1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ NÂNG CAO HIỆU lực QUẢN lý NHÀ nước đối với HOẠT ĐỘNG tôn GIÁO ở nước TA HIỆN NAY

65 472 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 434,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lịch sử, xã hội loài người đã từng chứng kiến những vụ đụng độ tôn giáo quyết liệt, những cuộc chiến tranh tôn giáo đẫm máu chỉ vì tranh giành các vùng đất được xem là Thánh địa của tôn giáo này từ tay của tôn giáo khác. Ngày nay những cuộc chiến tranh sắc tộc tôn giáo đang diễn ra ở Bắc Ai Len, ở Cộng hoà Síp, Apganistan, ấn Độ, Pakistan... mà ở phía sau nó là có sự đan xen những động cơ tôn giáo hết sức phức tạp,... là những minh chứng cho thấy: tôn giáo đúng là một hiện tượng xã hội cực kỳ phức tạp. Đứng về mặt quản lý xã hội, thì chính phủ của các quốc gia còn phải nhận thấy sự tồn tại lâu dài của tôn giáo trong đời sống xã hội và phải hết sức quan tâm, hiểu biết toàn diện về tôn giáo, và đặt tôn giáo đúng vào vị trí của nó trong đời sống xã hội.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tôn giáo là một hiện tượng vô cùng phức tạp bởi nhiều lẽ Tôn giáo

có thể liên kết con người lại với nhau, nhưng cũng có thể đẩy con ngườiđến chỗ kỳ thị, đối chọi nhau một cách sâu sắc

Trong lịch sử, xã hội loài người đã từng chứng kiến những vụ đụng

độ tôn giáo quyết liệt, những cuộc chiến tranh tôn giáo đẫm máu chỉ vìtranh giành các vùng đất được xem là Thánh địa của tôn giáo này từ tay củatôn giáo khác Ngày nay những cuộc chiến tranh sắc tộc - tôn giáo đangdiễn ra ở Bắc Ai Len, ở Cộng hoà Síp, Apganistan, ấn Độ, Pakistan mà ởphía sau nó là có sự đan xen những động cơ tôn giáo hết sức phức tạp, lànhững minh chứng cho thấy: tôn giáo đúng là một hiện tượng xã hội cực kỳphức tạp Đứng về mặt quản lý xã hội, thì chính phủ của các quốc gia cònphải nhận thấy sự tồn tại lâu dài của tôn giáo trong đời sống xã hội và phảihết sức quan tâm, hiểu biết toàn diện về tôn giáo, và đặt tôn giáo đúng vào

vị trí của nó trong đời sống xã hội Thực tiễn cho thấy: chính đảng cầmquyền nào, nhà nước nào không coi trọng đúng mức vấn đề tôn giáo sẽ thấtbại hoặc sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình lãnh đạo và quản lý đấtnước

Hiện nay ở Việt Nam có 7 tôn giáo (Phật giáo, Thiên Chúa giáo,Tin Lành, Hồi giáo, Cao đài, Hòa Hảo và Bà La môn) với hơn 15 triệu tín

đồ và 31 nhóm tín ngưỡng tôn giáo mới hình thành và phát triển ở 30 tỉnh,

có tôn giáo từ nước ngoài du nhập vào Việt nam đã ít nhiều mang màu sắcViệt Nam Sinh hoạt của tín đồ trải rộng trên toàn quốc và án giữ những nơi

có vị trí chiến lược quan trọng của mỗi vùng, của quốc gia Nếu buông lỏngquản lý hoạt động của các tôn giáo, để cho các thế lực phản động lợi dụngthì công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa của chúng ta sẽ gặp vô cùng khó

Trang 2

khăn Vì thế đổi mới công tác quản lý các hoạt động tôn giáo có ý nghĩaquan trọng cấp bách cả về lý luận và thực tiễn trong thời kỳ quá độ lênCNXH ở nước ta hiện nay Đảng, Nhà nước cũng đã ra nhiều quyết định vềtôn giáo như: Sắc lệnh số 234 ngày 16/06/1955 "về hoạt động tôn giáo vàtín ngưỡng" do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày16/10/1990 của Bộ Chính Trị "về công tác tôn giáo trong tình hình mới"

Là một cán bộ quản lý chính quyền cấp huyện, nhận thức đúng tầm

quan trọng của vấn đề đối với địa phương tôi đã lựa chọn đề tài: "Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở nước ta hiện nay" làm luận văn tốt nghiệp đại học chuyên ngành CNXHKH.

2 Tình hình nghiên cứu

Về đề tài tôn giáo, từ lâu đã có rất nhiều người nghiên cứu ở cấp độkhác nhau về việc giải quyết sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo trong thời kỳquá độ lên CNXH Gần đây, Đảng và Nhà nước từ Trung ương đến tỉnh,thành đã có những chỉ thị, tài liệu huấn luyện cán bộ, tổng kết phong tràoquần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc, đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo

để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, chống lại sự nghiệp xâydựng CNXH Tuy nhiên, về lĩnh vực quản lý xã hội, quản lý nhà nước vềhoạt động tôn giáo rất ít đề tài và công trình nghiên cứu

3 Mục tiêu của luận văn

- Từ thực tế khẳng định sự đúng đắn và nhất quán về chính sách tôngiáo của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta từtrước đến nay được các cấp ủy Đảng và chính quyền cấp tỉnh, thành, quántriệt sâu sắc và vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh địaphương vốn phức tạp về tôn giáo, giúp cho việc nâng cao hiệu quả quản lýcác hoạt động tôn giáo có kết quả tốt, tăng thêm niềm tin của các tín đồ về

sự nghiệp xây dựng CNXH

Trang 3

- Bước đầu khái quát rút ra nội dung công tác quản lý và từ đó đểđổi mới công tác phù hợp với tình hình nhiệm vụ của đất nước và địa phương.

4 Nhiệm vụ của luận văn

Trên cơ sở mục tiêu đã đề ra, luận văn tập trung giải quyết một sốnhiệm vụ sau:

- Làm rõ cơ sở lý luận của việc giải quyết vấn đề tôn giáo nóichung, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta

- Làm rõ đặc điểm tình hình tôn giáo ở nước ta, công tác quản lýcông tác tôn giáo hiện nay ở cơ sở

- Nêu ra nội dung, phương hướng đổi mới công tác quản lý hoạtđộng tôn giáo trong giai đoạn hiện nay ở nước ta và địa phương

5 Phương pháp nghiên cứu

Chủ nghĩa duy vật lịch sử là phương pháp luận trong việc nghiêncứu của luận văn, đồng thời cùng sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp thống kê: có sử dụng các số liệu và tài liệu đã đượccông bố, các báo cáo tổng kết chuyên ngành

- Phương pháp đối chiếu, so sánh

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, lôgic và lịch sử

6 Cái mới và giá trị của luận văn

- Hệ thống, sưu tầm khối lượng liên quan để làm sáng tỏ phần nàonội dung và phương pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo

- Luận văn góp phần nhỏ trong tư liệu tham khảo chuyên ngànhCNXHKH, nghiên cứu của sinh viên và cán bộ quản lý công tác tôn giáo ở

cơ sở

Kết cấu của luận văn gồm lời tựa, hai chương với 7 tiết, kết luận vàmục lục các tài liệu tham khảo

Trang 5

Chương 1

QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN,

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TÔN GIÁO

1.1 BẢN CHẤT, NGUỒN GỐC, VAI TRÒ CỦA TÔN GIÁO

1.1.1 Bản chất, nguồn gốc của tôn giáo

Từ thời cổ đại, các nhà triết học đã đề cập đến khái niệm tôn giáo.Các nhà triết học duy vật cổ đại như Heraclil (540-480 tr CN), Domocril(460-371 tr CN), Epiquya (341-270 tr CN) không công nhận có thần thánh,tôn giáo Theo họ, mọi vật ( kể cả linh hồn con người) đều được cấu tạo từnguyên tử, thần thánh chẳng qua chỉ là sự tưởng tượng của con người khicon người sợ hãi, bất lực trước thiên nhiên Về sau, các nhà khoa học như

N Côpécních (1473-1543), G Galilê (1564-1642), L Phơ bách 1872) , củng cố và tiếp tục phát triển các quan niệm ấy

(1804-Đối lập với phái duy vật, các nhà triết học duy tâm như Platon(427-347 tr CN), Aristot (384-322 tr CN), và về sau là Beccơli (1684-1733), thì thừa nhận có Chúa và các Đấng thiêng liêng, tức là có tôn giáo Chúa vàcác Đấng thiêng liêng có sức mạnh vô biên, sáng tạo ra muôn loài, muônvật và con người

Từ khi bước lên vũ đài chính trị, Mác và các nhà sáng lập chủ nghĩaMác đã đi sâu nghiên cứu tôn giáo, đặt tôn giáo trong mối quan hệ với cáchiện tượng xã hội khác như kinh tế học, đạo đức học, văn hóa, Từ đấy, F.Ănghen quan niệm tôn giáo như sau: "Mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sựphản ánh hư ảo vào đầu óc con người của những lực lượng bên ngoài chiphối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lựclượng ở trần thế mang hình thức siêu trần thế"

Từ định nghĩa trên đây của F Ănghen về tôn giáo có thể nhận rađược bản chất của tôn giáo là:

Trang 6

Trước hết, cần nhận thấy rằng hiện tưọng khách quan tác động vàocon người, con người nhận thức (nắm bắt và hiểu được hiện tượng kháchquan ấy) Từ đó, con người thể hiện sự nhận thức ấy thành những cái màchủ nghĩa Mác gọi là hình thái ý thức xã hội Hình thái ý thức tồn tại quanhiều dạng khác nhau như triết học, chính trị học, nhà nước, luật pháp, đạođức, văn hóa và tôn giáo Như vậy, tôn giáo cũng như triết học, đạođức chỉ là những hình thái ý thức xã hội.

Tuy nhiên, tôn giáo chỉ sự phản ánh hư ảo Tính hư ảo, hoangđường trong sự phản ánh của tôn giáo là ở chỗ chia thế giới thống nhấtthành hai thế giới đối lập nhau: thế giới thứ nhất là thế giới có thật với đặcđiểm có tính bản chất là đầy đau khổ, bất hạnh, thế giới thứ hai là thế giớicủa thần thánh với đặc điểm là tốt đẹp, cầu được ước thấy

Thừa nhận tôn giáo phản ánh cách nhận thức con người về hiệnthực khách quan có nghĩa là coi tôn giáo như một hình thức, một công cụthể hiện tư tưởng, tình cảm của con người Khi viết "Tôn giáo là thuốc

phiện của nhân dân Tôn giáo là hạnh phúc hư ảo của nhân dân" thì Mác

một phần nhấn mạnh tính tích cực và tiêu cực của tôn giáo, mặt khác thừanhận tôn giáo như là sự bù đắp, xoa dịu nỗi đau của con ngươì, tôn giáo làmột liều thuốc an thần

* Một khi nhận thức được những khía cạnh trên đây trong bản chấtcủa tôn giáo, thì chúng ta cũng hiểu rõ nét đặc trưng của tôn giáo gồm:

a) Niềm tin: Khi người ta nói đến tôn giáo là nói đến niềm tin, bởi

không có niềm tin thì không thể có tôn giáo Nhưng đó là "niềm tin hư ảo,

ảo tưởng" ở sự tồn tại và sức mạnh của lực lượng siêu nhiên Niềm tin đó

xuất phát từ ý thức, tình cảm, tâm lý của con người và nó không thể chứngminh được, nó hoàn toàn khác với niềm tin khoa học là niềm tin đượcchứng minh bằng thực tiễn

b) Xuất phát từ niềm tin cho rằng sự tồn tại và sức mạnh của lực

lượng siêu nhiên là có thật nên từ đó đã dẫn đến quan hệ tình cảm đối với

Trang 7

lực lượng này Người tín ngưỡng không những tưởng tượng ra cái siêunhiên là có thật với sức mạnh thần bí của nó, mà còn biểu hiện những mốiquan hệ tình cảm, tâm lý đối với lực lượng siêu nhiên, đó là: thành kính, yêumến, hy vọng, mừng vui phấn khởi hay sợ hãi, tuyệt vọng, bực tức không

có mối quan hệ tình cảm này thì không thể hình thành tín ngưỡng tôn giáođược

c) Từ mối quan hệ tình cảm đó đã dẫn đến những mối quan hệ thựctiễn ảo tưởng đặc biệt Đó là những hành vi của người có tín ngưỡng,nhưng mang tính ảo tưởng, hoang tưởng thể hiện qua các hành thức nghi lễ,cầu cúng như: cầu kinh, niệm Phật, rước lễ, mong sự ban ơn, ban phướccủa đấng siêu nhiên

Cả ba yếu tố trên gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau trong

ý thức tôn giáo - niềm tin hư ảo là cái xuyên suốt, bản chất nhất Yếu tố tổchức hành động tôn giáo giữa vai trò quan trọng trong sự tồn tại và pháttriển tôn giáo Vì vậy, về bản chất tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội.Nhưng xem xét toàn diện cả ba yếu tố đó, tôn giáo không chỉ là một hìnhthái ý thức xã hội mà còn là một hiện tượng xã hội và là một tổ chức, mộtlực lượng xã hội - văn hóa - tâm linh khá đông đảo và rộng rãi

* Cơ sở hình thành tôn giáo:

Khi xã hội loài người còn ở buổi sơ khai, trước những hiện tượng tựnhiên xảy ra trong vũ trụ như sấm chớp, mưa gió, bão tố, lụt lội, hạn hán

và sinh hoạt của con người như đau ốm, bệnh tật, chết chóc, trạng thái xuấtthần, hôn mê, giấc mơ, hình ảnh con người in trên mặt nước đã phản ánhvào đầu óc con người vốn hiểu biết kém cỏi, trí tuệ sơ khai đã không thể lýgiải được những hiện tượng đó Trong điều kiện của cuộc sống sơ khai, conngười hoàn toàn bất lực trước những thảm họa của thiên nhiên ập đến Vềmặt hành vi thì con người tìm cách trốn chạy, về mặt nhận thức thì chorằng các hiện tượng đó là do có những đấng siêu hình tạo ra, chi phối, điềukhiển bằng sức mạnh siêu nhiên Từ đó, con người cho rằng, ngoài những

Trang 8

hình ảnh mà họ nhận thấy được thì trong vũ trụ còn có một lực lượng siêunhiên đó là các thần, thánh và khi có thần thánh nổi giận thì con người sẽphải gánh lấy thảm họa Để mưu cầu cho cuộc sống được ấm no, hạnh phúctránh được những thảm họa do thiên tai ập đến con người đã tìm cách xoadiụ sự giận dữ của các thần linh bằng các nghi thức cúng bái, từ đây hìnhthành nên lòng tín ngưỡng của con người Bước đầu tín ngưỡng của conngười chỉ là thứ tín ngưỡng dân gian, qua thời gian lòng tín ngưỡng củacon người được củng cố bởi những sự việc xảy ra một cách trùng hợp hếtsức ngẫu nhiên không thể lý giải được cộng thêm sự thêu dệt của con người

đã làm cho con người có niềm tin chắc chắn rằng có một lực lượng siêunhiên với những sức mạnh khác thưòng có đủ khả năng chi phối cuộc sốngcủa con người, có thể mang đến cho con người cái hạnh phúc, và cả sự bấthạnh, khổ đau - tín ngưỡng tôn giáo ra đời Những hình thức, biểu tượngnhư "Trời", "Phật", "Thánh", "Thần", tác động đến đời sống tâm linh củacon người, được con người tin là có thật và hết lòng tôn thờ

Tín ngưỡng tôn giáo đã thật sự trở thành là tôn giáo, có hình thứctôn giáo khi xã hội loài người bắt đầu có phân chia giai cấp, khi nhận thứccủa con người phát triển đến trình độ khái quát biến lực lượng siêu nhiênthành các biểu tượng như "Đấng Tối cao", "Đấng Cứu thế", "Chúa Trời",

"Phật tổ", … khi xã hội có điều kiện về vật chất để xuất hiện một lớp ngườithoát ly ra khỏi môi trường sản xuất, để chuyên làm công việc tôn giáo nhưxây dựng giáo lý, giáo luật, tổ chức giáo hội,

Bên cạnh những hiện tượng tự nhiên xảy ra trong vũ trụ, con ngườicòn gặp phải những hiện tượng tự phát trong đời sống xã hội như xung đột

vũ trang của các bộ lạc, tranh giành lãnh thổ, phân công xã hội, sự đàn áp,bóc lột của giai cấp thống trị xã hội, đối với con người ở thời kỳ hoang sơcũng là những cái áp lực nặng nề về mặt xã hội mà con người cần phải tìm

ra một lối thoát Tuy nhiên, trong điều kiện vật chất hạn hẹp, nhận thứcthấp kém, con người đã trở nên bất lực trước sức mạnh của xã hội, họ tự

Trang 9

tìm cho mình một lối thoát mà ở đó chỉ có ảo tưởng, hoang đường để tự an

ủi, hy vọng vào một cuộc sống tốt đẹp, một cuộc sống ở thiên đàng ngaytrên thế gian, họ gởi gắm niềm tin vào tôn giáo, vào lực lượng siêu nhiên

Là một trong những yếu tố quyết định sự ra đời và tồn tại của tôn giáo

Ănghen đã từng viết: "Chẳng bao lâu, bên cạnh những sức mạnh tựnhiên, lại xuất hiện những sức mạnh xã hội, những sức mạnh đối lập vớingười ta và đối với người ta thì sức mạnh xã hội này cũng lạ y như nhữngsức mạnh tự nhiên vậy, lúc đầu cũng không thể hiểu được và cũng chi phốingười ta với một cái vẽ tất yếu, bề ngoài hệt như sức mạnh tự nhiên vậy".(Mác, Ănghen tuyển tập II)

Tình cảm, cảm xúc, tâm trạng của con người trước sức mạnh tựnhiên, trước những biến động xã hội, trước những thử thách trong cuộcsống của cá nhân và cộng đồng cũng là một trong những yếu tố đóng vaitrò quan trọng trong việc ra đời, tồn tại và phát triển của tôn giáo

Như vậy, có thể nói tôn giáo đã được ra đời từ ba nguồn gốc sau đây:

- Do nhận thức thấp kém của con người khi phải đối mặt với thiênnhiên hùng vĩ và bí ẩn

- Do xã hội loài người đầy bí ẩn mà con người thì bất lực, không lýgiải được

- Do tâm lý sợ hãi, khuất phục hay ca ngợi của con người đối với tựnhiên và con người

Nếu như cơ sở thứ nhất và thứ hai, một phần của cơ sở thứ ba chothấy tôn giáo chỉ là lối thoát của con người khi con người bất lực, sợ hãi, âu

lo, trước thiên nhiên, xã hội và con người, thì một phần cơ sở thứ ba chothấy tôn giáo là một hình thức phản ánh tâm tư nguyện vọng của conngười

Từ những cơ sở này chúng ta có thể rút ra một kết luận quan trọnglà: Tôn giáo dần dần sẽ mất đi khi những cơ sở ra đời của nó không cònnữa, và vì thế không được và không thể dùng bạo lực để triệt tiêu tôn giáo

Trang 10

Khi lý giải bản chất của tôn giáo và cơ sở cho sự ra đời của tôngiáo, triết học Mác thừa nhận tôn giáo có cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cựccủa nó.

1.1.2 Vai trò của tôn giáo

Tôn giáo là sản phẩm của con người, được khai sinh từ đời sống

"tâm linh"của con ngưòi nhưng sau đó tôn giáo trở lại chi phối chính cáiđời sống "tâm linh" đó, nghĩa là chi phối đến đời sống tinh thần của conngười, hay ít ra là trong cộng đồng dân cư có tín ngưỡng

Khi đề cập vai trò của tôn giáo thì cần thấy rõ chức năng và hai mặttích cực, tiêu cực của tôn giáo để thấy được rõ hơn vị trí của tôn giáo trongđời sống tinh thần của con người, của xã hội

Tôn giáo có chức năng thế giới quan, là chức năng làm cho conngười nhận biết, giải thích thế giới quan tôn giáo, theo những quan niệm về

sự phụ thuộc vào cái siêu nhiên, chức năng liên kết thì củng cố cộngđồng, củng cố các quan hệ xã hội trong giải quyết các mối quan hệ xã hộiđặt ra Tôn giáo còn có chức năng điều chỉnh Tôn giáo đã tạo ra một hệthống chuẩn mực và gía trị Các chuẩn mực tôn giáo không chỉ thể hiệntrong lĩnh vực tiến hành nghi lễ mà còn bao hàm trong các thuyết về luân

lý, đạo đức xã hội do các tổ chức tôn giáo soạn thảo và truyền bá, trong đóchứa đựng những quy định về khuyến khích và ngăn cấm một cách chi tiết

để điều chỉnh cả hành vi đạo đức - xã hội của con người, điều chỉnh thái độđối với bản thân và gia đình, với những người khác trong cộng đồng Nóichung, giáo lý của tôn giáo có mặt tích cực là luôn luôn hướng các suy nghĩ

và hành vi của con người vào việc thiện, chống lại những việc ác Đạo đứccủa tôn giáo có mặt tốt là hướng con người đến sự yêu thương, đùm bọc,giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống Đạo đức tôn giáo có những điều phù hợpvới sự nghiệp xây dựng xã hội mới của chúng ta ngày nay

Có thể thấy tôn giáo có ba khía cạnh tích cực sau đây:

Trang 11

Một là: Tôn giáo xoa dịu nỗi đau, an ủi tinh thần của con người.

Chúng ta xem tôn giáo là liều thuốc an thần nghĩa là thừa nhận khía cạnhtích cực này Tôn giáo cũng có chức năng là "bù đắp sự thiếu hụt" của hiệnthực, xoa diụ nỗi đau của con người

Ngày nay, khi xã hội phát triển cao về mặt vật chất, con người cócuộc sống dư dả hơn thì đời sống tinh thần của con người hình như trở nênkhô khan, lạnh nhạt hơn, xã hội có nhiều biến động hơn, tình trạng phânhóa giàu nghèo rõ rệt hơn, trật tự trị an có phần xấu đi Số người bị rũi ro,tại nạn, bất hạnh, làm ăn thua lỗ, tăng lên, tâm lý của con người bị hụthẫng, cảm thấy cô đơn, thất vọng, buồn chán và họ đã tìm đến tôn giáonhư một nơi nương tựa, gởi gắm niềm tin vào tôn giáo, họ cầu nguyện vàtrông chờ vào sự cứu giúp của Trời, của Phật, của Chúa, của Thánh, củaThần, và tôn giáo đối với họ như là liều thuốc an thần xoa dịu đi nhữngnỗi bất hạnh của cuộc đời

Hai là: Đạo đức tôn giáo có mặt tốt Điều này một phần do xuất

phát từ mục đích ban đầu khi người ta sáng lập ra tôn giáo: đánh vào tìnhyêu thương con người, khơi dậy tình người (giúp đỡ, cưu mang nhau), tôn giáo mới đi vào lòng người, mới có chỗ trú trong xã hội Tôn giáo đãtạo một hệ thống chuẩn mực và giá trị Các chuẩn mực tôn giáo không chỉthể hiện trong lĩnh vực tiến hành nghi lễ mà còn bao hàm trong các thuyết

về luân lý, đạo đức - xã hội do các tổ chức tôn giáo soạn thảo và truyền bá,trong đó chứa đựng những quy định về khuyến khích và ngăn cấm mộtcách chi tiết để điều chỉnh cả về hành vi đạo đức - xã hội con người, điềuchỉnh thái độ với bản thân, và gia đình, vơi những người khác trong cộngđồng Nói chung, giáo lý của tôn giáo có mặt tích cực là luôn luôn hướngcác suy nghĩ và hành vi của con người vào việc thiện, chống lại những việc

ác Đạo đức của tôn giáo có mặt tốt là hướng con người đến sự yêu thương,đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống Đạo đức tôn giáo có nhữngđiều phù hợp với sự nghiệp xây dựng xã hội mới của chúng ta ngày nay

Trang 12

Ba là: sản phẩm tôn giáo (nhà thờ, chùa chiền, tượng Phật, tượng

Chúa, ) là sự sáng tạo của con người, là sản phẩm của văn hóa nhân loại

và là văn hóa của dân tộc cần phải được giữ gìn và bảo vệ

Bên cạnh mặt tích cực, tôn giáo cũng có những mặt hạn chế, tiêu cực

ít nhiều làm ảnh hưởng đến vai trò, vị trí của tôn giáo trong đời sống xãhội

Mặt hạn chế của tôn giáo là làm mờ nhạt ý thức đấu tranh, ý chí tựchủ vươn lên, ý thức trách nhiệm của con người, làm cho con người trở nên

lệ thuộc vào thế giới bên ngoài, con người trở nên bị gò bó và nghèo đi.Tôn giáo là đối tượng dễ bị lợi dụng, vì mục đích đen tối, tôn giáo với đặctính bảo thủ đã trở thành như là một lực cản trước sự tiến bộ của khoa học -

kỹ thuật, của xã hội

Song song với hoạt động của tôn giáo thì bao giờ cũng có bóngdáng của tệ mê tín dị đoan thông qua các biểu hiện như đồng bóng, bóitoán, xin xăm, bốc thẻ, tin vào số mệnh, giải hạn, xem giờ, cúng sao, ănkiêng, chọn số đẹp, chọn ngày, đặt bát hương trong cơ quan, trên tàu xe,góc cây, bên cạnh đó còn là việc đốt vàng mã, đồ vật đắt tiền cho ngườiquá cố Các hoạt động mê tín đó đã làm cho con người mất đi một lượngthời gian hết sức quý báu, tốn kém tiền bạc, sao lãng công việc làm ăn, làm

đổ vỡ hạnh phúc gia đình, gây chia rẽ tình làng nghĩa xóm, đúng là mê tín

dị đoan - là sự suy luận một cách khác thường, lạ kỳ, phi lý trên cơ sở củaniềm tin mê muội

Có thể nhìn thấy rõ những khía cạnh tiêu cực sau đây:

Một là: Tôn giáo tạo niềm tin mù quáng Con người phải có niềm

tin, vì niềm tin là cơ sở cho sự tồn tại và tạo nên sức mạnh cho con người.Song nếu gởi gắm niềm tin vào lực lượng không có thật thì đó là niềm tin

mù quáng

Trang 13

Hai là: Tôn giáo bảo thủ, có sức ỳ lớn Xã hội loài người và thế giới

tự nhiên luôn biến đổi không ngừng, thậm chí sự biến đổi ấy nhanh đếnchóng mặt Trong khi đó, tôn giáo vẫn hướng con người ta vào nhữngchuyện đã nói cách đây hàng ngàn năm

Ba là: Tôn giáo liên kết với chính trị Lịch sử xã hội loài người đã

xác nhận: lúc đầu, các tôn giáo đều đề cao lòng tin của con người, thươngyêu chăm sóc con người, là thế giới riêng tư của con người Song về sau,một bộ phận chức sắc các tôn giáo đã biến tôn giáo thành công cụ phục vụquyền lợi cho một nhóm nhỏ người Các cuộc chiến tranh tôn giáo sắc tộc

từ xưa đến nay (xem phần mở đầu) đã nói lên điều này

Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, là một hiện tượng xã hội, làsản phẩm của con người nên tôn giáo không thể tách rời ra khỏi xã hội,chịu sự chi phối của xã hội và ít nhiều xã hội cũng phải chiụ sự chi phốicủa tôn giáo

Do vậy, tôn giáo là một bộ phận cấu thành quan trọng của đời sốngtinh thần của xã hội Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, tôngiáo đã ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống văn hóa, xã hội, đến tâm lý,đạo đức, lối sống, phong tục tập quán của dân tộc, ảnh hưởng đến đời sốngchính trị ở mức độ, cấp độ có khác nhau trong những hoàn cảnh của mỗiquốc gia

Ở Việt Nam, do điều kiện lịch sử, xã hội, tâm lý, tôn giáo có vị tríkhá đặc biệt trong đời sống tinh thần, tín ngưỡng, nhân cách, đến quá trìnhphát triển của xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển của văn hóa dân tộc.Thông qua những tác động của các sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo, đến cácsinh hoạt văn hóa (hội làng, tế lễ, ) đã góp phần tạo nên những nét riêng

về văn hóa Việt Nam

Vai trò của tôn giáo vừa gợi cho Nhà nước trong việc quản lý đốivới hoạt động của tôn giáo trong giai đoạn mới của cách mạng

Trang 14

1.2 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN ĐỐI VỚI TÔN GIÁO VÀ PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TÔN GIÁO TRONG CNXH

Luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo là sự tiếptục những truyền thống tiến bộ của các nhà vô thần trước đây, coi tôn giáo

là sự phản ánh hiện thực một cách sai lầm, hoang đường, là ảo tưởng docon người tạo ra Nhưng khác với các nhà vô thần trước, lần đầu tiên chủnghĩa Mác vạch rõ những quy luật phát triển của xã hội loài người và do đógiải thích tôn giáo một cách khoa học

Với quan điểm lập trường duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đãdẫn đến thái độ nhất quán của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với tôn giáo.Trước hết, phải khẳng định rằng mục đích của sự nghiệp xây dựng CNXH

là nhằm giải phóng nhân dân lao động thoát khỏi áp bức giai cấp và sự nôdịch về tinh thần Vì vậy, giải phóng nhân dân lao động khỏi ảnh hưởng tôngiáo là yêu cầu khách quan trong xây dựng CNXH Khắc phục mặt tiêu cựctrong tôn giáo là yêu cầu khách quan của sự nghiệp giải phóng con người,đấu tranh chống các thế lực xuyên tạc, lợi dụng tôn giáo để chống phá cáchmạng là yêu cầu bức thiết của cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh giai cấp,nhằm thủ tiêu chế độ áp bức, bóc lột, xây dựng xã hội mới Nhưng điều đókhông có nghĩa là gạt bỏ hoàn toàn tôn giáo, không biết kế thừa những gì

có ý nghĩa nhân bản tốt đẹp của tôn giáo

Tuy nhiên, giải quyết vấn đề tôn giáo là một vấn đề tế nhị và khôngđơn giản, vừa đòi hỏi sự lý giải khoa học, vừa đòi hỏi các biện pháp đấutranh mền dẻo Theo Lênin là: "phải biết cách đấu tranh để giải quyết vềvấn đề tôn giáo", chống cả tả khuynh và hữu khuynh và cần xác định rõ:Khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo là lập trường của những ngườiMácxit - Lêninit nhưng không thể nôn nóng hành động bằng các biện phápcưỡng bức; mà phải gắn liền với cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới,nâng cao mức sống, lối sống và trình độ kiến thức của quần chúng, từngbước họ mới gạt bỏ dần được ảnh hưởng của tôn giáo Chủ nghĩa Mác - Lênin

Trang 15

cho rằng, muốn thay đổi ý thức xã hội phải thay đổi bản thân tồn tại xã hội;muốn xóa bỏ tư tưởng ở con người phải xóa bỏ nguồn gốc làm nảy sinhnhu cầu cần có ảo tưởng; muốn đẩy lùi ước mơ về thiên đường ở thế giớibên kia, phải kiến tạo được thiên đường ở thế giới hiện hữu.

Như vậy, để khắc phục dần ảnh hưởng tôn giáo, phải hướng vàoviệc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào có tín ngưỡng, kiênquyết chống những biểu hiện chia rẽ, bè phái vì lý do tôn giáo trong quầnchúng lao động Khai thác và phát huy mọi tiềm năng của đồng bào các tôngiáo để làm cho dân giàu nước mạnh là việc làm có ý nghĩa thiết thực hiệnnay

Phân biệt rõ hai mặt chính trị và tư tưởng trong vấn đề tôn giáo lànguyên tắc quan trọng để giải quyết đúng đắn vấn đề tôn giáo

Phải đấu tranh loại bỏ yếu tố chính trị phản động trong tôn giáo lànhiệm vụ quan trọng thường xuyên, thái độ và phương pháp giải quyết vừaphải khẩn trương kiên quyết dứt khoát vừa phải thận trọng chu đáo tỷ mỷnhằm tập hợp và phát huy khối đoàn kết rộng rãi quần chúng có tín ngưỡng

và không có tín ngưỡng

Khắc phục mặt tư tưởng thể hiện tâm lý tình cảm và niềm tin trongtôn giáo là nhiệm vụ thường xuyên lâu dài gắn liền với quá trình xây dựngCNXH, xóa bỏ áp bức bất công, nâng cao đời sống vật chất và tinh thầncho giáo dân Phải coi trọng công tác tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa vôthần khoa học, thế giới quan duy vật, giáo dục về đường lối chính sách củaĐảng và Nhà nước XHCN

Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡngcủa nhân dân Đây là sự tuân thủ quy luật riêng của quá trình chuyền biến

về mặt tư tưởng, đồng thời là sự thể hiện bản chất của nền dân chủ XHCN

và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước XHCN đến nhu cầu tinh thần của quầnchúng lao động

Trang 16

1.3 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ TÔN GIÁO VÀ CÔNG TÁC TÔN GIÁO

1.3.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo

1 Đại hội lần thứ VII của Đảng đã khẳng định: "Đảng ta lấy chủnghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kimchỉ nam cho hành động" Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh tưtưởng trên là đúng đắn

Có thể khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo là một bộphận hữu cơ trong hệ thống tư tưởng của Người Và tư tưởng đó xuất phát

từ tư tưởng yêu nước, thương dân, tư tưởng sống vì con người, sống vì xãhội, chống áp bức, bóc lột, nô dịch con người, tư tưởng giải phóng dân tộc,

tư tưởng đại đoàn kết Từ trong những tư tưởng lớn đó, Người đã rút ranhiều kết luận quan trọng về bản chất, vai trò của tôn giáo trong xã hội

Với Bác không có sự lẫn lộn thế giới trong giải quyết vấn đề tồngiáo; cho nên Bác không có chủ trương bài xích, đối đầu với tôn giáo Bác

là nhà nhân văn lớn có lòng yêu thương con người, tư tưởng cách mạng, sựhiểu biết sâu sắc đối với tôn giáo Bác tìm thấy sự tương đồng giữa họcthuyết mác-xit với đạo đức tôn giáo Trong nhiều lĩnh vực tôn giáo khôngđối lập cách biệt với chủ nghĩa xã hội Bác nhìn thấy ưu điểm nổi bật củaChúa Giê-su là lòng nhân ái cao cả "muốn mưu cầu hành phúc cho xã hội,chúa Gê-su hy sinh để cứu loài người khỏi ách nô lệ và đưa loài người vềhạnh phúc, bình đẳng, bác ái, tự do" Lý tưởng cao đẹp của đức Phật là:

"Đại từ, đại bi, cứu khổ, cứu", là "Hòa bình bác ái", là nhằm đấu tranh xâydựng "cuộc đời thiện mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui và ấm no", là "đấutranh diệt lũ ác ma" Người coi lý tưởng đó cũng năm trong mục đích đấutranh của mình

Vào những ngày đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Người

đã viết: "Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân

Trang 17

Tôn giáo của chúa Giê-su có ưu điểm là lòng bái ái cao cả Chủ nghĩa Mác

có ưu điểm là phương pháp biện chứng Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưuđiểm là chính sách "tam dân" thích hợp với điều kiện nước ta

Khổng tử, Giê-su, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những ưu điểmchung sao? Các vị ấy đều mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầuhạnh phúc cho xã hội Nếu các vị ấy còn sống trên cõi đời này, nếu các vị

ấy hợp lại một chỗ, tôi tin rằng các vị ấy nhất định sống chung với nhau rấthoàn mỹ như những người bạn thân thiết Tôi cố gắng làm người học trò

nhỏ của các vị ấy" (Văn kiện Hồ Chí Minh, Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí

Minh, tập 2, 1993, trang 134).

Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh khẳng định những lý tưởng caođẹp của tôn giáo, dĩ nhiên khi nói Người khẳng định lý tưởng của tôn giáokhông có nghĩa là người đồng nhất thế giới quan duy vật và thế giới quanduy tâm như đã nêu trên

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định khía cạnh tốt đẹp của đạo đứctôn giáo là cần thiết cho các thành viên trong xã hội để tiến hành xây dựngmột cuộc sống lành mạnh, tốt đẹp, đưa những người có tôn giáo đến với cáchmạng, chống áp bức, bóc lột, hun đúc cho họ lòng yêu nước thương nòi

Bác chỉ ra những mặt hạn chế của tôn giáo là nghiêng về tu dưỡngđạo đức, không dùng bạo lực (dù bạo lực chính đáng để chống đế quốc xâmlược), không đấu tranh mạnh mẽ và có tổ chức để lật đổ chế độ bất công đạo đức tôn giáo làm cho người ta chỉ tin vào số mệnh, không tin vào sứcmạnh của bản thân trong cuộc đấu tranh vì hạnh phúc ấm no và công bằng

xã hội Mặc dù vậy, trong đạo đức tôn giáo có nhiều điều đóng vai trò tíchcực đẩy lùi những hiện tượng, sự việc tiêu cực, xấu xa trong xã hội TheoThánh Mi-xen, Thượng đế có 10 điều răn, trong đó có việc thảo kính đốivới cha mẹ, không dối hại người, không giết người, không tà dâm, khôngtrộm cắp Trong Phật giáo khuyên người ta tu theo "Bát chính đạo" là 8 con

Trang 18

đường tu hành chân chính: có lời nói thanh tịnh, thẳng thắn, không nói ác,không làm ác, chỉ làm việc thiện, sống bằng nghề chân chính, luôn nghĩchính pháp, gạt bỏ suy nghĩ sai lầm, những hành động bất chính, khuyếnngười ta hành theo "Tam học" loại trừ những ý nghĩ xấu, tư tưởng xấu, tạođiều kiện cho trí tuệ phát sáng, chỉ làm điều thiện, mưu lợi ích cho chúngsinh

Rõ ràng, dưới ánh sáng quan điểm Mác - Lênin cho ta thấy rõ hơnnhững khía cạnh đạo đức tích cực trọng tôn giáo góp phần đẩy lùi tệ nạn xãhội, xây dựng đời sống tốt hơn đối với con người

Là nhà nhân văn lớn, chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định nhữngkhía cạnh nhân văn trong tôn giáo, khẳng định niềm tin của con người ởtôn giáo Người luôn coi trọng con người dù là người có tôn giáo haykhông có tôn giáo Người cho rằng: "Con người dù hữu thần hay vô thần cóthể chuyển hóa được cuộc đời mình từ đau khổ vươn tới hạnh phúc", "Dù nhấtthời họ có lầm lạc, nhỏ nhen, thấp kém nhưng với sự giáo dục cảm hóa củacách mạng, họ nhất định vươn tới đỉnh cao của ước mơ ngàn đời" Người rấtyêu thương và thông cảm với tín đồ các tôn giáo, người biết rõ nguyên nhâncủa những người đến với tôn giáo, họ tìm đến không chỉ vì tôn giáo mà chính

là tìm đến những gì tốt đẹp hay ít nhất cũng có thể làm dịu đi nỗi bất hạnh củamình Từ tấm lòng bao la và rộng lượng, Người đã giáo dục, cảm hóa được rấtnhiều tu sĩ, chức sắc tôn giáo lầm đường, lạc lối trở thành người có ích vàNgười dạy: "đối với những đồng bào lạc lối, lầm đường, ta phải lấy tình thân

ái mà cảm hóa họ, có như thế mới thành đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương laichắc chắn sẽ vẻ vang"

Trên cơ sở khẳng định lý tưởng cao đẹp, đạo đức, khía cạnh nhânvăn, niềm tin và con người của tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu cao tưtưởng tôn trọng sự tự do tín ngưỡng và nhu cầu tôn giáo của nhân dân, đóchính là tôn trọng phần tốt đẹp của di sản văn hóa mấy ngàn năm của loàingười, đó cũng chính là tư tưởng tất cả vì con người ở Bác

Trang 19

Đoàn kết giáo lương là một yếu tố cơ bản trong tư tưởng của chủtịch Hồ Chí Minh về tôn giáo Đoàn kết giáo lương để đi đến đoàn kết dantộc, nó bắt nguồn từ truyền thống dân tộc Việt Nam Khi còn hoạt động ởnước ngoài, Người gửi về nước nhiều thư hiệu triệu quốc dân đồng bào khôngphân biệt dân tộc, tôn giáo, Bắc - Trung - Nam phải muôn người như một,Bác nhắc nhở đồng bào công giáo thực hiện tốt lòng kính Chúa, yêu nước

Bác mở rộng đại đoàn kết của mình đến mức độ cao nhất Chínhnhững tư tưởng đó đã hạn chế những mặt đối kháng Nhờ có sự đoàn kết đó

mà cách mạng nước ta luôn giành thắng lợi Đối với ở đâu, bất cứ nơi nào,trong cả tôn giáo, Bác cũng kêu gọi sự đoàn kết Người viết: "Lương giáođoàn kết, toàn dân đoàn kết, cả nước một lòng, nhân dân ta nhất định giànhthắng lợi trong cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình, thống nhất Tổ quốc vàxây dựng một nước Việt Nam hòa bình thống nhất, độc lập dân chủ và giàumạnh" Từ chính sách đoàn kết đúng đắn của Người đã cuốn hút tuyệt đại

đa số tín đồ các tôn giáo đi theo con đường cách mạng đúng đắn của Đảng,tham gia kháng chiến, xây dựng đất nước

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành nhiều biện pháp chống nhữnghành vi vi phạm chính sách tín ngưỡng tôn giáo; chống những hoạt độnglợi dụng tôn giáo vì mục đích ngoài tôn giáo

Bác luôn phê phán nghiêm khắc những cán bộ, đảng viên vi phạmchính sách tôn giáo; Bác tìm ra những giải pháp có lý, có tình để cảm hóanhững người mù quáng, chống lại chủ trương, chính sách của Đảng, Nhànước, ngay những người lầm lẫn ra đi Bác cùng có chính sách đúng đắn

Có thể khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo là sự kết hợphài hòa và kỳ diện mặt tốt đẹp nhất con người "trần thế", với giá trị nhânbản của tôn giáo Người đã góp công xây dựng nền tảng để Đảng và Nhànước ta đề ra chính sách tôn giáo trước kia cũng như hiện nay

Trang 20

1.3.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo và công tác tôn giáo

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã thànhcông trong việc phát huy truyền thống đoàn kết và yêu nước của dân tộc, đãxây dựng được mặt trận đoàn kết dân tộc rộng rãi, trong đó có đông đảođồng bào các tôn giáo Đồng bào các tôn giáo đã hòa hợp với cộng đồngdân tộc trong công cuộc chống giặc ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ Tổquốc, đã kết hợp hài hòa phần đời và phần đạo trong tiến trình phát triểndân tộc Tất cả những thành công ấy bắt nguồn từ quan điểm và chính sáchđúng đắn của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo

Những căn cứ của quan điểm và chính sách tôn giáo của Đảng

và Nhà nước ta:

Thứ nhất, lấy học thuyết mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm

nền tảng, Đảng và Nhà nước ta xem tôn giáo là một trong những hình thái ýthức xã hội của con người, phản ánh cách nhìn của con người về hiện thựckhách quan Theo đó, trong quá trình lãnh đạo dân tộc tiến hành công cuộccách mạng, Đảng và Nhà nước ta coi trọng các hình thái ý thức xã hội trong

đó có tôn giáo, mọi quan điểm chủ trương lãnh đạo và quản lý tôn giáo từhướng là hoạt động: nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của một bộ phậnnhân dân Đồng thời với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, tôn giáo làmột hiện tượng có tính lịch sử cho nên quan điểm và chính sách tôn giáocủa Đảng và Nhà nước ta phải thay đổi cho phù hợp với tôn giáo ở từngthời kỳ lịch sử

Thứ hai, đoàn kết là một truyền thống quý báu của dân tộc, là một

bài học lớn mà lịch sử dân tộc nói chung và lịch sử cách mạng dưới sự lãnhđạo của Đảng nói riêng đã đúc kết nên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng

khẳng định: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại

thành công".

Trang 21

Cơ sở chính sách đại đoàn kết đó dựa trên học thuyết và vai tròquyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử của chủ nghĩa Mác - LêNin, thấm nhuần sâu sắc đạo lý lấy nhân dân làm gốc, phát huy truyềnthống đoàn kết dân tộc trong quá trình dựng nước và giữ nước của ông cha

ta Chính sách đại đoàn kết đó cũng dựa trên cơ sở kết hợp đúng đắn độclập dân tộc với lý tưởng xã hội chủ nghĩa nhằm thực hiện mục tiêu: độc lập

- tự do - ấm no - hạnh phúc Mục tiêu này phản ánh sâu sắc khát vọng củatoàn dân ta thuộc bất kỳ thành phần dân tộc hay tôn giáo nào

Quan điểm, và chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta tất yếuphải xuất phát từ cơ sở này nhằm đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong mặttrận dân tộc thống nhất

Thứ ba, Việt Nam là một quốc gia có nhiều tôn giáo Tuy nhiên, do

điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam; dođặc điểm riêng về tâm lý, tình cảm, của người dân Việt Nam, tôn giáo ởViệt Nam có những nét riêng của nó (xem chương 1) Do đó, để quản lýđược tôn giáo, đoàn kết đồng bào các tôn giáo, làm cho họ hòa nhập vớicộng đồng dân tộc, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta phải căn

cứ vào đặc điểm tình hình tôn giáo ở từng thơì kỳ nhất định

Trong quá trình lãnh đạo và quản lý đất nước, Đảng và Nhà nước ta

đã đổi mới công tác tôn giáo, có nhiều chính sách về tôn giáo như Nghịquyết 24 của Bộ Chính trị ngày 16/10/1990, Nghị định 69/HĐBT của Hộiđồng Bộ trưởng (nay là chính phủ) ngày 21/01/1991, Chỉ thị 379/TTg củaThủ tướng Chính phủ ngày 23/07/1993, thể hiện quan điểm và nguyên tắccủa Đảng và Nhà nước ta đối với vấn đề tôn giáo như sau:

Quan điểm thứ nhất: Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của công

dân Mọi công dân có thể theo hoặc không theo một tôn giáo nào, có thểtôn giáo này hoặc tôn giáo khác Các tôn giáo đều bình đẳng trước phápluật Không cho phép tôn giáo này cưỡng bức, lôi kéo tín đồ của tôn giáokia Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ

Trang 22

Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tôn giáo

để làm trái pháp luật và chính sách Nhà nước Nhà nước không can thiệpvào công việc nội bộ của tôn giáo, nhưng đòi hỏi tôn giáo phải hoạt độngtrong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật quy định, nếu vi phạm pháp luậtthì phải xử lý nghiêm minh

Quan điểm thứ hai: Coi công tác vận động quần chúng là cốt lõi của

công tác tôn giáo Nội dung của công tác này là:

- Đảm bảo nhu cầu tín ngưỡng cho đồng bào như đào tạo chức sắc,

in ấn kinh sách, cúng lễ, đúng quy định pháp luật

- Quan tâm đến chính sách kinh tế - xã hội, chăm lo đời sống củagiáo dân, chức sắc, đặc biệt là đối với vùng sâu, vùng xa, hẻo lánh

- Xây dựng đội ngũ cốt cán những người yêu nước, tiến bộ tronggiáo dân, phát triển Đảng, Đoàn trong các chức sắc, tín đồ Đảng viên là tín

đồ tôn giáo có thể tham gia mọi sinh hoạt tôn giáo, làm lễ kết hôn, rửatội, ở nhà thờ

Quan điểm thứ ba: Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận

nhân dân, đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với sự nghiệp xây dựngchủ nghĩa xã hội Đảng và Nhà nước đề cao và khuyến khích những hoạtđộng của các tín đồ có tác dụng tích cực ích nước lợi nhà, tốt đời đẹp đạo.Đồng thời bảo vệ, trùng tu cơ sở thờ tự như chùa chiền, nhà thờ, thánh thất,tượng Phật, tượng Chúa, bởi đó là những sản phẩm văn hóa dân tộc cầnđược giữ gìn

Quan điểm thứ tư: Tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị phải

làm tốt các công tác tôn giáo dưới sự lãnh đạo của Đảng và phải tăngcường quản lý công tác tôn giáo của Nhà nước Quan điểm này nhằm tạonên sự thống nhất và đồng bộ trong hoạt động quản lý tôn giáo

Một số nguyên tắc chủ yếu trong quản lý hoạt động tôn giáo:

Trang 23

a) Nguyên tắc 1: Mọi công dân đều bình đẳng trưóc Hiến pháp và pháp luật.

Nguyên tắc này được thể hiện tại Điều 52 của Hiến pháp 1992 Đây

là nguyên tắc thể chế dân chủ trong hoạt động của Nhà nước ta Nội dungcủa nguyên tắc này được hiểu: Nhà nước đảm bảo quyền tự do tôn giáo haykhông tôn giáo của công dân và công dân (dù là tín đồ tôn giáo hay khôngphải là tín đồ tôn giáo) bình đẳng trước pháp luật, được hưởng quyền lợi và

có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ công dân Từ cơ sở này, tín đồ được tự

do hành đạo trên cơ sở thực hiện nghĩa vụ công dân

c) Nguyên tắc 3: Về tính thống nhất giữa sinh hoạt tôn giáo và bản sắc giá trị văn hóa:

Tín ngưỡng tôn giáo được thể hiện (vật chất hóa) qua các kinh sách,luật lệ, lễ nghi, nhà thờ và đền chùa – nơi thờ phụng và hoạt động tôn giáo.chính những dạng vật chất ấy của tôn giáo đồng thời là những sản phẩmvăn hóa Theo đó mọi người (tín đồ, người không có đạo ) Đảng, Nhànước phải có trách nhiệm bảo tồn chúng Đấy là những di sản văn hóa quýbáu không những phản ảnh những sinh hoạt tôn giáo mà còn thể hiện cáchnhìn nhận của cộng đồng trước thực tiễn tự nhiên và xã hội

Trang 24

và thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng tôn giáo vàkhông tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân Chính sách về tín ngưỡng tôngiáo của Đảng và Nhà nước ta là nhằm mục đích đáp ứng các nguyện vọngchính đáng của nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng vàNhà nước, tạo nên tinh thần phấn khởi trong đồng bào tín đồ và nhà tu hànhcác tôn giáo, nhằm đảm bảo các hoạt động tín ngưỡng tôn giáo được tiếnhành bình thường, ổn định, trong khuôn khổ pháp luật, động viên chức sắccác tôn giáo hành đạo gắn bó với dân tộc, phù hợp với hoàn cảnh của đấtnước.

Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, để phát huy sức mạnh toàn dân phấn đấu vì mục tiêu "dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, văn minh", Đảng và Nhà nước động viên đồng bàocác tôn giáo phát huy truyền thống yêu nước, hăng hái tham gia công cuộcđổi mới, làm tốt việc đạo, làm tròn nghĩa vụ công dân, xây dựng và bảo vệ Tổquốc

2.1 TÌNH HÌNH PHÂN BỐ CÁC TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

Theo báo cáo của ban Tôn giáo Chính phủ đến cuối năm 1996, có15.203.132 người là tín đồ của các tôn giáo, trong đó:

1 Phật giáo : 7.378.417 người

2 Thiên Chúa Giáo : 4.952.605 người

Trang 25

3 Hòa Hảo : 1.252.906 người.

4 Cao Đài : 1.122.827 người

2 Thiên Chúa Giáo : 6.003 nhà thờ, nhà nguyện, dòng tu

3 Cao Đài : 896 thánh thất, điện thờ

4 Tin Lành : 437 nhà thờ, nhà nguyện

5 Hòa Hảo : 223 chùa và cơ sở khác

6 Hồi giáo : 71 đền thờTài liệu lịch sử cho biết, trong 6 tôn giáo trên đây, Phật giáo, ThiênChúa Giáo, Tin Lành và Hồi Giáo là những tôn giáo ngoài du nhập vàoViệt Nam sớm hơn cả bằng hai con đường: trực tiếp, từ ấn Độ vào thẳngViệt Nam từ đầu công nguyên và gián tiếp, từ ấn Độ qua Trung Quốc và từTrung Quốc vào Việt Nam ở thế kỷ V - VI Cao Đài và Hòa Hảo xuất hiệnkhá muộn vào những năm 20 - 30 của thế kỷ này do người Việt Nam (NgôVăn Chiêu lập đạo Cao Đài năm 1926 và Huỳnh Phú Sổ lập đạo Hòa Hảonăm 1939) lập ra Tuy ra đời ở Việt Nam và do người Việt Nam lập nên,nhưng Cao Đài và Hòa Hảo chỉ là những tôn giáo vận dụng các giáo lý củacác tôn giáo Ấn Độ và Trung Quốc (Cao đài là sự kết hợp chủ yếu của NhoGiáo, Đạo giáo và Phật giáo, Hòa Hảo chủ yếu vận dụng từ Phật giáo)

Địa bàn, phạm vi hoạt động của các tôn giáo có khác nhau Phậtgiáo, Thiên Chúa Giáo và Tin Lành có địa bàn trải ra khắp toàn quốc CaoĐài hoạt động rải rác từ Quảng Nam - Đà Nẵng trở vào đến Nam bộ Hòa

Trang 26

Hảo tập trung ở Nam bộ, Hồi giáo tập trung ở người Chăm và khu vựcNam bộ Cũng cần nói thêm, tuy hình thành trong nước, nhưng hiện nayđạo Cao Đài có các chức sắc ở Mỹ, Anh, Pháp và một số nước khác trênthế giới.

Tôn giáo Việt Nam có những đặc trưng sau đây:

Trước hết, tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam mang tính quần chúng

phổ biến nhưng chủ yếu dừng lại ở cấp độ tâm lý tôn giáo Con số hơn

15 triệu tín đồ, chiếm 20% dân số cả nước đã nói lên phần nào tính phổbiến của tôn giáo ở Việt nam Hơn nữa, như giáo sư Trần Văn Giàu đã

nhận xét: "Ba phần tư người Việt Nam hoặc theo đạo Phật giáo hoặc có

cảm tình với Phật giáo" Tuy nhiên, khác với tín đồ các tôn giáo ở nhiều

nước trên thế giới, các tín đồ tôn giáo ở Việt Nam rất sùng đạo nhưngkhông am hiểu giáo lý tôn giáo mà họ theo (Tín đồ Phật giáo ít hiểu nộidung "Quy y tam bảo", tín đồ Thiên Chúa giáo không rõ các bí tích củaThiên Chúa giáo) Không ít tín đồ nhập đạo do bị lôi kéo hoặc theo phongtrào (dưới ảnh hưởng của gia đình, làng xóm, )

Nét đặc trưng thứ hai của tôn giáo Việt Nam là: có "sự sống chung hòa bình" giữa các tôn giáo Trong quá trình mở rộng ảnh hưởng, các tôn

giáo rất yếu sẽ có sự cạnh tranh, lôi kéo những người ngoài theo tôn giáocủa mình Tuy nhiên, với mục đích "tốt đời, đẹp đạo" hay "tam giáo đồngnguyên", các tôn giáo ở Việt Nam khá hòa thuận trong quá trình tồn tại,không có các cuộc chiến tranh tôn giáo nhằm triệt tiêu lẫn nhau, trừ mộtthời gian ngắn dưới chế độ gia đình trị của anh em Ngô Đình Diệm: ở thờigian (1961 - 1962) đã có cuộc tàn sát Phật giáo do chính quyền Ngô ĐìnhDiệm - những kẻ theo Thiên Chúa Giáo tổ chức

Đặc trưng thứ ba, các tôn giáo từ ngoài du nhập vào Việt Nam ít

hay nhiều đều bị Việt hóa Quá trình Việt hóa có nguyên nhân từ hai phía

Từ phía tôn giáo, để tôn giáo của mình có thể đi sâu vào đời sống tinh thần

Trang 27

của người dân, những người đứng đầu các tôn giáo đều có ý thức phải mềmdẻo, sao cho phù hợp tâm lý, phong tục, tập quán, điều kiện sinh hoạt củangười Việt Nam Về phía người Việt, với ý thức giữ gìn bản sắc dân tộc và

để phục vụ cho cuộc sống của mình, người Việt ít nhiều đã Việt hóa cáctôn giáo Vì thế, từ Phật giáo đến Thiên Chúa giáo, từ Tin Lành đến Hồigiáo ở Việt Nam ít nhiều, dù đậm nét hay mờ nhạt cũng đều có những nétriêng khác với những tôn giáo này ở các nước khác trên thế giới

Cuối cùng, kéo theo sự xuất hiện của các tôn giáo là sự phát triển

của các tín ngưỡng không lành mạnh, của mê tín dị đoan Có một số tínngưỡng tôn giáo hết sức phi lý như loại tín ngưỡng "đeo vỏ trái bầu khô để

tránh ma quỷ", đạo Trứng, đạo Dừa, tử vi, xem bói, cầu hồn, lên đồng,

phép phù thuỷ, rộ lên khi đất nước ta đã bước vào thời kỳ đổi mới, khinhân loại đang chuẩn bị đi vào thiên niên kỷ mới với đời sống văn minhhơn, hiện đại hơn

Hiện nay hoạt động tôn giáo ở nước ta khá phức tạp và tinh vi.Chẳng hạn, thông qua các hình thức từ thiện, hoạt động du lịch, giúp đỡngười nghèo, mở các lớp học tình thương, Nhìn ở bề ngoài những hìnhthức này là vô hại, thậm chí có người cho là lành mạnh, là tích cực cầnkhuyến khích Song, thực chất ở bên trong, không ít kẻ đã lợi dụng dưới vỏbọc tôn giáo để tuyên truyền xuyên tạc chế độ, bôi nhọ thanh danh củaĐảng và Nhà nước, tìm cách chống phá cách mạng, rao giảng giáo lý, lôikéo ngươì ngoài theo đạo để phát triển lực lượng tín đồ, vì thế cần phảitỉnh táo với tình hình tôn giáo ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Như chúng tôi đã đề cập ở phần 1.1 chương 1 thì tôn giáo là mộthình thái ý thức xã hội, là sản phẩm của con người, là nhu cầu tinh thần củamột bộ phận nhân dân Đạo đức tôn giáo có những điều phù hợp với sựnghiệp xây dựng xã hội mới, nghĩa là bên cạnh mặt tiêu cực và hạn chế thìtôn giáo cũng có những mặt tích cực và sẽ còn tồn tại khá lâu trong đờisống xã hội

Trang 28

Trước đây không ít cán bộ, đảng viên một mặt không am hiểu vềtôn giáo, một mặt không hiểu hoặc hiểu không chính xác một số luận điểmcủa mác, Ăngghen, Lênin về tôn giáo Chẳng hạn, với câu: "tôn giáo là liềuthuốc phiện của nhân dân", thực ra Mác muốn ví tôn giáo như là liều thuốc

an thần có thể xoa dịu, an ủi con người trong một khoảng thời gian nhấtđịnh nào đó trước những bất hạnh của con người trong cuộc sống, nghĩa làthừa nhận tôn giáo có chức năng "bù đắp sự thiếu hụt" của hiện thực.Nhưng đại đa số lại hiểu rằng thuốc phiện như là một loại "ma tuý độc hại"cần phải được xóa bỏ Từ nhận thức lệch lạc, hẹp hòi, thành kiến đó, một

số cán bộ đảng viên trong suy nghĩ, tư duy của mình cho rằng tôn giáo làđộc hại, là phản động, cần phải loại bỏ Vì nhận thức như vậy nên khôngthấy được thực chất tôn giáo là nhu cầu tín ngưỡng trong đời sống tinh thầncủa con người mà còn đối lập vấn đề dân tộc với tôn giáo Trong quá trìnhquản lý đã có không ít nơi chính quyền buông lỏng công tác quần chúng,xem nhẹ công tác vận động tôn giáo, và có biểu hiện thiên về việc sử dụngcác biện pháp hành chính cứng rắn để xử lý các vấn đề phát sinh trong quátrình quản lý Nhà nước đối với tôn giáo Gây nên tâm lý hoang mang, lo sợtrong cộng đồng tín đồ các tôn giáo, làm giảm lòng tin của tín đồ các tôngiáo đối với Đảng và Nhà nước ta, vô tình tạo cơ hội cho kẻ xấu lợi dụngxuyên tạc chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước Vì vậy,chúng ta cần phải khắc phục những nhận thức thiển cận đối với tôn giáo vàthái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo

Tuy nhiên, ở hướng ngược lại cũng cần phải hiểu rằng: quá trìnhphát triển của mọi tôn giáo ở nước ta đều bị đế quốc và các thế lực thùđịch, bọn phản động tay sai lợi dụng gây nên những vấn đề lịch sử phứctạp Ngày nay, các thế lực phản động quốc tế vẫn còn ra sức tập trungchống phá cách mạng Việt Nam, tìm mọi cách tác động vào các tôn giáo,tiếp tay cho những phần tử xấu trong cộng đồng tôn giáo hòng gây nênnhững biến động xã hội làm mất ổn định chính trị, kích động quần chúng

Trang 29

có đạo chống lại Đảng và Nhà nước ta Bên cạnh đó, còn có những phần tửlợi dụng tôn giáo để trục lợi cá nhân, tranh giành địa vị trong nội bộ tôngiáo, tình hình phát triển lực lượng, cơ sở thờ tự của tôn giáo ngày càng giatăng, làm cho tình hình hoạt động của tôn giáo ở nước ta trở nên khá phứctạp và tinh vi hơn Vì vậy, cần phải cảnh giác với tình hình tôn giáo ở nước

ta trong giai đoạn hiện nay Đồng thời cần phải nhận thức rằng: tư tưởngcủa Đảng và Nhà nước ta là không chống lại tôn giáo chân chính, mà chỉđấu tranh chống lại sự lợi dụng tôn giáo vào những mục đích chính trị phảnđộng nhằm lôi kéo, tuyên truyền, kích động tín đồ chống phá cách mạng,làm phương hại đến lợi ích của quốc gia, của nhân dân, gây chia rẽ khối đạiđoàn kết dân tộc, trục lợi cá nhân, cần phải kiên quyết đấu tranh, và đấutranh không khoan nhượng đối với các hành vi vi phạm pháp luật về tôngiáo để duy trì hiệu lực quản lý của Nhà nước

Phải tuyên truyền, giải thích cho tín đồ, chức sắc, nhà tu hành củacác tôn giáo kể cả nhân dân hiểu rõ quan điểm, chủ trương, chính sách củaĐảng và Nhà nước ta đối với tôn giáo là xuất phát từ mục đích tôn trọngquyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện chủ trương đoàn kết lươnggiáo, đoàn kết toàn dân xây dựng và bảo vệ tổ quốc, pháp luật của nhànước ta là công cụ để bảo vệ những hoạt động tín ngưỡng chính đáng củanhân dân, bảo hộ các cơ sở thờ tự, các hoạt động hành giáo lành mạnh củacác tôn giáo, là công cụ để ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm phạm đếnquyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làmtrái pháp luật và chính sách của Nhà nước, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền, quản lý và điều hành xã hội bằngpháp luật, là nhà nước của dân, do dân và vì dân, vì vậy, pháp luật của Nhànước nói chung và các chế định đối với tôn giáo nói riêng là hoàn toàn xuấtphát từ lợi ích của dân tộc, của nhân dân và quản lý, điều hành các mặt củađời sống xã hội bằng pháp luật là lẽ đương nhiên, hoàn toàn bình thườngđối với một nhà nước pháp quyền như nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Trang 30

Việt Nam Pháp luật của Nhà nước không nhằm mục đích ngăn cản quyền

tự do chính đáng của nhân dân và hoạt động lành mạnh của tôn giáo

Yêu cầu:

Trong tình hình mới hiện nay ở nước ta, việc quản lý tôn giáo cầnphải ra sức chăm lo cuộc sống vật chất, văn hóa, nâng cao trình độ mọi mặtcủa đồng bào có đạo, thực hiện quyền tự do tín ngưỡng và không tínngưỡng trên cơ sở pháp luật, tăng cường đoàn kết lương giáo, đoàn kết toàndân Tích cực vận động đồng bào các tôn giáo tham gia các đoàn thể và tổchức quần chúng, đẩy mạnh các phong trào hành động cách mạng làm chodân giàu nước mạnh, đồng bào các tôn giáo có cuộc sống tốt đời đẹp đạo,tích cực góp phần vào công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội, giữ vững tìnhhình ổn định chính trị của đất nước

Hướng dẫn các giáo hội hoạt động tôn giáo theo đúng pháp luật,ủng hộ xu hướng tiến bộ trong các tôn giáo làm cho các giáo hội ngày cànggắn bó với dân tộc và sự nghiệp cách mạng của toàn dân, thể hiện rõ vai trò

và trách nhiệm của giáo hội đối với đất nước

Phải tăng cường cảnh giác, kịp thời chống lại những âm mưu và thủđoạn của các thế lực thù địch nhằm lợi dụng tôn giáo để chống phá sựnghiệp cách mạng của nhân dân

2.2 NỘI DUNG QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO

Trước hết, chúng tôi thấy phải trở lại với một số khái niệm rất cầnthiết cho hoạt động quản lý tôn giáo trong tình hình mới

2.2.1 Quản lý Nhà nước

Trong tổng thể quản lý Nhà nước, phương thức "Đảng lãnh đạo,nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý" Hệ thống chủ thể quản lý xã hội ởnước ta gồm có: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam, Mặt trận tổ quốc và các thành viên của Mặt trận

Trang 31

Trong hệ thống chủ thể này, chỉ có Nhà nước là chủ thể duy nhấtquản lý toàn dân, toàn diện và quản lý bằng pháp luật để thực hiện quyềnlàm chủ của nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhà nước quản lý toàn dân, là quản lý tất cả mọi người đang làm

ăn, sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam bao gồm: công dân Việt nam, nhữngcông dân là người nước ngoài, kể cả những người Việt Nam bị mất một sốquyền công dân

Nhà nước quản lý toàn diện, là quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đờisống xã hội dựa theo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lýtheo lãnh thổ Nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hộinhư không có nghĩa là các cơ quan hành chính nhà nước sẽ điểu chỉnh tất

cả các khía cạnh phát sinh trong đời sống xã hội mà chỉ điều chỉnh nhữngvấn đề do pháp luật quy định

Nhà nước quản lý bằng luật pháp là quản lý và điều hành xã hộibằng pháp luật, lấy pháp luật làm công cụ để xử lý mọi hành vi vi phạmpháp luật một cách nghiêm minh qua các hình thức như khiển trách, phạthành chính, cải tạo lao động, phạt tù treo, tù ngắn ngày, tù chung thân và kể

cả việc loại bỏ một con người ra khỏi đời sống xã hội khi họ có những hành

vi gây phương hại nghiêm trọng đến lợi ích quốc gia, lợi ích của dân tộc,quyền và nghĩa vụ chính đáng của nhân dân

Như vậy, các chủ thể khác chỉ có thể lấy điều lệ của tổ chức mình,các nghị quyết của Đại hội, của các cấp uỷ để làm công cụ quản lý và chỉ

có quyền xử lý các hành vi vi phạm bằng các hình thức như phê bình, cảnhcáo và khai trừ ra khỏi tổ chức của mình mà thôi

Quản lý Nhà nước: là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhànước, được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội

và hành vi hoạt động của con người, quản lý Nhà nước với dạng quản lýcủa các chủ thể khác như Công đoàn, thanh niên, Phụ nữ, ở chỗ các chủthể này không dùng quyền lực luật pháp của Nhà nước để điều chỉnh các

Trang 32

quan hệ quản lý mà chỉ dùng phương thức giáo dục vận động quần chúng.Còn quản lý Nhà nước là sử dụng pháp luật, sử dụng quyền lực công – làquyền lực đơn phương, một chiều là mệnh lệnh buộc khách thể phải chấphành và có tính tổ chức cao, nó tổ chức và điều hành các quá trình xã hội

và hành vi hoạt động của con người bằng quyền lực (pháp luật) của Nhànước

Tôn giáo là một lĩnh vực mà Nhà nước phải quản lý Song quản lýNhà nước đối với tôn giáo là loại quản lý đặc thù, phải quan tâm đúng mứcđến đặc điểm của khách thể quản lý

2.2.2 Quản lý Nhà nước về hoạt động tôn giáo

Là một dạng quản lý xã hội mang tính chất nhà nước, nó tổ chức vàđiều hành quá trình hoạt động tôn giáo của các pháp nhân tôn giáo và củacác thể nhân tôn giáo bằng quyền lực Nhà nước Nói cách khác, quản lýNhà nước về hoạt động tôn giáo là quản lý hoạt động của các tín đồ, chứcsắc, nơi thờ tự, đồ dùng việc đạo, cơ sở vật chất xã hội của các tôn giáo vàsinh hoạt tôn giáo

Sinh hoạt tôn giáo là một hoạt động đặc thù, là một nhu cầu sinhhoạt tinh thần chính đáng của nhân dân Quản lý của Nhà nước là một sựtác động sao cho công dân có đạo sinh hoạt trong giáo giới vẫn hoàn thànhbổn phận đối với xã hội, vẫn được Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích, về sựbình đẳng trên mọi phương diện mà Hiến pháp đã quy định

Một là, đặc trưng của quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo:

Quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo có hai đặc trưng riêngsau đây:

Thứ nhất: Tôn giáo cũng như các tổ chức chính trị xã hội khác,

muốn tổ chức và hoạt động phải được Nhà nước cho phép Theo Hiến pháp

và luật pháp hiện hành, chủ thể có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động đốivới các tổ chức xã hội là Thủ tướng Chính phủ Thủ tưóng có thể uỷ quyền

Ngày đăng: 15/12/2016, 10:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16 tháng 10 năm 1990 của Bộ Chính trị về "Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới
3. Chỉ thị số 66-CT/TW ngày 26 tháng 11 năm 1990 của Ban bí thư Trung ương Đảng về việc thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về “ Tăng cường tôn giáo trong tình mới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăngcường tôn giáo trong tình mới
4. Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 02 tháng 7 năm 1998 của Bộ Chính trị về"Công tác tôn giáo trong tình hình mới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác tôn giáo trong tình hình mới
5. Sắc lệnh số 234 ngày 14 tháng 6 năm 1955 về “Hoạt động tôn giáo và tín ngưỡng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động tôn giáo vàtín ngưỡng
6. Nghị quyết 297-CP ngày 11 tháng 11 năm 1997 của Hội dồng Chính phủ (nay là Chính phủ) về "Một số chính sách đối với tôn giáo” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chính sách đối với tôn giáo
7. Nghị quyết số 69-HĐBT ngày 21 tháng 3 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) “Qui định về các hoạt động tôn giáo” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qui định về các hoạt động tôn giáo
8. Nghị định số 37-CP ngày 4 tháng 4 năm 1993 của Chính phủ “Quy định về nhiêm vụ, quyền hạn của tổ chức bộ máy của Ban tôn giáo của Chính phủ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy địnhvề nhiêm vụ, quyền hạn của tổ chức bộ máy của Ban tôn giáo củaChính phủ
9. Nghị quyết số 26/1999/NĐ-CP ngày 19 tháng 4 năm 1999 của Chính phủ về "Các hoạt động tôn giáo” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hoạt động tôn giáo
10. Chỉ thị số 379/TTg ngày 23 tháng 7 năm 1993 của Thủ tướng Chính phủ về "Các hoạt động tôn giáo” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hoạt động tôn giáo
11. Văn bản số 500-HD/TGCP ngày 4 tháng 12 năm 1993 của Ban tôn giáo của Chính phủ “Hướng dẫn thực hiện chỉ thỉ 79/TTg của Thủ tướng Chính phủ về hoạt động tôn giáo” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chỉ thỉ 79/TTg của Thủ tướngChính phủ về hoạt động tôn giáo
1. Ban tôn giáo của Chính phủ - Một số vấn đề đạo Thiên Chúa trong lịch sử dân tộc ta. Viện KHXH và Ban tôn giáo TPHCM, 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề đạo Thiên Chúa trong lịchsử dân tộc ta
2. Học viện Hành chính Quốc gia - Giáo trình về quản lý hành chính nhà nước (dành cho lớp bồi dưỡng cán bộ QLNN cao cấp và trung cấp).Tập IV, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình về quản lý hành chính nhànước
3. Tổng cục Chính trị - Một số hiểu biết về tôn giáo ở Việt Nam (sách tham khảo). Nxb QĐND, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số hiểu biết về tôn giáo ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb QĐND
4. GS.TS Trần Ngọc Thêm - Cơ sở văn hóa Việt Nam. In lần thứ hai, Trường Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
5. Viện Triết học - Lịch sử phật giáo Việt Nam. Nxb KHXH, Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử phật giáo Việt Nam
Nhà XB: Nxb KHXH
6. Viện Thông tin Khoa học-Xã hội - Tôn giáo và đời sống xã hội hiện đại.Tập 1,2, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo và đời sống xã hội hiện đại
7. Viện Thông tin Khoa học-Xã hội - Tôn giáo và đời sống xã hội hiện đại.Tập 3, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo và đời sống xã hội hiện đại

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w