1. Trang chủ
  2. » Tất cả

BÀI TIỂU LUẬN TÌM HIỂU VỀ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

5 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 105,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giữa những người cùng giớ tính.” Xét về đạo đức xã hội: Hiện nay trong xã hội xuất hiện không ít những trường hợp kết hôn giữa “ Cha của chồng với con gái riêng của vợ”.. Trường hợp 2: N

Trang 1

BÀI TIỂU LUẬN TÌM HIỂU VỀ:

“LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH”

Họ và tên: Nguyễn Văn Phụng

Lớp: DH42DC027

Mã sinh viên: 31161021054

Ngày tháng năm sinh: 20/11/1998

Khóa: 42

Trang 2

Gia đình luôn là nền tảng của xã hội và được hình thành, tồn tại, phát triển qua các giai đoạn Do vậy nó mang trong mình chức năng tự nhiên, chức năng xã hội riêng biệt mà các thiết chế xã hội khác không có Nói chung tất cả chức năng của gia đình được hình thành và luôn gắn liền với quá trình phát triển của xã hội loài người và được chính con người chấp nhận, xã hội hóa chúng Hầu hết tất cả các gia đình đều có 3 chức năng chính sau: sinh đẻ, giáo dục và kinh tế Chúng là cơ sở hình thành các quyền tự nhiên của con người về gia đình và được xã hội hóa thành các quyền cơ bản

Thức tế qua các giai đoạn phát triển của xã hội loài người đã chứng minh,đa số các quyền

cơ bản của con người cũng được hình thành qua các gia đoạn hoặc luôn phải chịu tích cực hay tiêu cực từ ba chức năng trên như: quyền kết hôn, quyền ly hôn, quyền cấp dưỡng… Như vậy, quyền hon nhân và gia đình được thành lập từ chính quá trình hình thành và thực hiện các chức năng cơ bản của nó Cho đến ngày nay, quyền con người về hôn nhân và gia đình được cả thế giới công nhận như là một bộ phận cấu thành cơ bản nhất trong nhóm quyền về con người về dân

sự nói riêng, quyền con người nói chung Thấy được vai trò to lớn và cấp thiêt đó em đã chọn đề tài: “ Tìm hiểu về luật hôn nhân và gia đình”

VẤN ĐỀ VỀ KẾT HÔN

Theo Điều 10 Chương 2 về Kết hôn trong luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về việc cấm kết hôn tring những trường hợp sau:

1 “Người đang có vợ hoạc có chồng;

2 Người mất năng lực hành vi dân sự;

3 Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời

4 Giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi,

bố chồn với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

5 Giữa những người cùng giớ tính.”

Xét về đạo đức xã hội: Hiện nay trong xã hội xuất hiện không ít những trường hợp kết hôn giữa “ Cha của chồng với con gái riêng của vợ” Việc kết hôn này đã làm thay đổi hoàn toàn trật tự của gia đình, thay đổi từ cách xưng hô, cách nói chuyện đến vai vế trong gia đình Điều này không được quy định trong luật nên được phép kết hôn nhưng liệu đạo đức xã hội có chấp nhận hay không? Cuộc sống gia đình hoàn toàn đảo loạn, làm nãy sinh mâu thuẫn giữa cha và con, làm phức tạp thêm mối quan hệ Việc kết hôn kiểu như vậy đã và đang làm thay đổi phong tục tập quán, đạo lý văn hóa xưa nay của ông cha ta từ ngàn đời nay

Trang 3

Xét về mặt tình yêu: Theo quan điểm của nhiều bạn trẻ hiện nay thì tình yêu không phân biệt tuổi tác, không phân biệt giàu nghèo, không phân biệt tầng lớp… Đó là quan điểm hiện đại, quan điểm của những người bắt kịp xu thế hiện đại Chúng ta đề cập đến tình yêu “không phân biệt tuổi tác”, vấn đề này hiện nay rất được nhiều người quan tâm, nhiều bạn trẻ cho đó là bình thường không có vấn để gì phải lên án cả hay nói theo cách tuổi teen hiện tại là “mình thích thì mình yêu thôi” Nhưng xin thưa rằng, khi mối quan hệ này đã cấu thành rồi thì liệu mình đặt mình trong hoàn cảnh là người con thì mình sẽ phản ứng ra sao? Có hai trường hợp sẽ xãy ra:

Trường hợp 1: Nếu như bạn là một người đã có tư tưởng hiện đại trong mình hay nói cách khác là có lối phong cách “sống theo kiểu Tây” thì ắc hẳn bạn sẽ đồng ý với trường hợp kết hôn trên Nhưng ở Việt Nam mấy người sống theo kiểu tây đó để mà chấp nhận mối quan hệ này

Trường hợp 2: Nếu như bạn là người có lối sống theo phong tục tập quán ngàn đời của cha ông ta thì bạn sẽ không bao giờ chấp nhận chuyện đó xảy ra vì bạn cho rằng đó đã ảnh hưởng đến quan hệ gia đình của mình Và đó cũng là cách sống của đa số người Việt Nam đang sống làm việc và học tập trên đất nước này

Em đã làm một cuộc khảo sát trên trang Facebook của Goup UEH-K42 về tình huống trên trong vòng một giờ đồng hồ thí có kết quả như sau: có 8 bạn bình luận trong đó có:

Hai bạn đồng ý vì lí do “ Đồng ý bố lo cho mình cả đời rồi h cho bố hạnh phúc đi ” và

“đồng ý cho họ lấy nhau nếu họ tự nguyện”.(nguyên văn bình luận)

Sáu bạn không đồng ý vì lý do “ chắc chắn là không rồi”, “ Không bạn”…(nguyên văn bình luận)

Từ đó cho thấy số người không đồng ý nhiều hơn nên dẫn đến kết luận rằng nếu hôn nhân này xảy ra thì số đong mọi người sẽ không chấp nhận được

Xét về mặt pháp luật: Theo quy định của pháp luật hiện hành thì nếu như D đã 18 tuổi trở lên và tự nguyện kết hôn vói A thì pháp luật công nhận việc kết hôn đó bởi A và D kết hôn không thuộc các trương hợp cấm kết hôn theo Điều 10

Để minh chứng cho sự bất hợp lý này em xin đưa ra một ví dụ như sau: Trong một gia đình, A là bố đẻ của B, B là chồng của C, C có người con gái riêng là D và đã đủ tuổi lấy chồng Hôn nhân giữa B và C là hợp pháp Trong thời gia chung sống trong gia đình A lại nãy sinh tình cảm với D và muốn cưới D làm vợ Nếu như A và D được cưới theo thủ tục thông thường, sau

đó họ sinh ra một người con là E thì việc thể hiện thông tin cho mẹ như thế nào? Tiếp đó trong

hộ khẩu gia đình này thể hiện như thế nào? Việc thừa kế tài sản sau này sẽ gây ra những mâu thuẫn nhất định trong gia đình…

Trang 4

Pháp luật không cấm nhưng việc này không phù hợp với phong tục tập quán, truyền thống dân tộc Việt Nam Thiết nghĩ, pháp luật coonh nhận nhưng đạo đức xã hội có công nhận được hay không? Về tình huống trên em thấy xảy ra các trường hợp xưng hô kì cục ở chỗ: Bố chồng (A) có thể phải gọi con dâu (C) bằng mẹ; Con dâu (C) có thể gọi bố chồng (A) bằng con

rể hay bằng bố chồng; Con riêng của con dâu (D) có thể gọi mẹ (C) bằng con dâu hay gọi là mẹ (mẹ đẻ); Con dâu có thể gọi con riêng của mình bằng con hay gọi là mẹ chồng… Vô số những trái ngược trong cách xưng hô cũng như vai vế trong gia đình này

Theo em thì pháp luật nên điều chỉnh vấn đề này, sửa đổi, bổ sung và không cho phép trường hợp này xảy ra trong thực tế

VẤN ĐỀ VỀ TÀI SẢN CHUNG

RIÊNG CỦA VỢ, CHỒNG

Theo Khoản 1 Điều 34 Luật hôn nhân và gai đình năm 2014 đã quy định: “ Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng

có thỏa thuận khác”

Trong thực tế nếu như có tranh chấp về loại tài sản này xảy ra thì một bên vợ hoặc chồng thường sẽ dựa vào giấy chứng nhận sỡ hữu này chỉ ghi tên một người để yêu cầu xếp tài sản đó thuộc khối tài sản riêng, cho dù tài sản đó trên thực tế thuộc khối tài sản chung của vợ chồng Do vậy, quy định này đưa ra nhằm tạo ra cơ sở pháp lí vững chắc để tòa án xác định đúng đắn tài sản chung, tài sản riêng và việc phân chia tài sản

Quy định này đã là nãy sinh vấn đề: cần phải đưa ra những loại bằng chứng nào để chứng minh tài sản đó là của riêng của vợ hoặc chồng? Pháp luật Hôn nhân và Gia đình 2014 không quy định rõ điều này Trong thực tế có nhiều loại bằng chứng như các giấy tờ chứng minh quyền

sở hữu riêng của vợ hoặc chồng, lời khai của nhân chứng,, hóa đơn, chứng từ,… hoặc là cả sự thừa nhận của bên còn lại Vậy bằng chứng nào có thể chấp nhận được? Luật hôn nhân và gia đình nên có quy định cụ thể trong vấn đề này để đảm bảo tính thống nhất khi giải quyết các vụ việc thực tế

VẤN ĐỀ VỀ LY HÔN

Theo quy định tại khoản 3 điều 51 Luật hôn nhân và gia đình: “Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”

Trang 5

Đây là quy định còn bất cập, chỉ bảo vệ quyền lợi của người vợ khi mang thai, sinh con

và nuôi con dưới 12 tháng mà chưa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người chồng trong quan hệ hôn nhân bình đẳng, tự nguyện, tiến bộ

Trong trường hợp này người chồng khi biết rõ người vợ ngoại tình, phản bội lại tình cảm của người chồng Đứa con trong bụng của người vợ không phải của người chồng nhưng quy định lại hạn chế việc ly hôn của người chồng Quy định này đã thể hiện sự chưa toàn diện, chưa triệt để trong việc điều chỉnh, bảo vệ các quan hệ xã hội, mô hingf chung đã cổ vũ cho lối sống ngoại tình, trái đạo đức xã hội, quy phạm quy định của phát luật

Theo quy định điều 88 Luật hôn nhân và gia đình 2014: “Con sinh ra trong thời kì hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kì hôn nhân là con chung của vợ chồng… Trường hợp cha mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và được Tòa án xác nhận”

Do đó, việc Tòa án xác nhận cha con ruột khẳng định đứa con do vợ sinh ra không phải con của mình, mặc khác, đây là căn cứ chứng minh vợ mình có quan hệ ngoại tình, vi phạm nghiêm trọng Luật hôn nhân và gia đình, là một căc cứ để tòa án cho ly hôn

Hạn chế việc ly hôn của người khác mặc dù người vợ có lố sống ngoại tình, mang thai với người đàn ông khác Tuy nhiên, do chưa thể ly hôn với vợ, do đó người chồng và người vợ đang trong quan hệ hôn nhân hợp pháp, ví vậy kho người chồng có tình cảm với người phụ nữ khác thì không thể tiến tới hôn nhân với người đó vì vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng theo quy định tại khoản 1 điều 2 Luật hôn nhân và gia đình 2014 Vì vậy nhà nước cần bổ xung vào điều luật những quy định đề cập ở trên để hoàn thiện quyền của con người

Gia đình đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển vững mạnh của xã hội Gia đình sống ấm no hạnh phúc thì xã hội càng văn mình, càng lành mạnh Do vậy pháp luật phải quy định một cách đầy đủ, chính xác, cụ thể, rõ ràng, công bằng đối với vợ và chồng trong Luật hôn nhân và gia đình để không có trường hợp hôn nhân trái đạo đức, lối sống của dân tộc ta và các trường hợp tranh chấp giữa vợ và chồng trong hôn nhân được rõ ràng, cụ thể không ảnh hưởng đến công việc và cuộc sống trong mối quan hệ vợ chồng

Ngày đăng: 14/12/2016, 22:54

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w