1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

MỐI QUAN hệ giữa tổ CHỨC SINH THÁI và vườn QUỐC GIA, KHU BẢO TỒN

13 658 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rừng đặc dụng là loại rừng được hình thành với mục đích chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng, nghiên cứa khoa học, bảo vệ di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh phục vụ nghỉ ngơi du lịch kết hợp với phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái. Vườn quốc gia là một khu đất hay biển được bảo tồn bằng các quy định pháp luật của chính quyền sở tại. Vườn quốc gia thường được thành lập ở những khu vực có hệ sinh thái phong phú, có nhiều động – thực vật có nguy cơ tuyệt chủng cao... Các vườn quốc gia là một khu vực được bảo vệ theo quy định của IUCN loại II. Khu bảo tồn thiên nhiên “là các vùng đất hoặc vùng biển được giành riêng để bảo vệ và duy trì da dạng sinh học, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa đi kèm được quẩn lý bằng pháp luật hoặc các phương thức hiệu quả khác” (IUCN 1994).

Trang 1

Chủ đề:

MỐI QUAN HỆ GiỮA TỔ CHỨC SINH THÁI VÀ VƯỜN QUỐC

GIA, KHU BẢO TỒN

Trang 2

Nội dung chính

1 2 3 4

Khái niệm

Hiện trạng

Nội dung Kết luận và đề xuất

Trang 3

1 Khái niệm

•Rừng đặc dụng là loại rừng được hình thành với mục đích

chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng, nghiên cứa khoa học, bảo vệ

di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh phục vụ nghỉ ngơi du lịch kết hợp với phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái

•Vườn quốc gia là một khu đất hay biển được bảo tồn bằng

các quy định pháp luật của chính quyền sở tại Vườn quốc gia

thường được thành lập ở những khu vực có hệ sinh thái phong

phú, có nhiều động – thực vật có nguy cơ tuyệt chủng cao Các vườn quốc gia là một khu vực được bảo vệ theo quy định của

IUCN loại II

•Khu bảo tồn thiên nhiên “là các vùng đất hoặc vùng biển được giành riêng để bảo vệ và duy trì da dạng sinh học, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa đi kèm được quẩn lý bằng pháp

luật hoặc các phương thức hiệu quả khác” (IUCN 1994)

Trang 4

Vườn quốc gia Tràm Chim

Vườn quốc gia Ba Vì Vườn quốc gia Mũi Cà Mau

Vườn quốc gia Cúc Phương

Trang 5

2 Hiện trạng

•Việt Nam có tất cả 164 khu rừng đặc dụng, trong đó gồm: 30 vườn quốc gia và 18 khu bảo tồn loài Phần lớn các vườn quốc, khu bảo tồn có vai trò kép, một mặt đây là khu vực cung cấp nơi trú cho sự sống hoang dã, mặt khác nó lại phục vụ như là du lịch phổ biến cho quần chúng.Việc quản lý các mâu thuẫn tiềm ẩn giữa hai mục đích này có thể là vấn đề Đe dọa tới tính nguyên vẹn của nhiều môi trường sống có giá trị

•Hiện nay, việc quy hoạch các VQG, KBT còn nhiều bất cập, công tác quản lý chưa đạt hiệu quả cao.Cơ sở hạ tầng chưa đồng

bộ Kinh phí đầu tư cho các VQG, KBT còn thấp vì thế tình hình của vườn quốc gia còn gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng tới phát triển du lịch sinh thái

•Đối với các loài ưu tiên và không ưu tiên trong khu rừng đặc dụng còn chưa được phân tách rõ ràng gây ra nhiều khó khăn

trong công tác quản lý

Trang 6

3 Nội dung

3.1 Nhiệm vụ

 Duy trì mối tương tác hài hoà giữa thiên nhiên và văn hoá

 Hỗ trợ đời sống và các hoạt động kinh tế của cộng đồng

 Duy trì tính đa dạng

 Khuyến khích các hoạt

động nghiên cứu khoa học

và giáo dục

Trang 7

3.2 Nguyên tắc của tổ chức

• Ít gây ảnh hưởng tới tài nguyên thiên nhiên của khu BTTN

• Thu hút sự tham gia của các cộng đồng, cá nhân, khách DLST, các nhà điều hành du lịch và các cơ quan của chính phủ và tổ chức phi chính phủ

• Tạo thu nhập lâu dài và bình đẳng cho cộng đồng địa phương

và cho các bên tham gia khác, bao gồm cả những nhà điều hành

du lịch tư nhân

• Tạo nguồn tài chính cho công tác bảo tồn của khu BTTN

• Tôn trọng văn hoá và truyền thống địa phương

• Giáo dục để nâng cao hiểu biết, khả năng thưởng thức của

khách du lịch về các khu BTTN và tăng cường sự tham gia của

họ trong công tác bảo tồn

Trang 8

3.3 Vai trò

• Cung cấp các dự án du lịch bền vững

• Đầu tư vốn giúp xây dựng cơ sở hạ tầng

• Đề xuất các hướng đi cụ thể cho phát triển du lịch sinh thái ở các VQG, KBT

• Cung cấp thông tin quốc tế…

• Du lịch trong và ngoài khu Bảo tồn thiên nhiên phải được thiết

kế thành một phương pháp bảo tồn

• Nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng bản địa

• Phát huy, tận dụng các thế mạnh của vườn quốc gia một cách phù hợp nhất

• Du lịch góp phần khẳng định giá trị và góp phần vào việc bảo tồn các diện tích tự nhiên quan trọng, phát triển các Khu Bảo tồn

và Vườn Quốc gia

Trang 9

3.4 Vai trò của cộng đồng

• Đóng góp được những kiến thức quý báu vào công tác quản

lý, hướng dẫn về khu BTTN

• Bán sản phẩm và hàng thủ công trực tiếp cho du khách hay thông qua các công ty du lịch

Trang 10

4 Kết luận và đề xuất

Các khu BTTN Việt Nam với nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp,

có tính đa dạng sinh học cao và đa dạng văn hoá là một tiềm

năng lớn để phát triển DLST

Kiến nghị:

(1) Cần nghiên cứu, bổ sung hệ thống phân loại rừng đặc dụng

cho phù hợp với phân hạng của IUCN, phù hợp với phân

hạng quốc tế

(3) Cần phải có một cơ chế, chính sách quản lý rõ ràng đối với

các Vườn quốc gia do tổng cụ cấp cao chuyên trách Việc

chuyển mục đích sử dụng rừng đặc dụng phải được Thủ

tướng quyết định, Tổng cục chuyên trách sẽ điều tiết và phân

bổ các nguồn vốn cho các Vườn quốc gia

Trang 11

(3) Kinh phí đầu tư cho rừng đặc dụng cần được nâng lên và duy trì,

nhất là những nơi mà ban quản lý rừng đặc dụng chưa có nguồn thu và chưa có điều kiện để phát triển du lịch Tăng cường quan

hệ với các tổ chức quốc tế, thu hút đầu tư dự án, nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ khoa học vào công tác bảo tồn

(5) Nâng cao nhận thức và trình độ chuyên môn cho các cán bộ làm

công tác bảo tồn, những cán bộ làm công tác bảo tồn cần phải khuyến khích và nên có cơ chế chính sách ưu tiên

(7) Cần phải thay đổi quan điểm về bảo tồn theo hướng mở nghĩa là

bảo tồn bao gồm: Bảo vệ, sử dụng hợp lý và sử dụng biện pháp

kỹ thuật phù hợp Trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, Khu bảo tồn loài và sinh cảnh cần phải thay đổi có thể vẫn cho phép khai thác, sử dụng một số loài không phải là đặc hữu, nguy cấp, quý hiếm và sử dụng biện pháp lâm sinh phù hợp cho sự phát triển của rừng

Kiến nghị:

Trang 12

(6) Chính sách quản lý vùng đệm cần phải được quan tâm và thống

nhất, giữa địa phương và ban quản lý rừng, cần phải có sự phối hợp tốt trong quản lý Đầu tư phát triển vùng lõi cần phải gắn liền với đầu tư phát triển vùng đệm, nếu vùng đệm không được đầu tư tốt thì việc quản lý và bảo vệ rừng ở vùng lõi rất khó

khăn

(8) Để bảo tồn các hệ sinh thái có tầm quan trọng quốc gia; bảo tồn

các loài động, thực vật đặc hữu, nguy cấp, quý, hiếm thì việc

thành lập Vườn quốc gia không chỉ giới hạn quy mô ranh giới hành chính mà phải mang tính liên ranh giới hoặc liên biên giới

(10)Cần phải rà soát và loại bỏ các khu rừng đặc dụng không còn

giá trị về mặt bảo tồn do quản lý và bảo vệ không hiệu quả Đối với khu rừng đặc dụng chưa có ban quản lý thì cần phải thành lập ngay, và có thể thành lập hạt kiểm lâm trực thuộc ban quản lý

Trang 13

Bộ luật áp dụng đối với tổ

chức:

 Quyết định 104/2007_QĐ-BNN ban hành quy chế quản lí các hoạt động du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên

 Nghị định

số:117/2010/ND-CP về tổ chức và quản lý hệ

thống rừng đặc dụng

Điều 23: Hoạt động du

lịch sinh thái

Ngày đăng: 15/12/2016, 08:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w