Đánh giá hiện trạng môi trường nước sông cấm tỉnh nghệ an và đề xuất giải pháp bảo vệ (luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiện trạng môi trường nước sông cấm tỉnh nghệ an và đề xuất giải pháp bảo vệ (luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiện trạng môi trường nước sông cấm tỉnh nghệ an và đề xuất giải pháp bảo vệ (luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiện trạng môi trường nước sông cấm tỉnh nghệ an và đề xuất giải pháp bảo vệ (luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiện trạng môi trường nước sông cấm tỉnh nghệ an và đề xuất giải pháp bảo vệ (luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiện trạng môi trường nước sông cấm tỉnh nghệ an và đề xuất giải pháp bảo vệ (luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiện trạng môi trường nước sông cấm tỉnh nghệ an và đề xuất giải pháp bảo vệ (luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiện trạng môi trường nước sông cấm tỉnh nghệ an và đề xuất giải pháp bảo vệ (luận văn thạc sĩ)
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 4
1.1 Tổng quan về hiện trạng ô nhiễm nước mặt ở Việt Nam và Thế giới 4
1.2 Tổng quan về phương pháp đánh giá chất lượng nước 12
1.2.1 Tổng quan về chỉ số môi trường 12
1.2.2 Tổng quan về chỉ số chất lượng nước (WQI) 12
1.2.3 Kinh nghiệm xây dựng WQI của một số quốc gia trên Thế giới 15
1.2.4 Tình hình nghiên cứu và kết quả đạt được về xây dựng WQI ở Việt Nam 16
1.3 Tổng quan về biện pháp bảo vệ nguồn nước mặt ở Việt Nam và Thế giới 26
1.4 Tổng quan về lưu vực sông Cấm 32
1.4.1 Vị trí lưu vực sông Cấm 32
1.4.2 Điều kiện tự nhiên 33
1.4.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 36
1.4.4 Hiện trạng sử dụng nước trên sông Cấm 38
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 43
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 43
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 44
2.2 Phương pháp nghiên cứu 44
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 50
3.1 Đánh giá các nguồn tác động có nguy cơ ảnh hưởng tới chất lượng môi trường nước sông Cấm 50
3.1.1 Nguồn thải từ sinh hoạt, dịch vụ, du lịch 50
3.1.2 Nguồn thải từ công nghiệp 53
3.1.3 Nguồn thải từ hoạt động nông nghiệp 59
3.1.4 Nguồn thải từ vùng nuôi trồng thủy sản và làng nghề 59
3.1.5 Nguồn thải từ các hoạt động khác 62
Trang 23.2 Kết quả đánh giá hiện trạng chất lượng nước sông Cấm theo chỉ số chất lượng
nước tổng hợp WQI 64
3.2.1 Hiện trạng chất lượng nước sông 64
3.2.2 Xây dựng sơ đồ hiện trạng chất lượng nước sông 81
3.3 Đánh giá khả năng sử dụng nguồn nước sông Cấm 84
3.3.1 Đánh giá về khả năng cấp nước cho sinh hoạt của lưu vực sông Cấm 84
3.3.2 Đánh giá về khả năng cấp nước cho nông nghiệp của lưu vực sông Cấm 84
3.3.3 Đánh giá về khả năng sử dụng nước cho nuôi trồng thủy sản của lưu vực sông Cấm 85
3.4 Đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên nước lưu vực sông Cấm 85
3.4.1 Giải pháp về quản lý 85
3.4.2 Giải pháp về quy hoạch 87
3.4.3 Giải pháp về kỹ thuật và công nghệ 88
3.4.4 Giải pháp về kinh tế 90
3.4.5 Giải pháp về tuyên truyền, giáo dục và nâng cao nhận thức 90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92
1 Kết luận 92
2 Kiến nghị 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 3SC-WQI: Phương pháp tính WQI của Qũy vệ sinh Quốc gia Hoa
Kỳ (NSF-WQI) có biến đổi phù hợp với sông Cấm
SC-WQI/WA : Phương pháp tính WQI của Quỹ vệ sinh Quốc gia Hoa
Kỳ (NSF-WQI) có biến đổi phù hợp với sông Cấm tính theo công thức dạng tổng
SC-WQI/WM :
Phương pháp tính WQI của Quỹ vệ sinh Quốc gia Hoa
Kỳ (NSF-WQI) có biến đổi phù hợp với sông Cấm tính theo công thức dạng tích
TCMT : Tổng cục Môi trường
TSS: ( Total Suspended Solid ): Tổng chất rắn lơ lửng
TCMT: Tổng cục Môi trường
TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam
WQI: (Water Quality Index): Chỉ số chất lượng nước
WQISI: WQI thông số
Trang 4CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về hiện trạng ô nhiễm nước mặt ở Việt Nam và Thế giới
1.1.1 Hiện trạng ô nhiễm nước mặt trên thế giới
Dưới tác động của sự gia tăng dân số và tăng trưởng kinh tế, nguồn nước nói chung, đặc biệt là nguồn nước mặt đang ngày càng bị lạm dụng Quá trình đô thị hóa, hoạt động nông nghiệp, công nghiệp và biến đổi khí hậu gây áp lực nặng nề lên khối lượng và chất lượng nguồn nước
Theo thống kê của Viện Nước quốc tế (SIWI) được công bố tại Tuần lễ Nước Thế giới (World Water Week) khai mạc tại Stockholm, thủ đô Thụy Điển
ngày 5/9/2014 thì mỗi ngày trung bình trên trái đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh hoạt đổ ra sông hồ và biển cả, 70% lượng chất thải công nghiệp không qua xử
lý bị trực tiếp đổ vào các nguồn nước tại các quốc gia đang phát triển [26]
Chính vì vậy, nguồn nước dùng trong sinh hoạt của con người bị ô nhiễm nghiêm trọng Một nửa số bệnh nhân phải nhập viện ở các nước đang phát triển là
do không được tiếp cận những điều kiện vệ sinh phù hợp vì thiếu nước và các bệnh liên quan đến nước Thiếu vệ sinh và thiếu nước sạch là nguyên nhân gây tử vong cho hơn 1,6 triệu trẻ em mỗi năm Tổ chức Lương Nông LHQ (FAO) cảnh báo trong 15 năm tới sẽ có gần 2 tỷ người phải sống tại các khu vực khan hiếm nguồn nước và 2/3 cư dân trên hành tinh có thể bị thiếu nước [26]
Châu Á đang phát triển bùng nổ nhưng nguồn nước của khu vực này đang cạn kiệt dần Khi một lục địa không đủ khả năng đảm bảo đủ nguồn nước cho các
đô thị cũng như các vùng nông thôn thì đây sẽ thực sự là một thảm họa Theo ông Arjun Thapan, cố vấn cao cấp đặc biệt của Chủ tịch Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) về lĩnh vực nước và cơ sở hạ tầng, viễn cảnh này sẽ trở thành hiện thực chỉ trong vòng 20 năm nữa [26]
Trang 5Với 80% nước của châu Á được dùng cho tưới tiêu phục vụ nông nghiệp, việc thiếu nước có thể dẫn đến những tác động nghiêm trọng đối với cung cấp lương thực Trong khi đó, khoảng 10 đến 15% nước của châu Á dùng cho công nghiệp Nhưng hiệu quả của việc dùng nước trong nông và công nghiệp chỉ tăng có 1% một năm kể từ năm 1990 Thapan cảnh báo trừ phi cải thiện triệt để tỷ lệ hiệu quả dùng nước trong cả nông nghiệp và công nghiệp, châu Á không thể thu hẹp khoảng cách giữa cung và cầu trong năm 2030 [26]
Quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa ồ ạt là hai lý do dẫn đến cuộc khủng hoảng này nhưng chủ nghĩa tiêu dùng là lý do không kém phần quan trọng Một ví
dụ là mức tiêu thụ thịt của Trung Quốc đã tăng gấp đôi trong vòng 20 năm qua và
dự đoán sẽ tiếp tục tăng gấp đôi trong 20 năm nữa Để sản xuất một kg thịt cần đến khoảng 35.000-70.000 lít nước và để sản xuất một kg gạo cần đến 10.000 lít nước [15]
Bộ trưởng Phát triển Dân tộc Singapore cho biết mỗi ngày có hơn 200.000 người từ các khu vực nông thôn di chuyển tới các thành phố hoặc thị trấn Như vậy,
cứ 3 ngày, một lượng người tương đương với một thành phố mới với dân số bằng Seattle hoặc Amsterdam lại xuất hiện Đến năm 2050, 70% dân số toàn cầu sẽ sống trong các thành phố, tăng so với con số 50% ở thời điểm hiện tại [26]
Ở Philippines, trong số 412 con sông, 50 sông đã bị ô nhiễm do tác nhân sinh học Chỉ riêng việc làm sạch vịnh Manila và sông Pasig ở Manila đã tốn khoảng từ
2 đến 2,5 tỷ USD [13]
Tại Trung Quốc, nhiều hồ nước, dòng sông và vùng biển đang ô nhiễm nghiêm trọng do tác động của tự nhiên và con người Nguyên nhân là do tốc độ phát triển chóng mặt của Trung Quốc kéo theo nhu cầu sử dụng nước ngày càng cao Tuy vậy, chính phủ nước này chưa hề có biện pháp chặt chẽ nào để bảo vệ nguồn nước, thậm chí trong vòng 20 năm qua, có đến 28.000 dòng sông tại Trung Quốc đã biến mất, bằng 50% trong tổng số các dòng sông tại đất nước đông dân nhất thế giới này Khoảng 50% lượng nước trên sông Hoàng Hà bị ô nhiễm đến mức không thể dùng cho nông nghiệp, và hơn 50% nước bề mặt ở lưu vực sông Hai không thể
Trang 6dùng cho bất kỳ mục đích nào [15]
Tại Mexico, Chính quyền đã quyết định tạm đóng cửa 88 trường học ở bang Sonora, miền Bắc nước này do hai con song tại đây bị nhiễm độc từ nước thải của công ty Buenavista del Cobre Có khoảng 800.000 người dân bị ảnh hưởng từ sự cố
ô nhiễm môi trường này Cơ quan bảo vệ môi trường Mexico PROFEPA đã yêu cầu công ty Buenavista del Cobre nhanh chóng khắc phục sự cố này Việc tạm ngưng cho học sinh đến trường là nhằm đảm bảo các em không uống phải nước nhiễm độc Nhà chức trách đã chủ động chuyển 4 triệu lít nước sạch đến các hộ dân cư ở gần khu vực nguồn nước bị nhiễm độc để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của mọi người Một số khu vực ở vùng sâu, chiếm 10-20% dân số bị ảnh hưởng, hiện chưa được hỗ trợ nước sạch [25]
Ở Indonesia, sông Citarumlà một trong những dòng sông lớn nhất của Indonesia Theo số liệu của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), sông Citarum cung cấp 80% lượng nước sinh hoạt cho 14 triệu dân thủ đô Jakarta, tưới cho những cánh đồng cung cấp 5% sản lượng lúa gạo và là nguồn nước cho hơn 2.000 nhà máy
- nơi làm ra 20% sản lượng công nghiệp của đảo quốc này Dòng sông này là một phần không thể thay thế trong cuộc sống của người dân vùng Tây đảo Java Tuy nhiên, hiện tại nó là một trong những dòng sông ô nhiễm nhất thế giới Citarum như một bãi rác di động, nơi chứa các hóa chất độc hại do các nhà máy xả ra, thuốc trừ sâu trôi theo dòng nước từ các cánh đồng và cả chất thải do con người đổ xuống Ô nhiễm nghiêm trọng khiến cá chết hàng loạt, người dân sử dụng nước cũng bị lây nhiễm nhiều loại bệnh tật Điều kinh hoàng hơn cả là nhiều hộ dân sống quanh dòng sông này hàng ngày vẫn sử dụng nước sông để giặt giũ, tắm rửa, thậm chí cả đun nấu [15]
Sông Hằng là con sông nổi tiếng nhất Ấn Độ, dài 2.510km bắt nguồn từ dãy Hymalaya, chảy theo hướng Đông Nam qua Bangladesh và chảy vào vịnh Bengal Hiện nay, sông Hằng là một trong những con sông bị ô nhiễm nhất trên thế giới vì
bị ảnh hưởng nặng nề bởi nền công nghiệp hóa chất, rác thải công nghiệp và rác thải sinh hoạt chưa qua xử lý Chất lượng nước đang trở nên xấu đi nghiêm trọng Ngoài
Trang 7ra, do phong tục hỏa táng một phần thi thể rồi thả trôi sông nên những thi thể người trôi lững lờ trên dòng sông này, rồi rác thải trực tiếp từ các bệnh viện do thiếu lò đốt cũng là một nguyên nhân làm tăng ô nhiễm sông Nước sông giờ không những không thể dùng ăn uống, tắm giặt mà còn không thể dùng cho sản xuất nông nghiệp Các nghiên cứu cũng phát hiện tỷ lệ các kim loại độc trong nước sông khá cao như thủy ngân (nồng độ từ 65-520ppb), chì (10-800ppm), crom (10-200ppm) và nickel (10-130ppm) [15]
Sông Buriganga là một trong những con sông lớn chạy qua thủ đô Dhaka của Bangladesh Tuy nhiên, hiện nay mức ô nhiễm của sông rất cao Sông bị ô nhiễm bởi các hóa chất từ các nhà máy ximăng, xà phòng, nhuộm, da và giấy Hầu hết những loại hóa chất được xác định có trong nước sông đều thuộc nhóm 12 chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POP), rất độc hại đối với con người [15]
1.1.2 Hiện trạng ô nhiễm nước mặt ở Việt Nam
Việt Nam là quốc gia có hệ thống sông ngòi dày đặc với tổng lượng dòng chảy nước mặt hàng năm lên đến 830-840 tỷ m3
Tuy nhiên, Việt Nam không phải
là quốc gia giàu về nước Tài nguyên nước của nước ta phụ thuộc nhiều vào các nước có chung nguồn nước phía thượng lưu, với gần 2/3 tổng lượng nước mặt hàng năm là từ ngoài biên giới chảy vào Chất lượng nước mặt của Việt Nam đang có chiều hướng ngày càng bị suy thoái, ô nhiễm, cạn kiệt bởi nhiều nguyên nhân Trong đó, sự gia tăng dân số, gia tăng nhu cầu về nước do gia tăng chất lượng cuộc sống, đô thị hoá cũng như quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước kém hiệu quả, thiếu bền vững đang là mối đe doa an ninh nguồn nước và có nguy cơ sẽ kéo theo nhiều hệ luỵ khó lường [4]
Hệ thống nước mặt Việt Nam với hơn 2.360 con sông, suối dài hơn 10 km và hàng nghìn hồ, ao Nguồn nước này là nơi cư trú và nguồn sống của các loài động, thực vật và hàng triệu người Tuy nhiên, những nguồn nước này đang bị suy thoái
và phá hủy nghiêm trọng do khai thác quá mức và bị ô nhiễm với các mức độ khác nhau [12]
Trang 8Ô nhiễm nguồn nước xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau Do tiếp nhận nhiều loại nguồn thải, mức độ gia tăng các nguồn nước thải hiện nay ngày càng lớn với quy mô mở rộng ở hầu hết các vùng miền trong cả nước [12].
* Nước thải sinh hoạt: Nước thải sinh hoạt chiếm trên 30% tổng lượng trực
tiếp thải ra sông hồ, kênh rạch dẫn ra sông Theo số liệu tính toán, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Hồng là 2 vùng tập trung nhiều lượng nước thải sinh hoạt nhất cả nước
* Nước thải công nghiệp: Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, nhiều ngàn công nghiệp được mở rộng quy mô sản xuất, cũng như phạm vi phân bố Cùng với đó là sự gia tăng lượng nước thải lớn, nhưng mức đầu tư cho hệ thống xử lý nước thải lại chưa đạt yêu cầu Số lượng các KCN ở vùng Đông Nam Bộ có hệ thống xử lý nước thải là (50-60%), trong đó hơn 50% trong số đó vẫn chưa hoạt động hiệu quả [12]
* Nước thải nông nghiệp và làng nghề: Nước thải từ hoạt động nông nghiệp,
làng nghề có chứa hóa chất bảo vệ thực vật, hay thuốc trừ sâu, hàm lượng kim loại nặng, chất hữu cơ Phân bón và HCBCTV tồn dư trong đất bị rửa trôi theo dòng chảy mặt và đổ vào các con sông Đây là thành phần độc hại cho môi trường và sức khỏe con người Nhu cầu sử dụng phân bón cho hoạt động sản xuất nông nghiệp của khu vực phía Bắc chiếm 30 – 40% tổng nhu cầu của cả nước Đồng bằng sông Hồng
là khu vực tập trung nhiều làng nghề nhất cả nước với gần 900 làng nghề (chiếm khoảng 60% tổng số làng nghề trên cả nước) Các làng nghề với quy mô sản xuất thủ công, lạc hậu, nhỏ lẻ, phân tán và phần lớn không có công trình xử lý nước thải đang làm cho môi trường nước mặt ở các khu vực này bị ô nhiễm nghiêm trọng
[12]
* Nước thải y tế: Nước thải y tế chứa nhiều hóa chất độc hại với nồng độ cao
và chứa nhiều vi khuẩn lây lan bệnh truyền nhiễm Đây là nguồn thải độc hại nếu không được xử lý trước khi thải ra môi trường Mức độ gia tăng lượng nước thải y
tế cả nước năm 2011 so với năm 2005 là 20% Hầu hết các bệnh viện tuyến trung ương do Bộ Y tế quản lý đã được đầu tư hệ thống xử lý Tuy nhiên, các bệnh viện
Trang 9địa phương và các phòng khám, chữa bệnh tư nhân nằm rải rác thì phần lớn chưa có
hệ thống xử lý nước thải Theo Cục Quản lý Môi trường Y tế của Bộ Y tế: năm
2011 cả nước có 13.640 cơ sở y tế, khám chữa bệnh Mỗi ngày các đơn vị này thải
ra 120.000 m3 nước thải y tế Trong khi đó, chỉ có 53,4% trong tổng số bệnh viện có
hệ thống xử lý nước thải này
Ngày nay, các khu vực trọng điểm phát triển kinh tế - xã hội của nước ta đều gắn với các lưu vực sông (LVS) lớn như hệ thống sông Hồng - Thái Bình, hệ thống sông Đồng Nai, Mê Công và các cửa sông ven biển, từ đó đóng góp to lớn vào sự phát triển của đất nước Tuy nhiên, điều đó cũng gây ra nhiều tác động tiêu cực cho môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng tại các LVS Chất lượng nước các sông đang diễn biến phức tạp, nhiều nơi bị suy thoái, nhất là các khu vực nội thành, nội thị, các đoạn sông chảy qua các đô thị, khu công nghiệp (KCN), làng nghề Nổi cộm nhất là tình trạng ô nhiễm môi trường tại 3 LVS: sông Cầu, sông Nhuệ - sông Đáy và hệ thống sông Đồng Nai [12]
LVS Cầu gồm địa giới 6 tỉnh và một phần Thủ đô Hà Nội Trong thời gian qua, việc phát triển khai thác và chế biến khoáng sản ở thượng lưu (Bắc Cạn và Thái Nguyên) và mở rộng sản xuất tại các làng nghề khu vực trung và hạ lưu (Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương) Tốc độ đô thị hóa cao trong khi phần lớn các đô thị chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung, sự mở rộng nhanh chóng của các KCN, CCN trong khi hệ thống xử lý nước thải chưa có hoặc vận hành không đúng quy định Đây là những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước mặt LVS Cầu, nguồn cung cấp 70% nước cấp sinh hoạt và công nghiệp trên địa bàn Kết quả quan trắc cho thấy, môi trường nước mặt LVS Cầu bị ô nhiễm cục bộ, bắt đầu từ đoạn chảy qua thị xã Bắc Cạn về hạ lưu (các thông số BOD5, NH4 và TSS đã vượt Quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 08:2008/ BTNMT mức AI, xấp
xỉ mức BI) Từ đoạn chảy qua TP Thái Nguyên, mức độ ô nhiễm gia tăng đáng kể, các thông số quan trắc đều vượt QCVN nhiều lần, nước sông có mùi dầu cốc Đoạn sông Cầu chảy qua tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh chịu ảnh hưởng do tiếp nhận nước của sông Cà Lổ và sông Ngũ Huyện Khê và các KCN, làng nghề dọc 2 bên bờ sông nên
Trang 10nước sông bị ô nhiễm rõ rệt, các thông số chỉ đạt QCVN 08:2008/BTNMT loại B2
[12]
LVS Nhuệ - sông Đáy bao gồm một phần thủ đô Hà Nội và các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hòa Bình Dòng chảy sông Nhuệ phụ thuộc hoàn toàn vào chế độ đóng mở các cống điều tiết: Liên Mạc (lấy nước sông Hồng), Thanh Liệt (lấy nước sông Tô Lịch) và các cống khác trên trục chính: Hà Đông, Đổng Quan, Nhật Tựu, Lương Cổ - Điệp Sơn Môi trường nước LVS Nhuệ - sông Đáy bị ô nhiễm một phần do đặc điểm điều kiện tự nhiên đặc thù là sông có độ dốc tự nhiên thấp, nguồn nước cấp không đảm bảo do phụ thuộc các cống điều tiết, vào mùa kiệt nguồn nước cấp chủ yếu là nước thải từ đầu nguồn Chất lượng nước của nhiều đoạn thuộc LVS Nhuệ - sông Đáy đã bị ô nhiễm tới mức báo động, đặc biệt vào mùa khô, giá trị các thông số BOD5, COD, Coliíbrm tại các điểm đo đều vượt QCVN 08:2008/ BTNMT nhiều lần Khu vực đầu nguồn sông Nhuệ, nước sông còn tương đối tốt nhưng sau hợp lưu với sông Tô Lịch (nguồn tiếp nhận nước thải chính của các quận nội thành Hà Nội), nước sông Nhuệ đã bị ô nhiễm trầm trọng (đặc biệt tại điểm Cầu Tó trở đi) Mặc dù đã được pha loãng từ đoạn hợp lưu với sông Đáy trở về hạ lưu và áp dụng giải pháp điều tiết đưa nước sông Tô Lịch qua hệ thống hố điều hòa Yên Sở bơm ra sông Hồng vào mùa kiệt, nước sông Nhuệ vẫn là nguyên nhân chính gây ô nhiễm cục bộ cho LVS Nhuệ -sông Đáy, nguồn cấp nước sinh hoạt và sản xuất cho thành phố Phủ Lý và một số địa phương phía hạ nguồn [12]
Lưu vực hệ thống sông Đồng Nai bao gồm liên tỉnh/thành phố, trong đó 7 tỉnh/thành phố nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Theo thống kê sơ bộ, trên lưu vực hệ thống sông Đồng Nai có đến 103 KCN do Chính phủ ra quyết định thành lập (chưa kể các KCN/CCN do địa phương thành lập) với diện tích quy hoạch trên 33.600 ha, thải ra lượng nước thải từ sản xuất công nghiệp khoảng 1,8 triệu
m3/ngày đêm Tuy nhiên, hiện mới có khoảng 1/3 các KCN/khu chế xuất đã và đang xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung; một số KCN có trạm xử lý nước thải tập trung nhưng vận hành chưa đúng quy định; tỷ lệ đấu nối nước thải các nhà máy vào hệ thống xử lý nước thải tập trung còn thấp; nguồn phát sinh nước thải chủ yếu
Trang 11từ các ngành: chế biến thực phẩm, dệt nhuộm, giấy, chế biến mủ cao su, xi mạ Tại nhiều vị trí các giá trị N-NH4+ BOD5) COD vượt ngưỡng QCVN 08 mức BI nhiều lần Khu vực cửa sông đã bị ô nhiễm hữu cơ, giá trị các thông sỗ đều vượt QCVN 08:2008/BTNMT mức AI, một số nơi còn vượt mức BI (cảng Gò Dầu, Phú Mỹ, Cái Mép) Ngoài ra, các tác động tiêu cực từ thủy điện, khai thác khoáng sản phía thượng nguồn, xâm nhập mặn và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đã và đang là những mối đe dọa đến môi trường nước lưu vực hệ thống sông Đồng Nai [12].
Theo kết quả khảo sát, hiện nay, hệ thống sông, hồ trên địa bàn TP Hà Nội tiếp nhận mỗi ngày hàng triệu m3 nước thải công nghiệp, nước thải đô thị, nước thải Dự báo lượng nước thải sinh hoạt trên địa bàn TP Hà Nội sẽ lên đến 440.934
m3/ngày đêm vào năm 2020 Như vậy, trong tương lai gần, nguy cơ ô nhiễm nguồn nước sông, hồ ở TP Hà Nội sẽ gia tăng nhanh chóng, đặc biệt là ô nhiễm do chất thải công nghiệp, sinh hoạt Đây là cảnh báo khẩn cấp cho công tác bảo vệ và phục hồi chất lượng nước của TP Hà Nội
Về chất lượng một số lưu vực sông vùng núi Đông Bắc: Chất lượng sông Kỳ Cùng và các sông nhánh trong những năm gần đây giảm sút xuống loại A2, sông Hiến, sông Bằng Giang còn ở mức B1 Đầu nguồn (Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang) vài năm gần đây mùa khô xuất hiện hiện tượng ô nhiễm bất thường trong thời gian ngắn 3 - 5 ngày Sông Hồng qua Phú Thọ, Vĩnh Phúc hầu hết các thông số vượt QCVN 08:2008 - A1, một số địa điểm gần các nhà máy thậm chí xấp xỉ B1(đoạn sông Hồng từ Cty Super Phốt phát và hóa chất Lâm Thao đến KCN phía Nam TP.Việt Trì), các thông số vượt ngưỡng B1 nhiều lần So với các sông khác trong vùng, sông Hồng có mức độ ô nhiễm thấp hơn [3]
Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nước, như sự gia tăng dân số, mặt trái của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ sở hạ tầng yếu kém, lạc hậu: nhận thức của người dân về vấn đề môi trường còn chưa cao… Đáng chú ý là sự bất cập trong hoạt động quản lý, bảo
vệ môi trường Nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức và
cá nhân có trách nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ môi trường nước chưa sâu sắc và đầy
Trang 12đủ; chưa thấy rõ ô nhiễm môi trường nước là loại ô nhiễm gây nguy hiểm trực tiếp, hàng ngày và khó khắc phục đối với đời sống con người cũng như sự phát triển bền vững của đất nước Các quy định về quản lý và bảo vệ môi trường nước còn thiếu (chẳng hạn như chưa có các quy định và quy trình kỹ thuật phục vụ cho công tác quản lý và bảo vệ nguồn nước) Cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ quan, các ngành và địa phương chưa đồng bộ, còn chồng chéo, chưa quy định trách nhiệm
rõ ràng Chưa có chiến lược, quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước theo lưu vực và các vùng lãnh thổ lớn Chưa có các quy định hợp lý trong việc đóng góp tài chính để quản lý và bảo vệ môi trường nước, gây nên tình trạng thiếu hụt tài chính, thu không đủ chi cho bảo vệ môi trường nước [3]
Chất lượng các nguồn nước mặt đang suy giảm rõ rệt Nhiều sông, hồ, kênh, rạch ở các thành phố lớn, các khu dân cư tập trung đang dần biến thành nơi chứa các chất thải đô thị, chất thải công nghiệp chưa qua xử lý Không chỉ riêng ở khu vực đô thị mà ở khu vực nông thôn, tình trạng ô nhiễm môi trường nước mặt từ nguồn nước thải sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và sản xuất của các làng nghề cũng đang cần sự quan tâm kịp thời Vì vậy, giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường nước mặt đang là vấn đề cấp bách, không chỉ đòi hỏi trách nhiệm của các cấp quản lý, các doanh nghiệp mà còn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội
1.2 Tổng quan về phương pháp đánh giá chất lượng nước
1.2.1 Tổng quan về chỉ số môi trường
Chỉ số môi trường: là một tập hợp các tham số hay chỉ thị được tích hợp hay nhân với trọng số Các chỉ số ở mức độ tích hợp cao hon, nghĩa là chúng được tính toán từ nhiều biến số hay dữ liệu để giải thích cho một hiện tượng nào đó
1.2.2 Tổng quan về chỉ số chất lượng nước (WQI)
a Giới thiệu chung về WQI
Chỉ số chất lượng nước (Water Quality Index- WQI) là một chỉ số tổ hợp được tính toán từ các thông số chất lượng nuớc xác định thông qua một công thức
Trang 13toán học WQI dùng để mô tả định lượng về chất lượng nước và được biểu diễn qua một thang điểm
Các ứng dụng chủ yếu của WQI bao gồm:
- Phục vụ quá trình ra quyết định: WQI có thể được sử dụng làm cơ sở cho việc ra các quyết dịnh phân bổ tài chính và xác định các vấn đề ưu tiên
- Phân vùng chất lượng nước
- Thực thi tiêu chuẩn: WQI có thể đánh giá được mức độ đáp ứng/không đáp ứng của chất lượng nước đối với tiêu chuẩn hiện hành
- Phân tích diễn biến chất lượng nước theo không gian và thời gian
- Công bố thông tin cho cộng đồng
- Nghiên cứu khoa học: các nghiên cứu chuyên sâu về chất lượng nước thường không sử dụng WQI, tuy nhiên WQI có thể sử dụng cho các nghiên cứu vi
mô khác như đánh giá tác động của quá trình đô thị hóa đến chất lượng nước khu vực, đánh giá hiệu quả kiểm soát phát thải,…
b Quy trình xây dựng WQI
Hầu hết các mô hình chỉ số chất lượng nước hiện nay đều được xây dựng thông qua quy trình 4 bước như sau [19]:
Bước 1: Lựa chọn thông số
Có rất nhiều thông số có thể thể hiện chất lượng nước, sự lựa chọn các thông
số khác nhau để tính toán WQI phụ thuộc vào mục đích sử dụng nguồn nước và mục tiêu của WQI Dựa vào mục đích sử dụng WQI có thể được phân loại như sau: Chỉ số chất lượng nước thông thường, chỉ số chất lượng nước cho mục đích sử dụng đặc biệt
Việc lựa chọn thông số có thể dùng phương pháp Delphi hoặc phân tích nhân
tố quan trọng Các thông số không nên quá nhiều vì nếu các thông số quá nhiều thì
sự thay đổi của một thông số sẽ có tác động rất nhỏ đến chỉ số WQI cuối cùng Các thông số nên được lựa chọn theo 5 chỉ thị sau:
+ Hàm lượng Oxy hòa tan: DO;
+ Phú dưỡng: NH4+, NO3-, Tổng N, PO43-, Tổng P, BOD5, COD, TOC;
Trang 14+ Các khía cạnh sức khỏe: Tổng Coliform, Fecal Coliform, Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, các kim loại nặng;
+ Đặc tính vật lý: Nhiệt độ, pH, Màu sắc;
+ Chất rắn lơ lửng: Độ đục, TSS
Bước 2: Chuyển đổi các thông số về cùng một thang đo (tính toán chỉ số phụ)
Các thông số thường có đơn vị khác nhau và có các khoảng giá trị khác nhau
Vì vậy để tập hợp được các thông số vào chỉ số WQI ta phải chuyển các thông số về cùng một thang đo Bước này sẽ tạo ra một chỉ số phụ cho mỗi thông số Chỉ số phụ
có thể được tạo ra bằng tỉ số giữa giá trị thông số và giá trị trong quy chuẩn
Bước 3: Trọng số
Trọng số được đưa ra khi ta cho rằng các thông số có tầm quan trọng khác nhau đối với chất lượng nước Trọng số có thể xác định bằng phương pháp Delphi, phương pháp đánh giá tầm quan trọng dựa vào mục đích sử dụng, tầm quan trọng của các thông số đối với đời sống thủy sinh, tính toán trọng số dựa trên các tiêu chu
ẩn hiện hành, dựa trên đặc điểm của nguồn thải vào lưu vực, bằng các phương pháp thống kê…
Một số nghiên cứu cho rằng trọng số là không cần thiết Mỗi lưu vực khác nhau có các đặc điểm khác nhau và có các trọng số khác nhau Vì vậy WQI của các lưu vực khác nhau không thể so sánh với nhau
Bước 4 : Tính toán chỉ số WQI cuối cùng
Các phương pháp thường được sử dụng để tính toán WQI cuối cùng từ các chỉ số phụ: trung bình cộng, trung bình nhân hoặc giá trị lớn nhất
Bảng 1.1: Các phương pháp tính chỉ số WQI
1 Trung bình cộng không trọng số
2 Trung bình cộng có trọng số
Trang 153 Trung bình nhân không trọng số
Một số bất cập khi tính toán ch ỉ số WQI cuối cùng :
+ Tính che khuất : Một chỉ số phụ thể hiện chất lượng nước xấu nhưng
có thể chỉ số cuối cùng lại thể hiện chất lượng tốt
+ Tính mơ hồ : Điều này xảy ra khi chất lượng nước chấp nhận được nhưng chỉ số WQI lại thể hiện ngược lại
+ Tính không mềm dẻo: Khi một thông số có thể bổ sung vào việc đánh giá chất lượng nước nhưng lại không được tính vào WQI do phương pháp đã được cố định
1.2.3 Kinh nghiệm xây dựng WQI của một số quốc gia trên Thế giới
Mô hình WQI được đề xuất và áp dụng đầu tiên ở Mỹ vào những năm 1965 -
1970 và đang được áp dụng rộng rãi ở nhiều bang Từ những năm 70 đến nay, trên thế giới đã có hàng trăm công trình nghiên cứu phát triển và áp dụng mô hình WQI cho quốc gia hay địa phương mình theo một trong 3 hướng:
Trang 16- Áp dụng một mô hình WQI có sẵn của nước ngoài vào quốc gia/địa phương;
- Áp dụng có cải tiến một mô hình WQI có sẵn vào quốc gia/địa phương;
- Nghiên cứu phát triển một mô hình WQI mới cho quốc gia/địa phương
Có rất nhiều quốc gia đã đưa áp dụng WQI vào thực tiễn, cũng như có nhiều các nhà khoa học nghiên cứu về các mô hình WQI
Hoa Kỳ: WQI được xây dựng cho mỗi bang, đa số các bang tiếp cận theo
phương pháp của Quỹ Vệ sinh Quốc gia Mỹ (National Sanitation Foundation - NSF) – sau đây gọi tắt là WQI-NSF
Canada: Phương pháp do Cơ quan Bảo vệ môi trường Canada (The
Canadian Council of Ministers of the Environment - CCME, 2001) xây dựng
Châu Âu: Các quốc gia ở châu Âu chủ yếu được xây dựng phát triển từ WQI
– NSF (của Hoa Kỳ), tuy nhiên mỗi Quốc gia – địa phương lựa chọn các thông s ố
và phương pháp tính chỉ số phụ riêng
Các quốc gia Malaysia, Ấn Độ phát triển từ WQI – NSF, nhưng mỗi quốc gia có thể xây dựng nhiều loại WQI cho từng mục đích sử dụng
1.2.4 Tình hình nghiên cứu và kết quả đạt được về xây dựng WQI ở Việt Nam
Tại Việt Nam WQI đã đư ợc triển khai chính thức, một số nghiên cứu điển hình như sau:
- Nghiên cứu của Tôn Thất Lãng (Năm 2008)
- Nghiên cứu của Lê Trình, cách tiếp cận cải tiến từ WQI – NSF (Năm 2008)
- Phương pháp tính WQI của Tổng cục Môi trường - Bộ Tài nguyên và Môi trường (QĐ số 879/QĐ - TCMT)
1.2.4.1 Mô hình nghiên cứu WQI của Tôn Thất Lãng (Năm 2008)
a Lựa chọn thông số: phương pháp Delphi
Các thông số được lựa chọn để tính WQI cho sông Đồng Nai: BOD, Tổng
N, DO, SS, pH, Coliform
b Tính toán chỉ số phụ: phương pháp Delphi và phương pháp đường cong tỉ lệ
Trang 17Từ điểm số trung bình do các chuyên gia cho ứng với từng khoảng nồng độ thực tế Đối với mỗi thông số chất lượng nước tác giả đã xây d ựng một
đồ thị và hàm số tương quan giữa nồng độ và chỉ số phụ Dựa vào phương pháp thử với sự trợ giúp của phần mềm xử lý bảng tính Excel, các hàm chất lượng nước được biểu thị bằng các phương tr ình sau:
- Hàm chất lượng nước với thông số: BOD5 y = - 0,0006 x2 - 0,1491x +
9,8255
- Hàm chất lượng nước với thông số DO: y = 0,0047x2 + 1,20276x - 0,0058
- Hàm chất lượng nước với thông số SS: y = 0,0003x2 - 0,1304x + 11,459
- Hàm chất lượng nước với thông số pH: y = 0,0862x4 - 2,4623x3 +
24,756x2 – 102,23x + 150,23
- Hàm chất lượng nước với thông số tổng N: y = - 0,04x2 – 0,1752x + 9,0244
- Hàm chất lượng nước với thông số coliform: y = 179.39x - 0,4067
c Trọng số
Theo phương pháp Delphi, các mẫu phỏng vấn được biên soạn và gửi đến
40 chuyên gia chất lượng nước ở các trường Đại Học, các Viện Nghiên cứu, các trung tâm Môi trường để lấy ý kiến Các mẫu phỏng vấn được gửi đi hai đợt: đợt một là các câu hỏi để xác định các thông s ố chất lượng nước quan trọng, đợt hai là các câu hỏi để xác định trọng số của các thông số chất lượng nước để xây dựng chỉ
số phụ và hàm chất lượng nước
Kết quả có 6 thông số chất lượng nước được lựa chọn là những thông số chất lượng nước quan trọng với các trọng số được trình bày trong bảng sau:
Bảng 1.2: Trọng số của các thông số chất lượng nước Thông số Trọng số tạm thời Trọng số cuối cùng
Trang 18Bảng 1.3: Phân loại chất lượng nước theo WQI Loại nguồn
nước Ký hiệu màu Chỉ số WQI Đánh giá chất lượng
1.2.4.2 Mô hình nghiên cứu WQI của Lê Trình năm 2008
Đề tài “Nghiên cứu phân vùng chất lượng nước theo các chỉ số chất lượng nước (WQI) và đánh giá khả năng sử dụng các nguồn nước sông, kênh rạch ở vùng thành phố Hồ Chí Minh” năm 2008 do Lê Trình làm chủ nhiệm là một
trong những công trình nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam về phân vùng chất lượng nước theo WQI
Trang 19a Phương pháp l ập và tính toán WQI
Có nhiều phương pháp xây dựng công thức và tính toán WQI Trong
đề tài nghiên cứu này 4 mô hình WQI đã được nghiên cứu, tính toán dựa theo
2 mô hình WQI cơ bản của Hoa Kỳ và Ấn Độ
b Mô hình cơ bản của Quỹ Vệ sinh Quốc gia Hoa Kỳ (NSF-WQI)
NSF-WQI được tính theo một trong 2 công thức: công thức dạng tổng (ký kiệu là WA-WQI) và công th ức dạng tích (ký kiệu là WM-WQI):
Phần trọng số đóng góp (wi) của 9 thông số lựa chọn như sau:
Chỉ số phụ qi được xác định dựa vào các đồ thị qi = f(xi)
Theo mô hình này, giá trị WQI xác định được nằm trong khoảng 0 đến 100: WQI = 0 ứng với mức CLN xấu nhất, WQI = 100 ứng với mức CLN tốt nhất
Dựa theo mô hình c ơ bản NSF-WQI Đề tài đã cải tiến thành 3 mô hình phù h ợp với đặc điểm CLN TP H ồ Chí Minh:
- Mô hình NSF -WQI/HCM
- Mô hình HCM -WQI
Trang 20Trong đó Fi là:
- Giá trị "hàm nhạy" của thông số i, nhận giá trị trong khoảng 0,01 ÷ 1
- Fi được xác định từ "hàm nhạy" đối với thông số i ;
- n: số thông số CLN lựa chọn (n = 3 ÷ 5, tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng nước)
Trong đó, WQI i là WQI của các mục đích sử dụng nước khác nhau, k là s
ố mục đích sử dụng nước Có thể đưa vào tử số của công thức (4) các hệ số thể hiện tầm quan trọng khác nhau của mỗi mục đích sử dụng nước
* Xác định các mục đích sử dụng nước sông kênh rạch ở TP Hồ Chí Minh
Các mục đích sử dụng nước của các kênh rạch ở TP.Hồ Chí Minh bao gồm: + Tiếp xúc trực tiếp (tắm, bơi lội)
+ Cấp nước sinh hoạt (điểm thu nước thô cho các nhà máy nư ớc
+ Nông nghiệp (hay nước thủy lợi)
+ Công nghiệp (nước cấp cho các ngành công nghi ệp nói chung: làm mát, v
ệ sinh công nghiệp
+ Thủy sản (nuôi tôm, cá )
* Xác định các thông s ố CLN lựa chọn cho các mục đích sử dụng nước
Trang 21Các tiêu chí để xác định các thông s ố CLN lựa chọn cho mỗi mục đích sử dụng nước bao gồm:
+ Thông số phải có tầm quan trọng lớn,
d Phương pháp phân lo ại và phân vùng ch ất lượng nước dựa theo WQI
Theo mô hình của NSF (Hoa Kỳ) và Bhargava (Ấn Độ), CLN được phân thành 5 loại
Bảng 1.5: Phân loại chất lượng nước theo WQI
I 90 ÷ 100 91 ÷ 100 Rất tốt (không ô nhiễm - ô nhiễm rất nhẹ)
III 35 ÷ 64 51 ÷ 70 Trung bình (ô nhiễm trung bình)
1.2.4.3 Phương pháp tính WQI của Tổng cục môi trường – Bộ Tài nguyên và Môi trường đề nghị (QĐ 879/QĐ - TCMT)
a Các yêu cầu đối với việc tính toán WQI
- WQI được tính toán riêng cho số liệu của từng điểm quan trắc;
Trang 22- WQI thông số được tính toán cho từng thông số quan trắc Mỗi thông số sẽ xác định được một giá trị WQI cụ thể, từ đó tính toán WQI để đánh giá chất lượng nước của điểm quan trắc;
- Thang đo giá trị WQI được chia thành các khoảng nhất định Mỗi khoảng ứng với 1 mức đánh giá chất lượng nước nhất định
b Quy trình tính toán và sử dụng WQI trong đánh giá chất lượng môi trường nước mặt lục địa
Quy trình tính toán và sử dụng WQI trong đánh giá chất lượng môi trường nước bao gồm các bước sau:
Bước 1: Thu thập, tập hợp số liệu quan trắc từ trạm quan trắc môi trường nước mặt lục địa (số liệu đã qua xử lý);
Bước 2: Tính toán các giá trị WQI thông số theo công thức;
Bước 3: Tính toán WQI;
Bước 4: So sánh WQI với bảng các mức đánh giá chất lượng nước
c Thu thập, tập hợp số liệu quan trắc
Số liệu quan trắc được thu thập phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Số liệu quan trắc sử dụng để tính WQI là số liệu của quan trắc nước mặt lục địa theo đợt đối với quan trắc định kỳ hoặc giá trị trung bình của thông số trong một khoảng thời gian xác định đối với quan trắc liên tục;
- Các thông số được sử dụng để tính WQI thường bao gồm các thông số:
DO, nhiệt độ, BOD5, COD, N-NH4, P-PO4 , TSS, độ đục, Tổng Coliform, pH;
- Số liệu quan trắc được đưa vào tính toán đã qua xử lý, đảm bảo đã loại bỏ các giá trị sai lệch, đạt yêu cầu đối với quy trình quy phạm về đảm bảo và kiểm soát chất lượng số liệu
d Tính toán WQI
* Tính toán WQI thông số
* WQI thông số (WQISI ) được tính toán cho các thông số BOD 5 , COD,
N-NH 4 , P-PO 4 , TSS, độ đục, Tổng Coliform theo công thức như sau:
Trang 23 1 1 1
i i
BP BP
q q WQI
qi: Giá trị WQI ở mức i đã cho trong bảng tương ứng với giá trị BPi
qi+1: Giá trị WQI ở mức i+1 cho trong bảng tương ứng với giá trị BPi+1
Cp: Giá trị của thông số quan trắc được đưa vào tính toán
Bảng 1.6 Bảng quy định các giá trị qi, BPi
Bước 1: Tính toán giá trị DO % bão hòa:
- Tính giá trị DO bão hòa:
3 2
000077774
00079910
.041022
0652
Trang 24DO%bão hòa= DOhòa tan / DObão hòa*100
DO hòa tan : Giá trị DO quan trắc được (đơn vị: mg/l)
Bước 2: Tính giá trị WQIDO:
i i
i i
BP BP
q q
Trong đó:
Cp: giá trị DO % bão hòa
BPi, BPi+1, qi, qi+1 là các giá trị tương ứng với mức i, i+1 trong Bảng 2
Bảng 1.7 Bảng quy định các giá trị BPi và qi đối với DO% bão hòa
BP i ≤20 20 50 75 88 112 125 150 200 ≥200
Nếu giá trị DO% bão hòa ≤ 20 thì WQIDO bằng 1
Nếu 20< giá trị DO% bão hòa< 88 thì WQIDO được tính theo công thức 2 và sử dụng Bảng 2
Nếu 88≤ giá trị DO% bão hòa≤ 112 thì WQIDO bằng 100
Nếu 112< giá trị DO% bão hòa< 200 thì WQIDO được tính theo công thức 1 và
sử dụng Bảng 2
Nếu giá trị DO% bão hòa ≥200 thì WQIDO bằng 1
* Tính giá trị WQI đối với thông số pH
Bảng 1.8 Bảng quy định các giá trị BP i và q i đối với thông số pH
Nếu giá trị pH≤5.5 thì WQIpH bằng 1
Nếu 5,5< giá trị pH<6 thì WQIpH được tính theo công thức 2 và sử dụng bảng 3 Nếu 6≤ giá trị pH≤8,5 thì WQIpH bằng 100
(công thức 1.2)
Trang 25Nếu 8.5< giá trị pH< 9 thì WQIpH được tính theo công thức 1 và sử dụng bảng 3 Nếu giá trị pH≥9 thì WQIpH bằng 1
* Tính toán WQI
Sau khi tính toán WQI đối với từng thông số nêu trên, việc tính toán WQI
được áp dụng theo công thức sau:
3 / 1 2
1
5
1 5
a pH
WQI WQI
WQI
WQI WQI
Trong đó:
WQIa: Giá trị WQI đã tính toán đối với 05 thông số: DO, BOD5, COD, N-NH4, P-PO4
WQIb: Giá trị WQI đã tính toán đối với 02 thông số: TSS, độ đục
WQIc: Giá trị WQI đã tính toán đối với thông số Tổng Coliform
WQIpH: Giá trị WQI đã tính toán đối với thông số pH
Ghi chú: Giá trị WQI sau khi tính toán sẽ được làm tròn thành số nguyên
e So sánh chỉ số chất lượng nước đã được tính toán với bảng đánh giá
Sau khi tính toán được WQI, sử dụng bảng xác định giá trị WQI tương ứng với mức đánh giá chất lượng nước để so sánh, đánh giá, cụ thể như sau:
Bảng 1.9 Bảng phân loại chất lượng nước theo chỉ số WQI
91 - 100 Sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt Xanh nước biển
76 - 90 Sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng
cần các biện pháp xử lý phù hợp Xanh lá cây
51 - 75 Sử dụng cho mục đích tưới tiêu và các mục đích
26 - 50 Sử dụng cho giao thông thủy và các mục đích
0 - 25 Nước ô nhiễm nặng, cần các biện pháp xử lý trong
Trang 261.3 Tổng quan về biện pháp bảo vệ nguồn nước mặt ở Việt Nam và Thế giới
1.3.1 Biện pháp bảo vệ nguồn nước mặt trên thế giới
Nước - lương thực - năng lượng là chuỗi mắt xích vô cùng quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của con người Trong đó, nước luôn ở vị trí hàng đầu Khi nguồn nước không được đảm bảo cả về số lượng, chất lượng; không gian và thời gian; sẽ không thể duy trì được an ninh nguồn nước kéo theo mất an ninh năng lượng và an ninh lương thực Từ đó, làm cho tình trạng nghèo đói sẽ vẫn tiếp diễn,
có thể dẫn đến những nguy cơ bất ổn về chính trị, xã hội Vì vậy, nước quyết định
sự tồn tại và tương lai toàn nhân loại trên hành tinh của chúng ta
Dưới tác động của BĐKH, chủ yếu là do sử dụng năng lượng thiếu bền vững, tình trạng khan hiếm nước, những xung đột, căng thẳng về nước sẽ trầm trọng hơn ở nhiều khu vực trên thế giới, trong đó có Việt Nam chúng ta Mối liên kết chặt chẽ giữa nước và năng lượng đòi hỏi chúng ta phải đổi mới các chính sách, chiến lược quản lý tổng hợp, đa mục tiêu về TNN nhằm đảm bảo khai thác, phân phối, sử dụng TNN và năng lượng một cách hiệu quả và công bằng
Sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên là nhiệm vụ quan trọng nhất của thời đại Những vấn đề sử dụng nước, đặc biệt ở các quốc gia với tài nguyên nước hạn chế, đang là nỗi lo đặc biệt Hiểm họa không chỉ do sự cạn kiệt về số lượng, mà cả do suy giảm chất lượng ở qui mô lớn, không cho phép sử dụng tài
nguyên hiện có, đang trở nên hiện thực Vì vậy, vấn đề sử dụng hợp lý và bảo vệ
môi trường nguồn nước mặt đang được rất chú ý ở nhiều quốc gia
Mỹ là một cường quốc tiên tiến hàng đầu thế giới Tuy nhiên, trong quá khứ nước Mỹ đã từng trải qua những giai đoạn mà ô nhiễm nguồn nước ở mức độ nghiêm trọng hơn so với nước ta hiện nay Nhưng với một quá trình lâu dài, quyết liệt và những chính sách phù hợp màu xanh những con sông trên nước Mỹ đã được cải thiện Sông Cuyahoga ở bang Ohio là một trong những sông bị ô nhiễm nặng nhất ở Mỹ, dòng sông này là nơi xả thải của công ty lọc dầu Với chiều dài 160km
và có lưu vực khoảng 2.100km2, bề mặt sông luôn bị bao phủ bởi một lớp dầu nhờn màu nâu, ngoài ra còn có một lớp dầu đen nặng nổi thành váng trên mặt nước Ôxy
Trang 27hòa tan trong nước gần như bằng 0, hầu như không có bất cứ loài sinh vật nào tồn tại [6].
Sự kiện này được đánh giá là một hồi chuông mạnh mẽ cảnh tỉnh giới chức toàn nước Mỹ trong việc kiểm soát ô nhiễm nguồn nước tại các con sông Họ đã xây dựng một bộ luật nhằm kiểm soát chặt chẽ vấn đề này Dưới sự dẫn dắt của Thượng nghị sĩ Edmund Muskie bộ luật đã được xây dựng bởi các nhóm hoạt động môi trường, các doanh nghiệp và các nhà công nghệ Kể từ khi ra đời năm 1972 cho tới bản được bổ sung sửa đổi tháng 11/2002, Luật Nước sạch của Mỹ gồm 234 trang, 6 đề mục, 94 điều, 607 khoản Luật đề ra mục tiêu với tất cả nguồn nước phải đảm bảo cho bơi lội và đánh bắt cá vào năm 1983 Mọi nguồn ô nhiễm phải được loại bỏ vào năm 1985 Trong bộ luật này nhằm hướng tới tập trung xử lý những vấn
đề ô nhiễm đã được xác định triệt để (mọi nguồn từ ống cống đến rãnh nước thải) đều phải được xử lý, kiểm soát theo Luật Nước thải (đô thị và công nghiệp) phải được xử lý thứ cấp và nếu cần sẽ xử lý đạt tiêu chuẩn trước khi cho phép xả thải ra môi trường [9]
Ở Nhật Bản, năm 1958, Chính phủ Nhật Bản đã xây dựng “Luật bảo vệ chất lượng nước công cộng” và “Luật xả nước thải tại các nhà máy” Sau khi được ban hành, những Luật này đã chính thức mở đầu cho việc triển khai công tác bảo vệ môi trường một cách toàn diện ở Nhật Bản Giai đoạn 1960 - 1980 là giai đoạn nền kinh
tế Nhật Bản tăng trưởng nhanh chóng, đồng thời vấn đề ô nhiễm cũng ngày càng được quan tâm nhiều hơn Cũng trong thời gian này, Chính phủ đã đề ra Luật phòng
và chống ô nhiễm nguồn nước [16]
Chính phủ Nhật Bản luôn thúc đẩy mở rộng và khuyến khích việc sử dụng những sản phẩm thân thiện với môi trường Theo đó, nếu doanh nghiệp nào không quan tâm đến bảo vệ môi trường, sẽ bị người tiêu dùng tẩy chay, hiển nhiên những sản phẩm mà doanh nghiệp đó sản xuất ra sẽ tự bị đào thải khỏi thị trường Như vậy
có thể nói, việc bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của Chính phủ, mà còn
là yêu cầu của thị trường Chính phủ và người dân cùng nỗ lực đấu tranh, buộc các doanh nghiệp phải cố gắng trong công tác bảo vệ môi trường Vấn đề ô nhiễm công
Trang 28nghiệp tại Nhật Bản đã dần được giải quyết từ những năm 60 - 70 của thế kỷ XX, đến năm 1980, vấn đề ô nhiễm công nghiệp đã được kiểm soát có hiệu quả [16].
Đến nay, Nhật Bản đang khám phá ra con đường bảo vệ môi trường phù hợp với các doanh nghiệp trong tương lai Họ đã đề xuất, những doanh nghiệp tiên tiến trong tương lai cố gắng tìm ra con đường mới giảm sử dụng nguồn tài nguyên, giảm gánh nặng về môi trường, phát triển nguồn năng lượng mới Doanh nghiệp phải tiếp cận với nguồn tài nguyên đất, tận dụng nguồn tài nguyên trong khu vực, tổ chức sản xuất, tăng cơ hội việc làm cho người dân tại địa phương, hình thành nên doanh nghiệp có mô hình phát triển mới Nói cách khác, những doanh nghiệp tiên tiến trong tương lai phải phát triển kinh tế, tiết kiệm nguồn năng lượng và giảm gánh nặng về môi trường, để đạt được trạng thái cân bằng mới Ngày nay, đất nước Nhật Bản có một môi trường sống tốt, không khí trong lành, đô thị sạch đẹp Tất cả những điều này đã thể hiện thành quả to lớn của Nhật Bản trong công tác bảo vệ môi trường [16]
1.3.2 Biện pháp bảo vệ nguồn nước mặt ở Việt Nam
Trong nhiều năm qua, công tác quản lý và BVMT nước mặt luôn được Ðảng
và Nhà nước quan tâm Nhiều chính sách, văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành như Luật BVMT 2005, Luật Tài nguyên nuớc năm 1998 (sửa đổi năm 2012), Chiến lược bảo vệ môi truờng quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030 Ðặc biệt, năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020 [3]
Luật Bảo vệ môi trường đã đưa ra các điều khoản quy định việc quản lý chất lượng nước và bảo vệ môi trường nước sông bao gồm các vấn đề về nguyên tắc bảo
vệ môi trường nước sông; quy định về kiểm soát, xử lý ô nhiễm, suy thoái môi trường nước LVS; trách nhiệm của UBND cấp tỉnh đối với BVMT LVS và quy định về tổ chức BVMT nước của LVS [3]
Luật Tài nguyên nước từ năm 1998 đã có những quy định chi tiết về bảo vệ tài nguyên nước Luật Tài nguyên nước năm 2012 được sửa đổi bổ sung, thống nhất
Trang 29với quan điểm của Luật BVMT 2005 Luật đã cụ thể hóa các quy định về quản lý LVS; về tổ chức và điều phối hoạt động quản lý tài nguyên nước trong LVS; phòng, chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt và ứng phó, khắc phục sự cố ô nhiễm nguồn nước lưu vực sông; trách nhiệm, thẩm quyền quản lý nhà nước về LVS [3]
Nghị định số 120/2008/NÐ-CP đã quy định cụ thể về các biện pháp BVMT nước; phòng, chống, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra trên LVS; kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm và bảo vệ chất lượng nước trên lưu vực; kế hoạch phòng, chống ô nhiễm môi trường nước và phục hồi các nguồn nước bị ô nhiễm trên LVS
Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020 đặt mục tiêu tổng quát là bảo vệ, khai thác hiệu quả, phát triển bền vững tài nguyên nước quốc gia trên cơ sở quản lý tổng hợp, thống nhất tài nguyên nước nhằm đáp ứng nhu cầu nước cho dân sinh, phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh và bảo
vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện dại hóa đất nước; chủ động phòng, chống, hạn chế đến mức thấp nhất tác hại do nước gây ra; từng bước hình thành ngành kinh tế nước nhiều thành phần phù hợp với nền kinh tế thị trường; nâng cao hiệu quả hợp tác, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các nước có chung nguồn nước với Việt Nam [3]
Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030 đưa ra các mục tiêu và nội dung nhằm giải quyết cơ bản các vấn đề môi trường tại các LVS; nội dung và biện pháp hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ đô thị, khu, cụm công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt yêu cầu; cải tạo, phục hồi môi truờng các khu vực đã bị ô nhiễm, suy thoái, đẩy mạnh cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường
Chương trình mục tiêu quốc gia khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường giai đoạn 2012 – 2015 đã đặt mục tiêu khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường đối với 47 làng nghề đang bị ô nhiễm môi trường đặc biệt nghiêm trọng; triển khai thực hiện các dự án thu gom, xử lý nước thải từ các đô thị loại II trở lên, xả trực tiếp
ra 3 LVS Nhuệ - Ðáy, Cầu và hệ thống sông Ðồng Nai… với tổng vốn đầu tư của Chương trình là 5.863 tỷ đồng [3]
Trang 30Ngoài các chính sách, chiến lược nêu trên, Chính phủ cũng đã ban hành các văn bản khác có liên quan như Nghị định số 179/1999/NÐCP về thi hành Luật TNN; Nghị định số 67/2003/NÐ-CP về phí BVMT đối với nước thải; Nghị định số 149/2004/NÐ-CP về cấp phép, tham dò, khai thác sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước
Bộ TN&MT cũng đã ban hành các Thông tư hướng dẫn, quy định đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, định mức kinh tế - kỹ thuật điều tra, đánh giá hiện trạng khai thác sử dụng nước, xả nước thải và khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước ; ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn phục vụ công tác quản lý, bảo vệ môi truờng nước
Song song với việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nuớc sông, hồ; quy chuẩn nước thải sinh hoạt, nước thải đối với các ngành công nghiệp đã tạo cơ sở pháp lý cho việc đẩy mạnh công tác BVMT nước Ðặc biệt, việc ban hành các quy chuẩn cụ thể đối với nước thải của từng loại hình sản xuất cũng sẽ giúp cho việc đánh giá, so sánh được sát hơn với tình hình thực tế
Trên cơ sở các Chiến lược, Kế hoạch quốc gia về BVMT nước, các địa phương cũng đã triển khai xây dựng và đưa vào thực hiện các kế hoạch, quy hoạch, văn bản cũng như các chỉ thị ở cấp địa phương nhằm tăng cường công tác BVMT nước của địa phương Ðiển hình như Ðồng Nai, Bình Phước đã ban hành quy định phân vùng môi truờng tiếp nhận nước thải và khí thải trên địa bàn tỉnh; Ðồng Nai đã phê duyệt và triển khai Quy hoạch TNN sông Ðồng Nai [3]
Tính đến cuối năm 2012, đã có hơn 130 văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến BVMT nước được ban hành, trong đó có 92 văn bản còn hiệu lực Trong lĩnh vực TNN, đã có 32 văn bản quy phạm pháp luật được ban hành, tạo hành lang pháp lý quan trọng nhằm thực hiện Luật TNN có hiệu quả, bao gồm 07 Nghị dịnh của Chính phủ, 08 Quyết định của Thủ tuớng Chính phủ; 15 Quyết định, Thông tư của Bộ truởng; 02 Thông tư liên tịch
Trang 31Ở địa phương, đã có 55/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành được trên 100 văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể về cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn nước, xả nước thải vào nguồn tiếp nhận và quy định về quản lý và BVMT nước trên địa bàn [3]
TP Hà Nội: Năm 2010, UBND thành phố đã ban hành Quyết định số
35/2010/QÐ-UBND quy định về việc cấp phép khai thác tài nguyên nước, xả nước thải vào lưu vực nguồn nước trên địa bàn thành phố Hiện nay, Hà Nội cũng đang hoàn thiện cơ chế chính sách ưu đãi, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia
xử lý nước thải và dịch vụ môi trường, Quy định về BVMT trên địa bàn thành phố
Bình Phước: Năm 2011, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số
1469/QÐ-UBND về phân vùng môi trường tiếp nhận nuớc thải và khí thải trên địa bàn tỉnh đến năm 2020 Trong đó, phân vùng môi trường các nguồn nuớc mặt để tiếp nhận các nguồn nước thải công nghiệp được quy định theo QCVN 24:2009
Ðồng Nai: từ năm 2007, UBND tỉnh Ðồng Nai đã ban hành quy định về môi
trường tiếp nhận nước thải và khí thải trên địa bàn tỉnh, cơ sở của việc phân vùng
dự trên tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5945:2005 Ðến năm 2010, Quyết định trên được thay thế bằng Quyết định số 16/2010/QÐ-UBND ngày 19/3/2010, sử dụng QCVN làm căn cứ phân vùng môi trường nước theo mục đích sử dụng khác nhau Ngoài ra, năm 2010, UBND tỉnh cũng đã ban hành Quyết định số 07/2010/QÐ-UBND về quản lý tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh
Cần Thơ: Năm 2009, UBND thành phố đã phê duyệt đề cương Quy hoạch
TNN mặt TP Cần Thơ, năm 2010 đã được phê duyệt dự toán chi phí và ghi vốn thực hiện Quy hoạch Ðến nay, Quy hoạch TNN mặt TP Cần Thơ đang trong giai đoạn chỉ định thầu để thực hiện quy hoạch
Tuy đã có nhiều văn bản, quy định được đưa ra để bảo vệ nguồn tài nguyên nước mặt nhưng sự phân công trách nhiệm quản lý Nhà nước về LVS chưa thống nhất Trong một thời gian khá dài, việc phân công quản lý nhà nước về BVMT nước mặt nói chung, môi trường nước LVS nói riêng, giữa một số Bộ, ngành đã không rõ ràng, thậm chí còn chồng chéo Sự chồng chéo này đã gây ra rất nhiều khó khăn,
Trang 32tốn kém công sức và kinh phí của Nhà nước khi thực hiện công tác quản lý Ðặc biệt đối với công tác cấp phép, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm ở cấp Trung ương và địa phương
Ở cấp Trung ương, vẫn còn sự giao thoa, chồng chéo giữa Bộ TN&MT với
Bộ NN&PTNT và một số Bộ, ngành khác Ðó là sự thiếu thống nhất trong chức năng quản lý Nhà nước đối với các LVS, trong đó bao gồm việc lập quy hoạch và quản lý môi trường nước LVS Bộ TN&MT quản lý thống nhất về môi truờng nước, nhưng các Bộ chuyên ngành đang quản lý, khai thác, sử dụng nguồn nước cho các mục đích khác nhau, với lực lượng ngành dọc, như thủy nông, khai thác công trình thủy lợi, thủy điện, giao thông thủy nội địa Giữa các đơn vị quản lý cũng còn thiếu
sự phân định rõ ràng về trách nhiệm cụ thể và cơ chế phối hợp [3]
Về trách nhiệm quản lý các hồ chứa nước Cục Quản lý Tài nguyên nước (Bộ TN&MT) được giao nhiệm vụ quản lý tài nguyên nước nói chung Tuy nhiên, các ngành khác cũng được giao trách nhiệm quản lý và khai thác hồ theo mục tiêu phát triển của ngành Tổng cục Thủy lợi (Bộ NN&PTNT) được giao nhiệm vụ quản lý, khai thác nước vào mục đích tưới tiêu và quản lý việc nuôi trồng thủy sản trong lòng hồ Bộ Công thương quản lý, khai thác các công trình thủy điện Bộ xây dựng quản lý hoạt động cấp nước sinh hoạt
1.4 Tổng quan về lưu vực sông Cấm
1.4.1 Vị trí lưu vực sông Cấm
Sông Cấm xuất phát từ vùng núi cao khu vực xã Trù Sơn (huyện Đô Lương)
và xã Nghi Văn (huyện Nghi Lộc) Dòng hợp lưu chảy qua 2 dãy núi: phía Bắc là dãy núi Vạc có độ cao từ 100 – 300 m, đỉnh cao nhất cao tới 315 m Phía Nam là dãy núi Đại Huệ có độ cao từ 100 – 400 m, đỉnh cao nhất là 438 m Sông chảy qua một số xã của huyện Nghi Lộc và đổ ra biển Đông tại Cửa Lò
Sông Cấm có chiều dài 39 km, có diện tích lưu vực là 313 km2 Hiện nay, sông đã được ngọt hóa nhờ cống ngăn mặn Nghi Quang
Trang 33- Mực nước kiệt: Mực nước tối đa được giữ trước cống Nghi Quang từ
(0,5-1,0) m, để giữ mực nước đủ để bơm tưới mà không bị ngập đồng ruộng 2 bên bờ sông
- Mực nước lũ: Đã xảy ra trên sông Cấm lũ 1978 tại cống Nghi Quang là
2,74 m, tại ngã 3 cầu Phương Tích là 3,8 m, tại Hưng Đông kênh Gai là 3,94 m
- Triều mặn và sóng biển: Chế độ triều tại sông Cấm thuộc dạng bán nhật
triều không đều, đỉnh triều trung bình là 1,2 – 1,5 m, thời kỳ lũ đỉnh triều 1,8 – 2,0
m Chu kỳ triều lên từ 8 – 12 h, chu kỳ triều xuống từ 12 – 16 h, triều cường gặp bão, nước dâng cao 3,4 – 3,5 m xảy ra trong các trận bão năm 1987, 1989
- Mặn xâm nhập: trước khi có cống Nghi Quang, hiện tượng xâm nhập mặn
đã lên đến cầu Phương Tích khiến cho hơn 100 ha ruộng bị mặn, hơn 1000 ha ruộng
có cao độ dưới 1,5 m bị ảnh hưởng mặn Từ khi có cống Nghi Quang, hiện tượng mặn không còn xâm nhập vào nội đồng nữa Những năm hạn lớn kéo dài, nước sông Lam quá thấp, triều cao có thể mặn qua cống Nghi Quang xâm nhập vào nội đồng Do đó đến nay vùng sông Cấm đã có 49 trạm bơm, bơm tưới cho 3.900 ha ruộng đất của các xã trong lưu vực
1.4.2 Điều kiện tự nhiên
Lưu vực sông Cấm có diện tích lưu vực đi qua huyện Nghi Lộc và thị xã Cửa
Lò nên mang những đặc điểm khí hậu đặc trưng của vùng Các đặc trưng về khí tượng của khu vực này được quan trắc tại trạm khí tượng Vinh
a Điều kiện khí hậu
Huyện Nghi Lộc và thị xã Cửa Lò có khí hậu nhiệt đới gió mùa và chịu chung những đặc điểm khí hậu của miền Trung
Chế độ nhiệt: Có 2 mùa rõ rệt, mùa nóng từ tháng 5 – 9, nhiệt độ trung bình
23 – 24oC, tháng nóng nhất là tháng 7 lên tới 39 - 40 oC Mùa lạnh từ tháng 10 – tháng 4 năm sau
Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm 1.900 mm, lớn nhất khoảng
2.600 mm, nhỏ nhất đạt 1.100 mm Lượng mưa phân bố không đều trong năm tập
Trang 34trung từ tháng 8 – tháng 10 Lượng mưa thấp nhất trong năm vào tháng 4, chiếm khoảng 10% lượng mưa cả năm
Chế độ gió: Có 2 hướng gió chính Gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng
4 năm sau Gió mùa Đông Nam từ tháng 4 đến tháng 10
Các hiện tượng thời tiết bất thường như bão, lũ trung bình mối năm chịu 3 cơn bão, thường tập trung vào các tháng 8,9 và tháng 10 Bão thường kéo theo mưa lớn gây lũ lụt, ảnh hưởng tới đời sống và kinh tế
b Điều kiện thủy văn
* Huyện Nghi Lộc
- Nguồn nước mặt: Nghi Lộc có nguồn nước mặt khá dồi dào, bao gồm hệ thống sông Cấm, sông Lam, kênh nhà Lê và 11 hồ chứa nước, 18 đập chứa nước với trữ lượng trên 21 triệu m3 Nguồn nước mặt dùng để phục vụ sản xuất nông nghiệp
và thau chua rửa mặn, ngọt hóa cho vùng đất nhiễm mặn hai bên hạ lưu sông Cấm
- Nguồn nước ngầm: Theo kết quả nghiên cứu địa chất thủy văn trước đây, nguồn nước ngầm hiện có 3 tầng nước chủ yếu, có ý nghĩa cho việc cấp nước sinh hoạt và phát triển kinh tế như các tầng nước lỗ hổng Holocen, tầng chứa nước lổ hổng Plestocen và các tầng chứa nước khe nứt và khe nứt Karst
Do vậy hiện tại tài nguyên nước có khả năng đáp ứng được cho sản xuất và phục vụ đời sống sinh hoạt
Nguồn nước mặt: Nguồn nước mặt của thị xã khá dồi dào, bao gồm 2 hệ thống sông Cấm, sông Lam và một số hồ đập ở Nghi Hương, Nghi Thu Nước mặt dùng cho sản xuất nông nghiệp và thau chua, rửa mặn, ngọt hóa cho một số nguồn nước Nguồn nước sông Cấm khá dồi dào nhưng do ảnh hưởng của nước mặn nên
Trang 35sử dụng bị hạn chế Hiện nay đập Nghi Quang, Nghi Khánh phát huy tác dụng đã ngọt hóa được phần nào sông Cấm
Nguồn nước ngầm: Nguồn nước ngầm phân bố khá rộng, nước ngầm ngọt phân bố chủ yếu ở các tầng chứa nước Plettoxen, Miocen ở độ sau 100 đến 300 m, một số nơi nông hơn 20 – 50 m Chất lượng khá tốt, đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt
c Tài nguyên rừng
Đất lâm nghiệp của huyện Nghi Lộc có 9265,52 ha Chiếm 26,6% diện tích đất tự nhiên Rừng tập trung chủ yếu ở các xã vùng bán sơn địa được trồng các loại cây thông, keo, phi lao, bạch đàn và trồng rừng ngập mặn ở các xã ven biển để chắn
đê, chắn sóng
Rừng của thị xã có 423 ha, chủ yếu là rừng trồng phòng hộ, và các cây trồng phân tán như thông, keo, phi lao, bạch đàn và cây bóng mát trong khu đô thị Nhìn chung, tài nguyên rừng của thị xã Cửa Lò ngoài ý nghĩa về phòng hộ ven biển, ngoài chắn cát còn có vai trò qua trọng trong tạo bóng mát, cảnh quan thiên nhiên, môi trường sinh thái phục vụ du lịch
d Tài nguyên khoáng sản
* Huyện Nghi Lộc
Nghi Lộc không nhiều về tài nguyên khoáng sản, ít chủng loại, chủ yếu chỉ
có nhóm làm vật liệu xây dựng và một ít kim loại màu Nhóm sản xuất vật liệu xây dựng gồm có đất sét, cao lanh ở xã Nghi Văn được phát hiện thêm năm 2006, có trữ lượng khoảng 1750 triệu m3, đá xây dựng có ở các xã Nghi Yên, Nghi Lâm, Nghi Tiến, Nghi Thiết, Nghi Vạn Với trữ lượng tuy không lớn nhưng cơ bản đáp ứng được nhu cầu xây dựng trên địa bàn của huyện và cung cấp cho các vùng phụ cận
Nhóm kim loại màu: Mỏ Barit ở xã Nghi Văn trữ lượng khoảng 1,81 ngàn tấn sắt có ở xã Nghi Yên trữ lượng khoảng 841,8 ngàn tấn
Trang 36* Thị xã Cửa Lò
Tài nguyên khoáng sản trên địa bàn không nhiều, chủ yếu phục vụ làm vật liệu xây dựng như cát, quặng Titan (Nghi Hải) Tuy nhiên trữ lượng thấp, phân bố rải rác ở các xã, phường, khả năng khai thác mang tính bền vững ít
1.4.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
1.4.3.1 Huyện Nghi Lộc
Nghi Lộc có diện tích 347,88 km2, là một huyện có dân số đông Năm 2013, toàn huyện có 185.267 người, trong đó số dân thành thị có 4.782 người chiếm 2,6
%, số dân nông thôn 180.485 chiếm 97,4 %, mật độ trung bình 533 người/km2
* Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong 5 năm từ 2005 –
2010 đạt 12,01%; tổng giá trị sản xuất năm 2013 đạt 1.944 tỷ đồng Thu nhập bình quân đầu người đạt 13,7 triệu đồng Tổng thu ngân sách theo phân cấp trong cả nhiệm kỳ đạt 352,7 tỷ đồng; tổng đầu tư toàn xã hội đạt 4.546 tỷ đồng Cơ cấu kinh
tế đến năm 2010, nông – lâm – ngư giảm từ 45,3 % xuống còn 30,2%, công nghiệp – xây dựng tăng từ 27,3 % lên 36,8 %, thương mại – dịch vụ tăng từ 27,4 % lên 33
%
- Sản xuất nông - ngư nghiệp: Nông - lâm – ngư tăng trưởng khá, góp phần
quan trọng trong việc ổn định xã hội và nâng cao đời sống nhân dân Giá trị sản xuất của ngành nông - lâm - ngư giai đoạn 2010 - 2013 tăng bình quân 3,62 %/năm Giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích tăng nhanh Đến 2013, bình quân giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích toàn huyện đạt 43 triệu/ha, trong đó có 3.710 ha cho thu nhập từ 50 triệu đồng/ha/năm trở lên (chiếm 35,6 % diện tích canh tác) Sản lượng lương thực bình quân hàng năm đạt 80.000 tấn
- Sản xuất công nghiệp - TTCN: Công nghiệp - xây dựng và tiểu thủ công
nghiệp phát triển mạnh góp phần tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá nông thôn Giá trị sản xuất của ngành công nghiệp - xây dựng giai đoạn 2010 - 2013 tăng bình quân 21,29 %/năm Tiểu thủ công nghiệp, làng nghề tiếp tục có bước phát triển khá, có thêm 10 làng nghề
Trang 37được tỉnh công nhận, hình thành được một số doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề
- Dịch vụ, thương mại: Dịch vụ, thương mại phát triển tốt tạo điều kiện cho
người dân tiếp cận với các loại hình dịch vụ thuận lợi hơn, từng bước gắn phát triển dịch vụ với chuyển dịch cơ cấu lao động Giá trị sản xuất của ngành dịch vụ, thương mại giai đoạn 2010 - 2013 tăng bình quân 15,36 %/năm Hệ thống dịch vụ từng bước phát triển, một số dịch vụ như du lịch, vận tải, lao động và một số ngành nghề như xây dựng, cơ khí, mộc cao cấp có sự tăng trưởng nhanh, tạo được nhiều việc làm cho người lao động
* Về văn hóa - xã hội
- Về giáo dục: Sự nghiệp giáo dục - đào tạo tiếp tục chuyển biến tích cực,
từng bước đáp ứng nhu cầu học tập của con em và đào tạo nghề cho người lao động
và thực hiện được mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài Toàn huyện có 30 trường mầm non, 31 trường tiểu học, 26 trường THCS và 6 trường THPT Đến nay, toàn huyện đã có 100 % số xã có trường học cao tầng, 100
% số xã có trung tâm học tập cộng đồng, 43/95 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia
- Về y tế: Cả huyện có 34 cơ sở y tế, trong đó có 2 bệnh viện, 2 phòng khám
và 30 trạm y tế Công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu, y tế dự phòng được chăm lo Tập trung xây dựng phường xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, đến nay có 26/30 xã đạt 86,6% chỉ tiêu đề ra Mạng lưới y tế từ huyện đến cơ sở được củng cố Thực hiện tốt các chương trình mụa tiêu quốc gia về y tế, công tác phòng chống dịch bệnh được chú trọng triển khai thực hiện
1.4.3.2 Thị xã Cửa Lò
* Dân số
Cửa Lò là thị xã ven biển của tỉnh, nằm ở phía Đông của tỉnh Nghệ An.Phía Đông giáp Biển Đông, phía Tây giáp Nghi Lộc, phía Nam giáp thành phố Vinh và huyện Nghi Xuân, phía Bắc giáp Diễn Châu với 7 đơn vị hành chính Năm 2013 dân số thị xã 52.024 người, mật độ 1851 người/km2
Trang 38
* Kinh tế
Năm 2013 nền kinh tế thị xã tiếp tục tăng trưởng cao và ổn định, cơ cấu kinh
tế chuyển dịch theo hướng ưu tiên dịch vụ du lịch - công nghiệp, xây dựng và nông,lâm, ngư nghiệp Trong đó, ngành công nghiệp - xây dựng tăng trưởng khá, giá trị sản xuất đạt 746,5 tỷ đồng, tăng 18,5 %; Nông – lâm - ngư nghiệp ổn định, giá trị sản xuất đạt 74,5 tỷ đồng Riêng ngành dịch vụ đã đạt đến 768 tỷ đồng, tăng gần 24 % so với năm 2012, chiếm 50 % tổng giá trị sản xuất của nền kinh tế thị xã biển
* Giáo dục – Y tế
a Giáo dục – đào tạo
Thị xã Cửa Lò có tổng số 8 trường mẫu giáo, 7 trường tiểu học, 5 trường trung học cơ sở, 2 trường trung học phổ thông và một số trường đại học, cao đẳng, trung cấp Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên được kiện toàn, nâng cao chất lượng
Số lượng giáo viên của các bậc học ngày một tăng cường cả về số lượng và chất lượng Chất lượng giáo dục những năm qua đã được nâng lên đáng kể, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp hàng năm đạt tỷ lệ cao, năm 2012 – 2013 đạt 99,07 % đối với THCS, 96,16 % đối với THPT
b Y tế
Trên địa bàn thị xã có 2 bệnh viện và 7 trạm y tế của các xã phường với tổng
số 305 giường bệnh Công tác chăm sóc sức khỏe của người dân ngày càng được nâng cao và quan tâm Cơ sở vật chất trong y tế được đầu tư và nâng cấp dần
1.4.4 Hiện trạng sử dụng nước trên sông Cấm
Trên sông Cấm hiện nay, nguồn nước mặt có vai trò và sử dụng như sau: Cùng với kênh nhà Lê tiêu nước lũ cho vùng Nam Đàn, Hưng Nguyên, thành phố Vinh và huyện Nghi Lộc khi nước sông Lam quá cao
Vùng thượng nguồn sông Cấm các địa phương đã xây dựng 48 hồ chứa vừa
và nhỏ, có lưu vực tích nước có diện tích 101 km2, đảm bảo diện tích tưới 2.000 ha Vùng hạ lưu đã xây dựng được 49 trạm bơm lấy nước tưới cho 3.900 km2 ruộng hai bên lưu vực Ngày nay nhờ có cống Nghi Quang nên sông được ngọt hóa nên 2 bên
Trang 39bờ sông xây dựng các trạm bơm lấy nước tưới, sử dụng dân sinh vùng Cửa Lò, khu công nghiệp Nam Cấm
Ngoài ra sông Cấm cùng với kênh nhà Lê, sông Kẻ Gai, kênh thấp, sông Vinh tạo ra tuyến giao thông thủy trong vùng Nam – Hưng – Nghi - Vinh và ra vùng Diễn Châu
Nguồn nước lưu vực sông phía hạ lưu cung cấp nước tạo nên vùng nuôi trồng và chế biển thủy sản trên địa bàn huyện Nghi Lộc và thị xã Cửa Lò Vùng cửa sông Cấm nằm giữa các dãy núi lớn khuất gió có điều kiện địa hình rất thuận lợi cho việc neo đậu tránh bão của các tàu thuyền
1 Đoạn từ xóm 8 xã Nghi Phương đến ngã 3 kênh nhà Lê sông Cấm
a Hiện trạng lòng sông
Dài 3 km, lòng sông rộng trung bình mùa khô 3 – 4 m, mùa mưa 8 – 10 m, cao độ đáy sông 0 – 1 m
b Dòng chảy trên sông
- Mùa mưa: Dòng chảy chủ yếu do mưa gây ra, lưu lượng bình quân 15 – 20
m3/s
- Mùa khô: Nước mưa ngấm vào đất, thảm phủ thực vật chaye về lòng sông, lưu lượng bình quân 1 – 1,5 m3
/s
c Diện tích tưới tiêu
- Diện tích tưới: Tính cho cả vùng thượng nguồn 8 xã có 40 hồ chứa và 12 trạm bơm, đảm bảo tưới 2.885 ha, diện tích mặt thoáng các hồ 100 ha
- Diện tích tiêu: Tiêu cho diện tích 1.756 ha, trong đó đất lâm nghiệp 4.675,4
ha
d Nước sinh hoạt
Trong vùng có 11.876 hộ, 52.256 người dùng nước sinh hoạt là giếng đào, giếng khoan và một số ít xây bể đựng nước mưa
e Cấp nước và xả thải
Đây là vùng đầu nguồn sông nên chưa có nhiều các chất thải bẩn vào sông
Trang 402 Đoạn từ ngã 3 sông Cấm, kênh Nhà Lê đến xóm 2 Nghi Thuận
a Hiện trạng lòng sông
Dài 8 km, chiều rộng lòng sông bình quân mùa khô 20 – 25 m, mùa mưa 50 – 60 m; cao độ đáy sông -2,5 – -3,5 m
b Dòng chảy trên sông
- Mùa mưa: Toàn bộ khu vực Nam – Hưng – Nghi – Vinh mưa tạo thành dòng chảy, 1 phần về cống Bến Thủy, phần lớn dòng chảy qua kênh Gai, khe Cái về sông Cấm; lưu lượng bình quân 100 – 120 m3/s
- Mùa khô: Dòng chảy chủ yếu là nước thừa của hệ thống thủy lợi Nam còn lại khoảng 5 – 10 m3/s, có một số năm hạn kéo dài, mực nước sông Lam kiệt, có thời
kỳ lưu lượng trên sông không có, nước mặn ảnh hưởng vào nội đồng
c Diện tích tưới tiêu
- Diện tích tưới: Tưới 2 xã có 9 trạm bơm, diện tích tưới 699,4 ha
- Diện tích tiêu: Diện tích là 1362,6 ha
d Nước sinh hoạt
Toàn vùng có 3.234 hộ, 1390 người, nước sinh hoạt chủ yếu là giếng đào và xây bể đựng nước mưa
e Cấp nước và xả thải
Vùng này có 2 nguồn cấp nước chính cho sông Cấm là khe Cái và kênh Gai Khe Cái là đầu nguồn của sông Cấm Kênh Gai dẫn nước từ khu vực thành phố Vinh về mang theo chất thải của các khu vực lân cận của TP.Vinh, chợ Hưng Tây, thị trấn Quán Hành Bên cạnh đó, kênh Gai còn tiếp nhận các nguồn thải từ các xí nghiệp gạch ngói Nghi Hoa, Nghi Thuận
3 Đoạn từ xóm 2 Nghi Thuận đến cầu Cấm đường bộ
a Hiện trạng lòng sông
Dài 6 km, chiều rộng lòng sông trung bình mùa khô 25 – 28 m, mùa mưa 50 – 60 m Trước đây, bãi hai bên bờ sông đất tự nhiên có cao độ 1 – 1,5; hiện nay do xây dựng khu công nghiệp nên đất được đắp lên cao độ 2 – 3 m
b Dòng chảy trên sông