CTXH VỚI NGƯỜI NHIỄM HIV/AIDS
Tổng quan về dịch HIV
1 Tình hình HIV/AIDS trên thế giới
Kể từ ca nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện tại Mỹ năm 1981, nhân loại đã trải qua hơn 30 năm đối phó với đại dịch phức tạp này Đến cuối năm 2009, có 33,3 triệu người nhiễm HIV, với tỷ lệ 0,8% trong nhóm tuổi 15-49 Năm 2009, ước tính có 2,6 triệu người nhiễm mới và 1,8 triệu người tử vong do AIDS So với năm 1999, số ca nhiễm mới đã giảm 21% Báo cáo của UNAIDS cho thấy đến cuối năm 2009, 33 nước ghi nhận giảm số ca nhiễm mới, trong đó có 22 nước ở khu vực cận Saharan, Châu Phi Tuy nhiên, vẫn còn 7 nước có tỷ lệ nhiễm mới tăng trên 25% so với năm 1999.
Tính đến năm 2009, châu Á có khoảng 4,9 triệu người nhiễm HIV, với hầu hết các quốc gia ghi nhận tình hình dịch bệnh có dấu hiệu chững lại Thái Lan là quốc gia duy nhất trong khu vực có tỷ lệ nhiễm gần 1%, nhưng cũng đang có dấu hiệu ổn định Ngược lại, tỷ lệ nhiễm HIV lại gia tăng ở những quốc gia có tỷ lệ thấp như Bangladesh, Pakistan (nơi tiêm chích ma túy là phương thức lây truyền chính) và Philippines HIV chủ yếu lây lan trong các nhóm người tiêm chích ma túy, người bán dâm, khách làng chơi và nam quan hệ tình dục đồng giới, trong khi khoảng 90% ca nhiễm mới tại Ấn Độ được cho là do quan hệ tình dục không an toàn.
Sau 30 năm, AIDS đã trở thành một trong những căn bệnh nguy hiểm nhất đối với con người, đặc biệt ảnh hưởng nặng nề đến các khu vực như Châu Phi cận Sahara, Châu Mỹ La Tinh và vùng Caribê Tại Châu Phi cận Sahara, HIV/AIDS là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong, trong khi trên toàn cầu, HIV/AIDS xếp thứ 4 trong số các bệnh gây tử vong cao nhất.
Dự tính gần 3 thập kỷ qua:
- Tổng số nhiễm khoảng 70 triệu người, gần 30 triệu người chết vì AIDS
- Hiện nay còn khoảng trên 40 triệu người nhiễm HIV còn sống: 17 triệu phụ nữ nhiễm, gần 3 triệu trẻ em nhiễm, trên 14 triệu trẻ mồ côi.
- Mỗi ngày thêm khoảng 14.000 trường hợp mới phát hiện
- Tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất là ở Châu Phi rồi tới Châu Á Thái Bình Dương.
Kể từ năm 2011, một số khu vực, đặc biệt là các nước cận sa mạc Sahara ở Châu Phi, đã ghi nhận sự giảm mạnh trong tỉ lệ nhiễm mới HIV, trong khi đó, một số nơi khác như Australia, Đông Âu và Trung Á lại chứng kiến sự gia tăng tỉ lệ nhiễm mới HIV.
- Khoảng 80% lây qua đường tình dục, có nơi đến 94%
Năm 2011 đánh dấu nhiều thay đổi quan trọng trong cuộc chiến chống HIV/AIDS, với nghiên cứu cho thấy việc điều trị sớm có thể giảm tỉ lệ nhiễm mới đến 96% Báo cáo của UNAIDS cho biết, số ca HIV phát hiện mới toàn cầu đã giảm 21% so với năm 1997, trong khi số người chết liên quan đến AIDS cũng giảm 21% so với năm 2005 Ông Peter Ghys, người đứng đầu bộ phận dịch tễ của UNAIDS, cho biết, khoảng một nửa số người nhiễm HIV/AIDS cần điều trị hiện đã được tiếp cận, tương đương với 6,6 triệu người Các loại thuốc mới cũng giúp giảm thiểu lây truyền virus HIV từ mẹ sang con.
2 Tình hình HIV/AIDS tại Việt
Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên tại VN được phát hiện vào tháng 12 năm
Dịch HIV/AIDS bắt đầu bùng nổ tại thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1993, chủ yếu trong nhóm người nghiện tiêm chích ma túy Từ đó, dịch bệnh đã nhanh chóng lan ra các tỉnh thành khác trên cả nước.
Trong thập kỷ qua, dịch HIV/AIDS đã phát triển nhanh chóng ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Thái Nguyên, Điện Biên, Sơn La và Yên Bái, với sự lây lan không chỉ ở khu vực thành thị mà còn ở vùng sâu, vùng xa và vùng dân tộc thiểu số Dịch chủ yếu tập trung trong nhóm nghiện chích ma túy (chiếm 70%), phụ nữ bán dâm (5%) và nhóm người tình dục đồng giới nam Đường lây truyền chủ yếu qua tiêm chích chung ma túy, nhưng ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, lây truyền qua đường tình dục đang gia tăng, với tỷ lệ từ 12% năm 2004 lên 29% năm 2010 Mặc dù tình hình dịch HIV/AIDS đã được khống chế ở nhiều địa phương sau năm 2005 và số ca nhiễm mới đã giảm liên tục trong 3 năm qua, nhưng dịch vẫn diễn biến phức tạp với hành vi nguy cơ lây nhiễm cao Tính đến cuối tháng 12/1998, tất cả 61 tỉnh, thành phố đã phát hiện có người nhiễm HIV.
Theo báo cáo của Bộ Y tế, tính đến 30/12/2011, hơn 77% xã/phường, gần 98% quận/huyện và 63/63 tỉnh/thành phố trên toàn quốc đã phát hiện người nhiễm HIV Tỷ lệ nhiễm HIV theo giới tính cho thấy nam giới chiếm 69% và nữ giới chiếm 31%, với sự giảm 2% ở nam và tăng gần 2% ở nữ so với năm 2010, cho thấy tỷ trọng nữ giới nhiễm HIV đang gia tăng Đối tượng nhiễm HIV chủ yếu tập trung ở độ tuổi 20 – 39, chiếm 82% tổng số ca nhiễm, với nhóm 30 - 39 tuổi có tỷ lệ cao nhất, đạt 43% vào cuối năm 2011 Đồng thời, tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm 40 - 49 tuổi cũng đang có xu hướng tăng, mặc dù chậm hơn, đạt 11%.
Theo báo cáo năm 2011, tỷ lệ người nhiễm HIV theo đường lây truyền cho thấy lây truyền qua đường máu chiếm 46,7%, giảm hơn 3% so với năm 2010 Lây truyền qua đường tình dục chiếm 41,4%, tăng khoảng 3% so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ lây truyền từ mẹ sang con là 2,4%, trong khi 9,5% trường hợp không rõ đường lây truyền Ở miền Bắc, lây truyền qua đường máu chiếm 62,7%, trong khi miền Nam có tỷ lệ lây truyền qua đường tình dục cao hơn, đạt 57,8% Sự khác biệt này cho thấy sự thay đổi trong cách lây truyền HIV giữa các khu vực.
Kết quả khảo sát cho thấy, 41% người nhiễm HIV được báo cáo chủ yếu là người nghiện chích ma túy, cho thấy sự tập trung cao của dịch bệnh trong nhóm này.
Từ năm 2010 đến 2011, tỷ lệ người nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy đã giảm xuống còn 3%, nhưng nhóm này vẫn chiếm gần ẵ tổng số trường hợp nhiễm HIV được báo cáo Cụ thể, năm 2011, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy tại cộng đồng là 13,4%, giảm so với 17,24% của năm 2010 Tuy nhiên, tại một số tỉnh như Điện Biên và thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ nhiễm HIV vẫn ở mức cao, lần lượt là 45,7% và 39,3% Điều này cho thấy hành vi nguy cơ lây truyền HIV trong nhóm nghiện chích ma túy vẫn rất cao và có khả năng làm gia tăng tỷ lệ người nhiễm HIV trong nhóm này.
Trong bốn năm qua, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm tình dục khác giới đã gia tăng đáng kể, từ 8% vào năm 2007 lên 22,5% vào năm 2011 Tuy nhiên, trong cùng năm 2011, tỷ lệ nhiễm HIV ở phụ nữ bán dâm đã giảm xuống còn 2,97% so với năm trước đó.
Năm 2010, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ bán dâm là 4,6% Tuy nhiên, năm 2011, giám sát trọng điểm chỉ tập trung vào việc lấy mẫu từ phụ nữ bán dâm tại cộng đồng, cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ bán dâm đang giáo dục tại Trung tâm 05 cao hơn so với cộng đồng Do đó, việc theo dõi và giảm tỷ lệ nhiễm HIV vẫn cần được tiếp tục để đảm bảo tính bền vững Một số tỉnh như Hà Nội (22,5%), Lạng Sơn (17,06%), Cần Thơ (10,67%) và Điện Biên (8%) có tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ bán dâm rất cao, tiềm ẩn nguy cơ lây truyền cho người mua dâm.
Tại Hà Nội, 15% phụ nữ bán dâm cho biết đã từng tiêm chích ma túy, trong khi tỷ lệ này ở Điện Biên là 8,6% Những tỉnh này có tỷ lệ nhiễm HIV cao trong nhóm phụ nữ bán dâm, đồng thời có hành vi nguy cơ cao liên quan đến tình dục không an toàn, tạo ra mối đe dọa lớn trong việc lây truyền HIV Do đó, cần triển khai các biện pháp can thiệp hiệu quả để hạn chế sự lây lan của virus này.
Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại thành phố Hồ Chí Minh là 14%, trong khi tại Hà Nội là 6,7% Đặc biệt, xu hướng nhiễm HIV trong nhóm này đang gia tăng ở một số tỉnh như Hải Dương, Hà Nội và An Giang.
Hiểu biết cơ bản về HIV/AIDS
Khái niệm và một số đặc diểm của HIV
- Khái niệm về HIV: HIV là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Human
Immunodeficiency Virus" là vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh.
HIV là một loại virus thuộc nhóm Lentivirus, có khả năng tấn công hệ miễn dịch của con người Lentivirus được biết đến với đặc điểm là gây ra tác động chậm, cần thời gian dài để phát triển Virus HIV có tính biến đổi cao, dễ dàng đột biến, dẫn đến sự xuất hiện của nhiều chủng HIV khác nhau trong cơ thể người nhiễm.
Người mang HIV trong máu thường được gọi là người nhiễm HIV
- Một số đặc điểm cơ bản của HIV
Kích thước của HIV vô cùng nhỏ bé, chỉ vào khoảng từ 80 – 120 nanomét
HIV có kích thước chỉ bằng 1 nanomét, tương đương với 1 phần tỷ mét, do đó chỉ có thể quan sát dưới kính hiển vi điện tử với độ phóng đại hàng triệu lần Nhờ vào kích thước nhỏ bé này, virus HIV có khả năng xâm nhập vào cơ thể qua các vết xước nhỏ và niêm mạc.
HIV có khả năng biến đổi cao, dẫn đến sự xuất hiện nhiều chủng virus khác nhau trên thế giới Trong quá trình điều trị bằng thuốc kháng virus (ARV), HIV có thể phát triển kháng thuốc, và các chủng virus kháng thuốc mới này có thể lây truyền giữa người với người Đây là một thách thức lớn đối với nghiên cứu và phát triển vắc xin chống HIV cũng như thuốc điều trị AIDS.
Bề mặt của virus HIV được bao phủ bởi nhiều gai nhú, giúp nó dễ dàng bám vào và xâm nhập nhanh chóng vào các tế bào bạch cầu, những tế bào có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cơ thể khỏi bệnh tật.
Các đặc điểm trên của HIV là cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu, chế tạo thuốc điều trị AIDS và vắc xin dự phòng lây nhiễm HIV
+ Một số đặc điểm lý hóa
Vỏ HIV được hình thành từ lớp lipid kép, giúp virus duy trì độ bền bề mặt và tồn tại lâu hơn bên ngoài cơ thể Nhờ vào cấu trúc này, HIV có thể sống ngoài môi trường từ vài ngày đến một tuần, đặc biệt là trong các mẫu máu còn dính trên bơm kim tiêm đã qua sử dụng.
HIV có thể tồn tại ở trong xác cơ thể bệnh nhân AIDS đã chết trong vòng
HIV không bị tiêu diệt bởi nhiệt độ dưới 0 độ C, tia X hay tia cực tím, nhưng lại có thể bị tiêu diệt khi ở ngoài cơ thể dưới tác động của nhiệt độ và các chất sát trùng thông thường Cụ thể, HIV sẽ chết sau 30 phút ngâm trong cồn 70 độ, dung dịch Cloramin 1% hoặc nước Javel 1% Do đó, việc ngâm dụng cụ tiêm chích trong cồn 70 độ hoặc quần áo, đồ vải dính máu nhiễm HIV vào dung dịch Cloramin 1% hay nước Javel 1% trong 30 phút sẽ tiêu diệt được virus này Ngoài ra, nếu được đun sôi trong 20 phút kể từ khi nước sôi, HIV cũng sẽ chết, vì vậy việc luộc các dụng cụ phẫu thuật hay tiêm chích bằng thủy tinh hay kim loại trong 20 phút trước khi sử dụng là biện pháp hiệu quả để diệt HIV.
Các đặc điểm lý hóa của virus HIV là cơ sở khoa học quan trọng giúp xác định biện pháp xử lý và phòng ngừa lây nhiễm Điều này bao gồm việc xử lý các dụng cụ và đồ vải có dính máu hoặc dịch sinh học từ người nhiễm HIV, cũng như xác định các phương pháp ứng phó khi bị phơi nhiễm với virus này.
- Cơ chế HIV xâm nhập và gây bệnh trong cơ thể người
Hệ miễn dịch của con người, chủ yếu bao gồm bạch cầu, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cơ thể khỏi các tác nhân gây bệnh xâm nhập từ bên ngoài và ngăn chặn sự phát triển của các tế bào ung thư bên trong.
Trong hệ thống bạch cầu, lympho bào T mang thụ cảm CD4, hay còn gọi là tế bào CD4, đóng vai trò quan trọng như một "Tổng chỉ huy" trong việc điều phối và huy động toàn bộ hệ miễn dịch của cơ thể.
HIV xâm nhập vào cơ thể và tấn công các bạch cầu, đặc biệt là lympho bào T-CD4, sử dụng chất liệu di truyền của chúng để nhân lên Điều này không chỉ khiến bạch cầu không thể tiêu diệt HIV mà còn biến chúng thành "kẻ tòng phạm", dẫn đến sự phá hủy cuối cùng của chính bạch cầu.
HIV tấn công và tiêu diệt bạch cầu, làm suy yếu hệ miễn dịch của cơ thể Khi hệ miễn dịch bị "vô hiệu hóa", cơ thể không còn khả năng tự bảo vệ, dẫn đến nguy cơ cao mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội và cả ung thư.
“mặc sức hoành hành” gây nên nhiều bệnh nguy hiểm và dẫn đến tử vong.
HIV không chỉ xâm nhập vào cơ thể mà còn trực tiếp tấn công tế bào thần kinh đệm, dẫn đến tình trạng lú lẫn và mất trí nhớ Ngoài ra, virus này còn có khả năng xâm nhập vào các cơ quan thần kinh, dạ dày, ruột và da, gây ra nhiều bệnh lý khác nhau cho các cơ quan này Điều này làm cho triệu chứng của AIDS trở nên đa dạng, phức tạp và khó chẩn đoán.
Khái niệm về AIDS
AIDS, viết tắt của "Acquired Immune Deficiency Syndrome", là hội chứng suy giảm miễn dịch do virus HIV gây ra Hội chứng này thường biểu hiện qua các nhiễm trùng cơ hội và ung thư, và có thể dẫn đến tử vong nếu không được điều trị kịp thời.
AIDS thường được mô tả là "căn bệnh chết người, vô phương cứu chữa", điều này tạo ra nỗi sợ hãi và gia tăng sự kỳ thị, vì vậy cần tránh cách diễn đạt này Tuy nhiên, cũng không nên rơi vào thái cực cho rằng "AIDS là một bệnh mãn tính, có thể điều trị như bệnh cao huyết áp hoặc tiểu đường", vì điều này có thể khiến mọi người hiểu sai mức độ nghiêm trọng của AIDS.
AIDS là một bệnh mãn tính do virus HIV gây ra, làm suy giảm hệ miễn dịch của cơ thể Khi HIV tấn công và phá hủy các tế bào miễn dịch, cơ thể không còn khả năng chống lại các virus, vi khuẩn và nấm gây bệnh Hệ quả là người bệnh dễ mắc phải một số loại ung thư và nhiễm trùng cơ hội mà bình thường cơ thể có thể đề kháng được.
AIDS được xem là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV Mỗi người mắc AIDS sẽ trải qua các triệu chứng khác nhau, phụ thuộc vào loại bệnh nhiễm trùng cơ hội mà họ gặp phải và khả năng chống đỡ của hệ miễn dịch cá nhân.
2 Các giai đoạn phát triển của HIV
Nhiễm HIV không ngay lập tức chuyển sang giai đoạn AIDS mà diễn ra trong một khoảng thời gian dài, có thể lên đến hàng chục năm Trong giai đoạn này, người nhiễm HIV vẫn có thể sống khỏe mạnh, lao động và học tập bình thường, tuy nhiên, họ có khả năng lây truyền virus từ người này sang người khác do HIV vẫn tồn tại và phát triển trong cơ thể họ.
Thời gian chuyển đổi từ nhiễm HIV sang AIDS phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm sức đề kháng của người nhiễm, lối sống và thói quen sinh hoạt sau khi mắc bệnh, sự hỗ trợ từ gia đình và người thân, cũng như mức độ kỳ thị và phân biệt đối xử trong xã hội.
Theo các nhà nghiên cứu, quá trình phát triển từ nhiễm HIV đến AIDS thường trải qua ba giai đoạn chính, mặc dù sự phân chia này có thể khác nhau trong các tài liệu.
Giai đoạn cấp tính
Đa số người nhiễm HIV trong giai đoạn đầu thường không có biểu hiện rõ ràng, khiến cho cả người khác và bác sĩ khó nhận biết Một số trường hợp có thể gặp triệu chứng như sốt, nổi hạch, hoặc phát ban đỏ trong khoảng 8 đến 10 ngày, nhưng sau đó lại trở về trạng thái bình thường, dễ nhầm lẫn với bệnh cảm cúm thông thường Do đó, có thể nói rằng nhiễm HIV trong giai đoạn đầu thường không có triệu chứng đặc trưng nào để nhận biết.
- Thời gian: Vài tuần có khi 6 tháng đến 1 năm
Trong giai đoạn đầu khi HIV xâm nhập vào cơ thể, chưa có kháng thể chống lại virus này, dẫn đến kết quả xét nghiệm âm tính Virus HIV tấn công các tế bào miễn dịch CD4, sử dụng chúng để sinh sôi hàng triệu bản sao mỗi ngày và lây lan trong cơ thể Trong thời gian này, cơ thể cố gắng bảo vệ mình trước sự tấn công của HIV thông qua các cơ chế miễn dịch.
+ Tạo ra kháng thể dính vào virus và không cho virus sinh sôi them.
Các tế bào đặc biệt như macrophages và tế bào T đóng vai trò quan trọng trong việc tiêu diệt HIV Sự xuất hiện của kháng thể chống HIV trong máu cho thấy cơ thể đang nỗ lực tự bảo vệ trước sự tấn công của virus Tuy nhiên, lượng kháng thể này chỉ đủ để phát hiện qua các xét nghiệm sau vài tháng kể từ khi bị nhiễm Do đó, trong giai đoạn đầu của hội chứng HIV cấp tính, kết quả xét nghiệm tìm HIV có thể vẫn âm tính Để xác định tình trạng nhiễm HIV trong giai đoạn này, người ta có thể sử dụng xét nghiệm tìm RNA của HIV trong máu, vì RNA là một đoạn di truyền của virus được sản sinh khi HIV đang hoạt động Xét nghiệm này giúp xác định liệu cơ thể có đang mắc hội chứng HIV cấp tính hay không.
Giai đoạn không triệu chứng
- Thời gian: kéo dài trong vài năm đến trên 10 năm.
- Triệu chứng: Người bệnh không có biểu hiện các dấu hiệu lâm sàng.
- Người nhiễm HIV đã có kháng thể kháng virus trong máu ( xét nghiệm +) nhưng không có triệu chứng gì.
- Người nhiễm HIV vẫn lao động và sinh hoạt bình thường.
- Giai đoạn này HIV không lây nhiễm qua tiếp xúc thông thường, chỉ lây qua 3 đường cơ bản.
- Điều trị sẽ kéo dài thời gian chuyển thành AIDS.
Giai đoạn AIDS
Nhiễm HIV không đồng nghĩa với AIDS, vì khoảng thời gian từ khi nhiễm HIV đến khi phát triển thành AIDS có thể kéo dài nhiều năm Trong giai đoạn này, người nhiễm HIV vẫn có thể sống khỏe mạnh và tiếp tục làm việc bình thường để duy trì cuộc sống Khi cơ thể bị nhiễm HIV, sẽ có ba xu hướng phát triển khác nhau.
Người nhiễm virus HIV có thể duy trì sức khỏe tốt và làm việc bình thường trong khoảng 10 năm hoặc lâu hơn nếu họ thay đổi hành vi, thực hiện chế độ dinh dưỡng hợp lý và tập luyện thể dục thường xuyên.
- Hoặc sẽ phát triển thành AIDS trong vòng 5-7 năm nếu để cho HIV diễn biến tự nhiên trong cơ thể.
Nếu tiếp tục có hành vi nguy cơ như sử dụng chung bơm kim tiêm hoặc quan hệ tình dục không an toàn với nhiều người, HIV có thể tiến triển rất nhanh thành AIDS chỉ trong vài năm.
Trong giai đoạn này người bệnh thường gặp các triệu chứng: tiêu chảy, sụt cân, ung thư da, loét da, liêm mạc, lao, nám
Giai đoạn này không lây qua chăm sóc nếu sử dụng đúng các dụng cụ bảo hộ.
3 Dấu hiệu nhận biết một người nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS
HIV làm suy yếu hệ thống miễn dịch, khiến người nhiễm có nguy cơ mắc nhiều bệnh lý khác nhau, dẫn đến sự xuất hiện của nhiều triệu chứng đa dạng.
Các nhà nghiên cứu cho rằng, nhiễm HIV được xem là đã chuyển sang giai đoạn AIDS khi người nhiễm có ít nhất hai triệu chứng chính và một triệu chứng phụ xuất hiện.
- Sụt cân trên 10% trọng lượng cơ thể.
- Tiêu chảy kéo dài trên 1 tháng.
- Sốt kéo dài trên 1 tháng.
- Ho dai dẳng trên một tháng.
- Nhiễm nấm Candida ở hầu họng.
- Ban đỏ, ngứa da toàn thân.
- Herpes ( Nổi mụn rộp ), Zona ( Giời leo ) tái phát.
- Nổi hạch ở nhiều nơi trên cơ thể
Bài tập: Thảo luận nhóm về “ So sánh đặc điểm của người nhiễm HIV và người bị AIDS” theo một số yếu tố sau:
HIV có trong máu và các loại dịch khác của cơ thể
Khả năng lây bệnh cho người khác
4 Các con đường lây truyền và không lây truyền HIV
Cơ sở khoa học để xác định đường lây truyền và không lây truyền HIV
4.1.1 Nguồn lây và nguy cơ lây nhiễm
Người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS là nguồn lây truyền duy nhất của virus HIV, không giống như nhiều dịch bệnh khác mà con người đã biết, HIV không có ổ chứa tự nhiên ở động vật.
Mọi người, bất kể tuổi tác, giới tính, vị trí xã hội hay nghề nghiệp, đều có nguy cơ nhiễm HIV nếu thực hiện hành vi không an toàn, ngay cả chỉ một lần trong đời.
HIV có mặt trong hầu hết các dịch cơ thể của người nhiễm, bao gồm máu, tinh dịch, dịch tiết âm đạo, nước bọt, nước mắt, nước tiểu và sữa mẹ Tuy nhiên, các nghiên cứu dịch tễ học chỉ ra rằng chỉ máu, dịch sinh dục (tinh dịch và dịch tiết âm đạo) và sữa mẹ mới chứa đủ lượng HIV để có khả năng lây truyền từ người này sang người khác.
Do đó, trên thực tế chỉ có các đường (phương thức) làm lây truyền HIV sau:
- Đường truyền từ mẹ sang con;
Mọi tiếp xúc trực tiếp với máu và dịch sinh dục từ người không rõ tình trạng nhiễm HIV đều tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm HIV.
4.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ lây nhiễm HIV
Nghiên cứu về HIV chỉ ra rằng các hành vi tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây nhiễm như máu, dịch sinh dục và sữa mẹ nhiễm HIV đều có nguy cơ lây nhiễm Tuy nhiên, mức độ nguy cơ lây nhiễm HIV còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm loại hành vi, tình trạng sức khỏe của người tiếp xúc và mức độ viral load của người nhiễm.
- Diện tiếp xúc: Diện tiếp xúc càng rộng nguy cơ lây nhiễm HIV càng cao;
- Thời gian tiếp xúc: Thời gian tiếp xúc càng lâu, nguy cơ lây nhiễm HIV càng lớn.
- Tình trạng nơi tiếp xúc: Nếu nơi tiếp xúc có vết loét, vết xước thì nguy cơ lây nhiễm càng cao.
- Nồng độ HIV trong dịch tiết: Nồng độ HIV trong dịch tiết mà ta tiếp xúc càng cao thì nguy cơ lây nhiễm càng lớn
- Nồng độ HIV trong các dịch thể, các giai đoạn nhiễm HIV là rất khác nhau, ví dụ:
+ HIV có nhiều nhất trong máu, rồi đến dịch sinh dục, tiếp đến là sữa của người nhiễm
+ Ngay trong dịch sinh dục, thì tinh dịch của nam chứa nhiều HIV hơn trong dịch tiết âm đạo nữ
Dịch thể của người nhiễm HIV trong giai đoạn nhiễm HIV cấp (giai đoạn "cửa sổ") và giai đoạn AIDS có nồng độ HIV cao hơn đáng kể so với giai đoạn nhiễm HIV không triệu chứng.
+ Lượng HIV trong dịch thể của người nhiễm được điều trị thuốc kháng vi rút cũng thấp hơn ở người không được điều trị.
Các đường lây truyền HIV
Sự lây truyền HIV xảy ra khi virus trong máu và dịch cơ thể của người nhiễm tiếp xúc trực tiếp với da hoặc niêm mạc bị tổn thương của người chưa nhiễm Qua đó, virus xâm nhập vào hạch lympho, sinh sản và lan rộng vào máu, dẫn đến nhiễm trùng toàn thể.
Như vậy HIV chỉ có thể lây truyền từ người nhiễm sang người không bị nhiễm khi thỏa mãn hai điều kiện:
Máu và chất dịch cơ thể của người nhiễm HIV cần phải tiếp xúc trực tiếp và bám vào da hoặc niêm mạc của người không nhiễm để có nguy cơ lây truyền virus.
HIV chỉ có thể xâm nhập vào cơ thể người qua các tổn thương tại chỗ tiếp xúc, điều này giúp giải thích nhiều tình huống liên quan đến sự lây lan của virus Để thuận tiện trong việc đánh giá, theo dõi và tư vấn về nguy cơ lây truyền HIV, cũng như triển khai các chương trình can thiệp phòng, chống HIV/AIDS, có thể phân loại sự lây truyền HIV từ người nhiễm sang người lành thành nhiều loại khác nhau.
4.2.1 Lây truyền HIV qua đường máu
HIV tồn tại trong máu toàn phần và các thành phần của máu như hồng cầu, tiểu cầu, huyết tương và các yếu tố đông máu Vì vậy, virus HIV có khả năng lây truyền qua máu và các sản phẩm từ máu bị nhiễm.
Mọi trường hợp tiếp xúc trực tiếp với máu của người không rõ tình trạng nhiễm HIV đều tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm HIV.
- Lây truyền HIV từ người này sang người khác qua các dụng cụ xuyên chích qua da, như trong các trường hợp sau:
+ Dùng chung bơm kim tiêm, nhất là với người tiêm chích ma túy;
+ Dùng chung các loại kim xăm trổ, kim châm cứu, các dụng cụ xăm mi, xăm mày, lưỡi dao cạo râu ;
+ Dùng chung hoặc dùng khi chưa được tiệt trùng đúng cách các dụng cụ phẫu thuật, dụng cụ khám chữa bệnh có xuyên cắt qua da
- Lây truyền qua các vật dụng có thể dính máu của người khác trong các trường hợp như dùng chung bàn chải đánh răng, khăn mùi xoa
HIV có thể lây truyền qua tiếp xúc trực tiếp với máu của người nhiễm, đặc biệt khi máu đó tiếp xúc với vết thương hở, da xây xát hoặc niêm mạc.
HIV có thể lây truyền qua việc truyền máu và các sản phẩm từ máu, cũng như qua việc ghép mô và tạng bị nhiễm virus Ngoài ra, virus này cũng có thể lây lan qua các dụng cụ y tế không được tiệt trùng đúng cách trong quá trình truyền máu hoặc lấy máu.
4.2.2 Lây truyền HIV qua đường tình dục Đường tình dục là một trong 3 con đường chính lây truyền HIV và được coi là phương thức lây truyền HIV quan trọng và phổ biến nhất trên thế giới Khoảng 70-80% tổng số người nhiễm HIV trên thế giới là bị lây nhiễm qua con đường này.
Sự lây truyền HIV qua đường tình dục xảy ra khi dịch thể nhiễm HIV từ người nhiễm tìm được "đường xâm nhập" vào cơ thể người không nhiễm Đường xâm nhập không chỉ là vết thương hở mà còn có thể là các vết trầy xước nhỏ không nhìn thấy hoặc cảm nhận được Ngoài ra, niêm mạc trong các hốc tự nhiên như âm đạo, niệu đạo, trực tràng, mắt và cuống họng cũng có các lỗ nhỏ cho phép HIV xâm nhập.
HIV có mặt nhiều trong dịch sinh dục, bao gồm tinh dịch của nam và dịch tiết âm đạo của nữ, với đủ lượng để lây truyền từ người này sang người khác Do đó, bất kỳ sự tiếp xúc trực tiếp nào với dịch sinh dục của người mà bạn không chắc chắn là chưa nhiễm HIV đều có nguy cơ lây nhiễm.
HIV có thể lây truyền qua quan hệ tình dục thông qua đường máu, bao gồm máu kinh nguyệt, máu từ các vết thương hoặc loét ở cơ quan sinh dục, cũng như từ các vết xước do hành động giao hợp gây ra.
Mức độ nguy cơ lây nhiễm HIV qua các hình thức quan hệ tình dục xâm nhập khác nhau, trong đó nguy cơ cao nhất là qua đường hậu môn, tiếp theo là qua đường âm đạo và cuối cùng là qua đường miệng Đặc biệt, người nhận tinh dịch trong cả ba hình thức quan hệ này có nguy cơ lây nhiễm HIV cao hơn.
Quan hệ tình dục xâm nhập Dương vật – Hậu môn là hình thức quan hệ phổ biến trong cả quan hệ đồng giới nam và khác giới nam – nữ Tuy nhiên, đây cũng là hình thức có nguy cơ lây truyền HIV cao nhất.
Trực tràng không được thiết kế cho quan hệ tình dục và không có khả năng co giãn như âm đạo, dẫn đến nguy cơ bị xước và chảy máu Những vết xước này có thể tạo điều kiện cho virus HIV xâm nhập.
Ruột già và trực tràng là môi trường dễ bị ô nhiễm, có lớp tế bào bạch cầu CD4 giúp ngăn ngừa vi khuẩn xâm nhập Tuy nhiên, tế bào CD4 cũng là mục tiêu của HIV, cho phép virus này lây lan trong cơ thể mà không cần có vết thương hay chảy máu Ngoài ra, HIV cũng có thể lây truyền qua quan hệ tình dục đường âm đạo.
Đặc điểm tâm lý và nhu cầu của người nhiễm HIV/AIDS
Nhu cầu của người nhiễm HIV/AIDS
Nhu cầu của trẻ nhiễm HIV:
Trẻ nhiễm HIV cần được cung cấp chế độ dinh dưỡng đầy đủ và chăm sóc sức khỏe toàn diện Việc đảm bảo dinh dưỡng hợp lý và chăm sóc y tế kịp thời giúp trẻ có khả năng chống lại các bệnh nhiễm khuẩn và làm chậm quá trình tiến triển sang giai đoạn AIDS.
Trẻ em nhiễm HIV cần được sống trong môi trường gia đình, nơi có sự chăm sóc, yêu thương từ bố mẹ và người thân Việc ăn chung và sinh hoạt cùng nhau giúp trẻ cảm thấy an toàn, tin tưởng và có giá trị Đối với những trẻ lớn hơn, cần hỗ trợ để xoá bỏ mặc cảm, đồng thời động viên và tạo tâm lý bình thường cho trẻ.
Trẻ em nhiễm HIV không còn người thân cần được đưa vào các cơ sở nuôi dạy, nơi tổ chức các hoạt động hỗ trợ nhằm giúp trẻ hòa nhập cộng đồng Việc tạo điều kiện cho trẻ em này không chỉ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống mà còn góp phần vào sự phát triển toàn diện của các em trong xã hội.
- Trẻ nhiễm HIV cần được tham gia các hoạt động chung, hoà nhập vui chơi với bạn bè, không bị tẩy chay, xa lánh.
Trẻ em mắc HIV cần được đến trường để học tập và phát triển khả năng cũng như trí tuệ Việc học tập chung với các bạn đồng trang lứa là rất quan trọng, giúp trẻ hòa nhập và phát triển toàn diện theo độ tuổi phù hợp.
Trẻ em cần giao lưu với bạn bè cùng trang lứa để xác định vị trí và giá trị của bản thân trong nhóm và xã hội Đặc biệt, trong giai đoạn vị thành niên, mối quan hệ bạn bè đóng vai trò quan trọng trong đời sống tâm lý của trẻ.
- Ở lứa tuổi vị thành niên trẻ có HIV cũng cần được học nghề và có việc làm tự nuôi sống bản thân.
Nhu cầu chung của người nhiễm HIV:
Người nhiễm HIV cần được tư vấn trước và sau khi xét nghiệm máu để nâng cao hiểu biết về các con đường lây nhiễm và cách phòng chống Tư vấn trước khi thử máu giúp họ nhận thức rõ hơn về HIV và chuẩn bị cho những cảm xúc khó khăn có thể xảy ra Sau khi có kết quả xét nghiệm, việc tư vấn sẽ hỗ trợ người nhiễm HIV đối diện với thực trạng bệnh, giúp họ bình thường hóa vấn đề và sống tích cực hơn.
- Họ cần được khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ.
- Người nhiễm HIV cần có chế độ dinh dưỡng phù hợp để chống lại bệnh tật.
- Người nhiễm HIV cần được trang bị kiến thức hiểu biết về HIV để biết cách điều trị, giữ gìn sức khoẻ và tránh lây bệnh cho người khác.
- Họ cần được sự yêu thương đùm bọc, cảm thông chia sẻ của gia đình, người thân và cộng đồng.
- Người nhiễm HIV/AIDS cần được tạo điều kiện có việc lầm ổn định để có thể tự chăm sóc bản thân và nuôi sống gia đình.
- Họ cần được tôn trọng, bình đẳng trong tiếp cận các dịch vụ xã hội.
Người nhiễm HIV có thể sống tích cực và kéo dài tuổi thọ, nhưng họ thường gặp khó khăn trong việc vượt qua rào cản tâm lý xã hội do sự kỳ thị và sợ hãi từ cộng đồng Để cải thiện tình hình, cần nâng cao nhận thức xã hội về HIV/AIDS, giúp thay đổi định kiến và cách ứng xử với người bệnh Điều này không chỉ ảnh hưởng đến tuổi thọ và sức khỏe của họ, mà còn giảm bớt nỗi đau về tinh thần và thể xác cho những người sống chung với HIV/AIDS.
Đáp ứng của Việt Nam về H
1 Công tác quản lý, chỉ đạo
Ngày 24/10/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1867/QĐ-TTg, cử các thành viên Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm, theo Quyết định số 50/2007/QĐ-TTg ngày 12/4/2007 Đồng thời, các địa phương cũng đang kiện toàn Ban chỉ đạo phòng, chống AIDS và các tệ nạn xã hội ở cấp tỉnh, huyện, xã Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tham gia với vai trò đại diện cho các tổ chức xã hội trong Ủy ban, thể hiện sự điều phối đa ngành trong ứng phó với HIV tại Việt Nam.
Ủy ban Quốc gia đã tổ chức tập huấn về phòng, chống HIV/AIDS cho 600 nhà lãnh đạo mới tại các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Phú Thọ và Bắc Giang, bên cạnh việc kiện toàn hệ thống Ban chỉ đạo các tỉnh và triển khai các hoạt động.
Các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã tích cực chỉ đạo nhằm cải thiện và mở rộng dịch vụ trong lĩnh vực giảm thiểu tác hại và chăm sóc điều trị HIV/AIDS Họ đảm bảo rằng HIV/AIDS được lồng ghép vào các chính sách và quyết định quan trọng của quốc gia Ủy ban các Vấn đề Xã hội của Quốc hội đã tổ chức hội thảo với các đối tác quốc tế và các bộ liên quan để xây dựng ngân sách bền vững cho công tác phòng, chống HIV/AIDS.
Năm 2010 và 2011 đánh dấu sự chuyển biến quan trọng trong nguồn kinh phí cho công tác phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam Sự hợp tác chặt chẽ giữa Bộ Y tế và các Bộ khác đã dẫn đến việc Quốc hội phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về HIV/AIDS giai đoạn 2011-2015, kèm theo ngân sách riêng cho chương trình Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan mà còn đảm bảo nguồn tài trợ quốc gia cho công tác phòng chống HIV/AIDS ít nhất đến cuối năm 2015.
Quỹ Toàn cầu phòng chống AIDS, Lao và Sốt rét đã bắt đầu cải cách Cơ chế Điều phối Quốc gia (CCM) bằng cách thành lập một Ủy ban giám sát và lựa chọn các thành viên mới Những cải cách này sẽ giúp CCM giám sát hiệu quả việc cung cấp dịch vụ trong khuôn khổ tài trợ của Quỹ Toàn cầu và chuẩn bị cho các vòng xin tài trợ trong tương lai.
Mặc dù có những tín hiệu tích cực về cam kết quốc gia trong việc tài trợ và quản lý hoạt động liên quan đến HIV/AIDS, nhưng vẫn tồn tại lo ngại về tính bền vững Ứng phó với HIV tại Việt Nam hiện nay phụ thuộc nhiều vào hỗ trợ quốc tế, trong khi quốc gia đã trở thành nước có thu nhập trung bình Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang làm giảm nguồn tài trợ quốc tế cho HIV/AIDS, với nhiều nhà tài trợ có kế hoạch cắt giảm hoặc chấm dứt hỗ trợ (như PEPFAR), và Quỹ Toàn cầu đã hoãn tiếp nhận đề xuất xin tài trợ mới do thiếu hụt vốn Nếu ngân sách quốc gia cho phòng, chống HIV/AIDS không được tăng cường để bù đắp sự thiếu hụt này, các thành tựu quan trọng trong điều trị và chăm sóc HIV có nguy cơ bị mất.
2 Môi trường chính sách và pháp lý
Chính phủ Việt Nam coi HIV/AIDS là mối đe dọa không chỉ đối với sức khỏe con người mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển nòi giống của dân tộc Do đó, việc phòng, chống HIV/AIDS được xác định là nhiệm vụ quan trọng và lâu dài, cần sự phối hợp liên ngành cùng cam kết tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động này Bên cạnh đó, sự tham gia của xã hội dân sự trong việc xây dựng chính sách và pháp luật cũng ngày càng được nhận thức rõ ràng hơn.
Luật phòng chống HIV/AIDS số 64/2006/QH11, được thông qua năm 2006, đã thiết lập cơ sở pháp lý vững chắc cho việc ứng phó đa ngành với HIV và bảo vệ quyền lợi của người sống với HIV Trong thời gian gần đây, Chính phủ và Quốc hội đã ban hành, bổ sung và sửa đổi nhiều chính sách cùng các văn bản quy phạm pháp luật, nhằm xây dựng một khuôn khổ pháp lý mạnh mẽ và nhất quán hơn cho công tác phòng chống HIV.
Cục Phòng chống HIV/AIDS (VAAC) đã thành công trong việc xây dựng Chiến lược Quốc gia về phòng chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030, dựa trên sự tham gia của các Bộ ngành, xã hội dân sự, Liên Hợp Quốc và tổ chức quốc tế Chiến lược này thể hiện các mục tiêu tham vọng nhằm loại trừ HIV/AIDS, phù hợp với Tuyên bố Chính trị của Liên Hợp Quốc được thống nhất tại Phiên họp đặc biệt tháng 6/2011 Quốc hội đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về phòng, chống HIV/AIDS giai đoạn 2011-2015, đảm bảo ngân sách cho các hoạt động phòng chống HIV/AIDS Ngoài ra, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Thông báo kết luận số 27-TB/TW ngày 9/5/2011, khẳng định cam kết của Đảng trong việc lãnh đạo công tác phòng chống HIV/AIDS ở cả cấp trung ương và địa phương.
Năm 2011 đánh dấu một bước tiến quan trọng với việc ban hành Nghị định số 69/2011/NĐ-CP, quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế dự phòng, môi trường y tế và phòng, chống HIV/AIDS, nhằm hỗ trợ thực thi Luật phòng chống HIV/AIDS Nghị định này cung cấp một khung pháp lý chung, làm rõ các hành vi vi phạm hành chính liên quan đến người sống với HIV và tăng cường các biện pháp xử phạt Cụ thể, Nghị định quy định các hình thức xử phạt đối với việc cung cấp thông tin sai lệch về HIV/AIDS, cản trở tiếp cận điều trị và chăm sóc, cũng như các hành vi phân biệt đối xử với người có HIV Ngoài ra, Nghị định cũng nêu rõ các biện pháp trừng phạt nếu quyền xét nghiệm, tư vấn hoặc quyền riêng tư của người dân bị xâm phạm.
3 Phối hợp đa ngành trong phòng, chống HIV/AIDS
Hoạt động phối hợp đa ngành trong phòng, chống HIV/AIDS đã được củng cố, với sự hợp tác giữa các Bộ, ngành và các tổ chức quần chúng, xã hội dân sự, cùng các tổ chức quốc tế nhằm cung cấp dịch vụ dự phòng, điều trị và nâng cao nhận thức cộng đồng Hằng năm, dưới sự chỉ đạo của Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và tệ nạn ma túy, mại dâm, lãnh đạo các Bộ ngành tổ chức đoàn công tác kiểm tra hoạt động tại các tỉnh, thành phố Bên cạnh đó, các Bộ, Ban, Ngành cũng đã phối hợp xây dựng văn bản pháp luật, hướng dẫn chuyên môn và tổ chức diễn đàn về phòng, chống HIV/AIDS.
Bộ Kế hoạch Đầu tư và Bộ Tài Chính hợp tác ban hành văn bản chỉ đạo và hướng dẫn về công tác phòng, chống HIV/AIDS trong ngành Hai bộ này cũng phối hợp thẩm định và trình Thủ tướng cũng như Quốc hội Chương trình mục tiêu Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS.
Bộ Tư pháp đã triển khai các văn bản chỉ đạo và hướng dẫn nhằm nâng cao công tác phòng, chống HIV/AIDS trong ngành, đồng thời tổ chức các buổi tọa đàm và tuyên truyền qua báo, tạp chí chuyên đề pháp luật Ngoài ra, Bộ còn tiến hành nghiên cứu, đánh giá tính thống nhất và hợp pháp giữa các quy định liên quan đến phòng, chống HIV/AIDS, ma túy và mại dâm, cũng như đề xuất và thảo luận các nội dung liên quan đến Nghị định xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực này.
Năm 2011, Bộ Y tế phối hợp với Bộ Công An và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội triển khai dịch vụ điều trị ARV cho người nhiễm HIV trong trại giam và các trung tâm chữa bệnh Bộ Công An đã tổ chức các khóa đào tạo về phòng chống HIV/AIDS cho cán bộ công an và trại giam, đồng thời bắt đầu các hoạt động tư vấn, chăm sóc và điều trị ARV cho bệnh nhân Tuy nhiên, kết quả ban đầu còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào việc nâng cao năng lực cho cán bộ y tế trong trại giam, với tiến độ điều trị cho bệnh nhân vẫn chậm Cùng lúc, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cũng đã tổ chức các khóa tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ trung tâm giáo dục, chữa bệnh, lao động xã hội và triển khai các hoạt động nâng cao kiến thức về HIV/AIDS, tư vấn, xét nghiệm HIV và chăm sóc, điều trị ARV.
Dưới sự hỗ trợ của PEPFAR, các hoạt động tư vấn xét nghiệm và điều trị ARV đã được triển khai tại các cơ sở y tế quân đội, phục vụ cho người dân sống gần đó Bộ Quốc phòng và Bộ Y tế đã hợp tác thực hiện chương trình quân dân y kết hợp, tận dụng đội ngũ y tế quân y tại các khu vực biên giới khó khăn Chương trình này không chỉ cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe mà còn lồng ghép các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS và tư vấn cho người dân trong khu vực.