NGHIÊN CỨU NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH TIÊU DÙNG RAU AN TOÀN CỦA NGƯỜI DÂN KHU TẬP THỂ ĐỐNG ĐA PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Trong những năm gần đây, hiếm khi nào từ “rau an toàn” lại xuất hiện nhiều trong những sản phẩm hướng dẫn nông nghiệp cũng như chưa bao giờ có thời điểm nào tại Việt Nam mà vấn đề an toàn và vệ sinh thực phẩm lại thu hút sự chú ý lớn của người tiêu dùng như thế. Sự gia tăng và lạm dụng thuốc trừ sâu trong sản xuất rau ở Việt Nam đang thực sự khiến Chính phủ cũng như người tiêu dùng lo lắng hoang mang.
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA QUẢN TRỊ TRỊ KINH DOANH
Trang 2ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH TIÊU DÙNG
RAU AN TOÀN CỦA NGƯỜI DÂN KHU TẬP THỂ ĐỐNG ĐA
Trang 3PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây, hiếm khi nào từ “rau an toàn” lại xuất hiện nhiềutrong những sản phẩm hướng dẫn nông nghiệp cũng như chưa bao giờ có thời điểmnào tại Việt Nam mà vấn đề an toàn và vệ sinh thực phẩm lại thu hút sự chú ý lớn củangười tiêu dùng như thế Sự gia tăng và lạm dụng thuốc trừ sâu trong sản xuất rau ởViệt Nam đang thực sự khiến Chính phủ cũng như người tiêu dùng lo lắng hoangmang
Ô nhiễm môi trường, các sản phẩm nông nghiệp không an toàn và sức khỏe conngười bị đe dọa là kết quả của việc lạm dụng thuốc trừ sâu để diệt cỏ và nó trở thànhvấn đề vô cùng nghiêm trọng ở Việt Nam hiện nay Theo cơ quan có thẩm quyền, cótới 80% rau trên thị trường không đáp ứng được tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm.Hiện nay mối quan tâm lớn nhất của người tiêu dùng Việt Nam là vấn đề lạm dụngthuốc trừ sâu và thuốc kích thích tăng trưởng đang rất phổ biến trong các sản phẩmnông nghiệp
Song trong những năm gần đây, hiếm khi nào từ “Rau an toàn” lại xuất hiệnnhiều và thu hút sự quan tâm của người tiêu dùng như thế Theo số liệu thống kê củaCục Vệ sinh An toàn Thực phẩm trong năm 2015 Số vụ ngộ độc lên tới 179 vụ với
5552 người nhập viện, trong đó đã có 23 trường hợp tử vong Những con số “ biết nói”
ấy cho thấy rằng tình hình An toàn vệ sinh thực phẩm đang trong tình trạng báo động.Nguyên nhân được cho rằng là do chúng ta chưa có cơ chế và hệ thống kiểm soát chấtlượng đủ mạnh Và rau cũng không là ngoại lệ, vì rau an toàn vẫn còn lẫn lộn về chấtlượng do những nguồn cung cấp chưa được kiểm soát nên lòng tin của người tiêu dùngcũng dao động khi tiêu dùng rau
Tiêu chuẩn cuộc sống ngày càng cao của người dân cũng như sự quan tâm hơn
về sức khỏe, chất lượng và an toàn thực phẩm đãtạo ra một nhu cầu mạnh mẽ các sảnphẩm rau an toàn Nhu cầu về rau an toàn ngày càng tăng nhanh qua từng năm đã tạonên những cơ hội thị trường rất lớn cho ngành hàng rau an toàn phát triển Tuy nhiênviệc tiêu thụ sản phẩm rau an toàn vẫn còn nhiều khó khăn và rau an toàn chỉ chiếm7%-8% trong tổng số rau sản xuất Từ thực tế đó, một lĩnh vực về ý định rau an toàn là
Trang 4cần thiết trong việc hỗ trợ doanh nghiệp nắm bắt và đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng.( trích từ tóm tắt luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh của Văn Thị Khánh Nhi - 2015)Đặc biệt hiện nay đang tràn lan công nghệ “hồi sinh thần kì” biến rau héo úa trởlại tươi xanh, làm cho người dân càng hoang mang mất niềm tin ảnh hưởng đến ý địnhtiêu dùng Từ thực tế đó, một nghiên cứu về lĩnh vực ý định tiêu dùng rau an toàn làcần thiết Vì vậy, nhóm chọn đề tài “ Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến ý địnhtiêu dùng rau an toàn của người dân thành phố Huế” làm đề tài nghiên cứu khoa học.
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan ý định tiêu dùng rau an toàn
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng tới ý định tiêu dùng rau an toàn của người dântại khu tập thể Đống Đa thành phố Huế
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới ý định tiêu dùng rau an toàncủa người dân tại khu tập thể Đống Đa thành phố Huế
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao ý định tiêu dùng rau an toàn ở Việt Namnói chung và khu tập thể Đống Đa nói riêng
2.2 Câu hỏi nghiên cứu
- Các nhân tố nào ảnh hưởng tới ý định tiêu dùng rau an toàn của người dân khutập thể Đống Đa thành phố Huế?
- Các mức độ ảnh hưởng tới ý định tiêu dùng rau an toàn của người dân tại khutập thể Đống Đa thành phố Huế như thế nào?
- Giải pháp nhằm nâng cao ý định tiêu dùng rau an toàn ở Việt Nam nói chung vàkhu tập thể Đống Đa nói riêng?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng:
- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng tới ý định tiêu dùng rau an toàncủa người dân ở khu tập thể Đống Đa thành phố Huế
Trang 5- Đối tượng khảo sát là những người dân ở khu tập thể Đống Đa có ý định tiêudùng rau an toàn trong hộ gia đình.
- Nghiên cứu định lượng được tiến hành trên cơ sở mô hình nghiên cứu đề xuất
- Nhằm phục vụ cho quá trình nghiên cứu, tùy theo từng giai đoạn, nghiên cứuthu thập các dữ liệu thứ cấp từ các nguồn như các trang web chuyên ngành, các bàibáo, tạp chí khoa học
4.2 Phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp định lượng kết hợp phỏng vấn trực tiếp lúc điều tra bảnghỏi
là số lượng câu hỏi trong bài
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
- Đề tài có ý nghĩa khoa học đối với các nhà nghiên cứu, các sinh viên kinh tếmuốn nghiên cứu về ý định tiêu dùng Họ có thể sử dụng kết quả của nghiên cứu này
Trang 6như một tài liệu tham khảo để xây dựng cơ sở lý luận cho các nghiên cứu liên quanđến ý định tiêu dùng rau an toàn.
- Đề tài này cũng có ý nghĩa thực tiễn:
+ Với người tiêu dùng trong thời kỳ đáng báo động về an toàn vệ sinh thựcphẩm, họ có ngày càng nhiều nhu cầu về các sản phẩm rau an toàn
+ Với chính phủ Việt Nam, các sản phẩm rau an toàn hiện là vấn đề nan giải vàchính phủ đã nỗ lực để gia tăng khu vực sản xuất rau an toàn để mang sản phẩm nàyđến với người dân càng nhiều càng tốt
+ Với các nhà đầu tư trên thị trường rau an toàn, tìm cách để giải quyết vấn đềđầu ra cho những sản phẩm của họ là ưu tiên hàng đầu để phục hồi vị trí của họ trongthị trường này
6 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, mục lục, phần phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài
bố cục thành 4 chương
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2 Thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Kết luận và đề xuất giải pháp
Trang 7PHẦN 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1.CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1.1.1 Người tiêu dùng
- Theo Pháp lệnh bảo vệ người tiêu dùng của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
“Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêudùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức”
- Theo hiệp hội Marketing Mỹ: Người tiêu dùng là người cuối cùng sử dụng,tiêu dùng hàng hóa, ý tưởng, dịch vụ nào đó Người tiêu dùng cũng được hiểu
là người mua hoặc ra quyết định như là người tiêu dùng cuối cùng
1.1.2 Ý định mua hàng
- Theo Ajzen (1991), “các ý định được giả định để nắm bắt các 5 yếu tố độnglực ảnh hưởng đến hành vi, chúng cho biết con người đã cố gắng như thế nào đểsẵn sàng thử và đã nỗ lực nhiều như thế nào để thực hiện hành vi” Và ông nhấnmạnh thêm rằng “khi con người có ý định hành vi mạnh mẽ hơn, họ sẽ cókhuynh hướng thực hiện hành vi cao hơn” (Ajzen, 1991)
- Ý định (intention) là đại diện của mặt nhận thức về sự sẵn sàng thực hiện mộthành vi, nó được xem như tiền đề đứng trước hành vi Samin, Goodarz,Muhammad, Firoozeh, Mahsa và Sanaz (2012) cho rằng “ý định là động lực củacon người trong chính ý nghĩ thực hiện hành vi của họ” Long và Ching (2010)định nghĩa “ý định mua là biểu trưng cho những gì chúng tôi sẽ mua trongtương lai”
- Một trong những nghiên cứu của Blackwell, Miniard, và Engel (2001) khámphá rằng ý định mua hàng đại diện cho những gì người tiêu dùng sẽ mua Lýthuyết về hành vi phát biểu rằng ý định mua hàng bị tác động bởi 3 yếu tố: thái
độ, nhóm ảnh hưởng, nhận thức Các yếu tố này liên quan và tác động mạnh mẽđến ý định mua hàng thông qua những hành vi và tình huống cụ thể
1.1.3 Ý định tiêu dùng rau an toàn
Ý định tiêu dùng rau an toàn Nik Abdul Rashid (2009) định nghĩa rằng ý định tiêu dùng rau an toàn là khả năng và ý chí của cá nhân trong việc dành sự ưa thích của mình cho rau an toàn hơn là rau thường trong việc cân nhắc mua sắm Ramayah, lê và
Trang 8Mohamad (2010) cho rằng ý định tiêu dùng rau an toàn là một trong những biểu hiện
cụ thể của hành động mua Han, Hsu và Lê (2009) cho rằng ý định tiêu dùng rau an toàn thường gắn với những lời truyền miệng tốt về sản phẩm và ý định trả nhiều tiền hơn cho sản phẩm an toàn
1.1.4 Khái niệm rau an toàn
a Rau an toàn là gì?
Rau an toàn( RAT) là khái niệm xuất hiện ở nước ta trong thời gian gần đây
trước tình hình một số sản phẩm rau xanh được tiêu thụ trên thị trường đã gây ngộ độc thực phẩm cho người sử dụng
Theo tổ chức y tế thế giới WHO tổ chức nông lương và lương thực của liên hợpquốc FAO thì rau an toàn phải đảm bảo các yếu tố sau:
Rau đảm bảo phẩm cấp chất lượng không bị hư hại, dập nát, héo, và không
ủ bằng hóa chất độc hại
Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật hàm lượng Nitrat và kim loại nặng dưới mức cho phép
Rau không bị bệnh không có vi sinh vật gây hại cho con người và gia súc
Tiêu chuẩn rau an toàn của thế giới và của Việt Nam
Theo các nhà nghiên cứu,hàm lượng các yếu tố gây ô nhiễm trên các sản phẩm rau như hàm lượng Nitrat kim loại nặng hóa chất bảo vệ thực vật, vi sinh vật có thể gây hại tới sức khỏe người sử dụng tùy thuộc vào mức độ ô nhiễm, do đó sản phẩm rau được coi là an toàn khi đáp ứng được các thông
số kỹ thuật cho phép của cơ quan giám định chất lượng và ở mỗi quốc gia đều xây dựng các chỉ tiêu phù hợp
Tiêu chuẩn RAT thế giới và Việt Nam
Theo các nhà nghiên cứu hàm lượng các yếu tố gây ô nhiễm trên các sản phẩm rau như hàm lượng nitơ rát, kim loại nặng, hóa chất BVTV, vi sinh vật có thể gây ảnh hưởng tới sức khỏe của người sử dụng tùy thuộc vào mức độ ô nhiễm Do đó, sản phẩm rau đươc xem là an toàn khi đáp ứng được các thông số kỹ thuât cho phép của các cơ quan giám định và ở mỗi quốc gia đều xây dựng các chỉ tiêu phù hợp Theo
tổ chức Y tế thế giới, dư lượng cho phép trong sản phẩm rau đối với các yếu tố ô nhiễm như sau:
Trang 9Bảng 2.1 : Ngưỡng cho phép dư lượng nitrat trong một số loại rau ( Theo qui
định của WHO)
ĐVT: mg/kg sản phẩm
Bảng 2.2: Hàm lượng kim loại nặng ( Theo quy định của WHO)
Loại kim loại Dư lượng Loại kim loại Dư lượng
trên các diện tích dất có thành phần hóa - thổ nhưỡng được kiểm soát (nhất là kiểm soát hàm lượng kim loại nặng và chất độc hại có nguồn gốc từ phân bón, từ các chất bảo vệ thực vật và các chất thải sinh hoạt còn tồn tại trong đất đai), được sản xuất theo những quy trình nhất định ( đặc biệt là quy trình sử dụng phân bón thuốc trừ sâu và tưới nước), và nhờ vậy rau đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm do các
cơ quan quản lý nhà nước đặt ra
Gọi là rau an toàn vì trong quá trình sản xuất rau người ta vẫn sử dụng phân bónnguồn gốc vô cơ và chất bảo vệ thực vật, tuy nhiên với liều lượng hạn chế hơn, thời điểm phù hợp hơn và chỉ sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật trong danh mục cho phép Trong rau an toàn tồn tại một dư lượng nhất định các chất độc hại, nhưng không đến mức ảnh hưởng tới sức khỏe của con người
Theo tổ chức y tế thới giới rau an toàn là rau cần phải đạt được các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về dư lượng thuốc BVTV, phân bón, kim loại nặng, và vi sinh vật trong rau phải đạt dưới mức tiêu chuẩn cho phép Nếu vi phạm một trong bốn tiêu chuẩn trên
Trang 10thì không được gọi là rau an toàn
Rau an toàn của Việt Nam được nói tới chủ yếu để phân biệt với rau được canh tácbằng các kỹ thuật thông thường, họ kiểm soát trên góc độ vệ sinh an toàn thực phẩm Ởcác nước phát triển với quy trình công nghệ sản xuất rau chuẩn, với sử dụng phân bón,thuốc BVTV kiểm soát được, vấn đề rau an toàn về cơ bản đã được giải quyết
Bộ NN&PTNT của Việt Nam đưa ra các quy định về sản xuất rau an toàn như sau:Những sản phẩm rau tươi bao gồm tất cả các loại rau ăn thân, lá, củ hoa và quả cóchất lượng đúng như đặc tính của nó, hàm lượng hóa chất và mức độ ô nhiễm các vi sinhvật gây hại ở mức tiêu chuẩn cho phép, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và môitrường thì được coi là rau đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm gọi tắt là rau an toàn
Các chỉ tiêu đánh giá mức độ bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm của sản phẩmrau đặt ra như sau
Về hình thái: sản phẩm thu hoạch đúng thời điểm, đúng yêu cầu của từng loạirau, đúng độ chín kỹ thuât ( hay thương phẩm), không dập nát , hư thối, không lẫn tạp,không sâu bệnh và có bao gói thích hợp
Về nội chất phải đảm bảo mức quy định cho phép
+ Dư lượng các loại hóa chất BVTV trong sản phẩm rau
+ Hàm lượng NO3 tích lũy trong sản phẩm rau
+ Hàm lượng tích lũy của một số kim loại nặng chủ yếu như:chì, thủy ngân,asen, cadimin, đồng
+ Mức độ ô nhiễm các loại vi sinh vật gây bệnh ( ecoli, sanmollela, trứng giun,sán v.v)
Sản phẩm rau an toàn chỉ được coi là đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, khihàm lượng tồn dư các chỉ tiêu trên không vượt quá giới hạn quy định
Tóm lại, theo quan điểm của nhiều nhà khoa học cho rằng: Rau an toàn là rauđược sản xuất theo quy trình kỹ thuật đáp ứng nhu cầu sau:
- Rau an toàn là rau đảm bảo phẩm cấp, chất lượng, không bị gây hại, dập nát,héo úa
- Dư lượng thuốc trừ sâu, BVTV hàm lượng NO3 và hàm lượng kim loại nặngdưới mức cho phép
- Không bị sâu bênh, không có vi sinh vật gây hại cho người và gia súc
1.2 CÁC CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ Ý ĐỊNH MUA
Trang 111.2.1 Lý thuyết Hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – viết tắt: TRA)
Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reason Action) được xây dựng bởi Ajzen
và Fishbein từ cuối thập niên 60 của thế kỷ 20 và được hiệu chỉnh mở rộng trong thậpniên 70
Theo lý thuyết TRA, ý định hành vi (Behavior Intention) của một người bị ảnhhưởng bởi hai yếu tố đó là thái độ (Attitude) và chuẩn chủ quan (Subjective Norm).Hai nhân tố này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến ý định hành vi và sau đó sẽ ảnh hưởng đếnhành vi của một cá nhân (Sudin, Geoffrey và Hanudin, 2009)
Theo TRA, thái độ là biểu hiện yếu tố cá nhân thể hiện niềm tin tích cực haytiêu cực của người tiêu dùng đối với sản phẩm Còn chuẩn chủ quan là “nhận thức áplực xã hội để thực hiện hay không thực hiện hành vi”
1.2.2 Lý thuyết Hành vi dự định (Theory of Planned Behaviour – viết tắt: TPB)
Để giải quyết hạn chế của thuyết TRA, Ajzen đã phát triển một lý thuyết gọi làThuyết hành vi dự định (TPB) vào năm 1985 “Thuyết hành vi dự định (TPB) là phần
mở rộng của lý thuyết hành động hợp lý (TRA), sự cần thiết ra đời của TPB bởi nhữnghạn chế của mô hình ban đầu trong đối phó với các hành vi mà con người có đầy đủquyền kiểm soát ý chí” (Ajzen, 1991)
Thuyết TPB được phát triển bằng cách thêm một thành phần được gọi là “nhậnthức kiểm soát hành vi” vào thuyết TRA Sau đó trong mô hình TPB, ý định hành vicủa một cá nhân là một chức năng có ba thành phần cơ bản là thái độ đối với hành vi,chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi
1.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.3.1 Thực trạng tiêu dùng rau, quả trên thế giới
Hiện nay trên thế giới rau là một loại thực phẩm không thể thiếu đối với ngườitiêu dùng Tùy theo phong tục tập quán của từng nước nó được sử dùng với nhiềuphương thức khác nhau Ở các nước đang phát triển, rau thường nấu chín và ăn nhưcác món ăn thêm hoặc ăn lẫn với thịt, cá hay các thức ăn khác Tại các nước phát triển,nhu cầu rau tươi rất cao Riêng đối với một số nước có mùa đông kéo dài thường phảidùng cả rau đông lạnh nhưng sở thích của họ vẫn là rau tươi Mội số loại rau có thể đểđông lạnh như đậu các loại v.v đối với các nước châu phi lại có kiểu sử dụng raukhác, so với tình hình sử dụng chung, ví dụ như trồng sắn ngoài việc ăn củ họ còndùng cả lá
Trang 12Mức tiêu thụ rau khác nhau cũng tùy theo mỗi quốc gia và còn phụ thuộc vàomức thu nhập, tuy nhiên một số nước còn phụ thuộc vào tập quán ăn uống của ngườidân ở đó
*EU
Theo euromonitor (2004), tổng mức tiêu thụ rau bào gồm cả khoai tây ở thịtrường EU đạt khoảng 29 triệu tấn, trong đó tiêu thụ khoai tây chiếm > 50% lượng rautiêu thụ và cà chua chiếm khoảng 10% Đức là thị trường tiêu thụ rau tươi lớn nhất EUvới lượng tiêu thụ khoảng 5,6 triệu tấn, tiếp đó là Anh , Italia và Hà lan
Với thị hiếu tiêu dừng các sản phẩm có lợi cho sức khỏe, anh có thị trường rauquả chế biến lớn nhất EU, chiếm 20% tổng giá trị toàn EU và đứng thứ 3 EU về sảnlượng tiêu thụ với 16% chỉ sau đức 21% và italy 17% Năm 2006, tiêu thụ rau quả chếbiến của anh có sản lượng 4,7 triệu tấn đạt 6 tỷ ero
Italia là nước tiêu thụ rau quả chế biến và bảo quản đứng thức 3 trong EU Từnăm 2001 đến năm 2005 trị giá rau quả chế biến và bảo quản tăng 4% Tiêu thụ rauquả chế biến và bảo quản bình quân đạt 84kg/ 1 người, cao hơn mức bình quân của EU62kg/ 1 người
* Thái Lan
Là một đất nước trồng rau nhiệt đới và ôn đới, nên chủng loại rau của thái lanrất phong phú Hiện nay có khoảng trên 100 loại rau được trồng ở nước này trong đó
có 45 loại được trồng phổ biến
Mức tiêu dùng rau bình quan tại thái lan là 53 kg/ người/ năm với các kênh tiêuthụ chủ yếu trên thị trường
Loại kênh thứ nhất: người sản xuất Nhóm nông dân tự thành lập -người bánbuôn ( tại băng cốc/ người chế biến/ người xuất khẩu -người bán buôn -người bán lẻ -người tiêu dùng)
Loại kênh thứ 2 : người sản xuất -người thu gom trên địa bàn trồng rau -thị trườngbán buôn trung tâm/người bán buôn tại băng cốc – người bán lẻ -người tiêu dùng
1.3.2 Thực trạng tiêu dùng rau an toàn ở Việt Nam
Đối với người Việt Nam rau là một loại thực phẩm không thể thiếu trong mỗibữa ăn, có thể nói đây là một sản phẩm quen thuộc và không thể thiếu Rau an toàn làmột sản phẩm mới, hiểu theo một cách nào đó với người Việt Nam rau an toàn thườngmang tính hiện đại và tính thương mại cao vì giá của nó
Trang 13Người tiêu dùng đã ý thức được các sản phẩm rau an toàn và tính quan trọngcủa sản phẩm này đối với sức khỏe trong tình hình sản xuất rau không đảm bảo nhất làdân cư ở các khu vực thành thị.
Trong những năm gần đây nhu cầu về sản phẩm rau an toàn trong nước ngàycàng gia tăng, tuy nhiên có một thực trạng và cho rằng đó cũng là một nghịch lý đã tồntại từ rất lâu trong tâm trí người tiêu dùng hiện nay đó là rau sản xuất không theo quitrình, không được kiểm soát lại bán được nhiều hơn so với rau sạch, rau an toàn do giáthành rẻ hơn Người tiêu dùng trong nước hoàn toàn ý thức được mức độ nguy hại từsản phẩm rau không an toàn, và họ đánh giá cao việc sản xuất các sản phẩm rau hữu cơ
và rau an toàn bằng việc sẵn sàng chấp nhận các sản phẩm này Tuy nhiên có hai lý dokhiến cho thị trường rau an toàn hiện nay ở Việt Nam đang là một dấu hỏi lớn:
+ Tôi không mua rau an toàn vì không biết địa chỉ bán rau an toàn
+ Tôi không mua rau an toàn vì tôi nghĩ rau an toàn cũng chưa chắc đảm bảo an
toàn ( O2tv.vn)
Hiện nay ở Việt Nam nhiều người sản xuất rau đã ý thức được tầm quan trọngcủa chất lượng sảm phẩm đối với người tiêu dùng nên họ cũng tự giác tuân thủ chặtchẽ các qui định trong sản xuất rau an toàn Nhưng làm cách nào để tất cả người tiêudùng đều được tiếp cận với rau an toàn đang là một điều mà nhiều nhà sản xuất và cácchuyên gia đầu ngành đau đầu suy nghĩ
1.3.3.Các công trình nghiên cứu liên quan
Nghiên cứu của Lê Anh Tuấn, tìm hiểu hệ thống thị trườngtiêu thụ rau quả quậnĐống Đa, 2001
Trong nghiên cứu này, tác giả dựa trên thực trạng thị trường rau quả của quậnphân tích ảnh hưởng của một số nhân tố chính tới quá trình hình thành và phát triển hệthống thị trường tiêu thụ rau an quả của quận đồng đề xuất một số biện pháp về sảnxuất và tiêu thụ rau quả góp phần hoàn thiện và phát triển thị trường
Trang 14Kết quả nghiên cứu này cho thấy, các kênh tiêu thụ của thị trườngrau quả quậnĐống Đa rất phong phú và đa dạng Mạng lưới chợ của quận tương đối nhiều nhưngquy mô nhỏ và cơ sở hạ tầng kém nên chưa đáp ứng được nhu cầu của người mua vàngười bán Số lượng người bán rong đông gây cản trở giao thông, mất vệ sinh môitrường và mất công bằng đối với những quầy bán lẻ Hoạt động cả kênh tiêu thụ chưahiệu quả, mang tính thời vụ Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động của hệ thốngthông tin thị trường nhất là vấn đề chất lượng sản phẩm.
Chính vì vậy, nghiên cứu cho rằng quận Đống Đa cần quan tâm hơn nữa đối với
hệ thống thông tin thị trường tiêu thụ rau quả, có chính sách hỗ trợ khuyến khích cácthành viên tham gia hệ thống thị trường, phát triển cơ sở hạ tầng và tăng cương côngtác quản lý, giám sát chất lượng, tổ chức kinh doanh Ban quản lý các chợ cần bố tríhợp lý vị trí quầy hàng cho phù hợp, tăng cường công tác bảo vệ, quản lý và giữ gìn vệsinh Các thành phần tham gia thị trường cần có phương pháp cần có phương hướngkinh doanh lâu dài, nâng cao trình độ hiểu biết về thị trường, từng bước mở rộng quy
mô kinh doanh
CIRAD, nhận thức của người tiêu dùng rau Hà Nội (cà chua và rau muống)consumer perception of vegatable (tomatoes and water morning glories) quality in HaNoi, 2003
Năm 2003, dự án SUSPER đã tiến hành điều trau 500 người tiêu thụ tại Hà Nội
về những đánh giá (nhận thức) của họ về rau quả vùng ven đô (chủ yếu về cà chua vàrua muống) Nghiên cứu tập trung vào đánh giá của người tiêu thụ về chất lượng sảnphẩm nhập từ Trung Quốc, Đà Lạt từ vùng ven đô, sản phẩm hữu cơ, sản phẩm antoàn (rau quả sạch) và các sản phẩm bán tại các siêu thị Nghiên cứu chỉ ra rằng có haimặt nổi lên khi đưa ra những nhận xét về chất lượng các sản phẩm là liên quan tới sứckhỏe con người và mẫu mà hình thức về ngoài của sản phẩm Các sản phẩm của TrungQuốc luôn bị đánh giá thấp trong mọi trường hợp Các sản phẩm bán tại siêu thị đượcđánh giá cao nhưng được xem là đắt Rau hữu cơ và rau sạch thì có hình thức khôngđẹp và không tạo được sự tin cậy Ngược lại rau của vùng ven đô có hình thức tốt vàtạo được cho là có chất lượng nhưng lại không được xem là tốt cho sức khỏe Niềm tinvào chất lượng sản phẩm được tạo nên hình ảnh người bán cũng như địa điểm bán sảnphẩm cuối cùng, nghiên cứu đã đưa ra một số đề xuất nâng cao khả năng marketingsản phẩm
Trang 15Bùi Thị Gia- 2001: Những biện pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất rau ởhuyện Gia Lâm, Hà Nội Luận án tiến sĩ kinh tế, trường đại học nông nghiệp Hà Nội.
+ Tóm tắt nội dung
Rau là loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày Rau còn có giátrị kinh tế như để xuất khẩu, làm nguyên liệu cho chế biến, cung cấp thức ăn cho chănnuôi Phát triển sản xuất rau còn là tác dụng tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho
hộ gia đình
Tuy nhiên sản xuất rau có ý nghĩa lớn về mặt dinh dưỡng, kinh tế, xã hội nhưngkhi chuyển sang nền kinh tế thị trường, ngành sản xuất rau bị thả nổi từ khâu sản xuấtđến tâm lý mở rộng và thu nhập của người trồng rau
Về thực hiện các biện pháp kĩ thuật và thiếu sự chỉ đạo của các cấp các ngànhnên dẫn đến hiện tượng lạm dụng các chế phẩm và ô nhiễm môi trường, đất và nước.đây là một vấn đề quan trọng đòi hỏi các cơ quan chức năng phải có những giải pháptrong thời gian tới để sản phẩm rau của nước ta sánh với thực phẩm của các nước tiêntiến và đáp ứng yêu cầu chất lượng ngày càng cao của người tiêu dùng
Gia lâm là một huyện thuộc vành đai thực phẩm củaHà Nội, cung ứng lượngrau lớn cho thành phố, nhưng sản xuất rau còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu và giảiquyết:
Chất lượng rau chưa cao, phẩm chất và độ an toàn kém xa tiêu chuẩn quốc tế.Vậy gia lâm giải quyết những vấn đề gì để nâng cao chất lượng rau?
Việc tiêu thụ rau của nông dân còn nhiều khó khăn, ách tắc, gây nhiều thiệt thòicho người trồng rau
Việc sử dụng quá mức khuyến cáo các loại pân bón hóa học và thuốc bảo vệthực vật
Kết quả nghiên cứu của đề tài
Thực trạng phát triển sản xuất rau của huyện
+ Diện tích, năng suất và sản lượng rau của huyện Gia Lâm
Diện tích trồng rau của huyện gia lâm trong vòng 8 năm trở lại đây có xu hướngtăng liên tục, bình quân mỗi năm 7% So với toàn thành phó, gia lâm có diện tích gieotrồng đứng thứ 2 sau đông anh Năng suất đạt 120ta/ha, năm cao nhất đạt 153,3 tạ/ha.Năng suất rau của gia lâm chưa cao và không ổn định
+ Chất lượng rau và các yếu tố ảnh hưởng
Trang 16Phẩm cấp rau loại A còn thấp, chiếm 60- 70%, loại C chiếm 13,5%- 14,3% tùytheo loại rau Rau sản xuất chưa đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm nguyên nhân là
do tác động nhiều yếu tố đặc biệt là lạm dụng thuốc sâu, phân hóa học và không đảmbảo thời gian cách ly
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất rau huyện gia lâm
Mức sử dụng phân đạm/ đơn vị diện tích là khá cao nhưng thiếu cân đối, trong
đó kali chưa được coi trọng việc sử dụng đầu vào không hiệu quả, ảnh hưởng đến chấtlượng rau
Yếu tố con người: trình độ hiểu biết của người nông dân thấp, tuy nhiên họ cóhiểu biết nhiều biểu hiện sử dụng đúng liều lượng, cân đối và tiết kiệm giống và tậndụng lao động để đầu tư chăm sóc năng suất cao hơn nhóm hộ ít hiểu biết
Vấn đề sản xuất rau an toàn
Sản xuất rau an toàn trong thời gian qua tiến triển chậm nhưng bước đầu đãđem đến cho người nông dân những hiểu biết mới về kỹ thuật canh tác, môi trường,sức khỏe cộng đồng… là sự khởi đầu cho nền nông nghiệp sinh thái
Những khó khăn, hạn chế và những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong phát triểnsản xuất rau ở Gia Lâm
Tìm hiểu những khó khăn của người sản xuất rau cho thấy: 51% số hộ thiếu vốnsản xuất, 46% số hộ cho rằng sản xuất rau đòi hỏi quá nhiều công lao động
+ Khó khăn và hạn chế
- Sản xuất rau nhỏ lẻ, sức ép và đô thị hóa ngày một mạnh mẽ hơn đòi hỏi nângcao chất lượng đáp ứng nhu cầu thì trường
- Mặt bằng hiểu biết về kỹ thuật và ý thức của nông dân còn hạn chế
- An toàn thực phẩm chưa bảo đảm
- Cơ sở vật chất còn thiếu
- Tiêu thụ sản phẩm còn khó khăn
+ Hướng giải quyết