoảng trên 1.000 loài Một số quần xã các loài thực vật khác nhau bao gồm các loài ngập mặn, các loài thực vật ở bờ cát ven đảo, các loài mọc trên sườn núi và vách đá, trên đỉnh núi hoặc mọc ở của hang hay khe đá Các nhà nghiên cứu của Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên thế giới đã phát hiện 7 loài thực vật đặc hữu của vịnh Hạ Long Những loài này chỉ thích nghi sống ở các đảo đá vôi vịnh Hạ Long mà không nơi nào trên thế giới có
được, đó là: thiên tuế Hạ Long, khổ cử đại tím (Chirieta halongensis), cọ Hạ