1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp giúp học sinh tiểu học phân biệt từ ghép và từ láy tại trường tiểu học thị trấn thanh sơn huyện sơn động tỉnh bắc giang

65 1,3K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả khảo sát khả năng phân biệt từ láy và từ ghép của học sinh tại trường tiểu học thị trấn Thanh Sơn- Sơn động- Bắc Giang khi chưa được củng cố kiến thức trong các giờ tăng buổi.. C

Trang 1

- TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

======

VI THỊ PHƯỢNG

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH TIỂU HỌC

PHÂN BIỆT TỪ GHÉP VÀ TỪ LÁY TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN THANH SƠN – HUYỆN SƠN ĐỘNG – TỈNH BẮC GIANG

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt

Người hướng dẫn khoa học

ThS VŨ THỊ TUYẾT

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban giám hiệu, các thầy cô giáo

và các em học sinh Trường tiểu học thị trấn Thanh Sơn - Sơn Động - Bắc Giang trong suốt quá trình chúng em quan sát, tìm hiểu thực tế và thực nghiệm khóa luận này

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Vũ Thị Tuyết - người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, động viên và giúp đỡ chúng

em hoàn thành khóa luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, người thân- những người đã tạo điều kiện và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành khóa luận

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2016

Người thực hiện

Vi Thị Phượng

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 5

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 6

1.1 Cơ sở lí luận 6

1.1.1 Một số vấn đề chung về từ láy 6

1.1.1.1 Khái niệm từ láy 6

1.1.1.2 Phân loại từ láy 9

1.1.1.3 Cấu tạo ngữ nghĩa của từ láy tiếng Việt 12

1.1.1.3.1 Từ láy phỏng thanh 13

1.1.1.3.2 Từ láy sắc thái hóa 13

1.1.1.3.3 Từ láy cách điệu 15

1.1.1.4 Một số vấn đề cần quan tâm khi xem xét từ láy tiếng Việt 16

1.1.2 Một số vấn đề chung về từ ghép 21

1.1.2.1 Khái niệm từ ghép 21

1.1.2.2 Phân loại từ ghép 22

1.1.2.2.1 Từ ghép đẳng lập 22

1.1.2.2.2 Từ ghép chính phụ 26

1.2 Cơ sở thực tiễn 30

1.2.1 Tầm quan trọng của phân môn Luyện từ và câu trong môn học tiếng Việt bậc Tiểu học 30

Trang 4

1.2.2 Chương trình dạy từ ghép và từ láy trong SGK tiếng Việt tiểu học 31

1.2.3 Thưc trạng về việc dạy và học từ ghép và từ láy trong trường tiểu học thị trấn Thanh Sơn- Sơn Động- Bắc Giang 33

1.2.3.1 Lí thuyết về từ láy và từ ghép trong sách giáo khoa 33

1.2.3.2 Thực tế khả năng phân biệt từ ghép và từ láy của học sinh tại trường tiểu học thị trấn Thanh Sơn- Sơn Động- Bắc Giang 33

1.2.3.3 Kết quả khảo sát khả năng phân biệt từ láy và từ ghép của học sinh tại trường tiểu học thị trấn Thanh Sơn- Sơn động- Bắc Giang khi chưa được củng cố kiến thức trong các giờ tăng buổi 34

1.2.3.4 Một số khó khăn mà giáo viên và học sinh tại trường tiểu học thị trấn Thanh Sơn thường gặp 35

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH TIỂU HỌC PHÂN BIỆT TỪ GHÉP VÀ TỪ LÁY 37

2.1 Sử dụng tiết dạy tăng cường để củng cố kiến thức được học trong chương trình chính khóa 37

2.1.1 Thiết kế tiết dạy củng cố kiến thức về từ láy 37

2.1.2 Thiết kế tiết dạy củng cố kiến thức về từ ghép 41

2.1.3 Thiết kế tiết dạy giúp học sinh phân biệt từ láy và từ ghép 48

2.2 Một số mẹo luật giúp học sinh phân biệt từ ghép và từ láy 53

2.2.1 Căn cứ vào quy luật thanh điệu 53

2.2.2 Căn cứ vào ý nghĩa 53

2.2.3 Căn cứ vào vị trí và tính hệ thống của các âm tiết trong từ láy và từ ghép 54

2.3 Thiết kế một số bài tập vận dụng kiến thức về từ láy và từ ghép 54

KẾT LUẬN 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Tiểu học là cấp học đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển nhân cách con người, đặt nền tảng cho giáo dục phổ thông và các cấp học trên Là những chủ nhân tương lai của đất nước, đòi hỏi học sinh phải có vốn kiến thức cần thiết Mục tiêu môn tiếng Việt ở Tiểu học nhằm trang bị cho các

em những kiến thức về hệ thống tiếng Việt, chuẩn tiếng Việt, rèn cho học sinh

kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp Trong đó phân môn Luyện từ và câu là một trong những phân môn quan trọng có ý nghĩa to lớn trong chương trình tiểu học Phân môn này giúp học sinh mở rộng, hệ thống hóa vốn từ và trang bị cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về từ và câu, rèn cho học sinh một số kĩ năng sử dụng các dấu câu Nó còn bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói – viết thành câu, có ý thức sử dụng tiếng Việt văn hóa trong giao tiếp, rèn luyện phát triển tư duy, bồi dưỡng tình cảm tốt đẹp cho học sinh Phân môn “Luyện từ và câu” có nhiệm vụ cung cấp các kiến thức tiếng Việt cho học sinh trong đó có kiến thức về từ Từ trong tiếng Việt hết sức phong phú, là kết quả của các phương thức cấu tạo khác nhau, gồm từ đơn và

từ phức Trong từ phức có ghép và từ láy Từ ghép và từ láy được phân chia thành nhiều tiểu loại khác nhau Vì vậy việc tìm hiểu từ ghép và từ láy trong tiếng Việt là rất rộng

Trong giao tiếp thông thường cả người phát tin và người nhận tin đều cần phải nắm được từ, kiểu từ, sử dụng từ một cách chính xác thì việc giao tiếp mới có hiệu quả Nhất là đối với học sinh độ tuổi tiểu học, khi mà vốn từ Tiếng Việt nói chung, vốn từ ngữ nói riêng ở các em còn hạn chế thì những kiến thức đó càng cần được bổ sung, phát triển để đáp ứng nhu cầu học tập, giao tiếp Vì vậy, từ trước đến nay việc day từ cho học sinh luôn được coi là

Trang 6

một nhiệm vụ quan trọng

Trong thực tế, giáo viên tiểu học gặp nhiều khó khăn khi dạy phân môn Luyện từ và câu Chương trình Tiếng Việt ở tiểu học lại cấu trúc theo kiểu đồng tâm mở rộng nên nếu không nắm được kiến thức ở lớp dưới, các em khó tiếp thu được kiến thức mới ở lớp trên Nếu giáo viên không nắm vững chúng thì việc dạy bài “Từ ghép và từ láy” cho học sinh sẽ rất mơ hồ không rõ ràng Cũng như nhiều học sinh ở các trường Tiểu học nói chung, học sinh (kể cả giáo viên) tại trường Tiểu học thị trấn Thanh Sơn nói riêng thường lúng túng trong việc phân biệt đâu là từ láy và đâu là từ ghép

Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn đề tài “Một số biện pháp giúp

học sinh tiểu học phân biệt từ ghép và từ láy tại trường tiểu học thị trấn Thanh Sơn – huyện Sơn Động – tỉnh Bắc Giang” nhằm góp phần đưa ra

một số biện pháp cụ thể giúp học sinh tiểu học phân biệt từ ghép và từ láy một cách hiệu quả

từ của tiếng Việt hiện đại” của tác giả Hồ Lê… Trong cuốn sách “Ngữ pháp tiếng Việt” tác giả Diệp Quang Ban đã đưa ra quan niệm về từ ghép, đặc trưng của từ ghép và cách phân loại từ ghép về mặt ngữ nghĩa Theo tác giả:

Từ ghép là từ chứa hai (hoặc hơn hai) từ tố và trong đó nhìn chung không có hiện tượng “hòa phối ngữ âm tạo nghĩa” [1;43] Về mặt ngữ pháp, từ ghép chia thành hai nhóm lớn theo kiểu quan hệ giữa các từ tố: từ ghép đẳng lập và

từ ghép chính phụ Trong hai nhóm này tác giả còn chia ra các tiểu loại

Trang 7

Cùng quan điểm với tác giả Diệp quang Ban, Hồ Lê trong “Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại”, nhà xuất bản khoa học xã hội, 1976 cũng chia

từ ghép thành hai loại: từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ Tuy nhiên, ông đưa ra quan niệm về từ ghép cụ thể hơn: “từ ghép là một loại ngôn ngữ do nhiều từ loại kết hợp lại có tính vững chắc về cấu tạo và tính thành ngữ về ý nghĩa” Trong cuốn sách này tác giả còn đưa ra các phương thức ghép, đặc trưng ngữ nghĩa của từ ghép và cấu tạo của từ ghép

Các tác giả những công trình nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt khi xem xét từ láy đã đề cập đến mặt cấu tạo ngữ pháp Trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt”, tác giả đã đề cập đến các khía cạnh sau của từ láy: phân biệt từ láy với dạng lặp, phân loại từ láy, ý nghĩa của từ láy… Trong đó, các tác giả

đã coi “từ láy là những từ phức được tạo ra từ phương thức láy âm có tác dụng tạo nghĩa” [2; 51] và phân loại từ láy dựa trên hai cơ sở:

1 Bậc láy (hay bước láy, thế hệ láy)

2 Số lượng tiếng láy: láy đôi, láy ba, láy tư

Khi xem xét từ láy ở mặt số lượng tiếng, ông chú ý: phải đề cập đến các kiểu láy như láy toàn bộ, láy bộ phận, hiện tượng tách xen…

Tác giả Nguyễn Tài Cẩn trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt”, khi xem xét

từ láy, lại chú ý đến sự tham gia của âm và vần tiếng Việt trong việc tạo nên

từ láy Ông đưa ra các số liệu: có 126/158 vần tham gia vào từ láy điệp vần,

15 phụ âm có thể xuất hiện ở âm tiết 1 trong từ láy điệp vần, 15 phụ âm không xuất hiện từ láy điệp âm, 14 vần không xuất hiện ở âm tiết sau

Trong “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt”, GS.Đỗ Hữu Châu chú ý đến tác dụng về ngữ nghĩa của phương thức láy và lấy nhiều ví dụ minh họa Ông chỉ

ra một số trường hợp trung gian giữa từ láy và từ ghép, trung gian giữa từ láy

và từ đơn đa âm

Bên cạnh đó, xuất hiện một số bài viết in trên các tạp chí có đề cập đến

Trang 8

các vấn đề từ láy ở Tiểu học như:

- Tác giả Lê Phương Nga với bài: “Về khái niệm từ đơn, từ ghép, từ láy được dạy ở Tiểu học” in trên tạp chí Giáo dục Tiểu học (T/C GDTH) số 2 –

1996

- Tác giả Nguyễn Thị Lương với bài: “Trở lại vấn đề phân biệt từ đơn,

từ láy, cụm từ trong tiếng Việt” (T/C GDTH), số 5 – 1996

- Tác giả Hà Quang Năng với bài: “Khả năng nhận biết và sử dụng từ láy, từ ghép ở Tiểu học” (T/C Ngôn ngữ và đời sống) số 10 - 2002

Ngoài ra còn có các luận án, luận văn, khóa luận đề cập đến từ ghép và

từ láy về vấn đề phân biệt hai loại từ này:

+ “Cấu tạo ngữ pháp và ngữ nghĩa từ láy tiếng Việt (khảo sát trên các bài đọc của sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 và lớp 5)” Khóa luận tốt nghiệp đại học: chuyên ngành phương pháp dạy học tiếng Việt/ Trần Thị Hồng, Th.S Nguyễn Thu Hương (Hướng dẫn khoa học), 2007

+ “Cấu tạo ngữ pháp và ngữ nghĩa của từ ghép Tiếng Việt (Khảo sát qua các bài tập đọc sách giáo khoa Tiếng Việt 4)” Khóa luận tốt nghiệp đại học: Chuyên ngành phương phap dạy học tiêng Việt/ Nguyễn Ngọc Hân, Th.S Nguyễn Thu Hương (Hướng dẫn khoa học), 2007

Như vậy có thể thấy chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về các biện pháp giúp học sinh Tiểu học phân biệt từ ghép và từ láy Vì

vậy, tôi thực hiện đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh tiểu học phân biệt

từ ghép và từ láy tại trường tiểu học thị trấn Thanh Sơn - Huyện Sơn Động

- Tỉnh Bắc Giang”, với mong muốn góp một phần công sức nhỏ bé nâng cao

chất lượng dạy học và trau dồi kinh nghiệm giảng dạy cho bản thân

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu về từ ghép, từ láy và đề xuất một số biện pháp giúp học sinh Tiểu học phân biệt từ ghép và từ láy

Trang 9

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

a, Đối tượng nghiên cứu: những biện pháp phân biệt từ ghép và từ láy

b, Phạm vi nghiên cứu

Đề tài này tập trung nghiên cứu một số biện pháp giúp học sinh phân biệt từ ghép và từ láy tại trường tiểu học thị trấn Thanh Sơn- Sơn Động- Bắc Giang

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, tôi thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu khả năng phân biệt từ ghép và từ láy của học sinh tại trường tiểu học thị trấn Thanh Sơn- Sơn Động - Bắc Giang

- Đề xuất một số biện pháp giúp học sinh tiểu học nói chung và học sinh

ở trường tiểu học thị trấn Thanh Sơn nói riêng phân biệt từ ghép và từ láy

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp so sánh đối chiếu

- Phương pháp thống kê phân loại

- Phương pháp miêu tả

Trang 10

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Một số vấn đề chung về từ láy

1.1.1.1 Khái niệm từ láy

Trong tiếng Việt một số phương thức tạo từ cơ bản, đó là phương thức từ hóa hình vị, phương thức ghép và phương thức láy Phương thức ghép tạo ra các từ ghép, còn phương thức láy tạo ra các từ láy Từ láy khác từ ghép chẳng những về phương thức cấu tạo mà còn về những đặc điểm riêng của nó cả ở hình thức lẫn nội dung ý nghĩa

Khi miêu tả về từ láy, các nhà ngôn ngữ đưa ra nhiều ý kiến, bên cạnh

những điểm giống nhau vẫn có những điểm khác nhau Tham khảo cuốn “Từ

điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”, Nguyễn Như Ý (chủ biên) [14] và

tổng hợp từ các tài liệu viết về từ láy thì có khoảng 40 định nghĩa về từ láy Chúng ta xem xét một số định nghĩa sau:

- Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (…) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa [10; 41]

- Từ láy là từ gồm hai hình vị láy âm với nhau, trong đó có một hình vị

Các định nghĩa trên đã thể hiện hai cách nhìn khác nhau về từ láy:

+ Từ láy là từ được hình thành do sự lặp lại tiếng gốc có nghĩa

Trang 11

+ Từ láy là từ được hình thành bằng cách ghép các tiếng dựa trên quan

hệ ngữ âm giữa các thành tố

Cách nhìn thứ nhất chỉ mới lí giải được các từ láy xác định được tiếng gốc Bên cạnh đó còn những từ láy không xác định được tiếng gốc hoặc những từ có sự lặp lại một bộ phận ngữ âm nhưng vốn được tạo ra từ phương thức ghép

Cách nhìn thứ hai lại không có tác dụng giúp ta thấy được những nét độc đáo về mặt ngữ nghĩa của kiểu cấu tạo từ độc đáo này, không thấy được nét riêng của dân tộc ta trong việc sáng tạo những từ ngữ mới nhằm định danh sự vật mới một cách tiết kiệm mà lại có khả năng miêu tả sinh động, biểu cảm nhất

Từ láy là một loại từ vựng tiếng Việt (từ tiếng Việt bao gồm: từ đơn, từ ghép và từ láy) Nó mang đầy đủ những đặc điểm cơ bản của từ:

+ Là một khối thống nhất hoàn chỉnh của hình thức và nội dung

+ Mang tính có sẵn

+ Cố định – bắt buộc

+ Là đơn vị nhỏ nhất trực tiếp tạo câu

Như vậy, những ý kiến cho rằng: Từ láy “là những cụm từ cố định” là chưa thỏa đáng vì đã vi phạm đặc điểm: là đơn vị nhỏ nhất tạo câu

Từ láy xét về mặt số lượng hình vị được chia thành: Từ láy đôi, từ láy

ba, từ láy tư Nhận định “từ láy đều là từ hai tiếng” vô hình chung đã bỏ qua việc xem xét các từ láy ba, từ láy tư Xếp các từ láy ba, từ láy tư vào “dạng láy” là khiên cưỡng vì chúng đều là kết quả của cơ chế láy

Trong từ láy, phần lớn là từ láy mà một tiếng có nghĩa Nhưng cho rằng:

“Từ láy là từ gồm hai hình vị láy với nhau trong đó có một hình vị có thể tách

ra thành các từ đơn” thì sẽ không thừa nhận các từ láy phỏng thanh và từ láy cách điệu

Trang 12

Còn với ý hiểu: Từ láy là loại từ ghép trong đó các thành tố trực tiếp được kết hợp lại với nhau chủ yếu theo quan hệ ngữ âm đã đồng nhất các từ Hán Việt như: khuyến khích, hiền hậu, hài hòa, hòa hợp, phong phú… các từ ghép có mặt ngữ âm ngẫu nhiên trùng lặp như: hoa hồng, cá cơm, hốt hoảng… vào từ láy

Tất nhiên, những ý kiến nêu trên được đưa ra phải có những cơ sở nhất định Nhưng quan điểm phải xem xét láy như là một cơ chế tức là xem xét láy với tư cách như là một biện pháp cấu tạo từ theo những quy tắc nhất định đồng thời xem xét từ láy như là một hệ quả của quá trình ấy, có những đặc điểm riêng về cấu trúc và ngữ nghĩa- nhận được nhiều sự đồng tình hơn cả Cách nhìn này đã chú ý đến cả mặt âm và mặt nghĩa của từ láy, coi từ láy là một kiểu từ tiêu biểu đặc sắc của tiếng Việt Theo Giáo sư Hoàng Tuệ: “Láy

có lẽ chớ nên xem là “có quan hệ ngữ âm” giữa các âm tiết một cách chung

chung mà nên hiểu láy là một sự hòa phối ngữ âm giữa các yếu tố tương ứng của các âm tiết, đó là sự hòa phối ngữ âm có tác dụng biểu trưng hóa” [7; 23]

Tác giả Hoàng Văn Hành trong lời nói đầu của cuốn “Từ điển Từ láy

tiếng Việt”, đã đưa ra định nghĩa: “Từ láy là sự hòa phối ngữ âm giữa các yếu

tố tương ứng của các âm tiết và có tác dụng biểu trưng hóa” [5; 6] Phi Tuyết Hinh trong bài viết “Từ láy và sự biểu trưng ngữ âm” đã cho đây là “một cách nhìn tinh tế, phù hợp với đặc điểm của lớp từ này và gần gũi với ngữ âm của tiếng Việt”

Từ láy chính là sự hòa phối giữa ngữ âm có tác dụng biểu trưng hóa Sự hòa phối ngữ âm biểu hiện ở hai quy tắc: quy tắc điệp và quy tắc đối Điệp là

sự lặp lại, sự đồng nhất về âm (về nghĩa), đối là sự sai khác, sự dị biệt về âm (về nghĩa) Hai quy tắc này có quan hệ rằng buộc, chi phối lẫn nhau Tác dụng biểu trưng hóa thể hiện ở ba mức độ:

- Biểu trưng hóa ngữ âm đơn giản

Trang 13

- Biểu trưng hóa ngữ âm cách điệu

- Vừa biểu trưng hóa ngữ âm, vừa chuyên hóa về nghĩa

Cách hiểu này loại bỏ được các từ trùng lặp về mặt ngữ âm một cách ngẫu nhiên đồng thời giữ lại được các từ láy khó xác định tiếng gốc và nói lên được giá trị gợi tả, biểu cảm của từ láy

Ngôn ngữ luôn vận động và thay đổi theo sự phát triển của xã hội Trong quá trình đó, một số từ ghép có dạng láy và những từ láy chân chính đã hòa lẫn vào nhau mà ngay cả những nhà ngôn ngữ học cũng khó phân biệt được chúng trong nhiều trường hợp

Vì vậy, chúng tôi đưa ra cách hiểu chung nhất về từ láy như sau: Từ láy

là những từ gồm hai tiếng trở lên, giữa các tiếng có quan hệ ngữ âm có tác dụng tạo nghĩa

1.1.1.2 Phân loại từ láy

Căn cứ vào số lượng âm tiết trong từ láy, từ láy được chia thành các loại sau:

a Láy đôi

Từ láy đôi là từ láy gồm hai tiếng Đây là loại từ láy chiếm số lượng nhiều nhất Tùy theo kết quả của phương thức láy có hình thức ngữ âm giống nhau như âm tiết của hình vị cơ sở ở phụ âm đầu hoặc vần mà ta chia từ láy đôi ra làm hai loại: từ láy toàn bộ và từ láy bộ phận

* Láy toàn bộ

Láy toàn bộ không phải là sự lặp lại âm thanh một cách nguyên vẹn mà

là sự lặp lại âm thanh có biến đổi và có tác dụng tạo nghĩa biểu trưng Nên từ láy toàn bộ bao gồm các tiểu loại sau:

- Từ láy toàn bộ giữa hai tiếng chỉ khác nhau về trong âm

Ví dụ: Hao hao, xanh xanh, chiều chiều

- Từ láy toàn bộ giữa hai tiếng có thêm sự khác biệt về thanh điệu

Trang 14

Ví dụ: Trăng trắng, nhơ nhớ, nằng nặng,…

- Từ láy toàn bộ giữa hai tiếng có thêm sự khác biệt ở âm cuối

Ví dụ: Săm sắp, anh ách, tưng tức,…

Sự biến đổi âm cuối tuân theo quy tắc: từ p chuyển sang m, từ ch chuyển sang nh, từ c chuyển sang ng, từ t chuyển sang n

Nhóm biến thanh và biến âm cuối: Nếu hình vị có âm cuối là âm tắc thì khi láy nó sẽ biến thành âm mũi vang và theo nguyên tắc cùng cặp

* Láy bộ phận

Từ láy bộ phận là những từ láy có bộ phận âm tiết được giữ lại Đây là loại từ láy có số lượng nhiều nhất trong từ láy đôi cũng như là trong từ láy tiếng Việt Căn cứ vào thành phần của âm tiết được giữ lại, người ta chia thành từ láy âm và từ láy vần

- Từ láy âm

Từ láy âm là từ láy có âm đầu trùng lặp và có phần khác biệt ở tiếng gốc

và tiếng láy

Trang 15

Ví dụ: Xấu xí, ngô nghê, ngờ nghệch,…

Trong kiểu láy này cần lưu ý một số điểm sau:

• /l/ có thể đi với hầu hết các âm khác Ví dụ:

/l/ ở tiếng trước: lông bông, lấc cấc, lò dò, lao đao,…

/l/ ở tiếng sau: cheo leo, thu lu, khéo léo, xởi lởi,…

+ Chấp nhận việc thêm hoặc bớt âm đệm:

Ví dụ: Bâng khuâng, băn khoăn, lanh quanh, lẩn quẩn,…

+ Tồn tại một số từ không tuân theo quy luật biến thanh:

Ví dụ: Chói lọi, tùm lum, bờm xờm,…

Từ láy ba thường là từ láy toàn bộ (chỉ có một số ít là láy vần: lơ tơ mơ,

lù tù mù…) trong đó tiếng thứ nhất và tiếng thứ ba phải đối lập nhau về thanh

điệu hoặc âm vực, tiếng thứ hai mang thanh bằng

Trang 16

Ví dụ: Xanh xanh xao xao, cười cười nói nói…

Từ láy tư thường có các kiểu cấu tạo sau:

- Láy bằng biến thanh

Ví dụ: Dưng dửng dừng dưng, không khổng khồng không…

- Láy bằng tách xen và láy toàn bộ

Ví dụ: Vội vội vàng vàng, mếu mếu máo máo…

- Láy qua a, à hoặc ơ:

Ví dụ: Cục cà cục cằn, ngớ nga ngớ ngẩn, hớt hơ hớt hải…

1.1.1.3 Cấu tạo ngữ nghĩa của từ láy tiếng Việt

Dựa vào cơ sở ngữ nghĩa, có nhiều quan điểm để phân loại từ láy:

Hoàng Tuệ căn cứ vào sự tương quan âm – nghĩa Đỗ Hữu Châu lấy tính “đột

biến” hay “sắc thái hóa”, Hoàng Văn Hành dựa vào đặc điểm của hình thái

biểu trưng hóa ngữ âm từ … Tuy vậy, khi phân tích, miêu tả từng loại cụ thể thì các cách phân chia này khá phức tạp và ranh giới giữa các nhóm từ lại thiếu rõ ràng

Chúng tôi xin đưa ra cách phân chia được nhiều người chấp nhận và có tính đến các yêu cầu sau:

- Mối tương quan âm nghĩa trong từ láy

- Vai trò ngữ nghĩa của tiếng gốc và khuôn vần

- Khả năng làm bộc lộ nghĩa hay giá trị ngữ nghĩa của các kiểu từ láy khác nhau

Trang 17

Như vậy từ láy tiếng Việt được chia thành ba nhóm như sau:

1.1.1.3.1 Từ láy phỏng thanh

Từ láy phỏng thanh là từ láy trong đó các tiếng được hình thành và được ghép lại dựa vào sự mô phỏng âm thanh của các sự vật, hiện tượng trong thực

tế Cụ thể hơn, đó là sự nhại lại âm thanh của đối tượng: oa oa, gâu gâu, xình

xịch,… hay dựa vào mô phỏng âm thanh để định danh cho đối tượng: (con) bìm bịp, (chim) tu hú, (xe) cút kít,…

Tác giả Nguyễn Thị Hai [9] đã dựa vào 3 căn cứ:

1 Nguồn gốc và cách thức phát ra âm thanh

2 Những đặc trưng vật lí của âm thanh

3 Sự đánh giá của khách thể

Từ đó chia từ láy phỏng thanh thành các loại:

Từ căn cứ thứ nhất, từ láy phỏng thanh được chia thành:

I) Những từ láy có nguồn gốc âm thanh từ người và con vật

II) Những từ láy có nguồn gốc âm thanh từ vật và hiện tượng

III) Những từ láy có nguồn gốc âm thanh từ cả người, vật và hiện tượng

Từ căn cứ thứ hai, từ láy phỏng thanh được chia thành:

II ) Loại được đánh giá trung hòa

III ) loại được đánh giá không tốt

Trong mỗi loại tác giả lại chia tiếp thành các dạng, kiểu Tuy vậy, kiểu phân chia hai tỏ ra đơn giản và phù hợp hơn với đối tượng là học sinh tiểu học

1.1.1.3.2 Từ láy sắc thái hóa

Trang 18

Từ láy sắc thái hóa là những từ trong đó một tiếng gốc và một hoặc hơn một tiếng láy Yếu tố gốc chi phối nghĩa của toàn bộ từ láy, yếu tố còn lại có tác dụng bổ sung một sắc thái ý nghĩa nào đó khiến cho từ láy khác với phần gốc của nó đứng một mình và khác có cùng yếu tố gốc

Ví dụ: So sánh “bối rối” với rối, rối ren, rối rắm, rối rít,…, “dễ dàng” với dễ, dễ dãi, dễ dễ,…

Xét về mặt phạm vi biểu vật của từ láy so với tiếng gốc, có hai dạng sắc thái của từ láy:

a Từ láy diễn đạt nghĩa phi cá thể hóa:

Từ láy phi cá thể hóa là những từ mà ý nghĩa biểu thị phạm vi sự vật rộng hơn so với tiếng gốc

Ví dụ: Chim chóc, máy móc, tang tóc, chết chóc, người ngợm,…

b Từ láy diễn đạt nghĩa cụ thể hóa

Từ láy cụ thể hóa là những từ mà ý nghĩa biểu thị phạm vi sự vật hẹp hơn so với tiếng gốc

Ví dụ: Lung lay, luẩn quẩn, dễ dàng, dễ dãi, rối ren, tỉa tót,…

Có thể nêu ra một số mô hình ngữ nghĩa tương đối thuần nhất của một

Ví dụ: Cỏn con, tẻo teo, tí tị tì ti,…

+ Tiếng gốc là động từ thường diễn đạt các hành động lặp đi lặp lại một

Trang 19

cách đều đặn và kèm với quá trình lặp lại đó, cường độ của hành động mang tính giảm nhẹ

Ví dụ: Gật gật, lắc lắc, rung rung, cười cười,…

+ Tiếng gốc là danh từ, thường diễn đạt sự lặp đi lắp lại các sự kiện, hiện tượng, sự vật,… cùng tính chất

Ví dụ: Ngày ngày, chiều chiều, đêm đêm,…

- Kiểu láy bộ phận

• Với những từ láy âm

+ Từ láy âm mà tiếng láy có vần “ăn” thường diễn tả một tính chất đạt

chuẩn mực

Ví dụ: Vuông vắn, tròn trặn, đầy đặn, ngay ngắn,…

+ Từ láy âm mà tiếng láy ở trước tiếng có vần “uc” diễn tả dao động

theo chiều ngang một quãng ngắn

Ví dụ: Lúc lắc, nhúc nhích, ngúc ngắc,…

+ Từ láy mà tiếng láy ở sau có vần “iếc” có ý nghĩa phi cá thể kèm theo

thái độ phủ định giá trị thực của sự vật, hiện tượng

Ví dụ: Áo iếc, chăn chiếc, bàn biếc, sách siếc,…

• Với những từ láy vần

+ Từ láy vần mang khuôn vần i thường thể hiện sự nhỏ bé, yếu ớt, ít,

nhẹ, thầm kín, ấm ức, tắc nghẽn

Ví dụ: Ti hí, ri rỉ, li ti, chi li,…

+ Từ láy mang khuôn vần eo thường biểu hiện cho sự yếu ớt, nhỏ, mềm

Ví dụ: Léo khéo, lèo tèo, lẽo đẽo, nhèo nhẹo,…

Có thể nói, đây là kết quả của sự cảm nhận từ những người nói tiếng mẹ

đẻ, đúc rút, tổng kết mang tính kinh nghiệm của các nhà ngôn ngữ học chứ chưa có được những căn cứ đáng tin cậy mang tính khoa học

1.1.1.3.3 Từ láy cách điệu

Trang 20

Từ láy cách điệu là từ láy không chứa các bộ phận còn đủ rõ nghĩa từ vựng hoặc vần có thể chứng minh nghĩa của một bộ phận nào đó nhưng nó không còn tác dụng làm cơ sở nghĩa của toàn từ nữa Loại từ này chiếm số lượng khá lớn trong từ láy tiếng Việt

Ví dụ: Bâng khuâng, lững thững, đủng đỉnh, thướt tha,…

Tác giả Diệp Quang Ban cho rằng: “Từ láy cách điệu là kiểu từ láy thuần khiết nhất, xứng đáng với vai trò là kiểu tiêu biểu của toàn bộ cơ chế láy- một cơ chế lấy sự hòa phối ngữ âm tạo ý nghĩa biểu trưng (ý nghĩa “ấn tượng”) làm cơ sở [1;56]

Cũng giống như từ láy sắc thái hóa, nhiều người đã cố gắng mô hình hóa nghĩa của kiểu từ láy này

- Cặp vần ấp - ênh: Diễn tả sự không bằng phẳng, không ổn định, không

Trong đó, các tác giả cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” , UBKHXH,… đã chỉ

ra khá cụ thể các dạng láy:

- Dạng láy từ một tiếng:

+ Dạng láy hai tiếng: Người người (láy toàn bộ không biến đổi), tim tím

(láy bộ phận thanh biến đổi)

+ Dạng láy ba tiếng:

• Láy toàn bộ: Vui vui vui, nhớ nhớ nhớ,…

Trang 21

• Láy bộ phận: Cỏn còn con, tí tì tỉ,… (có phối hợp ngữ âm nhưng chỉ

về âm thanh)

• Dạng láy có kết hợp về trợ từ: Vui vui là, những sách là sách, những

người là người,…

- Từ láy hai tiếng

+ Dạng láy toàn bộ: Cười cười nói nói, vội vội vàng vàng,…

+ Dạng láy có phối hợp ngữ âm: Đủng đà đủng đỉnh, củ mỉ cù mì, hớt

hơ hớt hải,…

+ Dạng láy bộ phận có phối hợp ngữ âm trong đó có giữ nguyên dạng

hai tiếng của một kiểu từ ghép đổi thanh dạng láy ba tiếng: Thơm phưng phức

(thơm phức), đen sì sì (đen sì),…

- Láy từ một tiếng và láy từ hai tiếng có dạng láy đặc biệt với “iếc”,

“ang”, “ung” ở cuối dạng láy Ví dụ: Học hiếc, sách siếc, hoa tai hoa tung, đàn ông, đàn ang,…

Theo ý kiến của giáo sư Đỗ Hữu Châu: các tác giả tán thành sự phân biệt từ láy và dạng láy của từ thực ra cũng chưa đưa ra được những căn cứ rõ rệt để phân định, chưa có một ý kiến nào đủ sức thuyết phục lí do tại sao phải tách những trường hợp trên riêng ra thành dạng láy, do đó khó lòng phân biệt được khi nào là từ láy, khi nào là dạng láy của từ Nếu cố chấp nhận sự phân biệt từ láy và dạng láy thì điều đó cũng không giúp ích gì thêm cho sự miêu tả tiếng Việt Đó là những sự chấp nhận cục bộ, thêm bớt một phạm trù cục bộ thường không ảnh hưởng gì đáng kể đến toàn bộ đặc điểm của đối tượng đang quan sát, nó có thể che lấp những cái chung hơn, bản chất hơn của đối tượng

và gây ra sự rắc rối không đáng có

Hơn nữa đối với học sinh tiểu học do nhận thức của các em chưa cao, nếu có sự phân biệt từ láy và dạng láy như trên thì các em cũng khó có thể nhận thức được và sẽ quá với khả năng của các em

Trang 22

Và theo quan điểm của chúng tôi:

1 Các từ láy không xác định được tiếng gốc nghiễm nhiên là từ láy, tất

cả các trường hợp láy từ một từ thì đều được coi là từ láy:

- Từ một từ đơn: Người người (người), chiều chiều (chiều), sung sướng (sướng), khéo léo (khéo), sách siếc (sách),…

- Từ một từ ghép: Cười cười nói nói (cười nói), trùng trùng điệp điệp(trùng điệp), đàn ông đàn ang (đàn ông),…

- Từ một từ láy: Hớt hơ hớt hải (hớt hải), đủng đà đủng đỉnh (đủng đỉnh), dửng dừng dung (dửng dung), khệnh khệnh khạng khạng (khệnh

khạng),…

2 Các trường hợp sau:

- Thứ nhất: Vui vui là, nhớ nhớ là, hay hay là,

- Thứ hai: Ngoan thật là ngoan, những người là người, thương thế là

thương,…

- Thứ ba: Béo múp béo míp, khóc nức khóc nở, khen rối khen rít,…

Chúng tôi coi đây là các ngữ:

Trường hợp thứ nhất: Từ láy + trợ từ; trường hợp thứ hai: Từ đơn+ trợ

từ đơn; trường hợp thứ ba: Từ đơn + từ láy kết hợp với quy tắc đối- điệp hoặc tách- xen

Với trường hợp thứ ba, chúng còn tồn tại ở dạng khác là các ngữ động

từ, ngữ tính từ,… như: Khóc nức nở, khen rối rít, run lẩy bẩy, dài lê thê,…

b, Từ láy và từ ghép

Sách giáo khoa Tiếng Việt 4, tập 1, trang 39 đã chỉ ra như sau:

1 Ghép những tiếng có nghĩa lại với nhau Đó là từ ghép

M: Tình thương, thương mến

2 Phối hợp những tiếng có âm đầu hay vần (hoặc cả âm đầu và vần) giống nhau Đó là từ ghép:

Trang 23

M: Săn sóc, khéo léo, luôn luôn

Như vậy cả từ ghép và từ láy đều là những từ có từ hai tiếng trở lên Từ láy

là sản phẩm của phương thức láy, từ ghép là sản phẩm của phương thức ghép

Từ láy bao gồm hai tiếng trở lên nhưng chỉ có một tiếng có nghĩa (trừ các trường hợp không xác định được tiếng có nghĩa hoặc một số từ láy tư có

dạng AABB: Cười cười nói nói, nghiêng nghiêng ngả ngả,…); còn trong từ

ghép thì các tiếng thành phần đều có nghĩa

Từ láy đôi chiếm số lượng nhiều nhất bên cạnh các từ láy ba, từ láy tư

(ví dụ: Ăn năn, hối hả, nhanh nhanh, sạch sành sanh, ngớ nga ngớ ngẩn,…)

Đối với từ ghép thì từ ghép gồm hai tiếng cũng chiếm số lượng nhiều

nhất nhưng cũng tồn tại những từ ghép ba hoặc bốn tiếng (ví dụ: các mè, đồng

ruộng, hợp tác xã, vô tuyến truyền hình, bách hóa tổng hợp,…)

Khi xem xét từ láy hoặc từ ghép cần lưu ý những trường hợp sau trong

từ vựng tiếng Việt:

1 Tươi tốt, đi đứng, buôn bán, mặt mũi, hốt hoảng, nhỏ nhẹ.hoa huệ,

cá cảnh, cá cơm, cái cân, cây cỏ,…

2 Bình minh, chí khí, hào hiệp, hoan hỉ, hữu hạn,bao biện, hòa hợp,…

Đó đều là các từ ghép Quan hệ giữa các tiếng trong những từ trên là quan hệ về nghĩa Sự giống nhau về hình thức ngữ âm của các tiếng trong những từ trên chỉ là ngẫu nhiên Trường hợp một là những từ ghép thuần Việt Trường hợp hai là những từ ghép Hán Việt

Như vậy ngoài sự giống nhau thì giữa từ láy và từ ghép có những điểm khác biệt và cần chú ý một số trường hợp dễ nhầm lẫn Nhận biết và phân biệt

từ láy và từ ghép rất cần thiết cho công tác giảng dạy sau này nhất là với việc cung cấp, mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học

c, Các từ láy đặc biệt

Trang 24

Thứ nhất: Cây cối, đất đai, chim chóc, chùa chiền, gậy gộc, tuổi tác, mùa màng, thịt thà,…

Mỗi từ trên đều có một tiếng có nghĩa làm gốc và một tiếng vô nghĩa láy lại phụ âm đầu của tiếng gốc Nhưng những tiếng bị coi là vô nghĩa: đai, chiền, tác… xưa kia vốn có nghĩa tương tự tiếng gốc Một số nhà ngôn ngữ học coi đây là những từ ghép tổng hợp Nhưng đứng trên quan điểm đồng đại,

sự nhìn nhận của số đông người Việt, khả năng nhận thức của học sinh tiểu học chúng tôi coi đây là những từ láy, cụ thể là những từ láy âm

Thứ hai: Cong queo, cuống quýt, công kênh, cập kênh,…

Mặc dù, trên chữ viết, phụ âm đầu được viết giống nhau Nhưng đây đều là những từ láy có chung phụ âm đầu là /k/ (cờ) Trên chữ viết, âm /k/

được viết thành ba chữ cái khác nhau là k (ca), c (cờ), q (cu)

Thứ ba: Êm ả, êm ái, ấm áp, ấm ức, ầm ĩ ỉ ôi, inh ỏi,…

Mỗi tiếng trong các trường hợp trên đều có phụ âm đầu là âm tắc thanh hầu Phụ âm này không được biểu diễn trên chữ viết Một số ý kiến không thừa nhận sự tồn tại của âm tắc thanh hầu thì đây là những từ cùng khuyết phụ

âm đầu nên vẫn có điểm chung về hình thức cấu tạo ngữ âm Vì vậy nhìn từ góc độ nào thì đây cũng vẫn là những từ láy âm

Thứ tư: Khang khác, thinh thích, nằng nặng, thoăn thoắt, sằng sặc,…

Trong mỗi từ nói trên đều có một tiếng làm gốc Tiếng còn lại có sự biến đổi về thanh điệu và phụ âm cuối so với tiếng gốc Sự biến đổi tuân theo quy luật:

- Về thanh điệu: Thanh sắc chuyển sang thanh ngang

- Về âm cuối: p chuyển sang m, t chuyển sang n, c chuyển sang ng, ch chuyển sang nh

Sự biến đổi trên là không lớn, lại diễn ra theo quy tắc nhất định, do đó

có thể xếp các từ trên vào nhóm từ láy tiếng

Trang 25

Trong quá trình dạy học người giáo viên tiểu học cũng cần nắm rõ các trường hợp trên để giải đáp thắc mắc, giúp các em hiểu đúng và hiểu rõ hơn

- Định nghĩa của Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thưng – Ngữ pháp tiếng

Việt: “Từ ghép là từ chứa hai (hoặc hơn hai) từ tố và trong đó nhìn chung không có hiện tượng hòa phối ngữ âm tạo nghĩa” [2;43]

- Trong “Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại” của Hồ Lê, tác giả

đã có định nghĩa cụ thể: “Từ ghép là một loại đơn vị ngôn ngữ do nhiều từ tố

kết hợp lại có tính vững chắc về cấu tạo và tính thành ngữ về ý nghĩa” [8;54]

- Từ ghép trong sách giáo khoa Tiếng Việt 4 ở tiểu học được định nghĩa một cách đơn giản “Ghép những tiếng có nghĩa lại với nhau Đó là từ ghép”

[trang 39]

- Trong Ngữ pháp tiếng Việt của Ủy ban khoa học xã hội, từ ghép được định nghĩa như sau: “Là những từ được cấu tạo theo phương thức phối hợp

ngữ nghĩa giữa hai tiếng được dùng làm yếu tố cấu tạo”[16; 47]

- Theo giáo sư Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng

Việt:“Từ ghép được tạo ra từ phương pháp ghép hình vị, do sự kết hợp hai hoặc một số hình vị (hay đơn vị cấu tạo) tách biệt, riêng lẻ, độc lập đối với nhau” [3; 54]

Ví dụ:

Trang 26

Từ hai hình vị xe và đạp, bằng phương thức ghép hình vị ta có được từ ghép xe đạp

Ta có thể định nghĩa từ ghép như sau: Từ ghép là từ được sản sinh do ghép hai hoặc một số hình vị (hay đơn vị cấu tạo) tách biệt, riêng lẻ và độc lập với nhau

Như vậy từ ghép là từ có hai hình vị trở lên trong đó hình vị nào cũng có nghĩa Là từ nên từ ghép có cấu tạo rất chặt chẽ tức là không thể chia cắt mà không làm ảnh hưởng đến nghĩa của từ Từ ghép cũng là một đơn vị nhỏ nhất dùng trực tiếp để tạo câu

1.1.2.2 Phân loại từ ghép

Căn cứ vào ba đặc điểm sau đây để phân loại từ ghép:

- Ý nghĩa của từ mới

- Tính chất của hình vị

- Mối quan hệ ngữ pháp, ngữ nghĩa giữa các hình vị

Chia từ ghép thành hai loại: Từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ

1.1.2.2.1 Từ ghép đẳng lập (Từ ghép hợp nghĩa, từ ghép đẳng nghĩa, từ ghép song song)

a, Khái niệm

Từ ghép đẳng lập là những từ ghép do hai hình vị tạo nên, trong đó

không có hình vị nào là hình vị chỉ loại lớn, không có hình vị nào là hình vị phân nghĩa Các loại từ ghép này không biểu thị những loại (sự vật, hiện

tượng, tính chất,…) nhỏ hơn, trái lại chúng biểu thị những loại rộng hơn, lớn

hơn, bao trùm hơn so với loại của hình vị tách riêng

Từ ghép đẳng lập có các đặc trưng là:

- Quan hệ ngữ pháp giữa các từ tố trong nó là quan hệ đồng đẳng

Ví dụ: Từ “quần áo” là danh từ chỉ đồ mặc, có thể tách riêng từng thành

tố là “quần” và “áo” hai yếu tố này đều thuộc từ loại danh từ

Trang 27

- Ý nghĩa của từ ghép đẳng lập là ý nghĩa tổng hợp, ý nghĩa chỉ loại sự vật đặc trưng (hành động, trạng thái, tính chất, quan hệ) chung

Ví dụ: Từ “quần áo” chỉ đồ mặc để che thân nói chung, trong đó có cả

quần lẫn áo

- Xét về mặt quan hệ ý nghĩa giữa các thành tố có thể thấy:

+ Hoặc các thành tố đồng nghĩa nhau, trong đó:

• Có thể có một yếu tố thuần Việt và một yếu tố Hán Việt

Ví dụ: Bạn hữu, bụng dạ,…

• Có thể hai yếu tố đều là Hán Việt

Ví dụ: Tư duy, thổ địa, tiện lợi,cốt nhục,…

• Có thể một yếu tố toàn dân, một yếu tố là địa phương

Ví dụ: Chân cẳng, chợ búa,…

• Có thể cả hai yếu tố đều là thuần Việt

Ví dụ: Chờ đợi, máu mủ, xinh đẹp,…

+ Hoặc các thành tố gần nghĩa nhau

Ví dụ : Thương nhớ, ăn uống, nhà cửa,…

- Xét về mặt nội dung, nói chung từ ghép đẳng lập thường gợi lên những phạm vi sự vật mang ý nghĩa phi cá thể tổng hợp (tức là biểu thị sự vật, tính chất hay hành động chung) mang tính kết quả

- Tuy có quan hệ bình đẳng về mặt ngữ pháp, nhưng không đưa đến hệ quả là ý nghĩa từ vựng của các thành tố trong từ đều có giá trị ngang nhau trong mọi trường hợp Như ta sẽ thấy, những trường hợp một trong hai thành

tố phai mờ nghĩa xảy ra phổ biến trong từ ghép đẳng lập

b, Phân loại

Tác dụng ngữ nghĩa chủ yếu của các từ ghép hợp nghĩa là chỉ loại lớn, rộng hơn, bao trùm hơn so với các thành tố trong việc tạo nghĩa và phạm vi biểu đạt của từ ghép, có thể phân từ ghép đẳng lập thành ba loại là: Từ ghép

Trang 28

đẳng lập hợp nghĩa, từ ghép đẳng lập đơn nghĩa, từ ghép đẳng lập gộp nghĩa

b.1 Từ ghép đẳng lập hợp nghĩa

Từ ghép đẳng lập hợp nghĩa bao gồm những từ ghép nằm trong mô hình

AB> A + B Tức là loại mà ở đó nghĩa của cả từ không chỉ là phép cộng đơn thuần nghĩa các thành tố, nó là sự tổng hợp nghĩa của các thành tố kèm theo

sự trừu tượng hóa dựa trên cơ sở liên tưởng ẩn dụ hoặc hoán dụ Do đó nghĩa của cả từ mới hơn so với nghĩa của từng thành tố

Ví dụ: Đất nước không chỉ là đất và nước nói chung hoặc chỉ đất hoặc chỉ nước, mà là yếu tố được kết hợp lại để chỉ lãnh thổ của một số quốc gia

trong đó có những nét tiêu biểu là đất và nước

b.2 Từ ghép đẳng lập đơn nghĩa

Từ ghép đẳng lập đơn nghĩa bao gồm từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa:

AB = A hoặc B Tức là loại hình mà nghĩa khái quát chung của cả từ ghép đẳng lập tương ứng với nghĩa của một thành tố có mặt trong từ

Ví dụ:

• Núi non, binh lính, cấp bậc,…

• Tìm kiếm, thay thế, xây dựng,…

Do nghĩa của cả từ ghép tương ứng với nghĩa của cả một thành tố còn

có xu hướng bị mờ nghĩa hoặc bị mất nghĩa Yếu tố này sẽ làm chỗ dựa cho

nghĩa của từ ghép Có thể nói sự mờ nghĩa của núc trong bếp núc, búa trong

chợ búa, pheo trong tre pheo,… chính là kết quả của cực đoan của mô hình

đơn nghĩa này

b.3 Từ ghép đẳng lập gộp nghĩa

Từ ghép đẳng lập gộp nghĩa bao gồm những từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa AB = A + B Từ là loại mà nghĩa của từng thành tố cùng nhau gộp lại

để biểu thị ý nghĩa chung của cả từ ghép Trong ý nghĩa chung đó có ý nghĩa

riêng của từng thành tố Chẳng hạn, từ quần áo chỉ đồ mặc nói chung, trong

Trang 29

quần hoặc của riêng áo, hoặc chỉ một số đồ đạc khác tương đương

Khi có thể sử dụng riêng từng từ tố với tư cách từ đơn tố, ý nghĩa của từng từ rời này rất xác định và khác nhau Ví dụ quần khác áo

- Có thể hoán vị được đối với một số từ ghép gộp nghĩa, trường hợp từ ghép không có yếu tố Hán- Việt

Ví dụ:

⃰ Áo quần – quần áo

⃰ Rủi may – may rủi

⃰ Tươi tốt – tốt tươi

- Khả năng hoán vị xảy ra giữa các thành tố trong từ ghép đơn nghĩa, đặc biệt đối với trường hợp từ ghép có yếu tố mờ nghĩa, mất nghĩa

- Ít có khả năng hoán vị các từ tố trong từ ghép đẳng lập đơn nghĩa

- Khả năng hoán vị bị sự khống chế của một số yêu cầu:

Trang 30

+ Không được làm thay đổi ý nghĩa của từ ghép ban đầu

Ví dụ:

⃰ Cơm nước – nước cơm

⃰ Đi lại – lại đi

⃰ Xăng dầu – dầu xăng

Khi hoán vị các thành tố trên thì ý nghĩa của từ sẽ thay đổi Trong

trường hợp “cơm nước” (nghĩa là cái ăn, cái uống thường ngày) nếu đổi trật tự lại là “nước cơm” thì mang nghĩa khác : “Nước cơm” là chất lỏng màu trắng

đục, ở trên bề mặt gạo khi đun sôi

+ Không đi ngược với tập quán cổ truyền của dân tộc

Ví dụ:

⃰ Nam nữ - nữ nam

⃰ Ông bà – bà ông

⃰ Anh em- em anh

Theo tập quán cổ truyền của dân tộc thì những từ chỉ quan hệ thứ bậc sẽ

được sắp xếp theo trật tự hàng trên trước, hàng dưới sau Ví dụ: anh là thành

đó có một hình vị chỉ loại lớn (sự vật, hành động, tính chất) và một hình vị có tác dụng phân hóa loại lớn đó thành những loại nhỏ hơn cùng loại nhưng độc lập đôi với nhau, và độc lập với loại lớn

Đặc trưng chung của từ ghép chính phụ là:

Trang 31

- Quan hệ ngữ pháp giữa các từ tố trong nó là quan hệ bất bình đẳng,

quan hệ chính phụ Trong đó yếu tố chính thường giữ vai trò chỉ loại sự vật

lớn, loại đặc trưng lớn Yếu tố phụ thường được dùng để cụ thể hóa loại sự vật, loại đặc trưng đó

- Kiểu ý nghĩa của từ ghép chính phụ, vì vậy, là kiểu ý nghĩa không tổng

hợp và khi cần cụ thể hóa nó thì có thể phân biệt trong đó ý nghĩa dị biệt và ý nghĩa sắc thái hóa

- Trong nhiệm vụ cụ thể hóa tên gọi sự vật, đặc trưng, từ tố phụ về ngữ

pháp thường có trọng lượng nghĩa lớn hơn từ tố chính Ví dụ so sánh: xe đạp,

xe máy, xe ngựa; ngủ gật, ngủ mê, ngủ gà; đẹp lòng, đẹp nết, đẹp mắt

Xét cách phản ánh (quy chiếu) sự vật, đặc trưng được gọi tên vào nội

dung từ ghép chính phụ, thì từ ghép chính phụ bao giờ cũng là từ ghép đơn nghĩa Từ ghép chính phụ đơn nghĩa khác từ ghép đẳng lập đơn nghĩa ở ý nghĩa khái quát: ý nghĩa không tổng hợp ở từ ghép chính phụ và ý nghĩa tổng hợp ở từ ghép đẳng lập Vậy là, kiểu phản ánh (quy chiếu) sự vật, đặc trưng vào từ có tác dụng làm cho 2 kiểu từ ghép này tiếp cận nhau, nhưng kiểu ý nghĩa khái quát lại giữ mỗi kiểu lại bên đường biên giới của mình So sánh:

- Bếp núc, ăn nói, vui tươi – từ ghép đẳng lập đơn ứng

- Xe đạp, dưa hấu, ngủ gật, vui miệng – từ ghép chính phụ đơn ứng

b Phân loại

Căn cứ vào vai trò của các từ tố trong việc tạo nghĩa của từ ghép có thể chia từ ghép chính phụ thành 2 kiểu chính là: từ ghép dị biệt và từ ghép sắc thái hóa

b.1 Từ ghép chính phụ dị biệt

Từ ghép dị biệt là từ ghép trong đó tên gọi nêu ở từ tố chính được cụ thể hóa bằng cách thêm vào một tên gọi ở từ tố phụ, làm cho những sự vật cùng loại được gọi tên ở từ tố chính phân biệt được với nhau nhờ từ tố phụ Với tác

Trang 32

dụng gọi tên gọi tên xác định, từ ghép dị biệt là kiểu tiêu biểu về cấu tạo và về chức năng của toàn bộ cơ chế ghép chính phụ

Trong kiểu từ ghép dị biệt này, nếu hai từ tố gốc danh từ cùng đi với nhau thì từ tố phụ thường đứng sau khi đi với từ tố chính gốc Việt hoặc Việt hóa thuần thục, và từ tố phụ thường đứng trước khi đi với từ tố chính gốc Hán

Ví dụ:

- Xe lửa, xe hỏa, dưa chuột, làm nóng, (con) thiêu thân,…

- Nhiệt kế, sử học, hỏa xa, tập thể hóa,…

Ở từ ghép dị biệt thường thấy có, nhưng không nhất thiết phải có, hiện tượng một từ tố chính chung đi với những thành tố phụ khác nhau làm thành một đối hệ từ (một hệ thống con của từ) Trong trường hợp này từ tố phụ có tác dụng phân chia loại sự vật, đặc trưng lớn thành những loại nhỏ, hoặc những sự vật, đặc trưng cụ thể, vì vậy chức năng của từ tố phụ ở hiện tượng

này có thể gọi là tác dụng phân loại

Ví dụ:

* Xe đạp, xe máy, xe lửa, xe bò;

⃰ Dưa chuột, dưa gang, dưa hấu;

⃰ Làm việc, làm ruộng, làm rấy, làm nông, làm thợ, làm dâu

Chính tác dụng phân loại làm cho một số từ tố phụ vốn không có nghĩa hoặc nay đã mất nghĩa và một số từ tố phụ nghĩa không rõ rệt đối với người

sử dụng, trở thành từ tố có ý nghĩa rất xác định; mặc dù thường khi chỉ có thể

miêu tả nó chứ không định nghĩa được nó Ví dụ: Dưa hấu, xe lam Đây là

hiện tượng biến cái không có nghĩa thành có nghĩa xác định do cơ chế cấu tạo

từ đẻ ra

Ở từ ghép chính phụ dị biệt cũng tồn tại hiện tượng trái lại, một từ tố phụ chung đi cùng với những từ tố chính khác nhau và trong nhiều trường hợp chúng cũng làm thành những đối hệ chặt chẽ và có giá trị sử dụng cao

Ngày đăng: 14/12/2016, 10:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Diệp Quang Ban (chủ biên) (2000), Ngữ pháp tiếng Việt, tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
[2]. Diệp Quang Ban (chủ biên), Hoàng Văn Thung (1999), Ngữ pháp tiếng Việt, tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban (chủ biên), Hoàng Văn Thung
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
[3]. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
[4]. Hoàng Dũng (1999), Bàn thêm về vấn đề nhận diện từ láy trong tiếng Việt, tạp chí ngôn ngữ số 2/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về vấn đề nhận diện từ láy trong tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Dũng
Năm: 1999
[5]. Hoàng Văn Hành (1985),Từ láy trong tiếng Việt, Nxb Khoa học Xã Hội [6]. Hòang Văn Thành, Từ điển từ láy, Nxb Giáo dục 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ láy trong tiếng Việt", Nxb Khoa học Xã Hội [6]. Hòang Văn Thành, "Từ điển từ láy
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã Hội [6]. Hòang Văn Thành
Năm: 1985
[7]. Hoàng Tuệ (1978), Về những từ gọi là “từ láy” trong tiếng Việt, tạp chí ngôn ngữ số 3/1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về những từ gọi là “từ láy” trong tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Tuệ
Năm: 1978
[8]. Hồ Lê (1968), Vấn đề cấu tạo từ của từ láy tiếng Việt, Nxb Giáo dục [9]. Hữu Huỳnh (1994), Tiếng Việt hiện đại, Trung tâm biên soạn từ điểnbách khoa Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề cấu tạo từ của từ láy tiếng Việt", Nxb Giáo dục [9]. Hữu Huỳnh (1994), "Tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Hồ Lê (1968), Vấn đề cấu tạo từ của từ láy tiếng Việt, Nxb Giáo dục [9]. Hữu Huỳnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục [9]. Hữu Huỳnh (1994)
Năm: 1994
[10]. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1992), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
[11]. Nguyễn Tài Cẩn (2001), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
[12]. Nguyễn Thiện Giáp (1985), Từ vựng học tiếng Việt, Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1985
[13]. Nguyễn Văn Tu (1968), Từ vựng học tiếng Việt hiện đại, Nxb Đại học và Trung cấp chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Tu
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung cấp chuyên nghiệp
Năm: 1968
[14]. Nguyễn Như Ý (chủ biên), (1996), Từ điển giải thích thuật ngữ Ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giải thích thuật ngữ Ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Như Ý (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
[15]. Trịnh Mạnh (1982), Vấn đề dạy từ ngữ cho học sinh cấp 1, nghiên cứu giáo dục số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dạy từ ngữ cho học sinh cấp 1
Tác giả: Trịnh Mạnh
Năm: 1982
[16]. UBKHXH Việt Nam (1993), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: UBKHXH Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1993

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w