1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn đảng bộ quân đội lãnh đạo xây dựng lực lượng hậu cần trong cuộc kháng chiến chống mỹ, cứu nước từ năm 1969 đến năm 1975

217 854 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 217
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu này là cơ sở để tác giả kế thừa một cách có hệ thống quátrình chỉ đạo xây dựng LLHC trong cuộc KCCM, CN.Lịch sử Đảng bộ Quân đội nhân dân Việt Nam tập 2 1955 – 1975 [1

Trang 1

1.2 Chủ trương xây dựng lực lượng hậu cần của Đảng

1.3 Đảng bộ Quân đội chỉ đạo xây dựng lực lượng hậu cần 46

Chương 2 ĐẢNG BỘ QUÂN ĐỘI LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH

XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG HẬU CẦN (1973 –

2.1 Điều kiện mới tác động đến đẩy mạnh xây dựng lực

2.2 Chủ trương đẩy mạnh xây dựng lực lượng hậu cần của

2.3 Đảng bộ Quân đội chỉ đạo đẩy mạnh xây dựng lực

3.1 Nhận xét quá trình Đảng bộ Quân đội lãnh đạo xây

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ

CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

157

159160174

Trang 2

STT Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt01

Quân đội nhân dân

Quân ủy Trung ương

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Giới thiệu khái quát về đề tài luận án

Đề tài: “Đảng bộ Quân đội lãnh đạo xây dựng lực lượng hậu cần trong

cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1969 đến năm 1975” được

nghiên cứu dưới góc độ khoa học chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản ViệtNam Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình ĐBQĐ lãnh đạo xây dựng LLHCtrong cuộc KCCM, CN từ năm 1969 đến năm 1975

Trên cơ sở phương pháp luận sử học, bằng các phương pháp nghiêncứu chuyên ngành và liên ngành, đề tài hệ thống hóa và luận giải làm rõ chủtrương, sự chỉ đạo của ĐBQĐ về xây dựng LLHC trong cuộc KCCM, CN từnăm 1969 đến năm 1975 Qua đó, đánh giá khách quan quá trình ĐBQĐ lãnhđạo xây dựng LLHC trong cuộc KCCM, CN từ năm 1969 đến năm 1975,đồng thời rút ra một số kinh nghiệm có giá trị lịch sử và hiện thực

Nội dung cơ bản của đề tài gồm 3 chương: chương 1 và chương 2, tácgiả tái hiện quá trình ĐBQĐ lãnh đạo xây dựng LLHC trong cuộc KCCM, CN

từ năm 1969 đến năm 1975; chương 3, tác giả tổng kết lịch sử đưa ra nhận xét vàrút một số kinh nghiệm về quá trình ĐBQĐ lãnh đạo xây dựng LLHC trong cuộcKCCM, CN từ năm 1969 đến năm 1975

2 Lý do lựa chọn đề tài luận án

Chiến tranh là một hiện tượng chính trị - xã hội đặc biệt Trong chiếntranh, quân đội là lực lượng trực tiếp quyết định thắng lợi trên chiến trường.Quy luật của chiến tranh là mạnh được, yếu thua Mạnh, yếu là kết quả tươngquan so sánh sức mạnh của các bên tham chiến Đó là sức mạnh tổng hợp củanhiều yếu tố, trong đó hậu cần là một yếu tố quan trọng, góp phần hình thành

và quyết định sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của quân đội Do vậy, bất

kỳ một giai cấp, nhà nước nào tổ chức ra quân đội đều chăm lo xây dựngLLHC vững mạnh toàn diện, đủ sức bảo đảm đầy đủ mọi nhu cầu vật chất, kỹthuật cho quân đội xây dựng, trưởng thành và chiến đấu thắng lợi

Nhận thức sâu sắc những vấn đề cơ bản về chiến tranh và quân đội,trong cuộc KCCM, CN Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng chăm loxây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung, LLHC quân đội nói riêng

Trang 4

vững mạnh về mọi mặt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Sự lãnh đạo của Đảng

là nhân tố hàng đầu quyết định sự trưởng thành và chiến thắng của quân đội

và LLHC quân đội

Thắng lợi có ý nghĩa chiến lược trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậyTết Mậu Thân năm 1968, đã mở ra thời cơ có lợi cho cuộc KCCM, CN của dântộc Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương nhanh chóng tăng cườnglực lượng vũ trang cách mạng, để tận dụng thời cơ mới đưa cách mạng ViệtNam bước vào thời kỳ giành thắng lợi quyết định “Đánh cho Mỹ cút, đánh chongụy nhào” Theo đó, ĐBQĐ đã tập trung lãnh đạo xây dựng các lực lượngvững mạnh về mọi mặt, vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong các cuộctiến công chiến lược, buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pari, rút hết quânkhỏi miền Nam Việt Nam; tiến tới Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm

1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước Sự lớn mạnh vàtrưởng thành của quân đội nói chung, LLHC quân đội nói riêng trong cuộcKCCM, CN từ năm 1969 đến năm 1975 đã khẳng định tính đúng đắn, sáng tạotrong lãnh đạo xây dựng lực lượng của ĐBQĐ Sự lãnh đạo xây dựng LLHCcủa ĐBQĐ trong cuộc KCCM, CN từ năm 1969 đến năm 1975 rất phong phú

và đa dạng, để lại nhiều kinh nghiệm quý, cần được nghiên cứu, tổng kết để kếthừa trong lãnh đạo xây dựng LLHC giai đoạn hiện nay

Ngày nay, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN có bước pháttriển mới, đòi hỏi phải ra sức xây dựng quân đội, LLHC cách mạng, chínhquy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại Kế thừa và phát triển những thành tựu đãđạt được, những kinh nghiệm rút ra trong lãnh đạo và thực tiễn lịch sử xâydựng, phát triển là một trong những vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựngLLHC quân đội Vì thế, nghiên cứu, tổng kết quá trình ĐBQĐ lãnh đạo xâydựng LLHC trong cuộc KCCM, CN từ năm 1969 đến năm 1975 là vấn đề cótính cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc

Từ những lý do trên tác giả chọn đề tài “Đảng bộ Quân đội lãnh đạo

xây dựng lực lượng hậu cần trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1969 đến năm 1975” làm Luận án tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử

Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 5

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Làm sáng tỏ quá trình ĐBQĐ lãnh đạo xây dựng LLHC trong KCCM,

CN từ năm 1969 đến năm 1975, rút ra một số kinh nghiệm có giá trị thamkhảo, vận dụng vào xây dựng LLHC quân đội trong sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay

* Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ yêu cầu khách quan ĐBQĐ lãnh đạo xây dựng LLHC trongcuộc KCCM, CN từ năm 1969 đến năm 1975

Phân tích, luận giải làm rõ chủ trương và chỉ đạo xây dựng LLHC củaĐBQĐ trong cuộc KCCM, CN từ năm 1969 đến năm 1975

Nhận xét và rút ra một số kinh nghiệm từ quá trình ĐBQĐ lãnh đạo xâydựng LLHC trong cuộc KCCM, CN từ năm 1969 đến năm 1975

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động lãnh đạo xây dựng LLHC của ĐBQĐ trong cuộc KCCM,

CN từ năm 1969 đến năm 1975, trên hai phương diện: hoạch định chủ trương

và chỉ đạo thực hiện

* Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: tập trung nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của ĐBQĐ

về xây dựng hệ thống tổ chức hậu cần; xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên,chiến sĩ hậu cần; xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hậu cần ở cấp chiến lược(bao gồm các cơ quan, đơn vị, cơ sở thuộc TCHC, Đoàn 500 và Đoàn 559)

Về không gian: không gian khu vực đứng chân và hoạt động của các cơ

quan, đơn vị, cơ sở thuộc TCHC, Đoàn 500 và Đoàn 559 (bao gồm cả chiếntrường miền Nam, miền Bắc Việt Nam; chiến trường Lào và Campuchia)

Về thời gian nghiên cứu: từ tháng 1 năm 1969 đến tháng 4 năm 1975.

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận

Đề tài nghiên cứu trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về chiến tranh vàquân đội, về xây dựng LLVT, trực tiếp là xây dựng hậu phương, hậu cần trongchiến tranh nhân dân giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc

Trang 6

* Cơ sở thực tiễn

Thực tiễn quá trình ĐBQĐ lãnh đạo xây dựng LLHC và thực tiễn pháttriển LLHC trong cuộc KCCM, CN từ năm 1969 đến năm 1975

* Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở sử dụng các phương pháp nghiên cứuchuyên ngành lịch sử, như: phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc và sự kếthợp hai phương pháp đó là chủ yếu Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp:phân tích, tổng hợp, thống kê, so sách, tổng kết thực tiễn, phương phápchuyên gia… để hoàn thiện luận án

6 Đóng góp mới của luận án

Hệ thống hóa chủ trương và sự chỉ đạo xây dựng LLHC của ĐBQĐtrong cuộc KCCM, CN từ năm 1969 đến năm 1975

Đưa ra nhận xét và rút một số kinh nghiệm từ quá trình ĐBQĐ lãnhđạo xây dựng LLHC trong cuộc KCCM, CN từ năm 1969 đến năm 1975

7 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn

Làm rõ tính đúng đắn, sáng tạo trong lãnh đạo xây dựng LLHC củaĐBQĐ trong cuộc KCCM, CN từ năm 1969 đến năm 1975

Cung cấp một số luận cứ khoa học, góp phần nâng cao hiệu quả côngtác lãnh đạo xây dựng LLHC đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Việt Nam XHCN giai đoạn hiện nay

Luận án là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy Lịch sửĐảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử ngành Hậu cần Quân đội nhân dân ViệtNam ở các học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội

8 Kết cấu của luận án

Luận án kết cấu gồm: phần mở đầu, phần tổng quan về vấn đề nghiêncứu, 03 chương (08 tiết), kết luận, danh mục các công trình của tác giả đãcông bố có liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 7

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN TỀ TÀI

1 Tổng quan những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1.1 Những công trình nghiên cứu của tác giả trong nước

1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu chung về công tác hậu cần

Về công tác hậu cần quân đội [97], tác giả Trần Đăng Ninh đã đề cập

khá đầy đủ những vấn đề cơ bản về mặt lý luận hậu cần từ vì trí, vai trò, nộidung, nhiệm vụ đến những giải pháp nâng cao chất lượng CTHC quân đội.Công trình có giá trị lý luận to lớn đối với công tác giáo dục và xây dựngngành HCQĐ, là cơ sơ để tác giả làm rõ tính tất yếu ĐBQĐ lãnh đạo xâydựng LLHC trong cuộc KCCM, CN

Các công trình: Biên niên sự kiện lịch sử Hậu cần quân đội nhân dân

Việt Nam (1954-1975) [141], Lịch sử Công tác đảng, công tác chính trị ngành Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam (Biên niên sự kiện) tập 1 (1950 – 1975) [142], đã khái lược hệ thống sự kiện trong CTHC diễn ra theo trình tự

thời gian từ năm 1950 đến năm 1975 Đây là cơ sở xuất phát để tác giả luận

án tìm đến các tài liệu gốc phản ánh quá trình ĐBQĐ lãnh đạo xây dựngLLHC trong cuộc KCCM, CN

Lịch sử Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 2 (1954- 1975) [144],

tập thể tác giả đã tái hiện toàn bộ các hoạt động của CTHC quân đội mà chủyếu ở cấp chiến lược, diễn ra trong cuộc KCCM, CN Kết quả các mặt hoạtđộng của CTHC trong cuộc KCCM, CN được dựng lại theo năm giai đoạnchiến lược của cuộc chiến tranh thành 05 chương [144, tr 13 - 565] Phần kếtluận, các tác giả đã khái quát những ưu, khuyết điểm chính và nguyên nhân củaCTHC trong cuộc KCCM, CN [144, tr 566 - 579] Công trình này đã đề cậpchi tiết các sự kiện lịch sử của CTHC quân đội chủ yếu là hoạt động tổ chứcbảo đảm hậu cần và kết quả của nó với các số liệu minh chứng cụ thể Đây lànguồn tài liệu phong phú để tác giả tham khảo, kế thừa trong luận án

Tổng kết hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)

[147], là công trình tổng kết lịch sử CTHC trong cuộc KCCM, CN, chủ yếutrên lĩnh vực chỉ đạo và tổ chức thực hiện các hoạt động của CTHC quân đội

ở cấp chiến lược Công trình gồm hai phần chính và phần phụ lục Phần diễn

Trang 8

biến CTHC, tập thể tác giả đã trình bày theo năm giai đoạn chiến lược của chiếntranh thành 05 chương [147, tr 11 - 490]; phần đánh giá kết quả và kinh nghiệm,tập thể tác giả đi từ khái quát vai trò, nhiệm vụ, các điều kiện chi phối CTHCđến trình bày kết quả đạt được, nguyên nhân và rút ra tám bài học kinh nghiệmcủa CTHC trong cuộc KCCM, CN [147, tr 491 - 648] Công trình này đã đề cậpkhách quan và toàn diện các hoạt động của CTHC trong cuộc KCCM, CN chủyếu về mặt tổ chức thực hiện Về hoạt động lãnh đạo của Đảng nói chung,ĐBQĐ nói riêng đối với CTHC và xây dựng LLHC công trình này chưa đề cậptới Kết quả nghiên cứu này là cơ sở để tác giả kế thừa một cách có hệ thống quátrình chỉ đạo xây dựng LLHC trong cuộc KCCM, CN.

Lịch sử Đảng bộ Quân đội nhân dân Việt Nam tập 2 (1955 – 1975)

[12], là công trình lịch sử, tổng kết quá trình ĐBQĐ lãnh đạo Quân đội nhân

dân Việt Nam xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và lãnh đạo xây dựngĐBQĐ vững mạnh về mọi mặt trong suốt cuộc KCCM, CN Dưới sự chỉ đạocủa Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, tập thể tác giả đã tái hiện kháđầy đủ và chính xác những sự kiện của ĐBQĐ diễn ra trong suốt 21 nămKCCM, CN của dân tộc Việt Nam Diễn biến quá trình ĐBQĐ lãnh đạo xâydựng Quân đội và xây dựng ĐBQĐ (1955 – 1975), được tập thể tác giả trìnhbày thành 05 chương (từ chương sáu đến chương mười) tương ứng với nămgiai đoạn chiến lược của cuộc KCCM, CN [12, tr 11 – 839] Phần kết luận,tập thể tác giả đã khái quát những đặc điểm lớn chi phối hoạt động lãnh đạocủa ĐBQĐ; những thành công chủ yếu trong lãnh đạo xây dựng Quân đội vàxây dựng Đảng bộ của ĐBQĐ trong cuộc KCCM, CN; đồng thời, làm rõnguyên nhân của những thành công đó [12, tr 840 – 870] Công trình đã hệthống hóa chủ trương và sự chỉ đạo của ĐBQĐ đối với toàn quân và toànĐảng bộ trong cuộc KCCM, CN Đây là cơ sở lý luận trực tiếp để tác giả luận

án làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của ĐBQĐ lãnh đạo xây dựng LLHCtrong cuộc KCCM, CN từ năm 1969 đến năm 1975

Ngoài những công trình trên, còn một số công trình tổng kết CTHCtrong cuộc KCCM, CN theo từng chuyên đề, từng giai đoạn lịch sử khác nhaunhư: Hậu cần trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975

Trang 9

[139], Tổng kết chuyên đề tổ chức hậu cần khu vực ở chiến trường Nam Bộ

-cực Nam Trung Bộ (B2) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước [3], Lịch

sử Vận tải quân đội nhân dân Việt Nam [140], Công tác hậu cần trong chống

chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên miền Bắc (2.1965 – 1.1973) [146],

… Các công trình này đã nêu bật được lịch sử xây dựng và trưởng thành cũngnhư kết quả to lớn của ngành HCQĐ phục vụ Quân đội nhân dân Việt Nam xâydựng, chiến đấu và chiến thắng Đồng thời, đều khẳng định sự lãnh đạo đúngđắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhân

tố hàng đầu quyết định thắng lợi của CTHC quân đội trong cuộc KCCM, CN

50 năm ngành Hậu cần xây dựng và hoạt động theo tư tưởng Hồ Chí Minh, kinh nghiệm và hướng phát triển [145] gồm bài đề dẫn và 46 bài tham

luận tại Hội thảo khoa học “50 năm ngành Hậu cần xây dựng và hoạt độngtheo tư tưởng Hồ Chí Minh - Kinh nghiệm và hướng phát triển” do TCHC tổchức nhân dịp Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và 50 nămNgày truyền thống ngành HCQĐ Nội dung các bài tham luận khá phong phú,

đa dạng, đã tập trung làm nổi bật: những vấn đề cốt lõi trong tư tưởng của HồChí Minh về hậu cần; kết quả và kinh nghiệm qua 50 năm ngành HCQĐ xâydựng và hoạt động theo tư tưởng hậu cần của Người đồng thời, đề xuấthướng vận dụng trong xây dựng và hoạt động của ngành HCQĐ trong giaiđoạn cách mạng mới Khi đề cập đến CTHC trong cuộc KCCM, CN các tácgiả đều thống nhất một số nội dung cơ bản là:

Hậu cần là một mặt công tác quân sự của Đảng, yếu tố cấu thành sứcmạnh chiến đấu của quân đội, của LLVT, quyết định đến thắng lợi của cuộcchiến tranh [145, tr 24]

Trong cuộc KCCM, CN mọi hoạt động và tổ chức của ngành HCQĐđều thực hiện theo quan điểm của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh Đó là quanđiểm hậu cần nhân dân; quan điểm cần, kiệm, tự lực, tự cường; quan điểm hếtlòng phục vụ bộ đội [145, tr 26]

Quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng, của Hồ Chí Minh vềCTHC, tổ chức chỉ đạo và thực hiện bằng những giải pháp sáng tạo trongcuộc KCCM, CN ngành HCQĐ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm

Trang 10

mọi nhu cầu vật chất, kỹ thuật cho quân đội, cho LLVT xây dựng, trưởngthành và chiến đấu thắng lợi.

Hậu phương và công tác hậu cần trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc [6],

tập thể tác giả trên cơ sơ nghiên cứu sâu sắc những vấn đề cơ bản về lý luậnhậu cần, thực tiễn, kinh nghiệm tổ chức các hoạt động của CTHC trong lịch

sử dân tộc, trên thế giới và thực tiễn tình hình nhiệm vụ bảo đảm hậu cần choquân đội hiện nay, từ đó đưa ra những vấn đề cơ bản nhất dưới góc độ lý luậnchung về CTHC, hậu phương trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt NamXHCN hiện nay

Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với

công tác hậu cần quân đội từ 1945 đến 1969 [126], bằng những luận cứ khoa

học tác giả Đoàn Quyết Thắng khẳng định: quá trình cùng Trung ương Đảng

và Chính Phủ lãnh đạo CTHC trong chiến tranh chống thực dân Pháp và đếquốc Mỹ xâm lược, Hồ Chí Minh đã có những cống hiến to lớn đối với CTHCquân đội Về mặt lý luận hậu cần, Hồ Chí Minh đã xác lập hệ thống quanđiểm chỉ đạo bao gồm: quan điểm hậu cần nhân dân; quan điểm cần, kiệm, tựlực, tự cường trong CTHC; quan điểm tận tâm, tận lực phục vụ bộ đội [126,

tr 38 – 60] Về mặt thực tiễn, Hồ Chí Minh đã cùng Trung ương Đảng chỉ đạochặt chẽ mọi hoạt động CTHC quân đội, không ngừng chăm lo xây dựngngành HCQĐ vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt nhiệm vụ Tác giả cũng đãkhẳng định giá trị lịch sử, hiện thực những cống hiến của Người đối vớiCTHC quân đội cả về mặt lý luận và thực tiễn; đồng thời, chỉ ra phươnghướng tiếp tục phát huy giá trị những cống hiến của Hồ Chí Minh trong xâydựng ngành HCQĐ hiện nay

“Quán triệt những quan điểm của Đảng trong công tác hậu cần” [98],tập thể tác giả khẳng định: hậu cần của Quân đội nhân dân Việt Nam là hậucần của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đốicủa Đảng Để bảo đảm cho CTHC đi đúng hướng và đạt chất lượng cao cầnphải quán triệt sâu sắc các quan điểm chỉ đạo đó là: quan điểm giai cấp, quanđiểm quần chúng, quan điểm thực tiễn, quan điểm chiến tranh nhân dân vàquan điểm cần, kiệm, dựa vào sức mình là chính [98, tr 30 - 35] Đồng thời,

Trang 11

bài báo cũng đề cập trên cơ sơ quán triệt các quan điểm trên cần phải xâydựng và giải quyết tốt các mối quan hệ trong CTHC mới bảo đảm cho ngànhHCQĐ hoàn thành tốt nhiệm vụ.

“Không ngừng nâng cao chất lượng công tác hậu cần” [129], tác giảTrần Thọ khẳng định: để góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng,phát huy sức mạnh chiến đấu của các LLVT, đáp ứng yêu cầu của tình hình vànhiệm vụ cách mạng, phải không ngừng nâng cao chất lượng CTHC Từ thựctiễn, kinh nghiệm và yêu cầu của CTHC, tác giả đề xuất hai nhóm giải pháp(nhóm bảo đảm cho thể lực của bộ đội và uy lực của vũ khí, trang bị kỹ thuậtđược phát huy cao nhất; nhóm thực hành bảo đảm với hiệu suất cao) để nângcao chất lượng CTHC

“Bài học thắng lợi của công tác hậu cần trong chiến tranh nhân dânchống Mỹ, cứu nước” [127] Thượng tướng, Đinh Đức Thiện nguyên chủnhiệm TCHC khẳng định: dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch

Hồ Chí Minh tổ chức và CTHC quân đội đã không ngừng lớn mạnh và hoànthành xuất sắc nhiệm vụ được giao Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo CTHCquân đội trong chiến tranh tác giả rút ra bốn kinh nghiệm lớn của CTHC trongchiến tranh [127, tr 126 - 146]

Những bài viết trên đã đề cập một số quan điểm của Đảng về CTHCtrong cuộc KCCM, CN tác giả có thể kế thừa để làm rõ chủ trương và sự chỉđạo xây dựng LLHC của ĐBQĐ

“Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng hậu cần Quân đội nhân dân ViệtNam” [128], tác giả Ngô Vi Thiện khẳng định: quan điểm Hồ Chí Minh vềHCQĐ là một bộ phận trong hệ thống tư tưởng quân sự của Người Quanđiểm đó gồm: vị trí, vai trò của CTHC; vấn đề xây dựng nguồn lực hậu cần;xây dựng ngành HCQĐ về mọi mặt… Tác giả cũng khẳng định các quanđiểm hậu cần của Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị trong quá trình xây dựng,chiến đấu và trưởng thành của ngành HCQĐ trong hai cuộc kháng chiếnchống xâm lược của dân tộc ta, mà nó vẫn giữ nguyên giá trị trong xây dựngngành HCQĐ hiện nay Ngành HCQĐ phải tiếp tục vận dụng sáng tạo nhữngquan điểm đó vào thực tiễn công tác để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ

Trang 12

Một số bài báo khác như: “Mấy suy nghĩ về công tác hậu cần theo tưtưởng Hồ Chí Minh - Bài học kinh nghiệm và phương hướng phát triển”[125], “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của hậu cần quân đội và nhiệm vụcủa người làm công tác phục vụ” [68], cũng đều khẳng định những cốnghiến và giá trị to lớn của quan điểm hậu cần quân sự Hồ Chí Minh trong lịch

50 năm ngành Hậu cần xây dựng và hoạt động theo tư tưởng Hồ Chí Minh, kinh nghiệm và hướng phát triển [145], khi đề xuất hướng vận dụng tư

tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng ngành HCQĐ trong giai đoạn hiện nay tácgiả các bài viết đều khẳng định phải ra sức xây dựng LLHC vững mạnh vềmọi mặt làm nòng cốt, để không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả CTHC

Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với công

tác hậu cần quân đội từ 1945 đến 1969 [126], ở nội dung “Tiếp tục phát huy

những cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xây dựng ngành Hậu cầnquân đội hiện nay” [126, tr 149 - 174], tác giả khẳng định: trong giai đoạn hiệnnay LLHC phải được xây dựng vững mạnh toàn diện, theo hướng chính quy,tinh nhuệ, từng bước hiện đại Phải xây dựng bộ máy hậu cần hoàn chỉnh từtrên xuống dưới; cải tiến, bổ sung trang bị kỹ thuật cho phù hợp với nhiệm vụ

và ngày càng hiện đại; phải đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nhân viênnghiệp vụ kỹ thuật đủ số lượng, đồng bộ, có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lựcchuyên môn giỏi, có sức khoẻ dồi dào; phải cải tiến lề lối làm việc cho khoahọc, phù hợp với đòi hỏi của việc tổ chức bảo đảm ngày càng cao của CTHC

Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 2 (1954- 1975) [144],

tập thể tác giả đã đánh giá kết quả xây dựng LLHC trong cuộc KCCM, CNvới những thành công chủ yếu là: đã xây dựng kiện toàn được bộ máy cơquan chỉ huy, chỉ đạo hậu cần hoàn chỉnh, thống nhất trong toàn quân [144, tr

Trang 13

514 - 515]; đã từng bước xây dựng củng cố được hệ thống cơ sở vật chất kỹthuật hậu cần tương đối hoàn chỉnh, có cơ cấu tổ chức, lực lượng bảo đảmđồng bộ [144, tr 515 - 517]; đã đạt kết quả tích cực trong công tác đào tạo, bồidưỡng nâng cao số lượng và trình độ đội ngũ cán bộ, công nhân viên hậu cần[144, tr 517 - 519] Bên cạnh những thành công chủ yếu, tập thể tác giả cũngnêu một số hạn chế trong xây dựng LLHC [144, tr 522 - 531] Tập thể tác giả

đã đưa ra bốn nguyên nhân dẫn tới thành công xây dựng LLHC trong cuộcKCCM, CN Trong đó, sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng, Nhà nước

và Chính phủ Việt Nam là nhân tố hàng đầu quết định thắng lợi của công tácxây dựng LLHC [144, tr 524 - 525] Từ thực tế trên tập thể tác giả kết luận

“Cần ra sức xây dựng lực lượng hậu cần có tổ chức mạnh, có chất lượng cao,

có hiệu suất bảo đảm lớn” [144, tr 622] và rút kinh nghiệm xây dựng LLHCvới các nội dung: xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ, nhân viênhậu cần vững mạnh toàn diện; xây dựng, kiện toàn cơ quan chỉ huy, chỉ đạohậu cần các cấp đi đôi với xây dựng, phát triển hệ thống cơ sở, đơn vị hậu cần,tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật hậu cần ngày càng lớn mạnh [144, tr 622]

Những công trình tổng kết CTHC trong cuộc KCCM, CN theo từngchuyên đề, từng giai đoạn lịch sử khác nhau cũng đã tổng kết xây dựng LLHCtrên từng lĩnh vực, từng giai đoạn chiến tranh với những nhận định và hệthống số liệu khách quan và phong phú

Hậu phương và công tác hậu cần trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc [6] khi

trình bày phương hướng, nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu xây dựng ngànhHCQĐ trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, tập thể tác giả đãkhẳng định: “Xây dựng lực lượng hậu cần là thiết thực nâng cao chất lượngcông tác hậu cần góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ,từng bước hiện đại” [6, tr 136] Đồng thời, đề xuất nội dung xây dựng LLHCtrong giai đoạn hiện nay gồm: xây dựng, kiện toàn hệ thống tổ chức HCQĐ; xâydựng đội ngũ cán bộ, nhân viên, chiến sĩ hậu cần và đẩy mạnh hoạt động nghiêncứu khoa học, phát triển công nghệ, bổ sung, cải tiến, hiện đại hóa trang bị kỹthuật hậu cần [6, tr 142 - 165]

Trang 14

“Quán triệt những quan điểm của Đảng trong công tác hậu cần” [98] khi

đề xuất các nội dung xây dựng và giải quyết tốt các mối quan hệ trong CTHCtập thể tác giả đã đề cập một số giải pháp xây dựng LLHC là: phải “làm chomọi cán bộ, chiến sĩ, nhân viên hậu cần trở thành người chiến sĩ cách mạng tựgiác, tuyệt đối trung thành với Đảng, với giai cấp, với dân tộc, có giác ngộchính trị cao, có mục tiêu phục vụ rõ ràng, có phương hướng đúng đắn” [98, tr.35]; phải xây dựng “tổ chức lãnh đạo, tổ chức chỉ huy hậu cần vững mạnh,thích hợp” [98, tr 38]; tổ chức hậu cần phải có hình thức thích hợp, sử dụngcon người và phân công, phối hợp hợp lý [98, tr 38]; phải lãnh đạo xây dựng,củng cố cơ sở vật chất, kỹ thuật vững mạnh [98, tr.41]

“Không ngừng nâng cao chất lượng công tác hậu cần” [129], tác giảTrần Thọ đã đưa ra một số giải pháp xây dựng LLHC là: coi trọng việc kiệntoàn cơ cấu tổ chức hậu cần mạnh, gọn, nhẹ và hiệu suất cao [129, tr 88];không ngừng nâng cao chất lượng vũ khí, trang bị kỹ thuật; đẩy mạnh công tácnghiên cứu, cải tiến, sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật; khẩn trương nâng caonăng suất và chất lượng sửa chữa vũ khí, trang bị kỹ thuật [129, tr 36]

“Bài học thắng lợi của CTHC trong chiến tranh nhân dân chống Mỹ,cứu nước” [127], tác giả Đinh Đức Thiện đánh giá kết quả xây dựng LLHCđến đầu năm 1969 là: đã xây dựng được hệ thống tổ chức cơ quan hậu cần và

bộ đội hậu cần hoàn chỉnh, chặt chẽ từ trên xuống dưới, hệ thống cơ sở hậucần vững chắc từ hậu phương đến tiền tuyến; đội ngũ cán bộ, nhân viên hậucần đông đảo, có lập trường tư tưởng vững, có năng lực và kinh nghiệm đápứng được yêu cầu của nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng của các LLVT; khốilượng cơ sở vật chất, kỹ thuật được tăng cường ngày càng hiện đại đáp ứng

đủ yêu cầu thiết yếu cho bộ đội ta chiến đấu và chiến thắng [127, tr 140].Theo tác giả kinh nghiệm về xây dựng LLHC gồm: xây dựng đội ngũ cán bộ,nhân viên, chiến sĩ hậu cần các cấp; xây dựng hệ thống cơ sở, vật chất, kỹthuật, trang thiết bị hậu cần mạnh; xây dựng tổ chức biên chế các cơ quan,đơn vị hậu cần phù hợp, cân đối, thống nhất trong toàn quân; trong đó, xâydựng và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ hậu cần vững mạnh toàn diện là khâu trungtâm then chốt nhất [127, tr 136 - 147]

Trang 15

Ngoài những công trình nghiên cứu chung về CTHC đã đề cập đến nộidung xây dựng LLHC, còn có một số công trình tiêu biểu khác cũng đề cậpnội dung này như:

“Xây dựng và bồi dưỡng một đội ngũ cán bộ kiên cường, dũng cảm, cónăng lực hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ” [159], tập thể tác giả đã khẳngđịnh: một trong những vấn đề quan trọng trong công tác cán bộ quân đội thời

kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là “Nâng cao hơn nữa trình độ chính trị,quyết tâm chiến đấu, trình độ tổ chức, chỉ huy, quản lí bộ đội, tác phong chiếnđấu của cán bộ các cấp” [159, tr 73], và đã đặt ra yêu cầu “Bồi dưỡng cán bộphải toàn diện cả về chính trị, lập trường, tư tưởng, đạo đức, tác phong, trình

độ tổ chức chỉ huy, quản lí bộ đội, trình độ nghiệp vụ, văn hóa, sức khỏe”[159, tr 74] Tập thể tác giả cũng xác định xây dựng đội ngũ cán bộ hậu cần lànhiệm vụ chiến lược quan trọng, phải được tiến hành thường xuyên bằng nhiềuhình thức, biện pháp Phải thực hiện tốt tất cả các khâu, các bước từ đào tạo,bồi dưỡng, bố trí sử dụng, quản lý, đánh giá… Lấy đào tạo, huấn luyện tậptrung tại các học viện, nhà trường, các đơn vị huấn luyện để trang bị nhữngkiến thức cơ bản; lấy bồi dưỡng, rèn luyện tại chức làm thường xuyên để khôngngừng nâng cao chất lượng toàn diện cho đội ngũ cán bộ, nhân viên, chiến sĩhậu cần các cấp trong toàn quân [159, tr 76]

“Cần, kiệm trong chiến đấu và xây dựng quân đội” [96], tác giả LươngNhân khẳng định: cần, kiệm là một nguyên tắc trong xây dựng LLVT, xâydựng LLHC cách mạng của Đảng, quán triệt và thực hiện tốt nguyên tắc ấyQuân đội nhân dân Việt Nam nói chung, ngành HCQĐ nói riêng vừa có thểhoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng trước mắt, vừa có điều kiện

để chiến đấu lâu dài thắng lợi, giảm nhẹ sự đóng góp của nhân dân, giànhthêm sức người, sức của cho phát triển kinh tế, củng cố hậu phương Để đápứng yêu cầu của nhiệm vụ trong giai đoạn mới của cuộc chiến tranh, tác giả

đề xuất ba giải pháp nhằm thực hành cần, kiệm một cách thiết thực hơn trongchiến đấu và xây dựng quân đội, xây dựng LLHC đó là: sử dụng thật tốt sứcngười trong quân đội; sử dụng và bảo vệ thật tốt cơ sở vật chất, kỹ thuật, tàisản, tài chính và tích cực tăng gia sản xuất, phát huy cao độ khả năng tự cấp,

tự túc [96, tr 46]

Trang 16

Đào tạo cán bộ hậu cần đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại trong giai đoạn cách mạng mới [4] là tập hợp 50 bài tham luận trong Hội thảo khoa học “Đào tạo cán bộ hậu cần đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại trong giai đoạn cách mạng mới” do Học viện Hậu cần tổ

chức nhân dịp Kỷ niệm 50 năm Ngày truyền thống Học viện Trong các bàitham luận dù đề cập nông, sâu khác nhau, nhưng đều khẳng định: đào tạo độingũ cán bộ hậu cần vững mạnh là một yêu cầu khách quan, là nhân tố đặc biệtquan trọng trong xây dựng LLHC Đây là một nhiệm vụ quan trọng đã, đang

và tiếp tục được cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân quan tâm lãnh đạo,chỉ đạo chặt chẽ Các bài viết đã đề ra những yêu cầu về phẩm chất chính trị,đạo đức, lối sống; về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; về tác phong lãnh đạo,chỉ huy đối với cán bộ hậu cần các cấp trong giai đoạn cách mạng mới; đồngthời, đề xuất các nội dung, biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo độingũ cán bộ hậu cần đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội trong giai đoạn cáchmạng mới

1.2 Những công trình nghiên cứu của người nước ngoài

1.2.1 Nhóm công trình nghiên cứu chung về công tác hậu cần

Hậu cần các lực lượng vũ trang Xô viết trong chiến tranh giữ nước vĩ đại [11], Đại tướng S K Curơcôtkin, nguyên Thứ trưởng BQP, Chủ nhiệm

TCHC Quân đội Xô viết từ thực tiễn chỉ đạo CTHC trong cuộc chiến tranhgiữ nước vĩ đại của Liên Xô (1941-1945), đã khái quát thành những vấn đề lýluận có tính nguyên tắc về CTHC quân đội trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.Những vấn đề đó gồm: vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ, nguyên tắc tổ chức

và hoạt động hậu cần các LLVT Xô viết; những nội dung, biện pháp nâng caochất lượng các hoạt động của CTHC các LLVT Xô viết trong sự nghiệp bảo

vệ Tổ quốc XHCN

Hậu cần các lực lượng vũ trang sự hình thành và phát triển [67], tác giả

Gôluskô đã xác định: hậu cần các LLVT là một bộ phận của LLVT, thành phầncủa nó gồm các đơn vị, cơ quan và phân đội được sử dụng để bảo đảm cho quânđội về vật chất, kỹ thuật, giao thông, y tế, xăng dầu, doanh trại và tài chính

Trang 17

Đồng thời, khái quát quá trình hình thành, phát triển và chỉ ra những vấn đề cótính nguyên tắc trong CTHC của Hậu cần các LLVT Xô viết.

Hậu cần các lực lượng vũ trang hỗn hợp của khối quân sự NATO [70]

tác giả A Lêkhin khẳng định các nhà lãnh đạo của khối quân sự NATO đánhgiá rất cao về vai trò của CTHC “Mức độ hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu caohay thấp phụ thuộc trực tiếp vào trình độ tổ chức của hậu cần” [70, tr 3], nênthường xuyên chỉ đạo, triển khai nhiều biện pháp xây dựng và hoàn thiện hệthống tổ chức hậu cần làm cho các đơn vị hậu cần tinh, gọn có sức cơ độngnhanh và hiệu suất bảo đảm lớn

Thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, một câu hỏi lớnđặt ra với nhiều thế hệ người Mỹ là: Tại sao Mỹ thất bại ở Việt Nam? (WhyViet Nam?) Thua ở Việt Nam làm Mỹ đau đầu, nhiều học giả tập trungnghiên cứu, tìm lời giải đáp Ở Mỹ, đã có hàng nghìn cuốn sách, hàng triệutrang viết của các chính khách, các nhà sử học, nhà nghiên cứu, nhà văn, nhàbáo, những người trực tiếp điều hành và tham gia cuộc chiến tranh và cảnhững người ngoài cuộc, … viết về sự kiện này với những lập luận, lý giảikhác nhau để tìm ra lời giải cho sự thất bại của họ ở Việt Nam Trong đó có

rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới CTHC tiêu biểu như: Report on the

war in Viet Nam [170]; The limits of intervention [58]; The Air war in Indochina [167]; Indochina in conflict [176]; The best and the brightest [165]; Dynamics of the Viet Nam war, a quantitative analysis and predictive computer simulation [168]; War in the Shadows [162]; The lessons of Viet Nam [173]; The last chopper [163]; Vain hope, grim realities the economic consequences of the Viet Nam war [172]; A soldier reports [175]; Tóm tắt

tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ Quốc phòng Mỹ [130]; Nhìn lại quá khứ - tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam [95]; Giải phẫu một cuộc chiến tranh Việt Nam - Mỹ và kinh nghiệm lịch sử hiện đại [72];

Trong những công trình nghiên cứu trên, các tác giả đều thừa nhận rằngthất bại của Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam là một tất yếu, đó làmột thất bại tổng lực trên tất cả các mặt của chiến tranh Trong đó, thất bại

Trang 18

trên mặt trận hậu cần là một thất bại nghiêm trọng Các nghiên cứu của người

Mỹ trên cho rằng: Phát động và tổ chức chiến tranh xâm lược Việt Nam, giớicầm quyền và giới quân sự Mỹ nhận rõ vai trò to lớn của CTHC trong chiếntranh Vì thế, họ đã cố gắng hết mức trong khả năng có thể để huy động tiền,của cho cuộc chiến xâm lược Việt Nam và tìm mọi cách để phá hoại, ngănchặn sự lớn mạnh của hậu cần đối phương, nhưng kết cục họ vẫn thất bạinặng nề Thất bại đó là vì: cuộc chiến xâm lược Việt Nam mà giới tư sản hiếuchiến Mỹ phát động là một cuộc chiến phi nghĩa, táng tận lương tâm, bị nhândân Mỹ và nhân dân tiến bộ thế giới kịch liệt phản đối; hậu cần Việt Nam làhậu cần của cuộc chiến tranh nhân dân vệ quốc chính nghĩa dưới sự lãnh đạosáng suốt của Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam, đã huy động và tổchức được toàn dân tham gia, liên minh chặt chẽ với nhân dân cách mạng Lào

và Cămpuchia, đồng thời được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ toànthế giới Thất bại đó là một khách quan và khẳng định thắng lợi trên mặt trậnhậu cần của Việt Nam là tất yếu, là thắng lợi to lớn góp phần xứng đáng vàothắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong cuộc KCCM, CN

1.2.2 Nhóm công trình nghiên cứu về xây dựng lực lượng hậu cần quân đội

Tuyển tập hậu cần quân đội nước ngoài [148] là tập hợp các bài viết

nghiên cứu về CTHC trong giai đoạn hiện nay, ở một số nước trên thế giớicủa người nước ngoài Khi nghiên cứu CTHC một số nước trong khu vựcASEAN như: Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a cho thấy từ trước tới naycác nước này đều rất quan tâm đến xây dựng LLHC Hiện nay, các nước nàyđang điều chỉnh tổ chức, biên chế lực lượng từ số lượng lớn sang số lượnghợp lý, lấy chất lượng làm trọng tâm Biên chế các đơn vị khung gồm các sưđoàn, lữ đoàn, tổ chức lực lượng sĩ quan hậu cần ở các đơn vị, các cấp theo độtuổi mà luật quy định và theo trình độ quân sự, chuyên môn kỹ thuật Đội ngũ

sĩ quan, binh sĩ hậu cần được quản lý chặt chẽ theo biên chế của các đơn vị,được huấn luyện bằng chương trình riêng của các đối tượng và chuyên ngành,nhằm nâng cao trình độ kỹ chiến thuật, chuyên môn nghiệp vụ [148, tr 589]

Trang 19

“Tầm nhìn tổng thể hậu cần liên quân của quân đội Mỹ” [83], tác giả

R.E Love và Gary W Collborne cho rằng ngày nay, nước Mỹ thực hiện

“chính sách lực lượng tổng thể” các lực lượng tồn tại dựa vào nhau và kết

hợp chặt với nhau, thực hiện nhất thể hóa các lực lượng quân sự, phục vụ, bảođảm Mỹ ra sức biên chế, sắp xếp LLHC đủ mạnh để xây dựng các sư đoànlục quân, sư đoàn hải quân đánh bộ và LLHC bảo đảm, phục vụ cho các quân,binh chủng [83, tr 53]

“Chiến lược hậu cần của Quân đội Đài Loan” [86], tác giả Vương Mê –

Hà Ý đã mô tả toàn diện công tác cải cách thể chế bảo đảm hậu cần của Quânđội Đài Loan theo một phương thức mới Theo đó, để nâng cao chất lượngCTHC trong phương thức bảo đảm mới này, cần phải xây dựng đội ngũ cán bộhậu cần, phục vụ ở cấp chiến thuật có chất lượng tốt và số lượng hợp lý

“Nhận thức về hậu cần chiến tranh tương lai – Chiến tranh thế hệ thứ6” [94], tác giả Balucxpki J.N cho biết ở Liên Xô trước đây, LLHC được xâydựng đồng bộ cả về con người và phương tiện và được quản lý chặt chẽ ở tất

cả các cấp Hàng năm đội ngũ cán bộ, binh sĩ làm CTHC được huấn luyện vớithời gian nhất định, quy định theo từng cấp, theo những chương trình riêng vàtheo chuyên môn Đặc biệt Liên Xô rất chú trọng đào tạo các sinh viên cóchuyên ngành tương ứng thành các sĩ quan hậu cần trong quân đội [94, tr 28]

“Phương pháp huấn luyện quân sự, nhân viên y tế của liên quân Mỹ”[73], tác giả Kranop cho rằng: để bảo đảm cho việc gắn kết và hòa nhập vớicác lực lượng của LLHC trong quá trình bảo đảm, phục vụ thì việc huấnluyện cán bộ, nhân viên hậu cần ở các cấp được thực hiện cả ở trong quân đội

và ngoài quân đội Lực lượng hậu cần phục vụ trong vùng chiến chủ yếu làchi viện chiến đấu và phục vụ chiến đấu nên Mỹ đặc biệt chú trọng xây dựngLLHC làm các nhiệm vụ bốc xếp, vận tải, cấp nước, cung cấp xăng dầu, cungcấp đạn dược, cấp dưỡng, cứu thương, xây dựng công trình [73, tr 23]

“Nghiên cứu công tác quản lý tài sản quân sự” [74], tác giả N.A.

Kriucop cho rằng: nước Nga hiện nay đang thực hiện tổ chức lại quân đội,chuyển sang chế độ nhà nghề, nên LLHC và đội ngũ cán bộ làm công tác bảođảm, phục vụ cũng phải được biên chế và sắp xếp lại N.A Kriucop đã trích

Trang 20

dẫn Thông điệp Liên bang ngày 26/5/2004 của Tổng thống Liên bang Nga V.Putin: “Trong quân đội và các cơ quan sức mạnh khác, đang quản lý khốilượng vật chất rất lớn, cần thiết phải được đánh giá và quản lý hiệu quả” Đây

là vật chất – tài sản của LLVT Liên bang Nga và các lực lượng sức mạnh khác

có chức năng chủ yếu để bảo đảm sẵn sàng chiến đấu và sẵn sàng cơ động Sốlượng và chất lượng của các tài sản này ảnh hưởng trực tiếp đến quốc phòng

và an ninh quốc gia Vì vậy, cần phải nghiên cứu công tác quản lý Tác giả đềcập đến bốn yếu tố quan trọng tác động trực tiếp đến công tác quản lý tài sảnquân sự, trong đó yếu tố quyết định là chủ thể quản lý Cho nên, cần phải xâydựng hệ thống đội ngũ chủ thể quản lý theo phân cấp: Nhà nước, Liên bang,cấp vùng, cấp khu vực (Tập đoàn, quân đoàn và đơn vị) Đối với các đơn vịcần phải xây dựng được đội ngũ cán bộ quản lý tài sản quân sự theo đúngnguyên tắc và phương pháp quản lý [74]

“Một số vấn đề về bảo đảm hậu cần quân đội Nga” [71] và “Về cảicách hậu cần quân đội Liên Bang Nga” [82], các tác giả nghiên cứu quá trìnhcải cách LLHC và một số vấn đề bảo đảm hậu cần của quân đội Liên bangNga đều đặc biệt chú ý đến việc xây dựng hoàn thiện đội ngũ cán bộ hậu cầntheo hệ thống bảo đảm và trang bị kỹ thuật mới cho các đơn vị

2 Khái quát kết quả các công trình nghiên cứu có liên quan và những vấn đề tập trung giải quyết trong luận án

2.1 Khái quát chung kết quả các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

Trên cơ sở nghiên cứu có hệ thống các công trình nghiên cứu có liênquan đến đề tài luận án cả trong và ngoài nước cho thấy:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu dưới cả góc độ lý luận nhận thức

và tổng kết thực tiễn đều đã đề cập một cách khá sâu sắc và toàn diện về vị trí,vai trò, chức năng, nhiệm vụ của CTHC bảo đảm cho chiến tranh

Thứ hai, các công trình nghiên cứu đã đề cập đến thực trạng của CTHC

trong cuộc KCCM, CN, đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu

Trang 21

nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của CTHC đáp ứng yêu cầu bảo đảm vậtchất, kỹ thuật cho quân đội, cho các LLVT xây dựng và chiến đấu thắng lợi.

Thứ ba, một số công trình đã nghiên cứu tổng kết, đánh giá kết quả,

nguyên nhân của CTHC bảo đảm cho quân đội và cho các LLVT trong cuộcKCCM, CN với những nhận định và hệ thống số liệu phong phú, từ đó đã rút

ra một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo lớn

Thứ tư, nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến yêu cầu xây dựng

LLHC, thực trạng LLHC qua các giai đoạn của cuộc KCCM, CN; đồng thời,

đề xuất một số giải pháp xây dựng LLHC đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Một sốcông trình cũng đã đánh giá kết quả xây dựng LLHC trong cuộc KCCM, CN

và chỉ ra nguyên nhân của kết quả ấy

Thứ năm, các công trình nghiên cứu có liên quan đều đã khẳng định: sự

lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định sự trưởng thành

và chiến thắng của ngành HCQĐ, của LLHC Tuy nhiên, chưa có công trìnhnào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về chủ trương và sự chỉ đạo củaĐBQĐ xây dựng LLHC trong cuộc KCCM, CN từ năm 1969 đến năm 1975

Như vậy, các công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án rất phongphú, đa dạng Đó là những tài liệu quý mà tác giả có thể tham khảo, kế thừatrong quá trình xây dựng và hoàn thiện luận án

2.2 Những vấn đề tập trung giải quyết trong luận án

Trên cơ sở tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan, tác giả

xác định luận án Đảng bộ Quân đội lãnh đạo xây dựng lực lượng hậu cần

trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1969 đến năm 1975 tập

trung giải quyết những vấn đề cơ bản là:

Làm rõ yêu cầu khách quan ĐBQĐ lãnh đạo xây dựng LLHC vữngmạnh toàn diện

Phân tích, luận giải làm rõ tính đúng đắn, sáng tạo về chủ trương và sựchỉ đạo của ĐBQĐ xây dựng LLHC đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo đảm hậucần cho chiến tranh

Trang 22

Nhận xét và rút ra một số kinh nghiệm từ quá trình ĐBQĐ lãnh đạo xâydựng LLHC trong cuộc KCCM, CN từ năm 1969 đến năm 1975 có giá trịtham khảo, vận dụng trong lãnh đạo xây dựng LLHC giai đoạn hiện nay.

Chương 1 ĐẢNG BỘ QUÂN ĐỘI LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG HẬU CẦN (1969 – 1973) 1.1 Yêu cầu khách quan xây dựng lực lượng hậu cần quân đội

1.1.1 Vị trí, vai trò của lực lượng hậu cần quân đội

Lực lượng hậu cần là một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam,bao gồm toàn bộ con người, phương tiện, cơ sở vật chất kỹ thuật hậu cần củacác cơ quan, đơn vị, cơ sở hậu cần trong toàn quân “Lực lượng hậu cần làtoàn bộ lực lượng các cơ quan, đơn vị, phân đội hậu cần trong một tổ chức,lực lượng quân sự nhất định” [5, tr 280], được tổ chức ở tất cả các cấp chiếnlược, chiến dịch và chiến thuật Lực lượng hậu cần cấp chiến lược gồm: “Các

cơ quan đơn vị thuộc Tổng cục Hậu cần; các kho, trạm, viện, bệnh viện, xínghiệp… do ngành Hậu cần quản lý” [5, tr 280] Trong đó, con người là nhân

tố quan trọng nhất, nhân tố quyết định tới sức mạnh HCQĐ, quyết định đếnthắng lợi của CTHC

Lực lượng hậu cần có vai trò to lớn trong việc hình thành và quyết địnhsức mạnh chiến đấu, chiến thắng của quân đội Vai trò to lớn đó được thể hiện:

Thứ nhất, LLHC là một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam, góp

phần trực tiếp vào việc hình thành sức mạnh của Quân đội Là một bộ phận củaQuân đội, nên Đảng Cộng sản Việt Nam mà trực tiếp là ĐBQĐ tổ chức và lãnhđạo LLHC là tất yếu khách quan Tính tất yếu khách quan đó được quy định bởiyêu cầu khách quan Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo Quân độinhân dân Việt Nam

Chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ rõ: vấn đề căn bản nhất trong hệ thốngnhững nguyên tắc xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân làĐảng Cộng sản phải tổ chức và lãnh đạo chặt chẽ quân đội về mọi mặt, phảiđặt quân đội dưới sự lãnh đạo của Đảng trong mọi tình huống

Trang 23

Trung thành với học thuyết Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mớicủa giai cấp công nhân, vận dụng một cách đúng đắn, sáng tạo vào điều kiện

cụ thể Việt Nam, ngay khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng,Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định phải tổ chức và lãnh đạo tuyệt đối,trực tiếp về mọi mặt Quân đội nhân dân Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam

tổ chức và lãnh đạo Quân đội là tất yếu khách quan, là quy luật xây dựngQuân đội cách mạng của Đảng

Thứ hai, LLHC là lực lượng trực tiếp tổ chức và thực hiện thắng lợi

CTHC quân đội Công tác hậu cần là một mặt công tác quân sự, một yếu tốcấu thành sức mạnh chiến đấu của quân đội “Công tác hậu cần quân đội, mộtmặt công tác quân sự của Đảng, gồm tổng thể các hoạt động để bảo đảm vậtchất, sinh hoạt, quân y, vận tải, xăng dầu… cho quân đội, nhằm duy trì khảnăng thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ” [5, tr 91] Công tác hậu cần quân đội

là bộ phận nòng cốt của CTHC quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân;

là một mặt tạo nên sức mạnh tổng hợp của quân đội; một nội dung quan trọngtrong công tác lãnh đạo, chỉ huy, quản lý bộ đội; công tác chuyên môn của cán

bộ, chiến sĩ, nhân viên hậu cần Đồng thời, là công tác chung của mọi cán bộ,chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân viên quốc phòng trong toànquân

Học thuyết Mác - Lênin bàn về chiến tranh và quân đội chỉ rõ điều kiệnkinh tế, công tác bảo đảm vật chất hậu cần cho quân đội là một trong nhữngđiều kiện quyết định đến sức mạnh của quân đội và sự thắng lợi của quân độitrên chiến trường V.I Lênin chỉ rõ: “Một đội quân giỏi nhất, … cũng đều sẽlập tức bị quân thù tiêu diệt nếu không được vũ trang, tiếp tế lương thực vàhuấn luyện một cách đầy đủ” [77, tr 497] Sau này I.V Xta-lin tổng kết: “…kết cục của các chiến dịch phụ thuộc vào việc tiếp tế đầy đủ và kịp thời đạndược, trang bị và lương thực cho bộ đội” [161, tr 102]

Trung thành và vận dụng sáng tạo lý luận Mác - Lênin vào điều kiệnthực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh chỉ rõ: hậu cần là một trong những yếu tốquan trọng tạo lên sức mạnh tổng hợp của quân đội, của các LLVT nhân dân

Trang 24

“Về quân sự, quân nhu và lương thực rất quan trọng Có binh hùng, tướnggiỏi, nhưng thiếu quân nhu, lương thực, không thể thắng trận được” [88, tr.261] Vì thế, Người luôn coi trọng cả nuôi quân, dạy quân và dùng quân và bamặt công tác: tham mưu, chính trị, hậu cần; đồng thời, thường xuyên nhắcnhở các cấp lãnh đạo, chỉ huy phải trực tiếp chăm lo, tổ chức tốt CTHC.

Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ ngày đầu thành lập, trong những tưtưởng quân sự đầu tiên đã làm rõ vai trò của lĩnh vực bảo đảm hậu cần choLLVT, cho quân đội “… rằng tuyệt nhiên không cần binh khí thì cũng là sainữa, phải có binh khí ít nhiều, càng nhiều càng tốt” [14, tr 92] Quá trình lãnhđạo cách mạng, Đảng luôn xác định: CTHC là một trong ba mặt công tác cơbản của quân đội: tham mưu, chính trị, hậu cần (bao gồm cả kỹ thuật), bộphận quan trọng cấu thành sức mạnh tổng hợp của quân đội

Trong cuộc KCCM, CN Đảng chỉ rõ: tổ chức và CTHC có tác dụng rấttrọng yếu, nếu không có tổ chức hậu cần mạnh thì dù quân đội có anh dũng,thiện chiến đến đâu cũng không giành được thắng lợi [16, tr 226]

Như vậy, CTHC có vị trí, vai trò rất quan trọng trong hoạt động quân

sự, góp phần quyết định thắng lợi, hay thất bại của trận đánh, của chiến dịch

và của cả cuộc chiến tranh

Vai trò quan trọng của CTHC chỉ được thực hiện đầy đủ trên cơ sởLLHC vững mạnh toàn diện Vì thế, phải không ngừng xây dựng LLHC đápứng yêu cầu bảo đảm hậu cần cho quân đội xây dựng và chiến đấu thắng lợi

1.1.2 Tình hình cách mạng Việt Nam sau Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968

Âm mưu, thủ đoạn mới của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn

Thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của quân và dân Việt Nam trong Tổngtiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, buộc đế quốc Mỹ phải chuyểnhướng chiến lược chiến tranh, ngừng bắn phá miền Bắc, thực hiện “phi Mỹhóa” và “Việt Nam hóa chiến tranh” ở miền Nam, nhằm rút dần quân Mỹ,nhưng vẫn giữ được miền Nam trong quỹ đạo thực dân mới của chúng

Níchxơn sử dụng tối đa sức mạnh về quân sự của nước Mỹ, kết hợp vớithủ đoạn chính trị, ngoại giao xảo quyệt, hòng giành thế mạnh, cô lập và bóp

Trang 25

nghẹt cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam Với chiến lược quân sự “quét

và giữ” đẩy mạnh tấn công vùng nông thôn đồng bằng, tập trung đánh phá cáckhu căn cứ, hành lang vận chuyển, bao vây kinh tế vùng giải phóng; phá vỡnhiều cơ sở kháng chiến, đẩy lùi một phần phong trào du kích, làm xáo trộn,chia cắt thế liên hoàn giữa các khu căn cứ ở miền Nam Việt Nam

Ở Campuchia, Mỹ gây sức ép đòi chính quyền đương thời bỏ chínhsách trung lập (1969), làm đảo chính lật đổ Xi-ha-núc (3/1970), đưa lực lượnglớn quân Mỹ và quân đội Sài Gòn tiến công vào đất Campuchia là nơi họ nghi

có căn cứ hậu cần của Việt Nam, nhằm chặn đứng việc tiếp tế cho miền Namqua Campuchia Ở Lào, Mỹ đưa thêm quân Thái Lan vào tham chiến, liên tiếptiến công lấn chiếm Cánh Đồng Chum (9/1969), sử dụng quân chủ lực SàiGòn với không quân Mỹ yểm trợ hành quân lớn ra Đường 9 – Nam Lào(2/1971) đánh phá hòng cắt đứt tuyến vận tải chiến lược chi viện chiến trườngcủa Việt Nam

Mỹ ra sức xây dựng và phát triển lực lượng, tăng cường trang bị, kỹthuật cho quân đội Sài Gòn, củng cố bộ máy chính quyền Sài Gòn, thực hiệnrút dần quân Mỹ, trù tính kế hoạch phục hồi, phát triển kinh tế miền Nam sauchiến tranh Mỹ còn trì hoãn, kéo dài cuộc đàm phán ở Pari, tranh thủ các nướclớn hạn chế viện trợ quân sự cho Việt Nam

Tuy đã tập trung sức mạnh toàn diện, tiến hành phản công quyết liệtgây cho cách mạng Việt Nam những khó khăn to lớn, nhưng đế quốc Mỹ vẫnkhông thực hiện được yêu cầu cơ bản của “Việt Nam hóa chiến tranh”, ngàycàng sa vào thế thua, bị động, khó khăn, đi xuống Thắng lợi to lớn, toàn diệncủa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong hai năm 1970, 1971 đãtạo điều kiện thuận lợi cho quân và dân miền Nam mở cuộc tiến công chiếnlược năm 1972 Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 nổ ra, Mỹ bị động, phảidùng không quân, hải quân đánh phá ác liệt ở miền Nam và mở lại cuộc chiếntranh phá hoại miền Bắc, đánh mạnh, đánh sâu vào nội địa, phong tỏa vùngbiển, hải cảng, đỉnh cao là cuộc tập kích chiến lược đường không bằng B-52đánh phá có tính chất hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng và nhiều nơi khác

Trang 26

Sự chuyển biến của cách mạng Việt Nam sau Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968

Sau chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ, miền Bắc ra sứckhắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục phát triển sản xuất, cải tiến quản lýkinh tế, tiếp tục tranh thủ viện trợ quốc tế, nhằm tạo thêm sức mạnh chi việnchiến trường và ổn định đời sống nhân dân Năng suất lúa năm 1970 tăng gầnnửa triệu tấn so với năm 1969; sản lượng lương thực quy ra thóc năm 1971đạt 5,6 triệu tấn (riêng thóc đạt gần 5 triệu tấn) cao hơn mức bình thường cácnăm khác Những cơ sở công nghiệp quan trọng (điện lực, cơ khí, dệt, dượcphẩm) được khôi phục, đạt hoặc vượt mức sản phẩn năm 1965 Các tuyếngiao thông đường bộ, đường sắt, đường biển nhanh chóng trở lại hoạt độngbình thường, vận chuyển thông suốt; sản lượng vận tải năm 1971 đạt trên 24triệu tấn, vượt trên 4 triệu tấn so với năm 1965 Mạng lưới y tế nhân dân tiếptục phát triển cả về tổ chức lực lượng và cơ sở vật chất kỹ thuật [144, tr 288]

Trên chiến trường miền Nam, do bị tổn thất trong Tết Mậu Thân, trongcác đợt tổng tiến công năm 1968 và do đánh giá không sát đúng tính chấtphức tạp, nham hiểm của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”; đồng thời,

đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn ra sức ngăn chặn tuyến hành lang chiếnlược, tiếp tế từ miền Bắc vào miền Nam bị gián đoạn làm cho đời sống của bộđội và nhân dân vùng giải phóng thiếu thốn, sức chiến đấu giảm sút Thừa cơhội đó, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn tăng cường hành quân càn quét vàlấn chiếm Cùng với các hoạt động quân sự Mỹ và chính quyền Sài Gòn sửdụng nhiều thủ đoạn thâm độc để triệt phá kinh tế và cơ sở hậu cần của ViệtNam như: rải hàng vạn tấn chất độc hóa học phá trụi hàng triệu ha rừng, hoamàu, ruộng vườn; bao vây, bóp nghẹt kinh tế, ngăn chặn hành lang, bịt các cửakhẩu… Vì thế, vùng giải phóng ở miền Nam bị thu hẹp, mất bàn đạp và chỗđứng châm, quân chủ lực Miền bị đẩy lên tận biên giới Campuchia; căn cứ địahậu phương và cơ sở hậu cần Việt Nam trên chiến trường miền Nam bị tổn thấtnghiêm trọng “… đầu năm 1969 địch chiếm lại được phần lớn vùng nông thôngiải phóng quanh Sài Gòn và hầu hết Khu 8, Khu 9, các căn cứ hậu cần của ta

Trang 27

ở đây bị xóa Các căn cứ hậu cần ở miền Đông Nam Bộ không còn dự trữ gạo,muối” [144, tr 345] Mất dân, mất đất, mất cơ sở, hậu cần các cấp không bảođảm được cho các LLVT

Trước tình hình đó, tháng 4 năm 1969, Bộ Chính trị họp bàn biện pháptháo gỡ khó khăn Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, quân và dân cả nước

ra sức chi viện tăng cường lực lượng cho các mặt trận, tiếp tục đẩy mạnh tiếncông quân sự, chính trị, kết hợp với tiến công ngoại giao; mở những đợt tiếncông phủ đầu khi Níchxơn lên cầm quyền, diệt nhiều sinh lực địch; triển khaicuộc đấu tranh ngoại giao trực diện với Mỹ, dồn họ vào thế bị động trên bànđàm phán ở Hội nghị Pari; lập Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miềnNam Việt Nam, thi hành nhiều cải cách dân chủ, thực hiện người cày córuộng ở các vùng giải phóng Cách mạng miền Nam từng bước khắc phục khókhăn, tiến hành phản công, tiến công quyết liệt trên cả ba vùng chiến lược, lấynông thôn làm hướng tiến công chủ yếu, phát triển chiến tranh nhân dân ởnhiều địa phương, đánh bại bình định lấn chiếm của đế quốc Mỹ và chínhquyền Sài Gòn

Khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh xâm lược sang Campuchia vàLào, mặt trận đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương đượchình thành, đưa lực lượng lớn tiến công đánh bại cuộc hành quân lớn sang đấtCampuchia, giúp cách mạng Campuchia phát triển nhảy vọt, giải phóng nhiềutỉnh giáp Việt Nam và hầu hết vùng nông thôn rộng lớn, tạo ra một hậuphương chiến lược quan trọng cho cách mạng miền Nam Ở Lào, bộ đội ViệtNam phối hợp với bộ độ Lào đánh bại các cuộc hành quân liên tiếp của địchhòng lấn chiếm Cánh Đồng Chum, bảo vệ vùng giải phóng, đánh bại cuộchành quân của Mỹ và quân đội Sài Gòn ra Đường 9 – Nam Lào giữ vữnghành lang vận chuyển chiến lược 559; tiến công giải phóng cao nguyên Bô-lô-ven, mở rộng vùng giải phóng Hạ Lào, cùng với các vùng giải phóng ĐôngBắc Campuchia và Đông Nam Bộ hình thành căn cứ kháng chiến liên hoàn ở

ba nước Đông Dương

Trang 28

Thắng lợi có ý nghĩa chiến lược trên chiến trường miền Nam Việt Nam,Campuchia và Lào đã tạo chuyển biến mới về thế và lực của cách mạng ViệtNam, từ chỗ phòng ngự đã chuyển sang thế chủ động tiến công địch trên mọimặt trận Tháng 5 và tháng 6 năm 1971, Bộ Chính trị đề ra nhiệm vụ cho quân

và dân cả nước phải kịp thời nắm bắt thời cơ, đẩy mạnh tiến công quân sự,chính trị, giành thắng lợi quan trọng trong năm 1972 Cuộc tiến công chiếnlược năm 1972 diễn ra trên khắp miền Nam, bắt đầu từ 30 tháng 3 năm 1972,với Trị - Thiên là hướng tiến công chủ yếu Các chiến dịch tiến công hiệpđồng binh chủng quy mô lớn cùng nổ ra trong một thời gian ở ba mặt trận,phá vỡ các tuyến phòng ngự bên ngoài của địch ở Quảng Trị, bắc Tây Nguyên,Đông Nam Bộ Tiếp đó, các cuộc tiến công dồn dập vào các tuyến phòng ngựbên trong của địch ở bắc Bình Định, đồng bằng sông Cửu Long , tiến côngquân sự kết hợp với chính trị, nổi dậy của quần chúng đã tiêu diệt, làm tan rã

bộ phận lớn lực lượng chủ lực và địa phương của quân đội Sài Gòn, mở ranhiều vùng giải phóng ở cả rừng núi, đồng bằng và ven biển miền Nam Trongnăm 1972, quân và dân miền Bắc đã đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứhai của đế quốc Mỹ, đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng đường không vào

Hà Nội, Hải Phòng, bắn rơi nhiều B-52 và máy bay hiện đại khác

Thắng lợi to lớn của quân và dân cả nước trong năm 1972, buộc Mỹ phải

ký Hiệp định Pari (1/1973), chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam,rút hết quân khỏi miền Nam, mở ra bước ngoặt mới cho cuộc KCCM, CN

1.1.3 Thực trạng lực lượng hậu cần quân đội đầu năm 1969

Trong cuộc KCCM, CN dưới sự lãnh đạo của ĐBQĐ, đến đầu năm

1969 LLHC đã không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng đáp ứngyêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo đảm hậu cần cho quân đội, cho cácLLVT xây dựng trưởng thành và chiến đấu thắng lợi Nhận định về tình hìnhLLHC đầu năm 1969, Đề án chấn chỉnh tổ chức lực lượng của TCHC (1969 –1970) [phụ lục 1] chỉ rõ những ưu, khuyết điểm chủ yếu sau:

Lực lượng hậu cần đã phát triển đúng hướng, tương đối cân đối và toàndiện về tổ chức, cơ sở vật chất kỹ thuật và quân số, bảo đảm cung cấp sức

Trang 29

người, sức của cho chiến trường miền Nam, bảo đảm cho các LLVT miền Bắcphát triển và làm tròn nhiệm vụ chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ

Cơ cấu tổ chức TCHC đã phát triển theo hướng tăng thêm những thànhphần khoa học kỹ thuật để đáp ứng yêu cầu của chiến tranh ngày càng hiệnđại Đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật tăng nhiều cả về sốlượng và chất lượng

Lực lượng phát triển tương đối cân đối và toàn diện giữa các cấp, cácngành, đã ưu tiên thích đáng cho các lực lượng làm nhiệm vụ trung tâm, trọngyếu Trong đó: lực lượng vận tải phát triển mạnh với 3 tuyến vận tải chiếnlược (Đoàn 559, Đoàn 500 và Cục Vận tải), gồm nhiều binh chủng hợp thành;lực lượng đường ống đã hình thành và phát triển nhanh trong chiến tranh, đãđáp ứng yêu cầu vận chuyển chi viện cho chiến trường; lực lượng kho, cácxưởng sản xuất và sửa chữa phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng đápứng yêu cầu tiếp nhận, bảo quản, cải tiến, sản xuất, sửa chữa khối lượng vật

tư, hàng hóa, vũ khí, trang bị, cơ sở vật chất kỹ thuật tăng rất lớn, tính chấtngày càng hiện đại; lực lượng quân y phát triển mạnh cả về số lượng bệnhviện, đội điều trị, số giường bệnh, số lượng, chất lượng y, bác sỹ và trang thiết

bị phục vụ công tác chẩn đoán và điều trị đáp ứng yêu cầu của các chiếntrường và phục vụ các LLVT; lực lượng xây dựng cơ bản phát triển bao gồm

cả lực lượng thi công, khảo sát và thiết kế; hệ thống trường, lớp phát triển đápứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhân viên kỹ thuật cho chiến tranh

Đã điều động một LLHC lớn vào phục vụ LLVT và xây dựng ngànhHCQĐ ở miền Nam Đồng thời, đề nghị Nhà nước điều động bổ sung một lựclượng lớn cán bộ, nhân viên, chiến sỹ và cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc pháttriển LLHC đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới

Tuy vậy, tổ chức LLHC còn bộc lộ nhiều khuyết điểm:

Tổ chức quy mô nhỏ, phân tán phù hợp với điều kiện chống chiến tranhphá hoại của đế quốc Mỹ ra miền Bắc, sang giai đoạn mới đã bộc lộ những

Trang 30

nhược điểm trong công tác tổ chức và quản lý sản xuất, công tác bảo quản vật

tư, hàng hóa, nhất là những loại vũ khí trang bị mới và hiện đại

Cơ sở vật chất kỹ thuật lớn, đội ngũ lao động có nhiều ngành nghề,nhưng trình độ tay nghề thấp, thâm niên ít, công tác quản lý nói chung, quản

lý lao động nói riêng còn lỏng lẻo, thành phần gián tiếp cao, cơ quan phục vụcồng kềnh, nên chưa phát huy được sức mạnh của cơ sở vật chất kỹ thuật vàlao động, năng suất lao động thấp và tăng chậm, gây lãng phí sức người, sứccủa

Lực lượng quân số kho tàng vừa yếu, vừa thiếu, nhất là cán bộ, nhânviên kỹ thuật; khối lượng vật tư, hàng hóa tăng nhiều nhưng số người bảoquản và quản lý không phát triển tương xứng, tỷ lệ quân số so với khối lượngvật tư, hàng hóa giảm nghiêm trọng; do vậy, không đủ lực để quản lý, bảoquản cả về số lượng, chất lượng và chủng loại

Trên các tuyến vận tải, lực lượng phát triển mạnh nhưng do chiến đấu

và công tác liên tục, dài ngày, lại bị địch đánh phá ác liệt, môi trường khí hậukhắc nghiệt, nên sức khỏe giảm sút nghiêm trọng, tỉ lệ thương vong cao, vấn

đề cấp bách đặt ra là phải bổ sung, thay thế quân số bị tiêu hao để giữ vữnggiao thông vận tải, chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam

Cơ quan tuy phát triển nhiều, nhanh nhưng chức trách chế độ làm việckhông được quy định theo sự phát triển, cái đã có chưa được chấp hành nghiêmdẫn tới hiện tượng chồng chéo, đùn đẩy công việc và trách nhiệm Việc thànhlập cơ quan, cơ sở mới, thay đổi nhiệm vụ cơ quan, cơ sở, tăng người trongbiên chế có chỗ, có lúc không được tiến hành đúng nguyên tắc, sai quy địnhgây lãng phí sức người, sức của, chất lượng hiệu quả công tác hạn chế…

Như vậy, công tác xây dựng LLHC đã đạt được kết quả to lớn Lựclượng hậu cần đã phát triển toàn diện đủ sức hoàn thành nhiệm vụ được giao.Điều đó, khẳng định chủ trương đúng đắn, sáng tạo của ĐBQĐ, Đảng bộTCHC; tính kiên quyết trong chỉ đạo của BQP, TCHC, sự giúp đỡ của các bộ,ban, ngành Trung ương, các quân khu, quân binh chủng Tuy nhiên, cơ sở vật

Trang 31

chất phát triển, trang bị hiện đại, đội ngũ lao động đông có nhiều ngành nghề,nhưng chưa phát huy đầy đủ sức mạnh của nó; việc bồi dưỡng nâng cao trình

độ tổ chức, quản lý cho cán bộ, nhân viên hậu cần các cấp chưa theo kịp tìnhhình; cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn gâythêm nhiều khó khăn… Mặt khác, ý thức tổ chức kỷ luật và việc chấp hànhcác quy định không nghiêm Những vấn đề đó ảnh hưởng không nhỏ đến chấtlượng của LLHC, làm giảm hiệu quả CTHC Do đó, tiếp tục xây dựng, chấnchỉnh LLHC là một vấn đề quan trọng và cấp bách

1.2 Chủ trương xây dựng lực lượng hậu cần của Đảng bộ Quân đội

Thắng lợi có ý nghĩa chiến lược trong Tổng tiến công và nổi dậy TếtMậu Thân năm 1968, mở ra thời cơ có lợi cho cuộc KCCM, CN của dân tộcViệt Nam Chủ trương của Trung ương Đảng là “… nhanh chóng tăng cườnglực lượng vũ trang cách mạng” [17, tr 57] để tận dụng thời cơ đưa cách mạngViệt Nam bước vào thời kỳ giành thắng lợi quyết định Quán triệt và thựchiện quyết tâm chiến lược của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân và lời kêugọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, từtháng 1 năm 1969 đến tháng 1 năm 1973, ĐBQĐ đã ban hành nhiều văn kiệnquan trọng thể hiện sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quânđội nói chung, LLHC nói riêng Về chủ trương lãnh đạo xây dựng LLHCtrong thời gian này, ĐBQĐ xác định những nội dung cơ bản sau:

1.2.1 Mục tiêu, phương châm xây dựng lực lượng hậu cần

Về mục tiêu xây dựng lực lượng hậu cần

Để bảo đảm cho các LLVT hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trong giaiđoạn mới, căn cứ vào đặc điểm tình hình, nhiệm vụ quân sự, QUTW xác định:

“Ra sức xây dựng lực lượng vũ trang lớn mạnh mọi mặt Xây dựng bộ đội chủlực có chất lượng chiến đấu cao” [110], không ngừng nâng cao sức mạnhchiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm cho các LLVT ở miền Namgiành thắng lợi quyết định, các LLVT ở miền Bắc xây dựng trưởng thành, chi

Trang 32

viện tối đa sức người, sức của cho miền Nam và bảo vệ vững chắc miền BắcXHCN

Cụ thể hóa mục tiêu xây dựng LLVT vào thực tiễn xây dựng ngànhHCQĐ, tháng 6 năm 1969, Đảng ủy, Chỉ huy TCHC đã thông qua Đề án Chấnchỉnh tổ chức lực lượng của TCHC (1969 - 1970), xác định mục tiêu xâydựng LLHC là: không ngừng nâng cao sức mạnh toàn diện của LLHC, bảođảm cho các lực lượng phù hợp với tình hình nhiệm vụ quân sự, phù hợp vớiyêu cầu tác chiến trên các chiến trường, cân đối và đồng bộ có sức mạnh chiếnđấu và công tác cao, bảo đảm cho các LLVT ở miền Nam chiến đấu giànhthắng lợi quyết định, bảo đảm cho các LLVT miền Bắc hoàn thành tốt nhiệm

vụ, đồng thời chuẩn bị những điều kiện thuận lợi cho bước phát triển lâu dài vàsẵn sàng đối phó với mọi tình huống đột biến xảy ra [131]

Về phương châm xây dựng lực lượng hậu cần

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc Việt Nam kết thúcthắng lợi, cách mạng Việt Nam bước vào thời kỳ mới, Đảng Cộng sản ViệtNam chủ trương “Cần phải xây dựng quân đội nhân dân thành một quân độicách mạng, chính quy tương đối hiện đại” [15, tr 306] Thực hiện chủ trương

đó, tháng 2 năm 1955, Tổng Quân ủy xác định kế hoạch 5 năm xây dựng quânđội và củng cố quốc phòng (1955 – 1959), đã chỉ rõ phương châm xây dựngquân đội là: “Tích cực xây dựng quân đội ta thành một quân đội nhân dânhùng mạnh tiến dần từng bước lên chính quy hóa và hiện đại hóa” [8, tr 153].Lực lượng hậu cần là một bộ phận của quân đội, phương châm xây dựngLLHC do phương châm xây dựng quân đội quyết định Quán triệt phươngchâm xây dựng quân đội trong ngành Hậu cần, Đảng bộ TCHC xác định “…bản thân ngành Hậu cần cũng phải xây dựng tiến lên chính quy, hiện đại”

[34] Như vậy, phương châm xây dựng LLHC là: xây dựng LLHC cách mạng,

tiến lên chính quy, hiện đại.

Bên cạnh đó, trong giai đoạn này ĐBQĐ còn nhấn mạnh phải: “Ra sứcxây dựng một quân đội nhân dân chính quy hùng mạnh, có số lượng thích

Trang 33

đáng, có chất lượng rất cao, hết sức xây dựng hiện đại càng nhanh càng tốt”[109] Quán triệt phương hướng của QUTW, Đảng bộ TCHC xác địnhphương hướng xây dựng ngành HCQĐ là: “Tiếp tục kiện toàn tổ chức biênchế, chấn chỉnh lại một số bộ phận cho phù hợp với điều kiện công tác và sinhhoạt mới, theo hướng xây dựng Quân đội tiến nhanh lên chính quy hóa vàhiện đại hóa [40].

Như vậy, phương châm xây dựng LLHC thời gian này có sự phát triểnmới, nhấn mạnh chấn chỉnh tổ chức biên chế và chú trọng xây dựng LLHCtiến nhanh lên hiện đại Vì:

Việc củng cố tổ chức biên chế còn kéo dài, một số cơ quan chủ chốtchưa được kiện toàn, quân số ngoài biên chế còn nhiều, thiếu quân số chiếnđấu, công tác, thừa người phục vụ, sử dụng nhân lực còn lãng phí… [108] Do

đó, có chấn chỉnh tổ chức biên chế cho phù hợp mới bảo đảm được tính cânđối và đồng bộ về số lượng và chất lượng giữa các cơ quan, đơn vị, khắc phụcđược hiện tượng lãng phí sức người, sức của trong xây dựng LLHC

Có chú trọng tiến nhanh lên hiện đại mới đáp ứng được yêu cầu thựctiễn: được sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế nên vũ khí, trang bị, cơ sở vật chất

kỹ thuật của quân đội, của ngành hậu cần đã có bước phát triển ngày cànghiện đại Tuy vậy, trình độ của đội ngũ cán bộ, chiến sỹ, nhân viên các cấpcòn thấp, chưa thực sự làm chủ được các loại vũ khí, trang thiết bị hiện đại;công tác quản lý còn nhiều yếu kém dẫn đến thất thoát, hư hỏng, thiếu tínhđồng bộ, làm giảm tính năng kỹ chiến thuật, hiệu quả sử dụng thấp [105]

Thực tế đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải ra sức chấn chỉnh tổ chức quân

số và tích cực xây dựng LLHC hiện đại càng nhanh càng tốt Có như vậyLLHC mới đủ sức đáp ứng yêu cầu mới của cuộc chiến tranh, bảo đảm chiếnđấu, công tác có hiệu suất cao nhất

1.2.2 Quan điểm xây dựng lực lượng hậu cần

Một là, dựa chắc vào dân, huy động và tổ chức toàn dân tham gia xây dựng LLHC.

Trang 34

Dựa vào dân, động viên và tổ chức toàn dân làm CTHC là nguồn gốcsức mạnh, là quy luật giành thắng lợi của CTHC trong cuộc KCCM, CN Quántriệt quan điểm hậu cần toàn dân trong xây dựng LLHC, QUTW xác định:Trong lúc thi hành bất cứ nhiệm vụ nào, chúng ta đều phải quan tâm đầy đủđến động viên, giác ngộ, bồi dưỡng sức dân và huy động nguồn sức người,sức của to lớn của nhân dân để cung cấp cho chiến tranh Các lực lượng phảiluôn luôn gắn liền với nhân dân, đứng vững trong nhân dân, dựa chắc vàonhân dân… có như vậy mới đủ sức mạnh để chiến thắng [109].

Xây dựng LLHC phải dựa vào dân, nhân dân là nơi cung cấp chính vềsức người, sức của cho quân đội, cho HCQĐ Chỉ có dựa chắc vào nhân dân

ta mới có thể huy động được tối đa sức người, sức của cho chiến tranh choxây dựng và phát triển LLHC không ngừng lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm

vụ bảo đảm hậu cần ngày càng lớn cho các LLVT

Dựa vào dân, huy động tối đa sức người, sức của của nhân dân, nhưngphải ra sức bồi bổ sức dân, tổ chức và tham gia cùng nhân dân phát triển kinh

tế - xã hội nâng cao đời sống của nhân dân, có như vậy nguồn cung cấp mớiđược bền vững, lâu dài

Hai là, lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở.

Xây dựng LLHC phải tuân theo nguyên tắc xây dựng quân đội cáchmạng của Đảng là: lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở Vì “Quân

sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại” [89, tr.217]và “Chuyên môn mà không có chính trị thì chỉ là cái xác không hồn Phải

có chính trị trước rồi có chuyên môn” [92, tr 296]

Xây dựng LLHC vững mạnh về chính trị làm cơ sở là kế tục và pháthuy kinh nghiệm đã đạt được trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vànhững năm đầu của KCCM, CN Thực tiễn tổ chức xây dựng, phát triểnLLVT nói chung, LLHC nói riêng để lại nhiều kinh nghiệm quý, trong đóQUTW xác định: “Phải thường xuyên nâng cao trình độ chính trị, tư tưởngcủa lực lượng vũ trang, trình độ quán triệt đường lối của Đảng, ý thức tổ chức

Trang 35

kỷ luật, ý thức trách nhiệm chính trị…” [109] là nội dung quan trọng hàngđầu cần được tiếp tục quán triệt và thực hiện một cách sáng tạo.

Xây dựng LLHC vững mạnh về chính trị làm cơ sở là nhằm khắc phụcthực trạng: một số cán bộ, chiến sỹ, nhân viên hậu cần lập trường giai cấpchưa thật kiên định; tinh thần trách nhiệm chưa cao; ý thức tổ chức kỷ luật vàchấp hành kỷ luật, nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh chưa nghiêm; tinh thần tựlực cánh sinh, cần, kiệm còn yếu, lãng phí sức người, sức của còn nghiêmtrọng Một số rèn luyện, tu dưỡng còn kém, vi phạm phẩm chất đạo đức cáchmạng, hiện tượng tham ô, hủ hóa, dâm ô còn xẩy ra ở nhiều nơi [36]

Đề cập quan điểm này QUTW xác định: trong việc xây dựng LLVT,xây dựng LLHC phải “… lấy việc xây dựng về chính trị làm cơ sở” [109]

Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh là khâu then chốt.

Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bạiđều do cán bộ tốt hay kém Xây dựng đội ngũ cán bộ hậu cần vững mạnh làxây dựng và phát huy nhân tố con người – nhân tố quyết định thắng lợiCTHC, là quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về công tác cán bộ trongtình hình mới

Thực hiện đường lối công tác cán bộ của Đảng, đội ngũ cán bộ hậu cần

đã phát triển cả về số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu xây dựng, chiếnđấu và công tác của LLHC trong chiến tranh Tuy vậy, chất lượng đội ngũ cán

bộ nhiều mặt còn yếu, tổ chức thực hiện đường lối công tác cán bộ có nơichưa đầy đủ, số lượng cán bộ chưa cân đối giữa các ngành, các cấp [107].Qua thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, QUTW rút ra: “Bồi dưỡng và sắp xếphợp lý đội ngũ cán bộ là một trong những khâu có ý nghĩa quyết định đối với

sự trưởng thành và chiến thắng của quân đội” [109]

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới, QUTW nhấn mạnh

“Phải nắm vững việc xây dựng đội ngũ cán bộ là khâu then chốt trong việcxây dựng lực lượng” [109] Vì thế, phải: “Ra sức xây dựng đội ngũ cán bộ cóchất lượng cao, có số lượng đủ và cân đối” [109] Quán triệt quan điểm đó,

Trang 36

Đảng ủy TCHC xác định “Phải nắm vững khâu trung tâm là phải đào tạo vàbồi dưỡng đội ngũ cán bộ có chất lượng cao và số lượng phù hợp” [37].

Bốn là, xây dựng lực lượng vận tải chiến lược mạnh là nhiệm vụ trung tâm.

Bước vào giai đoạn mới của cuộc KCCM, CN, Trung ương Đảng xácđịnh: “Công tác giao thông vận tải hiện nay là một công tác trung tâm đột xuất

số 1” [24, tr 283] Để hoàn thành nhiệm vụ trung tâm đột xuất đó, cần phải rasức xây dựng lực lượng vận tải vững mạnh

Do phải chiến đấu, công tác dài ngày trong điều kiện khó khăn khắcnghiệt, địch đánh phá ác liệt, nên các lực lượng vận tải bị tiêu hao, tổn thấtlớn cả về người và phương tiện Chiến tranh càng phát triển thì nhu cầu chiviện trên các chiến trường càng lớn Vì vậy, QUTW xác định: “Phải củng cốtuyến chi viện chiến lược thật vững chắc để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ chiviện trước mắt cũng như lâu dài về chiến lược” [101] và tăng cường chỉ đạocủng cố công tác vận chuyển chi viện cho các chiến trường; ra sức xây dựngcác lực lượng vận tải chiến lược thật vững chắc, hoàn chỉnh hệ thống giaothông cả đường sắt, đường ôtô, đường sông, đường ống để nâng cao năng suấtvận chuyển và giữ được chất lượng hàng hóa [103]

Quán triệt chủ trương đó, Đảng ủy, Chỉ huy TCHC xác định nội dungquan trọng bậc nhất trong việc xây dựng, chấn chỉnh LLHC là: “Phải củng cốtuyến vận tải chiến lược vững chắc để đáp ứng nhiệm vụ trước mắt và lâudài” [131] Cùng với chú trọng xây dựng lực lượng vận tải chiến lược mạnhQUTW và Đảng bộ TCHC xác định phải nâng cao chất lượng các tuyến vậntải chiến dịch, chiến trường tạo thành hệ thống vận tải thông suốt từ hậuphương ra tới từng chiến trường

Năm là, xây dựng LLHC phải xuất phát từ thực tiễn và đáp ứng yêu cầu của chiến tranh.

Thực tiễn xây dựng, chiến đấu của quân đội luôn phát triển gắn liền với

sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phát triển không ngừng của sức sảnxuất và trí tuệ của loài người Nhiệm vụ bảo đảm hậu cần cho quân đội tronggiai đoạn mới của cuộc KCCM, CN đặt ra yêu cầu ngày càng cao, quy mô

Trang 37

ngày càng lớn, tính chất ngày càng hiện đại Tình hình đó luôn đặt ra choLLHC những yêu cầu mới trong xây dựng, chiến đấu và công tác Vì vậy, xâydựng LLHC phải xuất phát từ thực tiễn, theo sát tình hình diễn biến trên chiếntrường, đáp ứng đầy đủ yêu cầu của chiến tranh Đề cập quan điểm nàyĐBQĐ xác định trong việc tổ chức và xây dựng LLHC phải:

Xuất phát và phù hợp với thực tiễn Việt Nam “Tổ chức, xây dựng cáclực lượng vũ trang phải phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của nước ta” [109]

Xuất phát từ đối tượng tác chiến, đánh giá đúng tương quan so sánh lựclượng giữa ta và địch, từ thực tiễn hoạt động trên các chiến trường, lấy việchoàn thành nhiệm vụ chiến đấu, công tác làm mục tiêu để hướng mọi hoạtđộng vào đó Quân ủy Trung ương xác định: “Các lực lượng phải được xâydựng và chuẩn bị thật tốt, phù hợp với yêu cầu mới nhất của các chiến trường,luôn sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ chiến đấu và công tác, lấy việc hoànthành nhiệm vụ chiến đấu và công tác làm mục đích” [103]

Biết khai thác, sử dụng và phát huy kinh nghiệm, truyền thống trongchiến đấu và công tác, những thành tựu khoa học kỹ thuật loài người đã đạtđược Phải từ những vấn đề thực tiễn ở các chiến trường, thực tiễn đời sống,chiến đấu của bộ đội mà nghiên cứu giải quyết các vấn đề cụ thể về xây dựnglực lượng “Phải căn cứ vào những kinh nghiệm vừa qua mà chỉ đạo mọi mặt,đồng thời bám sát mọi hoạt động trên chiến trường để đề xuất, kiến nghịnhững điểm cần bổ sung, sửa đổi cần thiết” [103]

Phải căn cứ vào nhu cầu của bộ đội trên các chiến trường và khả năngcung cấp nhân, tài, vật lực của Nhà nước, của địa phương mà có kế hoạch xâydựng cho phù hợp Phải biết dựa vào cán bộ, chiến sỹ, nhân viên phát huy tàinăng, trí tuệ của họ vào xây dựng LLHC ở các cấp

Sáu là, cần, kiệm, tự lực cánh sinh xây dựng LLHC

Cần, kiệm, tự lực cánh sinh là phương châm tiến hành chiến tranh củaĐảng Cần, kiệm, tự lực cánh sinh là biểu hiện quan điểm quần chúng, biếtquý trọng sức lao động, thương yêu nhân dân, sử dụng hợp lý nhất, có hiệuquả nhất sự đóng góp của nhân dân và công sức của bộ đội Cần, kiệm, tự lực

Trang 38

cánh sinh còn là bản chất, truyền thống của Quân đội, là phẩm chất đạo đứccủa mọi quân nhân cách mạng.

Xây dựng LLVT và tiến hành chiến tranh cách mạng ở Việt Nam, mộtquốc gia đất không rộng, người không đông, kinh tế, khoa học kỹ thuật chưaphát triển, chống lại một kẻ thù có tiềm lực kinh tế, quân sự bậc nhất thế giới, đểchiến thắng thì việc quán triệt quan điểm cần, kiệm, tự lực cánh sinh có ý nghĩathực tiễn sâu sắc Nó chẳng những phát huy hết sức mạnh mọi tiềm lực trongnước, mà còn tranh thủ và sử dụng có hiệu quả mọi sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn

bè quốc tế, tạo ra sức mạnh tổng hợp to lớn cho chiến đấu thắng lợi

Vì vậy, xây dựng LLHC phải cần, kiệm, tự lực cánh sinh; đồng thời,tranh thủ tối đa sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế Quân ủy Trung ương xác định:

“Xây dựng ngành hậu cần trong điều kiện khả năng kinh tế của nước ta là chủyếu Kết hợp sự giúp đỡ của các nước anh em, do đó phải phát huy tinh thần

tự lực cánh sinh; phải triệt để tiết kiệm, chống tham ô lãng phí” [124] Chủtrương đó đòi hỏi mọi cán bộ, chiến sỹ phải nâng cao trách nhiệm chính trị, tinhthần làm chủ tập thể, biết tôn trọng yêu quý của công, tiết kiệm sức người, sứccủa của nhân dân; biết tận dụng nguồn cung cấp tại chỗ, triệt để thu mọi thứ vũkhí, phương tiện kỹ thuật, vật chất của địch; giữ gìn, sử dụng tốt mọi cơ sở vậtchất kỹ thuật của ta; ra sức thi đua lao động và tăng gia sản xuất giỏi, nâng caokhả năng tự túc, tự cấp trong mọi hoàn cảnh; đồng thời, tranh thủ tối đa và sửdụng có hiệu quả mọi sự giúp đỡ, viện trợ của quốc tế; chống tham ô, lãng phí;chống đóng cửa kép kín…

Như vậy, xây dựng LLHC phải dựa chắc vào dân, huy động và tổ chức

toàn dân tham gia; lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở; xây dựng

đội ngũ cán bộ vững mạnh là khâu then chốt; xây dựng lực lượng vận tảichiến lược mạnh là nhiệm vụ trọng tâm; phải xuất phát từ thực tiễn và phảicần, kiện, tự lực cánh sinh, đồng thời tranh thủ tối đa sự giúp đỡ của quốc tế.Đây là hệ thống các quan điểm chỉ đạo xây dựng LLHC trong những năm từ

1969 đến 1973, thể hiện sự trung thành, phát triển và cụ thể hóa quan điểmcủa Đảng về CTHC vào xây dựng LLHC trong điều kiện mới của KCCM,

Trang 39

CN Mỗi quan điểm có một vị trí, vai trò và nội dung khác nhau, nhưng thốngnhất với nhau chỉ đạo chặt chẽ công tác xây dựng lực lượng, bảo đảm choLLHC phát triển đúng hướng, ngày càng chính quy, hiện đại đáp ứng kịp thờiyêu cầu chiến tranh.

1.2.3 Nhiệm vụ và giải pháp xây dựng lực lượng hậu cần

Một là, tiến hành tốt công tác xây dựng Đảng trong LLHC.

Công tác xây dựng Đảng trong LLHC thời gian này tập trung thực hiệntốt các nội dung là:

Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động nâng cao chất lượng đảng viên và kếtnạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh, nhằm xây dựng một đội ngũ đảng viên có sốlượng thích hợp và chất lượng cao, có năng lực tham gia vào sự lãnh đạo, vậnđộng quần chúng, chấp hành tốt chức trách nhiệm vụ, thực sự tiên tiến vềnhận thức tư tưởng và hành động, nhất là đảng viên là cấp ủy viên, cán bộ

Ra sức xây dựng chi bộ thường xuyên vững mạnh Kết hợp chặt chẽviệc xây dựng chi bộ với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện; giáo dục, rènluyện đảng viên với bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ và đoàn viên; nâng cao chấtlượng chi bộ gắn với việc lãnh đạo đơn vị hoàn thành nhiệm vụ; tăng cườngchế độ lãnh đạo chính trị gắn với tăng cường chế độ chỉ huy, quản lý bộ đội,quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật, khắc phục các hiện tượng tiêu cực lạc hậu,thiết thực nâng cao chất lượng chiến đấu và hiệu suất công tác của các đơn vị;cải tiến nâng cao chất lượng sinh hoạt lãnh đạo của chi bộ

Tích cực xây dựng đảng ủy các cấp thường xuyên vững mạnh toàndiện, cải tiến lề lối làm việc, đề cao tự phê bình và phê bình, tăng cường đoànkết thống nhất trong các cấp ủy Ra sức bồi dưỡng, nâng cao năng lực của cấp

ủy trong lãnh đạo chiến đấu, phục vụ chiến đấu và công tác; lãnh đạo quản lý

bộ đội và tổ chức thực hiện nhiệm vụ

Đi đôi với công tác xây dựng các cấp ủy, tổ chức đảng phải tăng cườnglãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và kiện toàn các tổ chức quần chúng trong sạchvững mạnh; cải tiến nâng cao chất lượng sinh hoạt; bồi dưỡng tốt đội ngũ cán

bộ làm công tác đoàn thanh niên, công đoàn, phụ nữ; nâng cao chất lượnggiáo dục, rèn luyện đoàn viên thanh niên, công đoàn; cổ vũ mạnh mẽ phong

Trang 40

trào người tốt, việc tốt; phát huy tác dụng của các tổ chức quần chúng trongviệc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.

Hai là, thường xuyên tiến hành tốt công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng cho cán bộ, nhân viên, chiến sỹ hậu cần các cấp.

Nhằm tiếp tục phát huy khí thế tiến công, tinh thần quyết chiến, quyếtthắng, kiên trì và đẩy mạnh cuộc KCCM, CN đi đến thắng lợi, QUTW xácđịnh phải “Thường xuyên tiến hành tốt công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo

tư tưởng” [108]

Nội dung giáo dục chính trị, tư tưởng phải toàn diện, trong đó tập trungvào: tiếp tục giáo dục mọi chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật, quy định của quân đội, của đơn vị,truyền thống của dân tộc, của quân đội và ngành HCQĐ; giáo dục về tìnhhình nhiệm vụ của Quân đội, của ngành HCQĐ trong tình hình mới và nhiệm

vụ cụ thể của từng cơ quan, đơn vị

Phải phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi tổ chức, mọi lực lượng, tiếnhành bằng nhiều hình thức linh hoạt và sáng tạo; kết hợp chặt chẽ giữa giáodục chung và giáo dục riêng, giáo dục thường xuyên với mở các đợt học tậplớn tập trung và thống nhất

Cùng với tiến hành tốt công tác giáo dục, phải tăng cường công tácquản lý, kiểm tra nắm chắc diễn biến tư tưởng của cán bộ, chiến sỹ, nhân viênhậu cần các cấp, kịp thời ngăn chặn và kiên quyết khắc phục những biểu hiện

tư tưởng tiêu cực, sai trái

Ba là, nâng cao chất lượng, đồng thời tích cực giải quyết hợp lý số lượng nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên hậu cần có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới.

Căn cứ vào tình hình đội ngũ cán bộ, nhân viên hậu cần và yêu cầu củanhiệm vụ chiến đấu, phục vụ chiến đấu và công tác của ngành HCQĐ tronggiai đoạn mới, QUTW xác định: “ra sức nâng cao chất lượng mọi mặt đội ngũcán bộ, đồng thời tích cực giải quyết hợp lý số lượng cán bộ, nhằm xây dựngmột đội ngũ cán bộ… đáp ứng tốt mọi yêu cầu của nhiệm vụ chiến đấu và xây

Ngày đăng: 15/12/2016, 15:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình nhất (d) ,, 38 - Luận văn đảng bộ quân đội lãnh đạo xây dựng lực lượng hậu cần trong cuộc kháng chiến chống mỹ, cứu nước từ năm 1969 đến năm 1975
Hình nh ất (d) ,, 38 (Trang 200)
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC TỔNG CỤC HẬU CẦN NĂM 1968 - Luận văn đảng bộ quân đội lãnh đạo xây dựng lực lượng hậu cần trong cuộc kháng chiến chống mỹ, cứu nước từ năm 1969 đến năm 1975
1968 (Trang 204)
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC TỔNG CỤC HẬU CẦN NĂM 1969 - Luận văn đảng bộ quân đội lãnh đạo xây dựng lực lượng hậu cần trong cuộc kháng chiến chống mỹ, cứu nước từ năm 1969 đến năm 1975
1969 (Trang 204)
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC TỔNG CỤC HẬU CẦN NĂM 1973 - Luận văn đảng bộ quân đội lãnh đạo xây dựng lực lượng hậu cần trong cuộc kháng chiến chống mỹ, cứu nước từ năm 1969 đến năm 1975
1973 (Trang 205)
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC TỔNG CỤC HẬU CẦN NĂM 1974 - Luận văn đảng bộ quân đội lãnh đạo xây dựng lực lượng hậu cần trong cuộc kháng chiến chống mỹ, cứu nước từ năm 1969 đến năm 1975
1974 (Trang 205)
SƠ ĐỒ HỆ THỐNG ĐƯỜNG ỐNG XĂNG - Luận văn đảng bộ quân đội lãnh đạo xây dựng lực lượng hậu cần trong cuộc kháng chiến chống mỹ, cứu nước từ năm 1969 đến năm 1975
SƠ ĐỒ HỆ THỐNG ĐƯỜNG ỐNG XĂNG (Trang 215)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w