1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế đối với doanh nghiệp tại văn phòng cục thuế tỉnh hải dương

141 412 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 2,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn hết, nâng cao chất lượng dịch vụ công cần phải tạo điều kiện để xã hội dân sự cũng như các nhà quản lý, hoạch định chính sách chú trọng tới sự bình đẳng trong cung cấp dịch

Trang 1

VŨ QUÝ THANH

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI VĂN PHÒNG CỤC THUẾ TỈNH HẢI DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

VŨ QUÝ THANH

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI VĂN PHÒNG CỤC THUẾ TỈNH HẢI DƯƠNG

Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH

Mã số: 60 34 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS MAI NGỌC CƯỜNG

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa công bố tại bất cứ nơi nào Mọi số liệu sử dụng trong luận văn này là những thông tin xác thực

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình

Thái Nguyên,ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Vũ Quý Thanh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến giảng viên hướng dẫn khoa học - GS.TS.Mai Ngọc Cường đã tâ ̣n tình giúp đỡ, chỉ bảo và hướng dẫn để tác giả có thể hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu của mình

Tác giả cũng xin gửi lờ i cảm ơn đến các thầy cô giáo Trường Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh, đã tâ ̣n tình giúp tác giả tiếp thu được nhiều kiến thứ c và kinh nghiê ̣m quý giá cho bản thân

Tác giả xin gử i lời cảm ơn đến bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, hỗ trợ tác giả trong việc thu thập số liệu, tài liê ̣u phu ̣c vu ̣ cho viê ̣c nghiên cứu

Và cuối cù ng, tác giả cảm ơn gia đình, người thân đã ở bên ca ̣nh động viên và khích lệ trong suốt thờ i gian học tâ ̣p và nghiên cứu tại trường

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên,ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Vũ Quý Thanh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH x

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Ý nghĩa khoa học của luận văn 3

5 Bố cục luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 5

1.1 Cơ sở lý luận về dịch vụ và chất lượng dịch vụ 5

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm dịch vụ 5

1.1.2 Chất lượng dịch vụ 9

1.1.3 Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng 14

1.1.4 Mô hình đo lường chất lượng dịch vụ SERVQUAL và biến thể SERVPERF 16

1.1.5 Chất lượng dịch vụ hành chính thuế 22

1.2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế ở một số địa phương và bài học rút ra cho Văn phòng Cục thuế Hải Dương 32

1.2.1 Kinh nghiệm của một số địa phương 32

1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho Văn phòng Cục thuế tỉnh Hải Dương 38

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 39

2.2 Phương pháp nghiên cứu 39

2.2.1 Mô hình nghiên cứu của đề tài 39

Trang 6

2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 40

2.2.3 Phương pháp tổng hợp thông tin 43

2.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 43

2.3 Hệ thống chỉ tiêu phân tích 46

Chương 3: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI VĂN PHÒNG CỤC THUẾ HẢI DƯƠNG 49

3.1 Khái quát về Văn phòng Cục thuế Hải Dương 49

3.1.1 Sự hình thành và phát triển văn phòng cục thuế Hải Dương 49

3.1.2 Sơ đồ bộ máy tổ chức của Văn phòng Cục thuế Hải Dương 50

3.1.3 Kết quả thu ngân sách của Văn phòng cục thuế tỉnh Hải Dương 68 3.2 Thực trạng cung ứng dịch vụ thuế tại Văn phòng cục thuế Hải Dương 70

3.2.1 Công tác đăng kí và kê khai nộp thuế 70

3.2.2 Công tác thanh tra, kiểm tra 72

3.2.3 Công tác tuyên truyền và hỗ trợ 76

3.2.4 Công tác quản lý và cưỡng chế nợ 77

3.2.5 Quy trình cung cấp dịch vụ hành chính thuế 79

3.3 Kết quả nghiên cứu thực trạng chất lượng dịch vụ hành chính thuế đối với doanh nghiệp tại Văn phòng Cục thuế Hải Dương bằng mô hình SERVPERF 80

3.3.1 Đánh giá độ tin cậy 80

3.3.2 Phân tích nhân tố 84

3.3.3 Kiểm định sự phù hợp của mô hình - Phân tích hồi quy 89

3.3.4 Kiểm định giả thuyết của mô hình 91

3.3.5 Sự phù hợp của mô hình 94

3.3.6 Kiểm tra hiện tượng tự tương quan, đa cộng tuyến 95

3.4 Đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong đánh giá chất lượng phục vụ hành chính thuế đối với doanh nghiệp tại Văn phòng cục thuế Hải Dương 95

Trang 7

3.4.1 Những kết quả đạt được 96

3.4.2 Những hạn chế 100

3.4.3 Nguyên nhân của hạn chế 101

Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI VĂN PHÒNG CỤC THUẾ HẢI DƯƠNG 103

4.1 Phương hướng, mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế đối với doanh nghiệp tại Văn phòng Cục thuế Hải Dương 103

4.1.1 Phương hướng 103

4.1.2 Mục tiêu 103

4.2 Những giải pháp chủ yếunâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế đối với doanh nghiệp tại Văn phòng Cục thuế Hải Dương 104

4.2.1.Giải pháp chungnhằm nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế đối với doanh nghiệp tại Văn phòng Cục thuế Hải Dương 104

4.2.2 Các giải pháp cụ thể để nâng cao chất lượng các nhân tố cấu thành chất lượng dịch vụ hành chính thuế 108

4.2.2.1 Về chính sách nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế 108

4.2.2.2 Các giải pháp nâng cao sự tin cậy 109

4.2.2.3 Các giải pháp nâng cao năng lực của công chức tại văn phòng cục thuế 110

4.2.2.4 Các giải pháp đối với thái độ của công chức tại văn phòng cục thuế 112

4.2.2.5 Các giải pháp nâng cao chất lượng yếu tố hữu hình của văn phòng cục thuế 113

4.3 Một số kiến nghị 116

4.3.1 Đối với Tổng cục thuế 116

4.3.2 Đối với Bộ Tài Chính 117

4.3.3 Đối với Văn phòng cục thuế tỉnh Hải Dương 118

KẾT LUẬN 119

TÀI LIỆU THAM KHẢO 121

Trang 8

PHỤ LỤC 123

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Thông tin về mẫu nghiên cứu 43

Bảng 2.2: Thang đo các thành phần chất lượng dịch vụ hành chính thuế 47

Bảng 3.1: Kết quả đăng ký và kê khai thuế qua mạng Internet tại Văn phòng cục thuế Hải Dương, giai đoạn 2011-2015 71

Bảng 3.2: Kế hoa ̣ch thanh tra doanh nghiệp của Văn phòng 72

Bảng 3.3: Kết quả doanh nghiệp vi phạm tại 73

Bảng 3.4: Kết quả truy thu thuế, số phạt và số truy hoàn của các doanh nghiệp tạiVăn phòng Cục thuế Hải Dương từ năm 2011 - 2015 77

Bảng 3.5: Độ tin cậy Cronbach Alpha- Hữu hình 80

Bảng 3.6: Độ tin cậy Cronbach Alpha - Tin cậy 81

Bảng 3.7: Độ tin cậy Cronbach Alpha - Năng lực 82

Bảng 3.8: Độ tin cậy Cronbach Alpha - Thái độ 83

Bảng 3.9: Độ tin cậy Cronbach Alpha - Chính sách 83

Bảng 3.10: Phân tích nhân tố 84

Bảng 3.11: Các thành phần thang đo SERVPERF sau khi phân tích nhân tố 87

Bảng 3.12: Độ tin cậy Crobach Alpha - Năng lực 87

Bảng 3.12a: Thống kê độ tin cậy 87

Bảng 3.12b:Thống kê biến tổng 87

Bảng 3.13: Độ tin cậy Crobach Alpha - Tin cậy 88

Bảng 3.14: Độ tin cậy Crobach Alpha - Hữu hình 88

Bảng 3.15: Độ tin cậy Crobach Alpha - Thái độ 88

Bảng 3.16: Độ tin cậy Crobach Alpha - chính sách 89

Bảng 3.17: Ma trận hệ số tương quan 89

Trang 11

Bảng 3.18: Phân tích Hồi quy đa biến 90

Bảng 3.19: Kết quả kiểm định mối quan hê ̣ giữa yếu tố hữu hình và chất lượng phục vụ 91

Bảng 3.20:Kết quả kiểm định mối quan hê ̣ giữa yếu tố chính sách và chất lượng phục vụ 92

Bảng 3.21:Kết quả kiểm định mố i quan hê ̣ giữa yếu tố thái độ và chất lượng phục vụ 92

Bảng 3.22: Kết quả kiểm định mối quan hê ̣ giữa yếu tố năng lực và chất lượng phục vụ 93

Bảng 3.23: Kết quả kiểm định mố i quan hê ̣ giữa yếu tố tin cậy và chất lượng phục vụ 93

Bảng 3.24: Hệ số xác định R2 94

Bảng 3.25: Phân tích phương sai 94

Bảng 3.26: Thống kê mô tả yếu tố hữu hình 96

Bảng 3.27: Thống kê mô tả yếu tố tin cậy 96

Bảng 3.28: Thống kê mô tả yếu tố năng lực 97

Bảng 3.29: Thống kê mô tả yếu tố thái độ 97

Bảng 3.30: Thống kê mô tả yếu tố chính sách 98

Bảng 3.31: Thống kê mô tả về chất lượng dịch vụ 98

Trang 12

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Bốn đặc điểm cơ bản của dịch vụ 8

Hình 1.2 Thang đo SERVQUAL (Parasuraman et al, 1985) 19

Hình 1.3 Mô hình SERVQUAL 21

Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu của đề tài 39

Hình 3.1: Biểu đồ kết quả thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hải Dương từ năm 2011-6T/2015 50

Hình 3.2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý tại Cục thuế tỉnh Hải Dương 54

Hình 3.3: Sơ đồ bộ máy tổ chức Văn phòng Cục Thuế Hải Dương 55

Hình 3.4: Biểu đồ phân bố phần dư 95

Biểu đồ 3.1: Tỷ lê ̣ kế hoa ̣ch thanh tra doanh nghiệp so với số doanh nghiệp đang hoa ̣t đô ̣ng của Văn phòng cục thuế Hải Dương từ năm 2011-2015 73

Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ doanh nghiệp vi phạm so với doanh nghiệp được thanh tra tại VP cục thuế Hải Dương giai đoạn 2011-2015 74

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nâng cao chất lượng dịch vụ công là một vấn đề trọng tâm, đồng thời cũng

là vấn đề về tổ chức thực thi của nhiều cơ quan, tổ chức hơn là cách tiếp cận từ phía những kết quả đạt được của một tổ chức đơn lẻ Theo một cách tiếp cận khác, nâng cao chất lượng dịch vụ công được thể hiện qua việc quản lý chất lượng dịch vụ.Đó là một quá trình giảm thiểu khoảng cách tổ chức thực hiện giữa chủ thể cung ứng dịch vụ với những mong muốn của khách hàng Theo đó, để nâng cao

chất lượng dịch vụ, những nhà quản lý phải nhận thức được “định hướng khách hàng”, xác định rõ những phương thức cần tổ chức thực thi

Hơn hết, nâng cao chất lượng dịch vụ công cần phải tạo điều kiện để xã hội dân sự cũng như các nhà quản lý, hoạch định chính sách chú trọng tới sự bình đẳng trong cung cấp dịch vụ công tới người dân.Quá trình này cần thiết phải được đánh giá, đo lường trong mối tương quan với nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công trên nền tảng những tiêu chí đánh giá nhất định Các nhà khoa học hành chính cho rằng lãnh đạo tổ chức cũng như các nhà hoạch định chính sách

đo lường, đánh giá hiệu quả hoạt động của khu vực công, nhằm tiếp cận hơn nữa tới sự hiệu quả, chất lượng hoạt động và nâng cao tỷ lệ sự hài lòng của người dân đối với nền hành chính công Đây chính là một trong những công cụ quan trọng nhằm nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công nói chung, dịch vụ hành chính công nói riêng Hơn nữa, cần có một sự kiểm soát về chất lượng dịch vụ

mà các cơ quan công quyền cung cấp, theo đó, kết quả tác động có giá trị quan trọng, nâng cao chất lượng của nền hành chính

Hiện nay, Đảng và Nhà nước vẫn xác định nhiệm vụ trọng tâm của quá trình xây dựng và hoàn thiện hiệu lực của bộ máy Nhà nước là cải cách hành chính Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg ngày 5/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ về viê ̣c áp dụng Hê ̣ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2008 vào hoa ̣t đô ̣ng của các cơ quan, tổ chức thuô ̣c hê ̣ thống hành chính nhà

Trang 14

nướcvà hiện nay là ISO 9001:2015 thay thế cho tiêu chuẩn ISO 9001:2008 của tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) ban hành ngày 15/09/2015 Nhận thức được tầm quan trọng của dịch vụ hành chính thuế đối với các đối tượng nộp thuế làm sao để tăng ngân sách nhà nước? Người nộp thuế có hài lòng và đánh giá cảm nhận của mình về cơ quan nhà nước như thế nào? Các cán bộ công chức ngành thuế chưa thực sự coi người nộp thuế là khách hàng để phục vụ Chính vì vậy,

tác giả đã chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế đối với doanh nghiệp tại Văn phòng Cục thuế tỉnh Hải Dương” làm luận văn thạc sỹ

nhằm đánh giá chất lượng cung ứng dịch vụ thuế Đề tài sử dụng mô hình SERVPERF nhằm đo lường mức độ hài lòng của các tổ chức, công dân nộp thuế tại Văn phòng cục thuế Hải Dương

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng để tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế đối với doanh nghiệp tại Văn phòng Cục thuế tỉnh Hải Dương, góp phần tăng sự hài lòng của khách hàng, nâng cao hiệu quả của công tác thu thuế, nâng cao chỉ số CPI

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng dịch

vụ hành chính thuế đối với doanh nghiệp;

- Phân tích thực trạng chất lượng dịch vụ hành chính thuế đối với doanh nghiệp tại văn phòng cục thuế tỉnh Hải Dương hiện nay, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế;

- Kiến nghị phương hướng và giải pháp giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế tại Văn phòng Cục thuế Hải Dương

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các yếu tố cấu thành chất lượng dịch vụ dịch vụ hành chính thuế tại Văn phòng cục thuế Hải Dương

Trang 15

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu số liệu thứ cấp năm 2011-2015 và

số liệu sơ cấp được thu thập tháng 12/2015

- Về không gian: Luận văn nghiên cứu tại Văn phòng Cục thuế Hải Dương

- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ thuế bằng mô hình SERVPERF nhằm nâng cao chất lượng cảm nhận của người nộp thuế tại VPCT Hải Dương Dịch vụ thuế đề cập ở đề tài này là tất cả những hoạt động của cơ quan thuế trong quá trình phục vụ, hỗ trợ đối tượng nộp thuế nhằm tạo thuận lợi cho việc thực hiện tuân thủ thuế và quản lý người nộp thuế Các dịch vụ này được quy định trong nhiệm vụ, chức năng của tổ chức bộ máy của Cục thuế

4 Ý nghĩa khoa học của luận văn

Đề tài: “Nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế đối với doanh nghiệp tại Văn phòng Cục thuế tỉnh Hải Dương” là một đề tài còn mới, chưa

có đề tài nghiên cứu về chất lượng dịch vụ hành chính thuế bằng mô hình SERVPERF tại Văn phòng cục thuế Hải Dương

Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về dịch vụ, chất lượng dịch vụ, chất lượng dịch vụ hành chính thuế đối với các đối tượng nộp thuế là các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Dương

Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa thực tiễn rất lớn.Hướng nghiên cứu chủ yếu của đề tài là tập trung vào đối tượng nộp thuế là các doanh nghiệp

và xem xét chất lượng cảm nhận của người nộp thuế đối với sự phục vụ của Văn phòng cục thuế Hải Dương Kết quả nghiên cứu của đề tài, là tài liệu tham khảo cho chương trình giảng dạy bậc Đại học và Cao học trong chuyên ngành Quản trị kinh doanh Đồng thời, kết quả nghiên cứu còn là cơ sở để các nhà hoạch định chính sách trong ngành thuế trên địa bàn thành phố Hải Dương tham khảo đề ra các chính sách phục vụ người nộp thuế cho phù hợp với điều kiện thực tế

Trang 16

5 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận văn bao gồm

4 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng dịch vụ hành

chính thuế đối với doanh nghiệp

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng chất lượng dịch vụ hành chính thuế đối với doanh

nghiệp tại Văn phòng Cục thuế Hải Dương

Chương 4: Một số giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính

thuế đối với doanh nghiệp tại Văn phòng Cục thuế Hải Dương

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ

HÀNH CHÍNH THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP

1.1 Cơ sở lý luận về dịch vụ và chất lượng dịch vụ

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm dịch vụ [1]

Dịch vụ đã có từ lâu và giữ vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội Kinh tế ngày càng phát triển, dịch vụ ngày càng giữ vị trí quan trọng

 Khái niệm dịch vụ

Dịch vụ là một quá trình hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự thay đổi quyền sở hữu Sản phẩm của dịch vụ

có thể trong phạm vi hoặc vượt quá phạm vi của sản phẩm vật chất

Từ quan niệm trên chúng ta thấy rằng dịch vụ phải gắn với hoạt động để tạo ra nó.Các nhân tố cấu thành dịch vụ không như những hàng hóa hiện hữu, chúng không tồn tại dưới dạng hiện vật.Sản phẩm dịch vụ nằm trong trạng thái vật chất, nguời ta có thể nghe được và một số giác quan có thể cảm nhận được

Như vậy dịch vụ là một loại sản phẩm vô hình Khách hàng nhận được sản phẩm này thông qua các hoạt động giao tiếp, nhận thông tin và cảm nhận Đặc điểm nổi bật là khách hàng chỉ có thể đánh giá được toàn bộ chất lượng của những dịch vụ sau khi đã “mua” và “sử dụng” chúng

Mỗi loại dịch vụ mang lại cho người tiêu dùng một giá trị nào đó.Giá trị của dịch vụ gắn liền với lợi ích mà họ nhận được từ giá trị dịch vụ.Như vậy ở đây chưa bàn tới hàng hóa của giá trị dịch vụ mang tính học thuật như trong kinh tế chính trị, cũng chưa phải là giá trị sử dụng, vì giá trị sử dụng có phạm

vi rộng lớn hơn.Giá trị ở đây thỏa mãn giá trị mong đợi của người tiêu dùng,

nó có quan hệ mật thiết với lợi ích tìm kiếm và động cơ mua dịch vụ.Những giá

trị của hệ thống dịch vụ được gọi là chuỗi giá trị.Chuỗi giá trị mang lại lợi ích tổng thể cho người tiêu dùng dịch vụ Trong chuỗi giá trị có giá trị của dịch vụ

Trang 18

chính do những hoạt động chủ yếu trong dịch vụ tạo ra và mang lại lợi ích cơ bản cho người tiêu dùng Tương tự, giá trị của dịch vụ phụ do những hoạt động phụ trợ tạo nên và mang lại lợi ích phụ thêm Đối với cùng loại dịch vụ có chuỗi giá trị chung thể hiện mức trung bình mà xã hội có thể đạt được và được thừa nhận Song bên cạnh những chuỗi giá trị chung đó có chuỗi giá trị riêng của từng nhà cung cấp

Để hiểu rõ sâu hơn dịch vụ, chúng ta tiểu hiểu những vấn đề liên quan đến sản xuất cung ứng dịch vụ

 Dịch vụ cơ bản: là hoạt động dịch vụ tạo ra giá trị thỏa mãn lợi ích cốt lõi của người tiêu dùng Đó chính là mục tiêu tìm kiếm của người mua

 Dịch vụ bao quanh: là những dịch vụ phụ hoặc các khâu độc lập của dịch vụ được hình thành nhằm mang lại giá trị phụ thêm cho khách hàng Dịch

vụ bao quanh có thể nằm trong hệ thống của dịch vụ cơ bản và tăng thêm lợi ích cốt lõi hoặc có thể là lợi ích độc lập mang lại lợi ích phụ thêm

 Dịch vụ sơ đẳng: bao gồm dịch vụ cơ bản và dịch vụ bao quanh của doanh nghiệp phải đạt tới một mức độ nào đó và tương ứng người tiêu dùng nhận được một chuỗi giá trị xác định nào đó phù hợp với chi phí mà khách hàng đã thanh toán Dịch vụ sơ đẳng gắn liền với cấu trúc dịch vụ, với các mức và các quy chế dịch vụ của những nhà cung cấp

 Dịch vụ tổng thể: là hệ thống dịch vụ bao gồm dịch vụ cơ bản, dịch vụ bao quanh, dịch vụ sơ đẳng Dịch vụ tổng thể thường không ổn định, nó phụ thuộc vào các dịch vụ thành phần hợp thành Doanh nghiệp cung ứng cho khách hàng dịch vụ tổng thể khi tiêu dùng nó Dịch vụ tổng thể thay đổi thì lợi ích cũng thay đổi

 Đặc điểm của dịch vụ

Dịch vụ là một hàng hóa đặc biệt, nó có những nét đặc trưng riêng mà hàng hóa hữu hình không có Dịch vụ có 4 đặc điểm nổi bậc của nó đó là:

Trang 19

Dịch vụ có tính không hiện hữu: Đây là đặc điểm cơ bản của dịch vụ

Với đặc điểm này cho thấy dịch vụ là vô hình, không tồn tại dưới dạng vật thể Tuy vậy sản phẩm dịch vụ mang nặng tính vật chất Tính không hiện hữu được biểu lộ khác nhau đối với từng loại dịch vụ Nhờ đó người ta có thể xác định được mức độ sản phẩm hiện hữu, dịch vụ hoàn hảo và các mức độ trung gian giữa dịch vụ và hàng hóa hiện hữu

Trên thực tế từ hàng hóa hiện hữu tới dịch vụ phi hiện hữu có 4 mức độ sau:

- Hàng hóa hiện hữu hoàn hảo

- Hàng hóa hoàn hảo: bao gồm hàng hóa hiện hữu khi tiêu dùng phải có dịch vụ đi kèm để tăng sự thỏa mãn

- Dịch vụ chủ yếu, được thỏa mãn thông qua sản phẩm hàng hóa hiện hữu

- Dịch vụ hoàn hảo: hoàn toàn không hiện hữu

Để nhận biết dịch vụ thông thường phải tìm hiểu qua những đầu mối vật chất trong môi trường hoạt động dịch vụ

Dịch vụ có tính không đồng nhất: Sản phẩm dịch vụ không tiêu chuẩn

hóa được Trước hết do hoạt động cung ứng Các nhân viên cung cấp dịch vụ không thể tạo ra được dịch vụ như nhau trong những khoảng thời gian làm việc khác nhau Hơn nữa khách hàng tiêu dùng là những người quyết định chất lượng dịch vụ dịch vụ dựa vào cảm nhận của họ Trong những thời gian khác nhau sự cảm nhận cũng khác nhau, những khách hàng khác nhau cũng có sự cảm nhận khác nhau Sản phẩm dịch vụ sẽ có giá trị cao khi thỏa mãn nhu cầu riêng biệt của khách hàng Như vậy trong cung cấp dịch vụ thường thực hiện

cá nhân hóa, thoát ly khỏi những quy chế Điều đó càng làm tăng thêm sự khác biệt giữa chúng

Dịch vụ có đặc tính không tách rời: Sản phẩm dịch vụ gắn liền với

hoạt động cung cấp dịch vụ Các sản phẩm cụ thể là không đồng nhất nhưng mang tính hệ thống, đều từ cấu trúc của dịch vụ cơ bản phát triển thành Một

Trang 20

sản phẩm dịch vụ cụ thể gắn liền với cấu trúc của nó và kết quả của quá trình hoạt động của hệ thống cấu trúc đó

Sản phẩm dịch vụ mau hỏng: Dịch vụ không thể tồn kho, không cất

giữ và không thể vận chuyển từ nơi này đến nơi khác Dịch vụ có tính mau hỏng như vậy nên việc sản xuất mua bán và tiêu dùng dịch vụ bị giới hạn bởi thời gian

Đặc tính mau hỏng của dịch vụ quy định sản xuất và tiêu dùng dịch vụ phải đồng thời, trực tiếp, trong một thời gian giới hạn

Hình 1.1: Bốn đặc điểm cơ bản của dịch vụ [1]

Không hiện hữu

Không tách rời

Không đồng nhất

Mau hỏng

Dịch vụ

Trang 21

 Sự khác biệt của dịch vụ so với sản phẩm hữu hình (theo Ghobadian,

Speller & Jones, 1993; Groth& Dye, 1994; Zeithaml et al., 1990, dẫn theo Thongsamak, 2001)

1 Vô hình: Sản phẩm của dịch vụ là sự thực thi Khách hàng không thể

thấy, nếm, sờ, ngửi…trước khi mua

2 Không đồng nhất: Gần như không thể cung ứng dịch vụ hoàn toàn

giống nhau

3 Không thể chia tách: Quá trình cung ứng dịch vụ cũng là tiêu thụ dịch

vụ, do vậy, không thể dấu được các sai lỗi của dịch vụ

4 Dễ hỏng: Dịch vụ không thể tồn kho Không thể kiểm tra chất lượng

trước khi cung ứng, người cung cấp chỉ còn cách làm đúng từ đầu và làm đúng mọi lúc

5 Không thể hoàn trả: Nếu khách hàng không hài lòng, họ có thể được

hoàn tiền nhưng không thể hoàn dịch vụ

6 Nhu cầu bất định: Độ bất định nhu cầu dịch vụ cao hơn sản phẩm hữu

hình nhiều

7 Quan hệ qua con người: Vai trò con người trong dịch vụ rất cao và

thường được khách hàng thẩm định khi đánh giá dịch vụ

8 Tính cá nhân: Khách hàng đánh giá dịch vụ dựa vào cảm nhận cá nhân

vụ là vấn đề lớn đặt ra đối với các nhà nghiên cứu.Chất lượng thực tế và những yếu tố chi phối nó hiện nay chưa lượng hóa được.Tầm quan trọng của chất

Trang 22

lượng dịch vụ đối với doanh nghiệp và khách hàng có sự khác nhau rất lớn Chất lượng dịch vụ chi phối mạnh đến việc tăng thị phần, tăng khả năng thu hồi vốn đầu tư, tăng năng suất lao động, hạ thấp chi phí sản xuất và cuối cùng

là tăng lợi nhuận Đó là những lợi ích có tính chiến lược lâu dài đối với doanh nghiệp dịch vụ Chúng ta không thể sử dụng phương pháp kiểm tra, kiểm soát

và quản trị chất lượng của hàng hóa hiện hữu sang áp dụng cho dịch vụ bởi vì dịch vụ có những đặc tính riêng biệt nó chi phối quá trình hình thành, vận động chất lượng

1.1.2.1 Nhận thức chung về chất lượng dịch vụ

Theo Zeithaml (1987): Chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng

về tính siêu việt và sự tuyệt vời nói chung của một thực thể Nó là một dạng của thái độ và các hệ quả từ một sự so sánh giữa những gì được mong đợi và nhận thức về những thứ ta nhận được

Lewis và Booms phát biểu: Dịch vụ là một sự đo lường mức độ dịch vụ

được đưa đến khách hàng tương xứng với mong đợi của khách hàng tốt đến đâu Việc tạo ra một dịch vụ chất lượng nghĩa là đáp ứng mong đợi của khách hàng một cách đồng nhất

Từ ngữ chất lượng có nhiều nghĩa và có thể sử dụng nhiều cách.Garvin (1984) xác định năm phương cách để hiểu ý niệm về chất lượng

 Phương cách siêu việt theo định nghĩa của Pocket Orford Dictionry

là “mức độ siêu việt, bản chất tương đối” Chất lượng trong trường hợp này là

sự siêu việt nội tại Nó phản ảnh điều gì đó tốt nhất

 Phương cách dựa trên sản xuất liên quan đến sự phù hợp với thiết kế

hay qui cách Một dịch vụ hay sản phẩm chất lượng sẽ không có một sai sót nào so với qui cách

 Phương cách dựa theo người sử dụng chấp nhận rằng một dịch vụ

hay sản phẩm nào đó đáp ứng những đòi hỏi của người sử dụng thì đó là một

Trang 23

dịch vụ hay sản phẩm chất lượng Một cụm từ cho phương cách này là đáp ứng đúng mục đích

 Phương cách dựa trên sản phẩm là một phương cách dựa trên số

lượng và chỉ xét đến những đặc tính đo lường được

 Phương cách dựa trên giá trị đưa chi phí hay giá cả vào phương trình

Một mặt hàng nào đó sẽ được cung cấp ít hay nhiều tùy theo giá của nó

1.1.2.2 Những đặc điểm nổi bật của dịch vụ chi phối đến chất lượng

Như đã trình bày phần trên, dịch vụ có 4 đặc điểm cơ bản và 4 đặc điểm

này chi phối đến chất lượng

Thứ nhất, dịch vụ có đặc tính không hiện hữu (vô hình) vì chúng là tập

hợp chứ không phải các yếu tố vật chất hiện hữu do vậy rất khó quán xuyến đến chất lượng động bộ Hầu hết các dịch vụ không đếm được, không đo lường được, không dự trữ, không kiểm nghiệm được Đặc biệt dịch vụ không thể kiểm tra trước khi bán để đảm bảo chất lượng Do tính không hiện hữu nên các doanh nghiệp cảm thấy khó khăn để hiểu khách hàng tiếp nhận dịch vụ và đánh giá dịch vụ như thế nào

Thứ hai, dịch vụ đặc biệt là với hàm lượng lao động lớn thường không

đồng nhất Việc thực hiện dịch vụ khó thay đổi đối với từng người cung cấp, từng khách hàng và từng thời điểm cụ thể Sự tương thích về hành vi của các nhân viên dịch vụ là rất khó đảm bảo Dịch vụ doanh nghiệp dự định cung cấp cho khách hàng khác với dịch vụ thực tế mà khách hàng nhận được

Thứ ba, sản xuất và dịch vụ đồng thời, không chia tách, kết quả là chất

lượng dịch vụ không được thiết kế và tạo ra tại nhà máy sau đó phân phối rộng rãi cho khách hàng Trong các dịch vụ sử dụng nhiều lao động, chất lượng xuất hiện trong khi chuyển giao phân phối dịch vụ, khi tác động qua lại giữa nhân viên cung cấp dịch vụ và khách hàng Doanh nghiệp dịch vụ thực hiện kiểm soát với mức độ nhất định lên chất lượng dịch vụ đối với những dịch vụ có mật độ có khách hàng tham gia lớn bởi vì khách hàng ảnh hưởng đến quá trình dịch

vụ đó.Trong những tình huống cụ thể, đầu vào là khách hàng đã thể hiện nhu

Trang 24

cầu đối với người cung cấp nên trở thành một yếu tố quyết định chất lượng dịch

vụ được cung cấp

Từ những đặc điểm của dịch vụ và đặc điểm của hệ thống dịch vụ sáng tạo dịch vụ, các nhà nghiên cứu đã thống nhất một số vấn đề chung nhất về chất lượng dịch vụ:

- Khách hàng khó đánh giá và nhận biết chất lượng dịch vụ Khi trao đổi hàng hóa hiện hữu, khách hàng sử dụng rất nhiều tiêu chuẩn hữu hình để đánh giá chất lượng như mẫu mã, độ bền , màu sắc, nhãn mác, cảm giác, bao gói, sự phù hợp Khi chuyển giao dịch vụ các đầu mối hữu hình tồn tại ít hơn.Trong hầu hết những trường hợp các bằng chứng hữu hình được giới hạn trong các phương tiện vật chất của nhà cung cấp và nhân viên cung cấp

Với sự thiếu thốn của các yếu tố hữu hình để đánh giá chất lượng dịch

vụ, khách hàng phải dựa vào những yếu tố khác như giá cả, mức độ sẵn sàng của dịch vụ, vị trí nơi cung cấp dịch vụ …

Do đặc tính không hiện hữu của dịch vụ mà một doanh nghiệp cảm thấy khó khăn để hiểu được khách hàng đã tiếp nhận dịch vụ và chất lượng dịch vụ dịch vụ đó như thế nào Khi một nhà cung cấp hiểu được khách hàng của họ đánh giá dịch vụ đó như thế nào, họ sẽ có khả năng tạo ra những tác động vào những đánh giá theo hướng mong muốn

- Chất lượng là một sự so sánh giữa sự mong đợi về giá trị một dịch vụ trong khách hàng với giá trị thực tế nhận được (sự thỏa mãn) do doanh nghiệp cung cấp Các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý các doanh nghiệp dịch vụ đều thống nhất quan điểm cho rằng chất lượng dịch vụ bao hàm một sự so sánh giữa

sự mong đợi và thực tế Đó là sự đo lường phân phối dịch vụ phù hợp với sự mong đợi của khách hàng tốt tới một mức nào đó.Phân phối dịch vụ có nghĩa

là thực hiện sự chuyển giao dịch vụ sao cho phù hợp với những mong đợi của khách hàng trên một nền tảng tương thích với mức độ mong đợi Từ suy nghĩ định hướng này chúng ta có thể phát triển theo mức như sau

Dịch vụ nhận được Sự mong đợi Chất lượng dịch vụ

Trang 25

Giá trị dịch vụ nhận được > Giá trị mong đợi Rất cao

Giá trị dịch vụ nhận được ≥ Giá trị mong đợi Cao

Giá trị dịch vụ nhận được < Giá trị mong đợi Thấp

Sự hài lòng của khách hàng có liên quan đến chất lượng dịch vụ.Nếu chất lượng dịch vụ rất cao, mức độ thỏa mãn vượt quá sự mong đợi, khách hàng sẽ rất hài lòng.Chất lượng dịch vụ cao, mức độ thỏa mãn đạt được sự mong đợi, khách hàng cảm thấy vui vẻ hài lòng.Ngược lại nếu chất lượng dịch vụ thấp, mức độ thỏa mãn thấp hơn giá trị mong đợi, khách hàng sẽ thất vọng Giá trị khách hàng nhận được do chuỗi giá trị của dịch vụ tổng thể mà công ty chuyển giao phụ thuộc vào một số yếu tố như: dịch vụ tổng thể được cung cấp, nhân viên cung cấp dịch vụ, những hoạt động của các đối thủ cạnh tranh, các mức độ đơn vị mong đợi, tầm hiểu biết và sự am tường về dịch vụ của người tiêu dùng dịch vụ

- Những đánh giá dịch vụ ở các đầu ra và ở quá trình Chất lượng dịch

vụ không chỉ đánh giá ở đầu ra với giá trị mong đợi của khách hàng mà nó còn bao gồm hoạt động của toàn bộ hệ thống cung cấp và sự hoạt động đó hình thành nên phương cách phân phối Từ đó dẫn tới việc thừa nhận có sự tồn tại hai loại chất lượng dịch vụ: chất lượng kỹ thuật bao gồm những giá trị mà khách hàng thực sự nhận được từ dịch vụ doanh nghiệp cung cấp và chất lượng chức năng bao gồm phương cách phân phối

Tiền đề cơ sở của chất lượng dịch vụ là sự chuyển giao dịch vụ với khách hàng và các yếu tố trong tổ chức dịch vụ, sự hiểu biết nói chung của khách hàng

và sự hiểu biết về dịch vụ của họ Cũng từ tiền đề này có thể tiếp cận chất lượng dịch vụ với ba mảng lớn: chất lượng vật lý (vật chất) của dịch vụ bao gồm trang thiết bị, dụng cụ, nhà quầy…chính là môi trường vật chất của dịch vụ; chất lượng tổ chức bao gồm phương thức quản lý tổ chức điều hành, uy tín, hình ảnh, tiểu sử công ty…; chất lượng chuyển giao dịch vụ bao gồm những tác động qua lại giữa nhân viên cung cấp và khách hàng

Trang 26

Chất lượng dịch vụ là mức độ hài lòng của khách hàng trong quá trình cảm nhận tiêu dùng dịch vụ, là dịch vụ tổng thể của doanh nghiệp mang lại chuỗi lợi ích và thỏa mãn đầy đủ nhất giá trị mong đợi của khách hàng trong hoạt động sản xuất cung ứng và trong phân phối dịch vụ ở đầu ra [1]

1.1.3 Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng [1]

Chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của khách hàng là hai khái niệm phân biệt (Zeithaml & Bitner 2000).Sự thỏa mãn của khách hàng là một khái niệm tổng quát, nói lên sự hài lòng của họ khi tiêu dùng một dịch vụ.Trong khi đó, chất lượng dịch vụ chỉ tập trung vào các thành phần cụ thể của dịch vụ

Chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn tuy là hai khái niệm khác nhau nhưng

có liên hệ chặt chẽ với nhau (Parasuraman & ctg, 1988)

Sự hài lòng của khách hàng được nghiên cứu và nhận thức như là nhân

tố quan trọng trong lý thuyết quản trị và marketing trong vài thập niên qua Để hiểu sự hài lòng, thì cần có sự hiểu biết rõ ràng về nghĩa của nó là gì Sự hài lòng của khách hàng được định nghĩa như là một kết quả nhận thức và sự đánh giá hữu hiệu, một vài tiêu chuẩn so sánh được so sánh hiệu năng cảm nhận hiện tại Nếu như hiệu năng cảm nhận ít hơn kỳ vọng, khách hàng sẽ không hài lòng Nếu như hiệu năng cảm nhận thỏa mãn hoặc vượt quá sự mong đợi thì khách hàng sẽ hài lòng (Lin, 2003) Sự hài lòng của khách hàng là vấn đề chủ yếu trong sự thành công của hệ thống doanh nghiệp, truyền thống, trực tuyến (Ho,

Wu 1999).Sự hài lòng của khách hàng nghĩa là nhu cầu và sự thỏa mãn của khách hàng, sản phẩm và dịch vụ được hài lòng, kinh nghiệm khách hàng được xác định (Friday và Cotts 1995, Gitomer 1998) Sự hìa lòng khách hàng được cho là công cụ cốt yếu để đánh giá sự thành công trong hoạt động kinh doanh.Hài lòng khách hàng là tài sản đảm bảo luồng tiền mặt thường xuyên cho doanh nghiệp trong tương lai

Trong sự náo động của môi trường thương mại, để duy trì sự phát triển

và thị phần, các công ty cần có sự hiểu biết về hìa lòng khách hàng và xem nó

Trang 27

như một nhân tố cốt yếu thiết lập mối quan hệ với khách hàng (Patterson et al., 1997)

Trong mọi ngành, khách hàng là quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự thành công trong công ty

 Sự hài lòng của khách hàng

Sự hài lòng của khách hàng là kết quả của sự kết hợp bởi những người có kinh nghiệm trong công ty đáp ứng hết kỳ vọng của họ.Khách hàng được hài lòng khi kỳ vọng của họ được thỏa mãn và thích thú, khi kỳ vọng của họ được nâng cao.Hài lòng khách hàng giữ lòng trung thành của họ lâu hơn, mua nhiều hơn, có

sự nhạy cảm và nói tốt về công ty Sự hài lòng cảu khách hàng có thể được đo lường

và thiết lập nhiều cách khác nhau để đo lường chúng (Kotler-pp 411- 412)

Bây giờ có nhiều định nghĩa về sự hài lòng của các tác giả nổi tiếng [3]:

Sự hài lòng của khách hàng có nghĩa là phản ứng và đánh giá của khách hàng một cách hoàn chỉnh (Olive, 1997)

Kotler (1997) định nghĩa sự hài lòng của khách hàng như sau:

Sự hài lòng là cảm xúc vui thích của con người hoặc sự thất vọng từ sự

so sánh hiệu năng cảm nhận của sản phẩm với kỳ vọng của họ

Brown định nghĩa sự hài lòng khách hàng như: Xác định nhu cầu, mong muốn và kỳ vọng của khách hàng trong suốt vòng đời sản phẩm hoặc dịch vụ, khách hàng thỏa mãn kết quả nhận được, trung thành và nói tốt về nó

Bitner và Zeithaml (2003) xác định sự hài lòng là: Sự đánh giá của khách hàng về sản phẩm hoặc dịch vụ trong suốt khoảng thời gian sản phẩm và dịch

vụ thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của họ

Mối quan hệ chất lượng dịch vụ và sự hài lòng

Sự hài lòng của khách hàng và chất lượng dịch vụ là hai khái niệm phân biệt nhưng có quan hệ gần với nhau.Chất lượng dịch vụ là khái niệm khách quan, mang tính lượng giá và nhận thức, trong khi đó, sự hài lòng là sự kết hợp của các thành phần chủ quan, dựa vào cảm giác và cảm xúc (Shemwell et al.,

1998, dẫn theo Thongsamak, 2001)

Trang 28

Một số nhà nghiên cứu như Parasuraman, Zeithaml, Berry, Bitner, Bolton ủng hộ quan điểm sự hài lòng của khách hàng dẫn đến chất lượng dịch vụ.Họ cho rằng chất lượng dịch vụ là sự đánh giá tổng thể dài hạn trong khi sự hài lòng khác hàng chỉ là sự đánh giá một giao dịch cụ thể.Các nhà nghiên cứu khác như Cronin, Taylor, Spreng, Mackoy và Oliver lại cho rằng chất lượng dịch vụ là tiền tố cho sự hài lòng khách hàng.Quan điểm nào đúng hiện vẫn chưa khẳng định vì cả hai quan điểm đều có cơ sở lý luận cũng như kết quả nghiên cứu chứng minh (Thongsamak, 2001) [4]

1.1.4 Mô hình đo lường chất lượng dịch vụ SERVQUAL và biến thể SERVPERF [1]

Sự cạnh tranh trong dịch vụ đang tăng dần và quan niệm về chất lượng dịch

vụ trở thành vấn đề quan trọng hàng đầu Chất lượng dịch vụ được nhận định như

là một phần quyết định đến thị phần, doanh thu trong đầu tư và sự giảm chi phí (Anderson and Zeithaml 1984; Parasuraman, Zeithaml and Berry 1985)

Tổ chức dịch vụ cung cấp nhu cầu chính yếu 2 hình thức của chất lượng: chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng (Gronroos 1984) Đầu tiên, chất lượng kỹ thuật là mức độ để ngành công nghiệp có thể làm cho mọi thứ đúng như đo lường tiêu chuẩn công nghiệp kỹ thuật Tuy nhiên, trong lĩnh vực dịch vụ, sự hiểu biết chất lượng kỹ thuật thuộc về chuyên môn (Bopp 1990) Tiếp theo là khía cạnh chất lượng, chất lượng chức năng, quy về phương thức dịch vụ là chuyển giao đến khách hàng (Babakus and Mangold 1992) Khi khách hàng không có thông tin về chất lượng kỹ thuật thì chất lượng chức năng thường là nhân tố chính được sử dụng để cảm nhận chất lượng dịch vụ (Donabedian 1982; 1980)

Parasuraman, Zeithaml and Berry (1985) cho rằng rất khó để định nghĩa và

đo lường chất lượng dịch vụ bởi vì dịch vụ là vô hình, không đồng nhất (chất lượng dịch vụ có thể thay đổi theo khách hàng, ngày và nguời sản xuất) và sự sản xuất không thể tách bỏ tiêu dùng Một vài nhà nghiên cứu đã nghiên cứu để định nghĩa và đo lường khái niệm chất lượng dịch vụ (Carman 1990; Cronin and Taylor

Trang 29

1992; Parasuraman, Zeithaml and Berry 1985; Parasuraman, Zeithaml and Berry 1988; Parasuraman, Zeithaml and Berry 1991; Teas 1993)

Một vài công việc đầu tiên trong phát triển mô hình để định nghĩa và đánh giá chất lượng dịch vụ được chỉ đạo bởi Parasuraman, Zeithaml, and Berry (1985) (hay nói cách khác còn được gọi là PZB) Việc dựa vào mô hình chất lượng dịch vụ của PZB (1985) xác định 10 yếu tố làm chìa khóa chính của chất lượng dịch vụ được cảm nhận bởi người tiêu dùng:

Họ cho rằng có sự khác biệt giữa cảm nhận của khách hàng và doanh nghiệp trong việc chuyển giao chất lượng dịch vụ Trong việc kiểm tra sự khác biệt đó, PZB (1985) cho rằng chất lượng dịch vụ có thể được đánh giá bởi việc đo lường

sự khác biệt hoặc “chênh lệch” giữa những gì mà khách hàng kỳ vọng và những

gì mà khách hàng cảm nhận sau khi khi sử dụng dịch vụ

Họ tranh luận về độ lớn và phương hướng giải quyết của sự chênh lệch này trực tiếp ảnh hưởng đến sự cảm nhận chất lượng dịch vụ của khách hàng, PZB (1985) cho rằng khách hàng sẽ nhận thức chất lượng dịch vụ cao tới một mức độ nhất định mà kỳ vọng của họ thấp hơn hiệu năng dịch vụ mà họ cảm nhận Nếu điều khẳng định này ngược lại là đúng, khách hàng sẽ cảm nhận chất lượng dịch vụ thấp

PZB (1985) nhận định rằng khung công việc của họ chỉ có thể nhận thấy

sự khác biệt trong chất lượng hàng hóa và dịch vụ bởi sự khác biệt giữ thuộc tính của hàng hóa và dịch vụ Họ cho rằng Nelson (1974) xác định “thuộc tính tìm kiếm” (search properties) như những thuộc tính có thể được xác định trước khi mua (độ tin cậy và phương tiện hữu hình), và “thuộc tính cảm nhận” như những thuộc tính có thể chỉ xác định sau khi mua và sử dụng Hơn nữa, Darby and Karni (1973) xác định những “thuộc tính lòng tin” (credence properties) (như năng lực và sự an toàn) như những thuộc tính hay đặc điểm mà khách hàng thường rất khó tìm kiếm để đánh giá sau khi mua Bởi vậy, PZB (1985) đã kết luận rằng người tiêu dùng hồi đáp dựa trên thuộc tính cảm nhận khi đánh giá chất lượng dịch vụ

Trang 30

Dựa vào những lý thuyết của họ, PZB (1985) phát triển thang đo SERVQUAL Thang đo này được thiết kế để khám phá phạm vi những cái

“tốt” và “xấu” chất lượng dịch vụ và có thể trình bày chất lượng dịch vụ theo nhiều xu hướng, đặc biệt khi sử dụng các kỹ thuật chất lượng dịch vụ khác

Thang đo SERVQUAL được dựa trên những điểm khác biệt giữa sự kỳ vọng của người tiêu dùng về dịch vụ và cảm nhận của họ sau khi sử dụng dịch

vụ Ban đầu, PZB (1985) tập trung vào 10 yếu tố của chất lượng dịch vụ (xem hình 3) Tuy nhiên, sau 2 giai đoạn làm sạch thang đo, họ rút gọn 10 yếu tố xuống còn 5 yếu tố của chất lượng dịch vụ: phương tiện hữu hình, tin cậy, đáp ứng, an toàn, cảm thông (PZB 1988)

Trong nhiều cuộc thảo luận, PZB (1988) nhận định rằng thang đo SERVQUAL là thang đo giải quyết được cảm nhận về chất lượng và xem chất lượng dịch vụ một cách đặc biệt Họ phát biểu rằng “chất lượng dịch vụ cảm nhận là lời phê bình hay thái độ chung về dịch vụ mà tại đó sự hài lòng có mối quan hệ đặc biệt” Họ chứng thang đo có độ tin cậy 0.92 và 5 yếu tố đó có thể được xếp theo thứ tự quan trọng: độ tin cậy, an toàn, phương tiện hữu hình, đáp ứng và cảm thông

Trang 31

Parasuraman và các cộng sự đã giới thiệu thang đo SERVQUAL gồm 10 thành phần: (1) Phương tiện hữu hình; (2) Tin cậy; (3) Đáp ứng; (4) Năng lực phục vụ; (5) Tiếp cận; (6) Ân cần; (7) Thông tin; (8) Tín nhiệm; (9) An toàn; (10) Thấu hiểu Được thể hiện rõ qua hình 1.2 như sau:

Hình 1.2 Thang đo SERVQUAL (Parasuraman et al, 1985)

(1) Phương tiện hữu hình: Bao gồm những dấu hiệu vật chất của dịch vụ

 Phương tiện vật chất

 Gương mặt nhân viên

 Công cụ và trang thiết bị để tạo ra dịch vụ

 Đầu mối vật chất của dịch vụ

 Những khách hàng trong hệ thống dịch vụ

(2) Tin cậy: Bao gồm sự thực hiện thích hợp và có độ tin cậy Thực hiện

dịch vụ đúng ngay lần đầu, doanh nghiệp tôn trọng những thông điệp truyền thông của mình, đồng thời bảo đảm:

Nhu cầu cá nhân

Kinh nghiệm quá khứ

Dịch vụ kỳ vọng

Dịch vụ cảm nhận

Chất lượng dịch

vụ cảm nhận

Trang 32

 Khách hàng tới trong mọi tình huống

 Dịch vụ nhanh thỏa mãn tức thời

(4) Năng lực phục vụ: Có nghĩa là kỹ năng và kiến thức cần thiết để thực

hiện dịch vụ bao gồm:

 Kiến thức và kỹ năng của nhân viên cung cấp

 Kiến thức và kỹ năng của nhân viên trợ giúp

 Khả năng nghiên cứu, quản lý điều hành của tổ chức

(5) Tiếp cận: Bao gồm khả năng tiếp cận dễ dàng có nghĩa là:

 Dịch vụ dễ tiếp cận (điện thoại trực tiếp hoặc thông tin đại chúng)

 Thời gian chờ dịch vụ không quá lâu

 Thời hian hoạt động thuận tiện

 Vị trí thuận tiện cho phương tiện dịch vụ

(6) Ân cần: Tính lịch sự, tôn trọng, quan tâm, thân thiện của nhân viên

cung cấp dịch vụ

 Quan tâm tới của cải và tà sản của khách hàng

 Nhân viên cung cấp thiện cảm lịch sự hấp dẫn

(7) Thông tin: Hướng dẫn cho khách hàng bằng lời nói ngắn gọn để họ

hiểu và lắng nghe họ Chú ý tới phong cách, thái độ đối với những khách hàng khác nhau (kiểu cách với người có học, thẳng thắng đơn giản với người bình thường) với nội dùng là:

 Giải thích dịch vụ

 Giải thích giá cả của dịch vụ

 Giải thích sự chuyển giao dịch vụ và chi phí

 Đảm bảo với khách hàng vấn đề sẽ được giải quyết

Trang 33

(8) Tín nhiệm: Sự tin tưởng, trung thực làm cho khách hàng hài lòng, vui

vẻ trong lòng họ, cụ thể là:

 Tên công ty

 Sự nổi tiếng của công ty

 Tính cách của nhân viên cung cấp dịch vụ

 Độ tin cậy trong hoạt động chuyển giao dịch vụ

(9) An toàn: Không bị nguy hiểm, không mạo hiểm, không nghi ngờ

 An toàn về vật chất

 An toàn về tài chính

 Bí mật

(10) Thấu hiểu:

 Học tập, đào tạo những kỹ năng riêng biệt theo yêu cầu của khách hàng

 Chú ý tới nhu cầu cá nhân

 Thừa nhận khách hàng quen

Thang đo này bao quát hầu hết mọi khía cạnh của dịch vụ, tuy nhiên thang

đo cho thấy có sự phức tạp trong đo lường, không đạt giá trị phân biệt trong một số trường hợp Do đó, các nhà nghiên cứu này đưa ra thang đo SERVQUAL gồm 5 thành phần với 20 biến quan sát,cụ thể các thành phần như sau:

Hình 1.3 Mô hình SERVQUAL

(Parasuraman, Zeithaml & Berry, 1988)

1 Phương tiện hữu hình (Tangibles): sự thể hiện bên ngoài của cơ sở vật

chất, thiết bị, nhân viên và vật liệu, công cụ thông tin

2 Tin cậy (Reliability): khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và chính xác

với những gì đã cam kết, hứa hẹn

- Phương tiện hữu hình

Trang 34

3 Đáp ứng (Responsiveness): mức độ mong muốn và sẵn sàng phục vụ

khách hàng một cách kịp thời

4 Năng lực phục vụ (Assurance): kiến thức, chuyên môn và phong cách

lịch lãm của nhân viên phục vụ; khả năng làm cho khách hàng tin tưởng

5 Cảm thông (Empathy): thể hiện sự ân cần, quan tâm đến từng cá nhân

khách hàng

Trên thực tế, đo lường SERVQUAL gồm ba phân đoạn Hai phân đoạn đầu, mỗi phân đoạn là 22 biến quan sát đo lường chất lượng dịch vụ mà khách hàng kỳ vọng và thực tế cảm nhận được Các biến dùng thang Likert 7 điểm.Sai biệt (cảm nhận trừ kỳ vọng) của đánh giá biểu thị chất lượng dịch vụ Mô hình đo lường này được gọi là phi khẳng định (disconfirmation model) Phân đoạn thứ ba yêu cầu khách hàng đánh giá mức độ quan trọng của 5 thành phần

Sau nhiều nghiên cứu kiểm định cũng như ứng dụng, SERVQUAL được thừa nhận như một thang đo có giá trị lý thuyết cũng như thực tiễn Tuy nhiên thủ tục đo lường SERVQUAL khá dài dòng Do vậy, đã xuất hiện một biến thể của SERVQUAL là SERVPERF

Thang đo này được Cronin & Taylor (1992, dẫn theo Thongsamak, 2001) giới thiệu, xác định chất lượng dịch vụ bằng cách chỉ đo lường chất lượng dịch

vụ cảm nhận (thay vì đo cả chất lượng cảm nhận lẫn kỳ vọng như SERVQUAL) Hai ông cho rằng chất lượng dịch vụ được phản ánh tốt nhất bởi chất lượng cảm nhận mà không cần có chất lượng kỳ vọng cũng như đánh giá trọng số của 5 thành phần

Do có xuất xứ từ thang đo SERVQUAL, các thành phần và biến quan sát của thang đo SERVPERF này giữ như SERVQUAL Mô hình đo lường này được gọi là mô hình cảm nhận

Trang 35

pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý” Dịch vụ hành chính công là

những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước (hoặc tổ chức, doanh nghiệp được ủy quyền) có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý

Đây là loại hình dịch vụ gắn liền với chức năng quản lý nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân Do vậy, cho đến nay, đối tượng cung ứng duy nhất các dịch vụ công này là cơ quan công quyền hay các cơ quan nhà nước thành lập được ủy quyền thực hiện cung ứng dịch vụ hành chính công Đây là một phần trong chức năng quản lý nhà nước Để thực hiện chức năng này nhà nước phải tiến hành những hoạt động phục vụ trực tiếp như cấp giấy phép, giấy chứng nhận, đăng ký, công chứng, thị thực, hộ tịch…(ở một số nước, dịch vụ hành chính công được coi là một loại hoạt động riêng, không nằm trong phạm

vi dịch vụ công Ở nước ta, một số nhà nghiên cứu cũng có quan điểm như vậy) Người dân được hưởng những dịch vụ này không theo quan hệ cung cầu, ngang giá trên thị trường, mà thông qua việc đóng lệ phí hoặc phí cho các cơ quan hành chính nhà nước Phần lệ phí này mang tính chất hỗ trợ cho ngân sách nhà nước

Hành chính công có liên quan đến mức độ thỏa mãn các nhu cầu công cộng của xã hội, liên quan đến tiến bộ kinh tế, xã hội của một quốc gia.Tác dụng của hành chính công chủ yếu là tác dụng dẫn đường, tác dụng quản chế, tác dụng phục vụ và tác dụng giúp đỡ Nói về tác dụng quản chế, tức là nhà nước phát huy năng lực quản lý công cộng mang tính quyền uy, cưỡng chế để

xử lý, điều hòa các quan hệ xã hội và lợi ích xã hội, đảm bảo cho xã hội vận hành tốt; còn về tác dụng giúp đỡ, đó chính là sự giúp đỡ của nhà nước đối với

Trang 36

các địa phương nghèo, những người có hoàn cảnh khó khăn, như giúp đỡ người nghèo, cứu tế xã hội, phúc lợi xã hội, bảo hiểm xã hội, y tế…

Việc cung ứng dịch vụ hành chính công còn tác dụng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Khi cung cấp các dịch vụ này, nhà nước

sử dụng quyền lực công để tạo ra dịch vụ như cấp các loại giấy phép, đăng ký, chứng nhận, thị thực…Tuy xét về mặt hình thức, sản phẩm của các dịch vụ này chỉ là các loại văn bản giấy tờ, nhưng chúng lại có tác dụng chi phối quan trọng đến các hoạt động kinh tế- xã hội của đất nước Chẳng hạn, giấy đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp thể hiện việc nhà nước công nhận doanh nghiệp đó ra đời và đi vào hoạt động, điều này dẫn đến những tác dụng và kết quả đáng kể

về mặt kinh tế- xã hội.Ngoài ra, thông qua việc cung ứng dịch vụ công, nhà nước sử dụng quyền lực của mình để đảm bảo quyền dân chủ và các quyền hợp pháp khác của công dân.Dịch vụ hành chính công có những đặc trưng riêng biệt để phân định nó với các dịch vụ công khác:

Thứ nhất, việc cung ứng dịch vụ hành chính công luôn gắn với thẩm

quyền mang tính quyền lực pháp lý, gắn với hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước trong việc cấp các loại giấy phép, xử lý và xử phạt hành chính, kiểm tra và thanh tra hành chính,…Do dịch vụ hành chính công gắn liền với thẩm quyền hành chính pháp lý của bộ máy nhà nước nên loại dịch vụ này chỉ có thể

do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện

Thứ hai, phục vụ cho hoạt động quản lý của nhà nước Dịch vụ hành

chính công bản thân chúng không thuộc về chức năng quản lý nhà nước song lại là các hoạt động nhằm phục vụ cho chức năng quản lý dịch vụ hành chính công là những dịch vụ mà nhà nước bắt buộc và khuyến khích người dân phải làm để đảm bảo trật tự an toàn xã hội Nhu cầu được sử dụng các dịch vụ hành chính công không xuất phát từ nhu cầu tự thân của tổ chức công dân mà xuất phát từ những quy định có tính chất bắt buộc của nhà nước.Càng nhiều người

Trang 37

sử dụng dịch vụ hành chính công thì càng tạo điều kiện cho hoạt động quản lý nhà nước được tốt hơn

Dịch vụ thuế là dịch vụ hành chính công có một số đặc điểm sau:

- Quá trình thực hiện và cung cấp dịch vụ hành chính công đều bị điều tiết rất chặt chẽ bởi những quy định của pháp luật

- Mọi khách hàng đều có quyền ngang nhau trong việc sử dụng dịch vụ Đối tượng được phục vụ có trình độ hiểu biết nhất định về kế toán, thuế…, vì vậy người phục vụ phải có trình độ chuyên môn hiểu biết sâu sắc

- Người được phục vụ cảm nhận ở góc độ bị quản lý nhiều hơn là góc độ thụ hưởng sự phục vụ

- Quản lý thu thuế các doanh nghiệp là hoạt động chứa đựng mối quan hệ đặc biệt, trách nhiệm nghĩa vụ của các bên trong mối ràng buộc quan hệ tài chính

1.1.5.2 Chất lượng dịch vụ hành chính thuế

Để tìm kiếm tiêu chí phản ánh chất lượng dịch vụ hành chính thuế, trước tiên, chúng ta cần hiểu về chuẩn mực chất lượng của một hàng hoá hay dịch vụ Chất lượng được thể hiện ở các đặc tính của hàng hoá hoặc dịch vụ, nhưng nó lại gắn với nhu cầu, yêu cầu (sự thoả mãn) của khách hàng Nghĩa là, chất lượng hàng hoá, dịch vụ đó được phản ánh qua sự cảm nhận của khách hàng về mức độ đáp ứng yêu cầu Như vậy, muốn xác định được các tiêu chí phản ánh chất lượng của dịch vụ hành chính thuế, cần phải tiến hành hai việc:

Một là, xác định xem khách hàng (công dân, tổ chức) đặt ra những yêu

cầu gì đối với dịch vụ hành chính thuế.Việc xác định khách hàng cần những gì

ở một dịch vụ hành chính thuế không phải khó thực hiện, chỉ cần tiến hành một cuộc điều tra hay phỏng vấn đối với nhóm khách hàng thường xuyên sử dụng dịch vụ này

Trang 38

Hai là, xác định những yếu tố tạo nên đặc tính của dịch vụ hành chính

thuế đó.Để xác định, chúng ta cần xem xét đầy đủ tất cả các yếu tố và quá trình tạo nên dịch vụ hành chính công

Tiêu chí đánh giá chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính gồm:

(i) Mục tiêu hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước: Mỗi cơ quan

đều có những mục tiêu cụ thể của mình đóng góp vào thực hiện mục tiêu chung của quản lý nhà nước theo sự phân cấp hoặc phân công, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được pháp luật qui định, nhằm đảm bảo sự ổn định, trật tự và công bằng xã hội trong phạm vi quản lý được giao; và phục vụ nhu cầu của nhân dân ngày càng tốt hơn Tuy các mục tiêu này không trực tiếp tạo nên chất lượng của một dịch vụ hành chính công cụ thể, nhưng việc xác định đúng đắn các mục tiêu này thể hiện sự cam kết của cơ quan hành chính nhà nước trong việc phục

vụ nhân dân Mục tiêu phục vụ theo nhu cầu người dân thường được thể hiện trong chính sách chất lượng của các cơ quan hành chính nhà nước khi áp dụng tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000

(ii)Tiêu chí phản ánh các yếu tố đầu vào của cơ quan hành chính:

Yếu tố đầu vào góp phần tạo nên chất lượng của dịch vụ hành chính, thông qua năng lực hành chính nhà nước như:

- Hạ tầng cơ sở gồm nhà cửa, thiết bị, công cụ thông tin và các phương tiện kỹ thuật khác ; đặc biệt là những trang thiết bị tại phòng tiếp dân - nơi người dân tiếp xúc với cơ quan công quyền thông qua các công chức hành chính Nếu phòng tiếp dân rộng rãi, được trang bị đầy đủ các yếu tố như: ánh sáng, mầu sắc, kiểm soát tiếng ồn, nhiệt độ, độ ẩm sẽ tạo cảm giác thoải mái cho người dân khi đến làm việc với cơ quan nhà nước Như vậy, hạ tầng cơ sở

là một yếu tố tạo nên chất lượng dịch vụ hành chính công và cũng là một nhóm tiêu chí để đánh giá chất lượng dịch vụ này

- Nhân sự hành chính là tiêu chí hết sức quan trọng, thể hiện tính quyết định trong dịch vụ hành chính công Nếu cán bộ, công chức có phẩm chất, trách

Trang 39

nhiệm, đủ năng lực (nhất là kỹ năng, nghiệp vụ) sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Yêu cầu đối với công chức làm dịch vụ hành chính là phải biết lắng nghe, phải có kiến thức và kỹ năng giải quyết công việc, biết nhẫn nại và kiềm chế, biết diễn đạt rõ ràng, có thái độ thân thiện, giải quyết công việc kịp thời và tác phong hoạt bát.v.v Tối kỵ thái độ thờ ơ, lãnh đạm, máy móc, nôn nóng, không

tế nhị, thiếu tôn trọng dân Vì vậy, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức trong giải quyết các công việc hành chính và thái độ (tôn trọng và tận tuỵ phục vụ nhân dân) của họ cũng là những yếu tố tạo nên sự hài lòng của người dân và cũng là những tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ hành chính

- Yêu cầu của khách hàng (công dân và tổ chức) chính là nhu cầu hay mong đợi của người dân đối với những dịch vụ mà họ cần thụ hưởng Yêu cầu của khách hàng tuy là thuộc về chính người dân, nhưng việc thể hiện các yêu cầu này dưới một hình thức nhất định lại do cơ quan nhà nước đặt ra (thường gọi là hồ sơ công dân).Vì vậy, nếu bộ hồ sơ này gồm nhiều loại giấy tờ và người dân khó thực hiện (thể hiện ở cách viết hoặc điền vào mẫu hoặc phải được nhiều cơ quan hành chính nhà nước khác nhau xác nhận) thì sẽ gây khó khăn cho người dân trong việc thoả mãn nhu cầu của mình.Như vậy, các yêu cầu về hồ sơ hành chính cũng là tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ hành chính công

(iii) Tiêu chí về giải quyết công việc cho người dân:

Tiêu chí này phản ánh về hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức trong việc giải quyết những nhu cầu của dân Yêu cầu đối với quá trình này là phải được diễn ra một cách dân chủ và công bằng, công khai, minh bạch về thông tin; cách ứng xử lịch thiệp và đồng cảm với khách hàng; tin cậy và sẵn sàng trong phục vụ; sự hài lòng trong công việc của nhân viên, sự hài lòng của khách hàng.v.v

- Dân chủ và công bằng là việc người dân có được đề đạt các ý kiến của mình hay không; ý kiến đó được xem xét như thế nào và người dân có nhận được phản hồi về ý kiến của mình hay không; người dân có được đối xử công bằng (không thiên vị) trong quá trình giải quyết công việc không

Trang 40

- Công khai, minh bạch về thông tin là việc người dân có được thông tin

về tiến trình giải quyết công việc hay không; khi có những chậm trễ nào đó có được báo trước hay không

- Độ tin cậy là việc đảm bảo thực hiện những thỏa thuận (ứng với yêu cầu, mong đợi của dân và các yêu cầu chính đáng khác được xác định) phù hợp với các nguồn lực cần được huy động

- Sự sẵn sàng là việc chuẩn bị một cách chủ động những gì cần thiết để đáp ứng yêu cầu của dân khi giao tiếp, trao đổi giải quyết công việc

- Sự cư xử thân thiện thể hiện cách cư xử, kích thích tinh thần của người dân nhằm tạo mối quan hệ gần gũi với người dân

- Sự đồng cảm là việc tìm kiếm những giải pháp hợp lý trong những tình huống khó xử

- Thời gian giải quyết công việc có đúng theo quy định hay không

(iv) Tiêu chí phản ánh đầu ra của dịch vụ hành chính:

Đầu ra của dịch vụ chính là kết quả giải quyết các yêu cầu của công dân

và tổ chức, thể hiện bằng những văn bản, giấy tờ hành chính mà người dân nhận được từ các cơ quan hành chính nhà nước Để đánh giá kết quả này, cần xem xét ở ba tiêu chí sau:

Thứ nhất, kết quả trả cho người dân có kịp thời theo yêu cầu không Điều này thuộc trách nhiệm của cơ quan giải quyết công việc hành chính

Thứ hai, khoảng thời gian giải quyết công việc trong bao lâu Điều này thuộc trách nhiệm của cả cơ quan ban hành qui trình, thủ tục hành chính và cơ quan giải quyết công việc hành chính

Thứ ba, những văn bản, giấy tờ hành chính giải quyết công việc cho người dân có chính xác hay không.Nếu thiếu chính xác, sẽ gây phiền toái cho người dân khi sử dụng những giấy tờ đó vào việc thoả mãn một nhu cầu nào đó.[11]

Ngày đăng: 14/12/2016, 11:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Lưu Văn Nghiêm (2008), “Marketing dịch vụ”, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing dịch vụ”
Tác giả: Lưu Văn Nghiêm
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2008
[2].Christine Hope, Alan Muhleman, (Phan Văn Sâm, Trần Đình Hải dịch) (2001), Doanh nghiệp dịch vụ (Nguyên lý điều hành), Nhà xuất bản thống kê, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp dịch vụ (Nguyên lý điều hành)
Tác giả: Christine Hope, Alan Muhleman, (Phan Văn Sâm, Trần Đình Hải dịch)
Năm: 2001
[3]. Setayesh Sattari (2007). “Application of Disconfirmation Theory on Customer Satisfaction Determination Model in Mobile Telecomunication”, Lulea University of Technology Sách, tạp chí
Tiêu đề: Application of Disconfirmation Theory on Customer Satisfaction Determination Model in Mobile Telecomunication”
Tác giả: Setayesh Sattari
Năm: 2007
[4]. Nguyễn Thành Long (2006). “Áp dụng thang đo SERVPERF để đánh giá chất lượng đào tạo ĐH trường ĐHAG”.Đề tài nghiên cứu khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Áp dụng thang đo SERVPERF để đánh giá chất lượng đào tạo ĐH trường ĐHAG”
Tác giả: Nguyễn Thành Long
Năm: 2006
[5]. Phạm Đức Kỳ, Bùi Nguyên Hùng. “Nghiên cứu mô hình sự trung thành của kháchhàng trong lĩnh vực dịch vụ TTDĐ tại Việt Nam”. Tạp chíBCVT&amp;CNTT, 02/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu mô hình sự trung thành của kháchhàng trong lĩnh vực dịch vụ TTDĐ tại Việt Nam”
[6]. Phạm Quang Thái (2007), Đánh giá chất lượng dịch vụ Ngân hàng Đông Á, Đề tài nghiên cứu Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Đánh giá chất lượng dịch vụ Ngân hàng Đông Á
Tác giả: Phạm Quang Thái
Năm: 2007
[7]. Lê Thế Giới, Nguyễn Xuân Lãng, Đặng Công Tuấn, Lê Văn Huy, Nguyễn Thị Bích Thủy (2006), “Nghiên cứu Marketing - lý thuyết và ứng dụng”, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu Marketing - lý thuyết và ứng dụng”
Tác giả: Lê Thế Giới, Nguyễn Xuân Lãng, Đặng Công Tuấn, Lê Văn Huy, Nguyễn Thị Bích Thủy
Năm: 2006
[8]. Nguyễn Viết Lâm, (2007), Giáo trình nghiên cứu marketing, NXB ĐH Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nghiên cứu marketing
Tác giả: Nguyễn Viết Lâm
Nhà XB: NXB ĐH Kinh tế quốc dân
Năm: 2007
[9]. Nguyễn Đình Thọ, Nguyễn Thị Mai Trang, (2009), Nghiên cứu thị trường, NXB Lao động, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thị trường
Tác giả: Nguyễn Đình Thọ, Nguyễn Thị Mai Trang
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2009
[10]. Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc, (2008), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS (tập 1,2), NXB Hồng Đức, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS (tập 1,2)
Tác giả: Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2008
[11]. Nguyễn Hữu Hải, Lê Văn Hòa; bài báo “Tiêu chí đánh giá chất lượng cung ứng dịch vụ công tại các cơ quan hành chính nhà nước”, tổ chức nhà nước 3/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chí đánh giá chất lượng cung ứng dịch vụ công tại các cơ quan hành chính nhà nước”
[12]. Văn phòng cục thuế Hải Dương, Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác 2011-2015 Khác
[14].laocai.gov.vn/sites/cucthuetinh/tintucnganhthue/tinnoibatnghanh/Trang/20150812090619.aspx Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Bốn đặc điểm cơ bản của dịch vụ [1] - Nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế đối với doanh nghiệp tại văn phòng cục thuế tỉnh hải dương
Hình 1.1 Bốn đặc điểm cơ bản của dịch vụ [1] (Trang 20)
Hình 1.2. Thang đo SERVQUAL (Parasuraman et al, 1985) - Nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế đối với doanh nghiệp tại văn phòng cục thuế tỉnh hải dương
Hình 1.2. Thang đo SERVQUAL (Parasuraman et al, 1985) (Trang 31)
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu của đề tài - Nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế đối với doanh nghiệp tại văn phòng cục thuế tỉnh hải dương
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu của đề tài (Trang 51)
Bảng 2.1: Thông tin về mẫu nghiên cứu - Nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế đối với doanh nghiệp tại văn phòng cục thuế tỉnh hải dương
Bảng 2.1 Thông tin về mẫu nghiên cứu (Trang 55)
Hình 3.1: Biểu đồ kết quả thu ngân sách nhà nước trên địa bàn - Nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế đối với doanh nghiệp tại văn phòng cục thuế tỉnh hải dương
Hình 3.1 Biểu đồ kết quả thu ngân sách nhà nước trên địa bàn (Trang 62)
Hình 3.2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý tại Cục thuế tỉnh Hải Dương - Nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế đối với doanh nghiệp tại văn phòng cục thuế tỉnh hải dương
Hình 3.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý tại Cục thuế tỉnh Hải Dương (Trang 66)
Hình 3.3: Sơ đồ bộ máy tổ chức Văn phòng Cục Thuế Hải Dương - Nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế đối với doanh nghiệp tại văn phòng cục thuế tỉnh hải dương
Hình 3.3 Sơ đồ bộ máy tổ chức Văn phòng Cục Thuế Hải Dương (Trang 67)
Bảng 3.10b: Tổng phương sai trích - Nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế đối với doanh nghiệp tại văn phòng cục thuế tỉnh hải dương
Bảng 3.10b Tổng phương sai trích (Trang 97)
Bảng 3.12b:Thống kê biến tổng - Nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế đối với doanh nghiệp tại văn phòng cục thuế tỉnh hải dương
Bảng 3.12b Thống kê biến tổng (Trang 99)
Bảng 3.12: Độ tin cậy Crobach Alpha - Năng lực  Bảng 3.12a: Thống kê độ tin cậy - Nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế đối với doanh nghiệp tại văn phòng cục thuế tỉnh hải dương
Bảng 3.12 Độ tin cậy Crobach Alpha - Năng lực Bảng 3.12a: Thống kê độ tin cậy (Trang 99)
Bảng 3.16a: Thống kê độ tin cậy - Nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế đối với doanh nghiệp tại văn phòng cục thuế tỉnh hải dương
Bảng 3.16a Thống kê độ tin cậy (Trang 101)
Bảng 3.22: Kết quả kiểm định mối quan hê ̣ giữa yếu tố năng lực và chất - Nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế đối với doanh nghiệp tại văn phòng cục thuế tỉnh hải dương
Bảng 3.22 Kết quả kiểm định mối quan hê ̣ giữa yếu tố năng lực và chất (Trang 105)
Bảng 3.25: Phân tích phương sai - Nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế đối với doanh nghiệp tại văn phòng cục thuế tỉnh hải dương
Bảng 3.25 Phân tích phương sai (Trang 106)
Hình 3.4: Biểu đồ phân bố phần dư  (Nguồn: Kết quả phân tích số liệu sơ cấp bằng phần mềm SPSS) - Nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế đối với doanh nghiệp tại văn phòng cục thuế tỉnh hải dương
Hình 3.4 Biểu đồ phân bố phần dư (Nguồn: Kết quả phân tích số liệu sơ cấp bằng phần mềm SPSS) (Trang 107)
Bảng 3.29: Thống kê mô tả yếu tố thái độ - Nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế đối với doanh nghiệp tại văn phòng cục thuế tỉnh hải dương
Bảng 3.29 Thống kê mô tả yếu tố thái độ (Trang 109)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w