Chu kỳ động dục chu kỳ tính Khi gia súc thành thục về tính thì cơ thể con cái đặc biệt là cơ quan sinh dục có sự biến đổi, đồng thời có rụng trứng, trứng phát triển nhờ quá trình điều k
Trang 1TRỊNH VĂN TUẤN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH SẢN, BỆNH Ở CƠ QUAN SINH DỤC VÀ THỬ NGHIỆM PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ TRÊN ĐÀN LỢN NÁI NGOẠI TẠI HUYỆN THANH BA,
TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2TRỊNH VĂN TUẤN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH SẢN, BỆNH Ở CƠ QUAN SINH DỤC VÀ THỬ NGHIỆM PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ TRÊN ĐÀN LỢN NÁI NGOẠI TẠI HUYỆN THANH BA,
TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Thú y
Mã số : 60 64 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Hùng Nguyệt
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Trịnh Văn Tuấn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của tập thể và cá nhân trong và ngoài trường
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa Chăn Nuôi – Thú Y, Khoa Nông Lâm Ngư Trường Đại Học Hùng Vương cùng các thầy, cô giáo đặc biệt là thầy giáo TS Nguyễn Hùng Nguyệt đã hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn ban lãnh đạo chi cục thú y tỉnh Phú Thọ, trạm thú y huyện Thanh Ba, trạm khuyến nông huyện Thanh Ba, các chủ trang trại
ở huyện Thanh Ba, các lò giết mổ thuộc huyện Thanh Ba đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Nhân dịp này tôi cũng gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, người thân, những người đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Học viên
Trịnh Văn Tuấn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Chương 1 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đặc điểm sinh sản của lợn nái 3
1.1.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục cái 3
1.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn cái 7
1.2 Một số hiểu biết về quá trình viêm 20
1.2.1 Khái niệm viêm 20
1.2.2 Hậu quả của phản ứng tuần hoàn và phản ứng tế bào trong viêm 20 1.3 Những bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục lợn nái 21
1.3.1 Viêm âm môn, tiền đình và âm đạo (Vulvitis, Vestibuliti et vaginitis puerperalis) 21
1.3.2 Viêm cổ tử cung (Cervitis) 22
1.3.3 Viêm tử cung 23
1.3.4 Các bệnh ở buồng trứng 27
1.4 Tình hình nghiên cứu bệnh viêm tử cung lợn trên thế giới và Việt Nam 29 1.4.1 Thế giới 30
1.4.2 Việt Nam 31
1.5 Nguồn gốc đặc điểm của hai giống lợn Landrace và Yorkshire 33
1.5.1 Giống lợn Landrace 33
Trang 61.5.2 Giống lợn Yorkshire 33
Chương 2 : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Đối tượng nghiên cứu 35
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 35
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 35
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 35
2.3 Nội dung nghiên cứu 35
2.3.1 Xác định một số chỉ tiêu sinh sản 35
2.3.2 Xác định một số bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục cái 35
2.3.3 Thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh viêm đường sinh dục 36 2.4 Phương pháp nghiên cứu 36
2.4.1 Xác định một số chỉ tiêu sinh sản ở lợn nái 36
2.4.2 Xác định bệnh thường gặp trên cơ quan sinh dục của lợn nái 36
2.4.3 Phân lập giám định thành phần và tính mẫn cảm với một số thuốc kháng sinh và hóa học trị liệu của vi khuẩn trong dịch viêm đường sinh dục lợn nái 37
2.4.4 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh viêm đường sinh dục ở lợn 40
2.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 40
Chương 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42
3.1 Kết quả nghiên cứu xác định một số chỉ tiêu sinh sản lợn nái ngoại 42
3.1.1 Tuổi phối giống lần đầu của lợn cái 42
3.1.2 Tuổi đẻ lứa đầu 44
3.1.3 Thời gian mang thai 46
3.1.4 Khoảng cách lứa đẻ 47
3.1.5 Thời gian động dục lại sau khi cai sữa 48
3.2 Kết quả nghiên cứu một số bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục cái trên lợn sinh sản nuôi tại huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ 50
3.2.1 Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm đường sinh dục 50
3.2.2 Tỷ lệ bệnh ở các bộ phận cơ quan sinh dục cái 54
Trang 73.13 Kết quả phân lập và giám định thành phần vi khuẩn trong dịch âm
đạo, tử cung lợn nái bình thường và bệnh lý 60
3.4 Kết quả xác định tính mẫn cảm của các vi khuẩn phân lập được từ dịch viêm đường sinh dục lợn nái với một số thuốc kháng sinh và hoá học trị liệu 63
3.5 Kết quả xác định tính mẫn cảm của tập đoàn vi khuẩn có trong dịch viêm đường sinh dục của lợn nái với một số thuốc kháng sinh và hoá học trị liệu 64
3.6 Kết quả một số phác đồ điều trị bệnh viêm đường sinh dục của lợn nái ngoại tại huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ 66
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 70
1 Kết luận 70
2 Đề nghị 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Phân biệt các thể viêm tử cung 26
Bản 2.1: Kháng sinh chuẩn với tính mẫn cảm của vi khuẩn 39
Bảng 3.1: Tuổi phối giống lần đầu của hai giống lợn 42
Bảng 3.2: Tuổi đẻ lứa đầu của hai giống lợn 44
Bảng 3.3: Thời gian mang thai của hai giống lợn 46
Bảng 3.4: Khoảng cách giữa các lứa đẻ của hai giống lợn 47
Bảng 3.5: Thời gian động dục lại sau khi cai sữa của hai giống lợn 49
Bảng 3.6: Tỷ lệ mắc bệnh viêm đường sinh dục lợn nái tại 3 xã 50
Bảng 3.7 Tỷ lệ mắc bệnh viêm đường sinh dục theo giống lợn 51
Bảng 3.8: Tỷ lệ mắc bệnh viêm đường sinh dục theo lứa đẻ 52
Bàng 3.9: Tỷ lệ mắc bệnh viêm đường sinh dục theo mùa vụ 54
Bảng 3.10: Tỷ lệ bệnh ở các bộ phận cơ quan sinh dục cái (n=32) 55
Bảng 3.11: Tỷ lệ các bệnh ở tử cung lợn nái (n = 20) 57
Bảng 3.12: Tỷ lệ các thể bệnh ở buồng trứng lợn nái (n=7) 59
Bảng 3.13: Thành phần vi khuẩn có trong dịch âm đạo, tử cung lợn nái bình thường và bệnh lý 61
Bảng 3.14: Kết quả xác định tính mẫn cảm của các vi khuẩn phân lập được từ dịch viêm đường sinh dục lợn nái với một số thuốc kháng sinh và hoá học trị liệu 63
Bảng 3.15: Kết quả xác định tính mẫn cảm của tập đoàn vi khuẩn có trong dịch viêm đường sinh dục của lợn nái với một số thuốc kháng sinh và hoá học trị liệu 65
Bảng 3.16: Kết quả điều trị bệnh viêm đường sinh dục và khả năng sinh sản của lợn nái sau khi lành bệnh 67
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Tuổi phối giống lần đầu của hai giống lợn 43 Biểu đồ 3.2: Tuổi đẻ lứa đầu của hai giống lợn 45 Biểu đồ 3.3: Khoảng cách giữa các lứa đẻ của hai giống lợn 48
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi lợn đã và đang trở thành một ngành quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong ngành chăn nuôi nước ta Nó không chỉ cung cấp nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng cho con người mà còn cung cấp một lượng phân hữu
cơ cho trồng trọt đồng thời tạo công ăn việc làm nâng cao đời sống cho người dân Trong những năm qua chăn nuôi lợn đã có bước phát triển đáng kể, đáp ứng tốt nhu cầu trong nước và bước đầu đã có sản phẩm xuất khẩu
Theo thống kê của FAO và báo cáo khoa học của cục khuyến nông: Năm 2003 nước ta có 23,3 triệu con lợn, năm 2006 có 28,8 triệu con Trong thập niên vừa quan Việt Nam đứng thứ 10 trong 60 nước trên thế giới được ghi nhận là nước nuôi nhiều lợn
Với tốc độ tăng nhanh về số lượng và chất lượng của đàn lợn trong nước thì chăn nuôi thủ công không còn phù hợp nữa Vì vậy, để đáp ứng được nhu cầu về chăn nuôi và đạt được những mục tiêu đề ra, Đảng và Nhà nước ta ngoài việc đầu tư cho chương trình nhập giống có nguồn gen cao sản từ nước ngoài như giống Landrace, Yorkshire, Pietrain … để lai tạo với các giống nội thì còn có chủ trương phát triển chăn nuôi lợn hướng nạc theo mô hình trang trại vừa và nhỏ, dưới hình thức công nghiệp và bán công nghiệp
Để đảm bảo cho chăn nuôi phát triển và thu được hiệu quả kinh tế cao ngoài việc nâng cao các yếu tố: Giống, nuôi dưỡng, chăm sóc, trang thiết bị chuồng trại … ta cần chú ý tới vấn đề dịch bệnh Một khi dịch bệnh xảy ra sẽ gây tổn thất nặng nề cho người chăn nuôi Tuy nhiên, trong chăn nuôi lợn nói chung và nuôi lợn nái ngoại nói riêng, dịch bệnh vẫn thường xảy ra, ngoài các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như: dịch tai xanh, dịch tả gây thiệt hại lớn cho chăn nuôi mà còn phải kể đến các bệnh sinh sản
là nhân tố gây thiệt hại không nhỏ về kinh tế do ảnh hưởng đến việc kéo
Trang 12dài thời gian chậm động dục, giảm số lượng con sinh ra, nghiêm trọng hơn
là phải loại thải nái sinh sản
Vì vậy chăn nuôi theo hình thức trang trại bước đầu thu được những kết quả khả quan song nó vẫn là hình thức mới ở Miền Bắc nên không thể tránh khỏi những khó khăn về con giống, kỹ thuật chăn nuôi, tình hình dịch bệnh
Để hoàn thiện công nghệ chăn nuôi tiên tiến này chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài “ Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh sản, bệnh ở cơ quan sinh dục và thử nghiệm phác đồ điều trị trên đàn lợn nái ngoại tại huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ”
2 Mục tiêu của đề tài
- Nghiên cứu xác định một số chỉ tiêu sinh sản của đàn lợn nái nuôi tại một số xã thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ
- Nghiên cứu xác định bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục trên đàn lợn sinh sản nuôi tại địa phương
- Thử nghiệm điều trị bệnh viêm đường sinh dục trên đàn lợn nái ngoại tại một số xã thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của đề tài về một số chỉ tiêu sinh sản của đàn lợn nái là tư liệu để cho các cấp quản lý về chuyên môn nắm được tình hình chăn nuôi và khả năng sinh sản của đàn lợn nuôi tại huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ
- Kết quả nghiên cứu về một số bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục trên đàn lợn nuôi tại địa phương giúp cho việc chẩn đoán, phân biệt các quá trình bệnh lý thường gặp và biện pháp điều trị kịp thời
- Từ những kết quả thu được là cơ sở cho việc đề ra những chính sách cụ thể nhằm quản lý, phát triển đàn lợn của tỉnh Phú Thọ cả về số lượng và chất lượng Đồng thời đề tài giúp cho người chăn nuôi huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ có những kỹ năng cơ bản nhất nhằm nâng cao khả năng sinh sản của đàn lợn nái
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm sinh sản của lợn nái
1.1.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục cái
Cũng giống như các loài gia súc khác, cơ quan sinh dục của lợn cái gồm:
bộ phận sinh dục bên ngoài và bộ phận sinh dục bên trong
1.1.1.1 Bộ phận sinh dục bên ngoài gồm: âm môn, âm vật và tiền đình
* Âm môn, hay còn gọi là âm hộ (Vulva), nằm dưới hậu môn Bên ngoài
có hai môi (Labia vulvae) Nối liền hai môi bằng hai mép (Bima vulvae) Bờ
trên hai môi của âm môn có sắc tố đen, nhiều tuyến tiết chất nhờn và tuyến tiết mồ hôi
* Âm vật (Clitoris), giống như dương vật được thu nhỏ lại Bên trong có
các thể hổng Trên âm vật có nếp da tạo ra mu âm vật (Praepatium clitoridis),
giữa âm vật bẻ gập xuống dưới
* Tiền đình (Vestibulum vaginae sinus progenitalis), là giới hạn giữa âm
môn và âm đạo Trong tiền đình có màng trinh, phía trước màng trinh là âm môn, phía sau màng trinh là âm đạo Màng trinh có các sợi đàn hồi ở giữa và
do hai lá niêm mạc gấp thành một nếp Sau màng trinh có lỗ niệu đạo Tiền đình có một số tuyến, tuyến này xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật (Đặng Đình Tín và Nguyễn Hùng Nguyệt, 1986) [36]
1.1.1.2 Bộ phận sinh dục bên trong gồm: âm đạo, tử cung, buồng trứng và
ống dẫn trứng
* Âm đạo (Vagina), trước là cổ tử cung, phía sau là tiền đình có màng
trinh (Hymen) che lỗ âm đạo Âm đạo là một cái ống tròn để chứa cơ quan
sinh dục khi giao phối, đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ
Trang 14Cấu tạo âm đạo chia ra làm ba lớp:
Lớp liên kết ở ngoài
Lớp cơ trơn: cơ dọc ở ngoài, cơ vòng bên trong Các lớp cơ âm đạo liên kết với các cơ ở cổ tử cung
Lớp niêm mạc: có tế bào thượng bì, gấp nếp dọc hai bên nhiều hơn ở giữa
* Tử cung (Uterus), có cấu tạo phù hợp với chức năng phát triển và dinh
dưỡng bào thai Trứng được thụ tinh ở ống dẫn trứng rồi trở về tử cung làm
tổ, ở đây hợp tử phát triển là nhờ chất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ thông qua lớp niêm mạc tử cung, cung cấp cho Tử cung còn có nhiệm vụ đẩy thai ra ngoài trong quá trình sinh đẻ nhờ vào các lớp cơ
Tử cung được cấu tạo bởi 3 lớp:
Ngoài cùng là lớp tổ chức liên kết (Perimetrium)
Lớp cơ trơn (Myometrium) của tử cung giữ vai trò quan trọng trong việc
đẩy thai ra ngoài Nó có cấu tạo khá phức tạp, là lớp cơ trơn khoẻ nhất trong
cơ thể Bên trong các cơ trơn có những sợi liên kết đàn hồi và tĩnh mạch lớn Các lớp cơ đó đan vào nhau làm cho tử cung chắc, có tính đàn hồi cao
Lớp niêm mạc tử cung (Endometrium) màu hồng, được phủ lên bằng
những tế bào biểu mô kéo dài thành lông nhung Xen kẽ giữa các tế bào biểu
mô là các tuyến tiết chất nhầy Chất nhầy được gạt về cổ tử cung khi các lông rung động (Trần Tiến Dũng và cs, 2002) [4]
Tử cung của lợn thuộc loại tử cung phân nhánh (Uterus Bicorus) Tử
cung được chia làm ba phần: cổ, thân và sừng tử cung Sừng tử cung thông với ống dẫn trứng Cổ tử cung thông với âm đạo Vị trí tử cung nằm trong xoang chậu, phía trên là trực tràng, phía dưới là bàng quang
Vị trí của tử cung được cố định trong xoang chậu do 4 yếu tố sau:
Sự bám của âm đạo vào cổ tử cung
Dây chằng của các nếp phúc mạc tạo thành
Trang 15Dây chằng tròn (Ligamentum teres uteria) là do một dây chằng nhỏ từ
sừng tử cung đến vùng bẹn, bên trong có nhiều mạch quản, cơ trơn
Dây chằng rộng (Ligamentum latum) do nếp phúc mạc trùm lên tử
cung ở mặt trên, mặt dưới và kéo dài đến hai thành của chậu hông Dây chằng rộng ở giữa hai lá phúc mạc, nên rất quan trọng và có nhiều mạch quản, thần kinh
Tử cung lợn rất dài, trong đó thân tử cung ngắn, hai sừng tử cung dài như ruột non, có con dài đến 1m Cổ tử cung lợn dài, tròn, không có gấp nếp nên dễ cho thụ tinh nhân tạo hơn trâu bò
* Buồng trứng (Ovarium), gồm một đôi treo ở cạnh trước dây chằng
rộng và nằm trong xoang chậu Buồng trứng bên ngoài là một lớp màng liên kết sợi chắc như màng bao dịch hoàn Bên trong buồng trứng chia làm 2 miền: miền vỏ và miền tuỷ, hai miền đó được cấu tạo bằng lớp mô liên kết sợi
xốp tạo ra cho buồng trứng một chất đệm (Stromaovaris) Ở miền tuỷ có
nhiều mạch máu và tổ chức tươi xốp cũng dày hơn Miền vỏ có tác dụng về sinh dục vì ở đó xảy ra quá trình trứng chín và rụng trứng
Buồng trứng như một tuyến nội tiết của con cái, làm nhiệm vụ nuôi dưỡng cho trứng chín và tiết ra những hocmon sinh dục, tác động đến chức năng của tử cung và thay đổi tính biệt giữa con đực và con cái
Bên dưới lớp màng của buồng trứng là tế bào trứng nguyên thuỷ hay còn
gọi là tế bào trứng non (Follicunlin ovocyt primario) Khi noãn bao chín thì
các tế bào nang bao quanh tế bào trứng phân chia thành nhiều tầng tế bào có
hình hạt (Stratum granulosum)
Noãn bao ngày càng phát triển thì các tế bào nang tiêu tan tạo ra một cái
xoang có chứa dịch (Liquar folliculin) Các tầng tế bào còn lại phát triển lồi
lên tạo ra một lớp màng bao bọc ở ngoài, có chỗ dày lên để chứa tế bào trứng
(Ovum)
Trang 16Noãn bao nguyên thuỷ khi trở thành noãn bao chín (Folliculis ovaricus
vesculosus) được bao bọc một lớp màng mỏng
Tổ chức màng liên kết ngoài buồng trứng lúc này dày lên để bảo vệ noãn bao chín, giữa màng bảo vệ và màng mỏng của noãn bao là tổ chức mạch quản dày đặc
Noãn bao chín nằm ở phần lồi trên của màng liên kết buồn trứng Noãn bao chín có kích thước 1cm Tế bào trứng trong noãn bao là tế bào lớn nhất trong cơ thể, có thể trông thấy được bằng mắt thường, kích thước 0,15 - 0,25mm
Lúc noãn bao đã thành thục thì màng bọc nang, màng bao liên kết buồng trứng rách ra, tế bào trứng được rời khỏi buồng trứng, cùng với dịch nang, tế bào hạt đi vào loa kèn Màng noãn bao rách xong liền lại ngay, các tế bào hạt trong xoang phân chia nhanh thành một khối tế bào lớn để lấp kín xoang noãn
bao và trở thành thể vàng (Corpus luteum)
Thể vàng tồn tại phụ thuộc vào tế bào trứng được thụ tinh hay không được thụ tinh
Nếu tế bào trứng không được thụ tinh thì thể vàng tồn tại không lâu, rồi tiêu tan mất
Còn trứng đã được thụ tinh thì thể vàng tồn tại cho tới khi sinh đẻ
Trong suốt thời gian có thai thể vàng tiết ra hocmon Progesteron
Buồng trứng của lợn hình chùm dâu, có màu hồng vân, vị trí nằm ở hai bên hốc bụng Noãn bao thành thục có kích thước 0,8 - 1,2cm.(Đặng Đình Tín
và Nguyễn Hùng Nguyệt, 1986) [36]
* Ống dẫn trứng (Oviductus), còn gọi là vòi Fallop, nằm ở màng treo
buồng trứng Một đầu của ống dẫn trứng thông với xoang bụng, gần sát buồng trứng có hình loa kèn, trên loa kèn hình thành một cái tán rộng và lô nhô không đều Đầu kia thông với mút sừng tử cung là một cái ống nhỏ ngoằn ngoèo Cấu tạo ống dẫn trứng gồm 3 lớp:
Trang 17Phía ngoài cùng là lớp sợi liên kết, giữa là lớp cơ trơn và phía trong cùng
là lớp niêm mạc có các tế bào thượng bì tạo thành nhung mao Khi tế bào trứng chín rơi vào loa kèn, nhờ nhung mao rung động và cơ trơn co bóp trứng sẽ đi
về tử cung
Thời gian tế bào trứng di chuyển trong ống dẫn trứng từ 3 - 10 ngày Trên đường di hành trong ống dẫn trứng, tế bào trứng có thể bị đứng lại
ở các đoạn khác nhau do những chỗ hẹp của ống dẫn trứng
Khi có tinh trùng vào đường sinh dục của gia súc cái, tế bào trứng có thể
bị đứng lại ở các đoạn khác nhau do những chỗ hẹp của ống dẫn trứng
Đường kính ống dẫn trứng: 0,2 - 0,4mm
Ống dẫn trứng được chia làm hai đoạn:
Đoạn ống dẫn trứng phía buồng trứng: phần đầu trên thông với xoang bụng ở gần buồng trứng, được phát triển to tạo thành một cái phễu để hứng tế bào trứng, loa kèn phủ toàn bộ buồng trứng Loa kèn có nhiều tua, nhung mao rung động để hứng tế bào trứng Quá trình thụ tinh thường xảy ra khi trứng và tinh trùng gặp nhau ở đoạn 1/3 phía trên ống dẫn trứng
Đoạn ống dẫn trứng phía sừng tử cung gắn với mút sừng tử cung Đoạn này phía ngoài là lớp liên kết sợi, được kéo dài từ màng treo buồng trứng Ở giữa là 2 lớp cơ, cơ vòng phía trong, cơ dọc phía ngoài Trong cùng là lớp niêm mạc được cấu tạo bằng lớp tế bào hình trụ, hình vuông làm nhiệm vụ tiết niêm dịch Phía trên lớp niêm mạc có lớp nhung mao luôn luôn rung động
để đẩy tế bào trứng hay hợp tử xuống tử cung làm tổ (Đặng Đình Tín và Nguyễn Hùng Nguyệt, 1986) [36]
1.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn cái
1.1.2.1 Sự thành thục về tính
Theo Đặng Đình Tín và Nguyễn Hùng Nguyệt (1986) [36] Khi cơ quan sinh dục của gia súc cái phát triển đến mức độ hoàn thiện, buồng trứng có bao
Trang 18noãn chín, có trứng rụng và trứng có khả năng thụ thai, tử cung biến đổi theo,
đủ điều kiện để cho thai phát triển trong tử cung Những dấu hiệu động dục xuất hiện đối với gia súc như vậy gọi là sự thành thục về tính và sự thành thục
về tính thường đến sớm hơn thành thục về thể vóc Sự thành thục về tính nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố và điều kiện khác nhau như: giống, điều kiện nuôi dưỡng quản lý, ngoại cảnh Trong điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý tốt sức khoẻ của gia súc tăng lên thì tính thành thục của lợn xuất hiện sớm Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4], tuỳ thuộc vào từng loài gia súc khác nhau mà thời gian thành thục về tính khác nhau Tuổi thành thục về tính của lợn khoảng 6 tháng, giới hạn dao động từ 4 - 8 tháng, ở lợn tuổi thành thục tính là 6 - 8 tháng
Mặt khác, tuổi thành thục về tính sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc Vì vậy để đảm bảo sự sinh trưởng và phẩm chất giống ở thế hệ sau nên cho gia súc giao phối sau khi đã hoàn toàn thành thục về tính và trước thời gian thành thục về thể vóc Thông thường với lợn nái hậu bị tuổi phối giống lần đầu là 8 tháng Tuy nhiên, không nên cho lợn phối giống quá muộn vì nó ảnh hưởng tới thế hệ sau của chúng
Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ(1994) [8] thì tuổi phối giống lần đầu cho lợn cái tốt nhất là lúc 8 tháng tuổi và khối lượng là ≥ 70 kg hoặc ở 9 tháng tuổi với khối lượng là 80 - 90 kg
1.1.2.2 Chu kỳ động dục (chu kỳ tính)
Khi gia súc thành thục về tính thì cơ thể con cái đặc biệt là cơ quan sinh dục có sự biến đổi, đồng thời có rụng trứng, trứng phát triển nhờ quá trình điều khiển của hocmon thuỳ trước tuyến yên làm trứng chín và rụng một cách
có chu kỳ, con vật biểu hiện bằng những triệu chứng động dục theo chu kỳ được gọi là chu kỳ tính Chu kỳ tính có sự khác nhau giữa các loài, thời gian kéo dài động dục giữa các loài cũng có sự khác nhau Ở thời gian đầu, do mới
Trang 19có sự thành thục về tính cho nên chu kỳ tính chưa ổn định, phải sau 2 - 3 chu
kỳ tiếp sau mới có được sự ổn định (Đặng Đình Tín và Nguyễn Hùng Nguyệt, 1986) [36]
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4], lợn động dục không theo mùa, chu kỳ sinh dục thường 21 ngày, thời gian dao động từ 18 - 22 ngày
Theo Nguyễn Văn Thành (2002) [29], cho rằng: chu kỳ động dục của lợn liên quan chặt chẽ với quá trình điều hoà kích tố trong cơ thể, và được sự điều khiển với hệ thống thần kinh thể dịch
Chu kỳ động dục là khoảng thời gian giữa hai lần động dục và nó được chia làm 4 giai đoạn
* Các yếu tố ảnh hưởng tới chu kỳ động dục
- Yếu tố ngoại cảnh
Những điều kiện ngoại cảnh như khí hậu, nhiệt độ, ánh sáng, mùa vụ, thức ăn… đều ảnh hưởng rõ rệt đến chu kỳ tính của gia súc cái
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4], ở lợn chu kỳ sinh dục trong suốt
cả năm, nhưng thường khi khí hậu ấm áp thì nó xuất hiện rõ ràng và đầy đủ các đặc điểm hơn so với trong điều kiện khí hậu lạnh Trong trường hợp quá giá lạnh thì chu kỳ sinh dục có thể ngừng lại hoàn toàn
Mặt khác, điều kiện về chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc quản lý, mức độ làm việc và khai thác, tình trạng sức khoẻ hay một số trạng thái bệnh lý của cơ thể nói chung và cơ quan sinh dục nói riêng đều ảnh hưởng nhiều đến chu kỳ tính của gia súc cái
Theo Vũ Duy Giảng và cs (1999) [10], trong điều kiện thức ăn thiếu protein giá trị hoàn toàn, vitamin, khoáng, chu kỳ tính kéo dài, bao noãn thành thục chậm, thậm chí có bao noãn quắt lại
Chu kỳ tính của lợn nái trong khoảng từ 19 - 27 ngày (trung bình là 21 ngày) Chu kỳ tính phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó dinh dưỡng giữ
Trang 20vai trò quan trọng Nếu dinh dưỡng đầy đủ, chu kỳ tính ổn định, con vật có biểu hiện động dục đều đặn Nếu dinh dưỡng kém, chu kỳ tính kéo dài, động dục gián đoạn (Vũ Duy Giảng và cộng sự, 1999) [10]
- Yếu tố thần kinh - thể dịch
Quy luật và đặc điểm của chu kỳ sinh dục chịu sự điều khiển của hệ thần kinh trung ương Tất cả các kích thích bên ngoài và trong cơ thể như: khí hậu, nhiệt độ, ánh sáng, chế độ nuôi dưỡng quản lý, tác động xoa bóp, mùi vị con đực, tình trạng cơ quan sinh dục và các bộ phận khác của cơ thể đều ảnh hưởng trực tiếp đến chu kỳ tính một cách phản xạ theo phương thức thần kinh - thể dịch
Tất cả những kích thích đó được cơ quan nhận cảm như tai, mắt, mũi, da, lưỡi… thu nhận, từ đó tác động lên hệ thống thần kinh trung ương và thông qua sự điều tiết của tuyến yên để điều chỉnh quá trình sinh dục Bởi vì giữa vùng Hypothalamus và tuyến yên có mối quan hệ mật thiết với nhau, khu vực
đó có nhiều mạch quản và thần kinh Nếu thần kinh đi vào Hypothalamus bị tổn thương hay đường truyền xuống tuyến yên bị cắt đứt thì sự phân tiết hocmon kích thích sinh dục của tuyến yên cũng đồng thời giảm theo
Ngoài ra, hệ thần kinh thực vật cũng có tác động đến chu kỳ sinh dục Khi thần kinh giao cảm hưng phấn thì sẽ ức chế chu kỳ sinh dục Còn khi thần kinh phó giao cảm hưng phấn thì lại kích thích chu kỳ sinh dục
Cùng với yếu tố thần kinh, hocmon của tuyến yên là một điều kiện quan trọng và cần thiết để làm xuất hiện, điều chỉnh hoạt động của quá trình sinh dục Tuyến yên có tác dụng trực tiếp lên cơ quan sinh dục cái Nếu cắt bỏ tuyến yên, noãn bao không phát triển, tế bào trứng không rụng, thể vàng không hình thành, buồng trứng bị teo và các kích tố của buồng trứng cũng không được hình thành Ngoài ra các bộ phận như ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo, tuyến sữa cũng bị thoái hoá dần
Trang 21Mặt khác, tuyến yên còn có nhiều tác dụng đến cơ thể nói chung như ảnh hưởng đển quá trình trao đổi chất, đến sự sinh trưởng… Từ đó có ảnh hưởng lớn tới quá trình sinh dục, có thể gây ra tình trạng hoạt động sinh dục không đều, yếu ớt hay ngừng hẳn (Nguyễn Xuân Tịnh và cs, 1996) [37]
1.1.2.3 Sinh lý quá trình mang thai
* Khái niệm hiện tượng có thai
Có thai là một hiện tượng sinh lý đặc biệt của cơ thể cái, nó được bắt đầu
từ khi thụ tinh cho đến khi sinh đẻ xong
* Thời gian có thai
Trong thực tế, sự có thai của gia súc được tính ngay từ ngày phối giống lần cuối Thời gian có thai phụ thuộc vào nhiều điều kiện và yếu tố khác nhau Nó dài hay ngắn tuỳ theo loài, giống gia súc, tuổi gia súc mẹ, lứa sinh sản, trạng thái dinh dưỡng, tình hình sức khoẻ, trạng thái cơ quan sinh dục, số lượng bào thai… Trong điều kiện thức ăn, nuôi dưỡng tốt, nhất là lứa thai thứ hai thì thời gian có thai sẽ ngắn lại
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4], ở lợn thời gian có thai xê dịch trung bình là 110 - 118 ngày, thời gian có thai trung bình là 114 ngày
* Quá trình phát triển của phôi thai
Quá trình phát triển bên trong của bào thai có thể phân chia làm 3 thời kỳ:
Thời kỳ thứ nhất - thời kỳ trứng: Thời kỳ này bắt đầu từ khi tế bào trứng
được thụ tinh đến khi hình thành nang phôi - túi phôi Trung bình từ 8 - 10 ngày sau khi thụ tinh
Thời kỳ thứ hai - thời kỳ phôi thai: Là thời kỳ hình thành nhau thai, hình
thành các tế bào và các cơ quan hệ thống của cơ thể Thời kỳ này từ ngày thứ
11 đến ngày thứ 40
Thời kỳ thứ ba - thời kỳ bào thai: Là thời kỳ cuối giai đoạn phôi thai cho
đến khi sinh đẻ Giai đoạn phân hoá những kết cấu cực tiểu của tế bào và cơ quan, là thời kỳ bào thai phát triển và trưởng thành nhanh chóng
Trang 22* Sự điều tiết thần kinh - thể dịch ở thời kỳ mang thai
Theo Nguyễn Xuân Tịnh và cs (1996) [37], cho thấy chức năng của thần kinh – thể dịch trong thời gian mang thai:
Điều hoà sự phát triển của bào thai, và đảm bảo sự thống nhất trong các hoạt động chức năng giữa thai và cơ thể mẹ là một quá trình phức tạp do sự
điều tiết thần kinh thể dịch
Điều tiết thần kinh: bắt đầu từ lúc thụ thai thì trong vỏ não xuất hiện
vùng hưng phấn trội để tiếp nhận những biến đổi hoá học và cơ học từ các điểm thụ cảm ở tử cung, do đó đảm bảo được các điều kiện cần thiết cho sự phát triển của phôi thai như: niêm mạc tử cung phát triển, mạch máu đến nhiều, tiết dịch tăng Hưng phấn tăng cường mạnh nhất ở tháng thứ hai, là một trong các yếu tố làm dễ sẩy thai ở thời điểm này
Điều tiết thể dịch: có sự tham gia tích cực của hệ nội tiết Progesteron là
hocmon an thai, duy trì quá trình mang thai, được sản sinh ở thể vàng và nhau thai Như vậy việc duy trì phát triển của bào thai là do thể vàng đảm nhiệm hoặc do sự phối hợp của thể vàng và nhau thai tuỳ thuộc vào các thời kỳ khác nhau của quá trình chửa và ở các loài gia súc khác nhau
Theo Nguyễn Xuân Tịnh và cs (1996) [37], ở lợn Progesteron chủ yếu
do thể vàng cung cấp, vai trò của nhau thai là thứ yếu
* Những biến đổi sinh lý chủ yếu khi có thai
Cùng với quá trình phát triển của bào thai, nhau thai, hoàng thể, cơ quan sinh dục nói riêng và toàn bộ cơ thể mẹ nói chung xuất hiện nhiều biến đổi sinh lý khác nhau Những biến đổi đó là điều kiện cần thiết để bào thai được hình thành và phát triển trong tử cung và quá trình sinh đẻ được bình thường
+ Sự biến đổi toàn thân cơ thể mẹ có thai
Khi gia súc có thai, kích tố của hoàng thể và nhau thai làm thay đổi cơ năng hoạt động một số tuyến nội tiết khác Vì vậy hiện tượng ăn uống, trạng
Trang 23thái dinh dưỡng, quá trình trao đổi chất… của con mẹ được nâng cao cho nên thời kỳ đầu có thai, gia súc thường béo hơn và lông mượt hơn khi chưa có thai Nhưng có thai thời kỳ cuối, bào thai phát triển mạnh và nhanh chóng, nhu cầu cung cấp dinh dưỡng cao, nhất là trong điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc kém thì cơ thể mẹ sẽ gầy
Theo Vũ Duy Giảng và cs (1999) [10] trong thời kỳ chửa, lợn nái tăng từ
15 - 25kg (không kể các sản phẩm thai), trong đó khoảng 3 - 4kg là protein Nói chung trong thời gian có chửa, lợn mẹ tăng từ 1,2 - 1,3 lần so với trước khi phối Trong quá trình bào thai phát triển, nhất là giai đoạn sau, nếu khẩu phần
ăn của mẹ không đảm bảo đầy đủ đạm, khoáng, nguyên tố vi lượng, vitamin thì không những bào thai phát triển không bình thường mà sức khoẻ nói chung của mẹ cũng giảm sút nhiều
Theo Vũ Duy Giảng và cs (1999) [10], quan trọng đối với gia súc có thai là vitamin A Nếu thiếu con mẹ có hiện tượng thoái hoá thượng bì âm đạo và dạ con làm cho khả năng thụ thai kém hoặc nếu con mẹ có thai thì cũng dễ sảy thai, sát nhau, con đẻ ra yếu Ngoài ra cần bổ sung thêm vitamin D, B1, B2
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4], trường hợp thiếu canxi và photpho nghiêm trọng thì gia súc mẹ sẽ bị bại liệt trước khi đẻ, khung xoang chậu bị lệch hay biến dạng, dẫn tới hiện tượng đẻ khó
Theo Vũ Duy Giảng và cs (1999) [10], canxi và photpho là 2 nguyên tố không thể thiếu được đối với gia súc có thai Nhu cầu canxi là 0,6%, photpho
là 0,5% so với khối lượng vật chất khô khẩu phần
Bào thai ngày càng phát triển, áp lực xoang chậu và xoang bụng thay đổi nên ảnh hưởng đến sự hoạt động của hệ tuần hoàn và hô hấp Nhu cầu cung cấp oxy của bào thai dần nâng cao ở thời gian có thai kỳ cuối nên tần số hô hấp của mẹ tăng lên và có khi còn biểu hiện trạng thái thở dốc Mặt khác, tần
số tim đập tăng, lượng máu của gia súc mẹ tăng Dưới tác dụng chân ép cơ
Trang 24học của bào thai kỳ cuối làm thay đổi tuần hoàn vùng xoang chậu nên gây hiện tượng phù thũng ở hai chân sau Mặt khác số lần đại tiểu tiện của gia súc
mẹ tăng lên nhưng số lượng mỗi lần ít Ở thời gian có thai kỳ cuối, gia súc mẹ thường đi lại, hoạt động nặng nề, chậm chạp, chóng mệt mỏi và dễ ra mồ hôi
+ Sự thay đổi ở cơ quan sinh dục
- Buồng trứng
Khi gia súc có thai, hai buồng trứng to nhỏ không đều nhau Buồng trứng phía sừng tử cung có thai thường lớn hơn buồng trứng bên kia Trên mặt ngoài buồng trứng xuất hiện thể vàng
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4], cho rằng: ở lợn thường số lượng thể vàng trên mặt buồng trứng nhiều hơn số lượng bào thai
- Tử cung
Khi gia súc có thai, toàn bộ tử cung xuất hiện những thay đổi về cấu tạo, tính chất, vị trí, khối lượng, thể tích… dây chằng tử cung được dài ra nên đầu mút sừng tử cung và buồng trứng được đưa về phía trước và phía dưới, xa vị trí cũ Hệ tuần hoàn ở cơ quan sinh dục được tăng cường, lượng máu đến cung cấp cho niêm mạc tử cung rất nhiều nên niêm mạc được phát triển và dày lên Các tuyến tử cung cũng được phát triển mạnh và tăng cường tiết niêm dịch Niêm mạc tử cung hình thành nhau mẹ
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4], ở lợn mức độ phát triển và tăng sinh của tử cung phụ thuộc vào số lượng của bào thai và thường là phát triển
ở cả hai sừng Cuối thời kỳ có thai, khối lượng tử cung (không kể thai) nặng tới 2,5 - 6kg, còn tử cung bình thường không có thai nặng 0,2 - 0,5kg
Theo Vũ Duy Giảng và cs (1999) [10], tử cung bình thường chỉ nặng 0,2 - 0,3kg, khi có thai tử cung lợn mẹ nặng tới 3 - 4kg
Cổ tử cung có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ bào thai phát triển bình thường Cổ tử cung được khép kín hoàn toàn, niêm mạc và các nếp nhăn phát triển dày lên
Trang 25Trong thời gian có thai, ống dẫn trứng hầu như không được phát triển to lên Nó có tính chất đặc biệt là thay đổi về mặt cấu tạo tổ chức học, các nếp nhăn niêm mạc được co nhỏ lại, niêm mạc xung huyết và lòng ống được mở rộng
+ Những thay đổi hocmon sinh dục
Bào thai được phát triển bình thường dưới tác dụng điều hoà của các hocmon buồng trứng, nhau thai và tuyến yên
Nửa thời kỳ đầu có thai: nhau thai được hình thành và phát triển, tiết ra
Prolan B Chất này có tính chất giống như LH của thuỳ trước tuyến yên Nó kích thích thể vàng phát triển và tăng tiết Progesteron, làm cho niêm mạc tử cung phát triển và dày thêm giống như hình ren Nhau thai ngoài việc tiết ra Prolan B, còn tiết ra Progesteron và Folliculin Hai hormon này tăng nhiều nên có tác dụng ức chế thuỳ trước tuyến yên không tiết ra Gonado stimulin A
Vì vậy trong buồng trứng trong suốt thời gian cơ thể có bào thai
Nửa thời kỳ sau có thai: hàm lượng Progesteron giảm dần trong máu
Ngược lại Folliculin tăng dần đến mức tối đa
Cuối thời kỳ có thai, Progesteron giảm rất thấp trong máu Progesteron
có tác dụng ức chế tử cung co bóp và Folliculin kích thích co thắt tử cung, thuận lợi cho quá trình sinh đẻ Trong thời kỳ có thai, nhau thai đã dần dần thay thế chức năng nội tiết của thuỳ trước tuyến yên, tiết ra Prolan A và Prolan B Mặt khác, nó còn thay thế buồng trứng tiết ra Progesteron trong nửa thời kỳ đầu và Folliculin được tiết liên tục càng về sau càng nhiều
1.1.2.4 Sinh lý quá trình đẻ
- Khái niệm đẻ
Gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định, khi bào thai đã phát triển đầy đủ, gia súc mẹ đẩy thai ra ngoài cùng với màng nhau, dịch thai, quá trình đó gọi là đẻ
Trang 26- Thời gian đẻ của gia súc
Thời gian đẻ của gia súc được tính từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn đến khi thai ra khỏi cơ thể mẹ và số bào thai ra hết ở những loài gia súc
đa thai
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4] thời gian đẻ của lợn từ 2 - 6 giờ
Quá trình sinh đẻ của gia súc là một quá trình sinh lý bình thường Cho nên cuối thời kỳ mang thai gia súc cái có những biểu hiện của quá trình sinh
đẻ, chủ yếu là đường sinh dục và bầu vú
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4] lợn trước khi đẻ 10 - 15 ngày bầu
vú căng Giữa bầu vú và thành bụng đã phân chia ranh giới rõ ràng
Sữa đầu cũng là một căn cứ đáng tin cậy để chẩn đoán ngày đẻ của lợn Lợn nái trước khi đẻ 3 ngày, cặp vú giữa đã tiết ra nước trong Trước khi đẻ 1 ngày có thể vắt được giọt sữa màu trắng Khi cặp vú phía trước đã vắt được vài giọt sữa đầu thì lợn sẽ đẻ trong vài giờ tới
Ngoài ra, lợn cái trước khi đẻ 3 - 5 ngày mép âm đạo sưng to, niêm mạc
âm đạo sung huyết, niêm dịch từ đặc chuyển sang loãng dần và nhớt Lợn trước khi đẻ 6 - 12 giờ có hiện tượng cắn ổ
+Triệu chứng rặn đẻ
Khi đẻ gia súc mẹ phải dùng sức đẩy thai cùng với các khí quan trong đường sinh dục để đưa thai ra ngoài Sức rặn căn bản là do sự co bóp của tử
Trang 27cung, sự co bóp này bắt đầu từ sừng tử cung đến thân tử cung, đến cổ tử cung, kết quả làm mở rộng cổ tử cung
Nhưng chỉ nhờ vào sức co bóp của tử cung thì không đủ đẩy thai ra ngoài mà phải nhờ vào sự co bóp của cơ ở bụng, hoành cách mô và toàn thân
Đó mới là “rặn” đẻ, mặt khác còn dựa vào sự co bóp của cơ âm đạo, chậu hông, sức co bóp của tử cung Khi có triệu chứng đẻ thì tử cung bắt đầu co bóp, ban đầu yếu sau mạnh dần
Quá trình sinh đẻ của gia súc cái do sự co bóp của tử cung, cơ thành bụng, sức rặn toàn thân, thai, màng nhau thai cùng với nước thai được tống ra ngoài Quá trình sinh đẻ được chia ra làm 3 thời kỳ
+ Thời kỳ mở cổ tử cung
Thời kỳ này bắt đầu từ khi tử cung có cơn co bóp đầu tiên đến khi cổ tử cung mở ra hoàn toàn Tuỳ từng giống mà biểu hiện bên ngoài không giống nhau Ở lợn thường hay đứng nằm không yên, đi đi lại lại trong chuồng và có triệu chứng cắn ổ
Động lực thúc đẩy cho quá trình sinh đẻ là sự co bóp của cơ quan sinh dục được tiến hành từ mút sừng tử cung đến thân tử cung, đến cổ tử cung và đến âm đạo, thời gian co bóp có những khoảng cách nên gọi là những cơn rặn Con vật xuất hiện cơn rặn đầu tiên trong thời kỳ 1 nhưng nói chung cơn rặn này yếu về cường độ, thời gian cơn rặn ngắn, thời gian nghỉ giữa hai cơn rặn lại dài từ 20 - 30 phút, mỗi cơn rặn thường 2 - 3 giây Nếu con mẹ rặn liên tục thì mạch máu của bào thai chèn ép, tuần hoàn đình trệ, dưỡng khí cung cấp cho thai thiếu, thai ra chậm có thể bị ngạt Càng về sau thì thời gian co bóp càng dài hơn, khoảng cách giữa hai lần co bóp rút ngắn lại
Cường độ co bóp chuyển từ sừng tử cung xuống thân tử cung, đến cổ tử cung ra ngoài âm đạo Nước ở trong tử cung và màng thai dồn ép ra ngoài, cổ
Trang 28tử cung lúc này đã mở ra, màng thai đã một phần lọt ra ngoài Cùng với sức
co bóp của tử cung tăng lên, màng thai lại tiếp tục chui ra, ép vào cổ tử cung làm cho cổ tử cung mở càng rộng Khi cổ tử cung đã mở rộng thì một phần của thai chui ra, lúc này giữa cổ tử cung và âm đạo không còn ranh giới nữa,
cổ tử cung co bóp làm sừng tử cung co ngắn lại, dồn ép xuống thân tử cung, kích thích cho thai thúc đẩy ra ngoài, cổ tử cung mở rộng hoàn toàn, sức co bóp của sừng tử cung đẩy mạnh phần trước của thai ra ngoài âm đạo
Cùng lúc thai ra ngoài có hiện tượng vỡ ối, màng ối và màng niệu vỡ ra Thứ tự màng niệu vỡ trước, màng ối vỡ sau, nước ối và nước niệu đều ra cùng với màng ối, màng niệu cũng góp phần cho cổ tử cung mở rộng hoàn toàn đồng thời làm trơn đường sinh dục, cho thai đi ra ngoài dễ dàng
+ Thời kỳ đẻ hay còn gọi là sổ thai
Thời kỳ này bắt đầu từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn và kết thúc khi thai lọt ra ngoài Ở thời kỳ này thai qua cổ tử cung và đi vào âm đạo Nếu đẻ bình thường, bộ phận đi trước nhất là đầu và chân Lúc này gia súc cái bồn chồn, đứng nằm không yên, chân cào đất, có con chân sau đá vào bụng, lưng cong lên mà rặn
Khi đầu của thai đã đi vào hố chậu, gia súc cái lại nằm xuống Đặc điểm
là sức co bóp của tử cung trong thời kỳ này mạnh vì thân của thai tiếp xúc với niêm mạc âm đạo, gây ra một ma sát lớn Trong lúc này gia súc thường kêu, nguyên nhân của gia súc kêu, phản ứng đau đớn khi sinh đẻ là vì dịch ối, dịch niệu chảy ra hết, thân thai lại tiếp giáp vào niêm mạc âm đạo
Bào thai đã đi ra đường sinh dục thì tăng kích thích cho cơ co bóp, lực co bóp lúc này là tổng hợp giữa co bóp của đường sinh dục, sự co bóp của cơ thành bụng, cơ hoành thành một lực mạnh và được kéo dài
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4] lợn rặn đẻ thường khác với loài gia súc khác, tử cung co bóp đẩy thai theo chiều dọc và co bóp theo từng
Trang 29đoạn Sự co bóp bắt đầu từ gốc sừng tử cung, lan dần đến đầu nhọn của sừng
tử cung Hai sừng tử cung thay nhau co bóp Trong cơn rặn đẻ lợn thường nằm nghiêng, cũng có khi đứng lên nhưng lại nằm xuống ngay, màng thai của lợn không lòi ra ngoài âm hộ, nước ối ít, thai lợn ra từng con một, sau mỗi lần rặn thường thai lợn ra dễ dàng
+ Thời kỳ sổ nhau (hay gọi là bong nhau)
Sau khi thai lọt ra khỏi đường sinh dục gia súc mẹ một thời gian, con
mẹ trở nên yên tĩnh, nhưng tử cung vẫn co bóp và tiếp tục những cơn rặn, mỗi lần co bóp từ 1,5 - 2 phút, thời gian giữa hai lần co bóp là 2 phút, nhưng cường độ lúc này yếu hơn
Sau khi sổ thai khoảng 2 - 3 giờ tử cung co nhỏ lại, thành tử cung dày, trên bề mặt có nhiều nếp nhăn, bên trong tử cung có nhiều núm nhau Cơn rặn lúc này của gia súc cái chủ yếu là đưa nhau thai ra ngoài
Trong thời gian này tuần hoàn của núm nhau mẹ và núm nhau con đã giảm nên nhau thai có thể tách ra được Các nhung mao teo lại, tách núm nhau mẹ ra khỏi nhau thai Thời gian này tử cung co bóp và thu nhỏ lại dần về thể tích, nhưng màng niệu và màng nhung mao thì không co lại được nên tử cung đẩy ra ngoài
Trong quá trình đẩy màng nhau thai ra, do đặc tính của tử cung co bóp tử mút sừng tử cung cho xuống thân tử cung, nên màng nhau thai bong ra sẽ được lộn trái, phần ở mút sừng tử cung ra trước, sau đó bong dần xuống sừng
tử cung, thân tử cung và ra ngoài
Thời gian bong nhau thai của gia súc có khác nhau do đặc điểm cấu tạo của núm nhau con và núm nhau mẹ trên niêm mạc tử cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4], lợn sau khi thai ra hết toàn bộ, khoảng 10 - 50 phút thai mới ra Nhau thai của lợn ra chia thành hai đống, mỗi đống gồm nhau thai của tất cả các thai chứa trong một sừng tử cung
Trang 30Trong sừng tử cung lợn có ít thai thì nhau thai không dính lại như vậy, mà
ra từng cái một, thai sau có thể đẩy nhau thai của thai trước ra Nếu trong sừng tử cung lợn có xen kẽ nhiều thai bình thường và thai bị chết khô thì nhau thai cũng
ra thành nhiều đống Thường những thai chết khô trong sừng tử cung sẽ ra cùng với nhau thai
1.2 Một số hiểu biết về quá trình viêm
1.2.1 Khái niệm viêm
Theo Nguyễn Hữu Nam, (2011) [20], thì viêm là một phản ứng bảo vệ của cơ thể mà nền tảng của nó là phản ứng tế bào Phản ứng này hình thành
và phát triển phức tạp dần trong quá trình tiến hoá của sinh vật
Ngày nay người ta cho rằng viêm là một phản ứng toàn thân chống lại mọi kích thích có hại, thể hiện ở cục bộ mô tế bào (Nguyễn Hữu Nam, 2011) [20]
1.2.2 Hậu quả của phản ứng tuần hoàn và phản ứng tế bào trong viêm
Phản ứng tuần hoàn và phản ứng tế bào trong viêm đã gây nên các rối loạn chủ yếu như sau:
2.2.2.1 Rối loạn chuyển hoá
Tại ổ viêm quá trình oxy hoá tăng mạnh, nhu cầu oxy tăng nhưng vì có rối loạn tuần hoàn nên khả năng cung cấp oxy không đủ, gây rối loạn chuyển hoá gluxit, lipit và protit gây ra hiện tượng tăng độ axit, xeton, lipit, albumoza, polipeptit và các axit amin tại ổ viêm
2.2.2.2 Tổn thương mô bào
Các tế bào bị tổn thương tại ổ viêm giải phóng các enzym càng làm trầm trọng thêm quá trình huỷ hoại mô bào và phân huỷ các chất tại vùng viêm, chúng tạo ra các chất trung gian có hoạt tính sinh lý cao và hạ thấp
độ pH của ổ viêm
Như vậy ngoài tính chất bảo vệ thì tổn thương mô bào còn tạo ra nhiều chất có hại tham gia vào thành phần của dịch rỉ viêm, chính các chất này đã góp phần hình thành và phát triển vòng xoắn bệnh lý trong viêm (Nguyễn Hữu Nam, 2011) [20]
Trang 312.2.2.3 Dịch rỉ viêm
Dịch rỉ viêm là sản phẩm được tiết ra tại ổ viêm bao gồm nước, thành phần hữu hình và các chất hoà tan như nước, muối, albumin, globulin, fibrinogen, bạch cầu, hồng cầu, tiểu cầu có tác dụng tạo vành đai ngăn cản viêm lan Đặc biệt là các chất có hoạt tính sinh lý như histamin, serotonin, axetincholin có tác dụng làm giãn mạch và tăng tính thấm thành mạch gây đau
2.2.2.4 Tăng sinh mô bào
Là hiện tượng tăng lên về số lượng các tế bào trong ổ viêm, các tế bào này
có thể từ máu tới hoặc các tế bào tại chỗ sinh sản phát triển ra Trong quá trình viêm, giai đoạn đầu chủ yếu tăng sinh bạch cầu đa nhân trung tính Sự tăng sinh và phát triển của các loại tế bào phụ thuộc vào mức độ tổn thương của ổ viêm cũng như tình trạng phản ứng của cơ thể
2.2.2.5 Các tế bào viêm
Các tế bào tăng sinh trong ổ viêm được gọi chung là các tế bào viêm, bao gồm: bạch cầu đa nhân trung tính, bạch cầu ưa toan, bạch cầu ưa kiềm, bạch cầu đơn nhân lớn Chúng có chức năng thực bào, ẩm bào hay tạo ra những kích thích tại các ổ viêm và giữ vai trò quan trọng giúp cơ thể chống lại sự xâm nhập của các tác nhân lạ từ môi trường
1.3 Những bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục lợn nái
Trong số các bệnh ở đường sinh dục ở lợn nái, bệnh mà chúng ta thường gặp nhất bao gồm: viêm âm môn, tiền đình, âm đạo và bệnh ở tử cung
1.3.1 Viêm âm môn, tiền đình và âm đạo (Vulvitis, Vestibuliti et vaginitis puerperalis)
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4] trong quá trình sinh đẻ, niêm mạc
âm môn, tiền đình và âm đạo bị xây sát, tổn thương do bào thai hay do can thiệp các trường hợp đẻ khó Do trong quá trình đỡ đẻ thao tác kỹ thuật không đúng, dụng cụ đỡ đẻ không vô trùng gây tổn thương các bộ phận sinh dục bên ngoài Ngoài ra bệnh có thể kế phát từ hiện tượng sẩy thai, thai thối rữa trong
tử cung hoặc từ bệnh sát nhau
Trang 32Lúc đầu niêm mạc bộ phận bị viêm xung huyết nhẹ, có nhiều dịch thẩm xuất Kiểm tra âm đạo bằng mỏ vịt, con vật không có phản xạ đau, không có triệu chứng toàn thân Con vật rặn vặt, đi đái rắt Nhiều dịch viêm lẫn tổ chức hoại tử màu trắng chảy ra ngoài
Viêm âm môn, tiền đình và âm đạo mãn tính, niêm mạc trở nên khô cứng, màu sắc nhợt nhạt, trên bề mặt niêm mạc có chỗ trắng, đỏ không đều Khi kiểm tra âm đạo, con vật đau đớn Những con viêm mãn tính thì ủ rũ, uể oải, kém ăn, lượng sữa giảm Gia súc luôn rặn, khi rặn từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch rỉ viêm gồm mủ lẫn mảnh tổ chức hoại tử màu vàng nâu, mùi tanh, dính vào gốc đuôi, hai bên mông
Viêm màng giả trên niêm mạc được phủ một màng mỏng, tổ chức hoại
tử màu trắng, nâu hoặc vàng xám Phía dưới lớp màng có những vết loét nằm rải rác hay tập trung lại thành từng đám lớn trên niêm mạc Con vật đau đớn
rõ rệt, khi kiểm tra âm đạo, vật luôn cong đuôi rặn, dịch rỉ viêm, máu, mủ lẫn
tổ chức hoại tử màu vàng nâu, mùi tanh thối chảy ra Viêm màng giả rất dễ dẫn tới nhiễm trùng huyết Hậu quả thường là do tế bào của âm đạo tăng sinh, niêm mạc âm đạo sẹo hoá, nhăn nhúm, lòng âm đạo bị hẹp ảnh hưởng đến quá trình phối giống và sinh sản lần sau
1.3.2 Viêm cổ tử cung (Cervitis)
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4] cổ tử cung lợn dài 10 - 18cm, tròn, không có gấp nếp nên dễ thụ tinh nhân tạo hơn trâu bò
Cổ tử cung luôn đóng, chỉ hé mở khi động dục và mở hoàn toàn khi sinh đẻ Bệnh viêm cổ tử cung ở gia súc thường là hậu quả của những sai sót
về kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, do thao tác đỡ đẻ nhất là các trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hay dụng cụ không đúng làm niêm mạc cổ tử cung bị xây sát Ngoài ra viêm cổ tử cung còn do kế phát từ viêm âm đạo, viêm tử cung
Trang 33Hậu quả của viêm cổ tử cung làm cổ tử cung bị tắc, khi gia súc động dục niêm dịch không thoát ra ngoài được
1.3.3 Viêm tử cung
Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ và được đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung đều ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản (Nguyễn Văn Thanh, 1999) [26]
Chính vì vậy bệnh viêm tử cung đã được nhiều tác giả nghiên cứu Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4], thì viêm tử cung được chia ra làm 3 thể: viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung và viêm tương mạc tử cung
* Viêm nội mạc tử cung (Endometritis)
Trong quá trình gia súc đẻ, nhất là trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị sây sát, tổn thương, vi khuẩn:
Streptococcus, Staphylococcus, E.coli, Salmonella, C Pyogenes, Bruccella, roi
trùng Trichomonas Foetus xâm nhập và phát triển gây viêm nội mạc tử cung
Theo Nguyễn Văn Thanh (1999) [26], đây là một trong các nguyên nhân làm giảm khả năng sinh sản của gia súc cái, nó cũng là thể bệnh phổ biến và chiếm tỷ lệ cao trong các bệnh của viêm tử cung
Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2000) [22], bệnh viêm nội mạc tử cung có thể chia 2 loại:
- Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ: chỉ gây tổn thương ở niêm mạc tử cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4], lợn bị bệnh này thân nhiệt hơi cao, ăn kém Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, có khi con vật cong lưng rặn,
tỏ vẻ không yên tĩnh Từ âm hộ chảy ra hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức chết Khi con vật nằm xuống, dịch viêm thải ra ngày càng nhiều hơn Xung quanh âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm, có khi nó khô lại thành từng đám vảy màu trắng xám Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch rỉ viêm thải ra nhiều Cổ tử
Trang 34cung hơi mở và có mủ chảy qua cổ tử cung, niêm mạc âm đạo bình thường
- Viêm nội mạc tử cung thể màng giả: trường hợp này tổ chức niêm mạc
đã bị hoại tử, tổn thương lan sâu xuống dưới tầng cơ của tử cung và chuyển thành viêm hoại tử Lợn nái mắc bệnh này thường xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt tăng cao, ăn uống giảm, kế phát viêm vú, con vật đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch: dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử, niêm dịch (Đặng Đình Tín và Nguyễn Hùng Nguyệt, 1986) [36]
* Viêm cơ tử cung (Myometritis Puerperalis)
Viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2000) [22], niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ và một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử Nếu bệnh nặng, can thiệp chậm có thể dẫn tới nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ Có khi do lớp cơ và lớp tương mạc của tử cung
bị phân giải mà tử cung bị thủng hoặc tử cung bị hoại tử từng đám to
Khi lợn nái bị bệnh viêm cơ tử cung thường có biểu hiện: thân nhiệt tăng cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống kém, lượng sữa giảm hoặc mất hẳn Mép âm đạo tím thẫm, niêm mạc âm đạo khô, nóng màu đỏ thẫm Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu, lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh, thối Con vật thường kế phát viêm vú, có khi viêm phúc mạc, ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ lần sau Có trường hợp điều trị khỏi dẫn đến gia súc vô sinh, gây thiệt hại về kinh tế
* Viêm tương mạc tử cung (Perimetritis Puerperali)
Theo Đặng Đình Tín và Nguyễn Hùng Nguyệt (1986) [36], viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ viêm cơ tử cung Thể viêm này thường cấp
Trang 35tính cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình và nặng Lúc đầu lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển sang đỏ sẫm, sần sùi mất tính trơn bóng Sau đó các tế bào bị hoại tử và bong ra, dịch thẩm xuất tăng tiết Nếu bị viêm nặng, nhất là viêm có mủ, lớp tương mạc có thể dính với các
tổ chức xung quanh gây nên tình trạng viêm mô tử cung (thể Parametritis),
thành tử cung dày lên, có thể kế phát viêm phúc mạc
Khi mắc bệnh con vật có biểu hiện triệu chứng toàn thân: thân nhiệt tăng, mạch nhanh, con vật ủ rũ, mệt mỏi, uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn Lượng sữa rất ít hoặc mất hẳn, thường kế phát viêm vú Luôn đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ âm hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có màu nâu và mùi thối khắm Khi kích thích vào thành bụng thấy con vật có phản xạ đau rõ hơn, rặn nhanh hơn, từ âm hộ dịch chảy ra nhiều hơn Trường hợp một số vùng của tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì có thể phát hiện được trạng thái thay đổi về vị trí và hình dáng của tử cung, có khi không tìm thấy một hoặc cả hai buồng trứng Nếu điều trị không kịp thời sẽ chuyển thành viêm mãn tính, tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì quá trình thụ tinh và sinh đẻ lần sau sẽ gặp nhiều khó khăn Thể viêm này thường kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ và dẫn đến tình trạng mất khả năng sinh sản
Khi xuất hiện hiện tượng chảy mủ ở âm hộ ta cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có những mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở
âm hộ nhưng lại có thể là chất kết tinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra, các chất đọng lại ở âm hộ lợn nái Ngoài ra có thể do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ra ở thời kỳ động dục thì có thể bị nhầm lẫn
Như vậy, nếu con vật có biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ thì ngoài việc kiểm tra mủ, nên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu
Trang 36sinh dục Mặt khác nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán cho chính xác
Vậy để tránh nhầm lẫn trong công tác chẩn đoán, điều trị, người ta dựa vào những triệu chứng điển hình ở cục bộ cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân, có thể dựa vào các chỉ tiêu ở bảng sau:
Bảng 1.1: Phân biệt các thể viêm tử cung
Màu Trắng xám, trắng sữa Hồng, nâu đỏ Nâu rỉ sắt
Phản ứng co
Bỏ ăn Bỏ ăn một phần hoặc
hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4], Trần Thị Dân (2004) [7], khi lợn
nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:
- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sẩy thai
- Lợn mẹ bị viêm tử cung, bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu
- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy
- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại: Như vậy hậu quả của viêm tử cung là rất lớn, để giảm tỷ lệ mắc bệnh, người chăn nuôi phải có những hiểu biết nhất định về bệnh từ đó tìm ra biện pháp để phòng và điều trị hiệu quả
Trang 371.3.4 Các bệnh ở buồng trứng
Buồng trúng là một bộ phận quan trọng nhất của bộ máy sinh sản, buồng trứng hoạt động, buồng trứng hoạt động dưới sự điều khiển của hệ thống thần kinh và dịch … Bất kỳ một sự thay đổi gì trong buồng trứng đều làm hoạt động sinh sản của gia súc bị rối loạn (A thur, 1964) [43],
Khi điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý không tốt kết hợp với việc điều trị các bệnh viêm đường sinh dục không triệt để làm cho buồng trứng có thể xảy ra một số bệnh sau:
* Viêm buồng trứng
Khi buồng trứng bị viêm, sưng to thành hình tròn, mềm và mặt ngoài nhẵn bóng, không có noãn bao và thể vàng, kích thước của buồng trứng có thể
to lên gấp 2 – 4 lần bình thường (Anberth Youssef, 1997) [42]
Trường hợp buồng trứng viêm mạn tính, buồng trứng sưng to rõ rết, rắn
và mặt ngoài có nhiều chỗ lồi, lõm khác nhau
Trường hợp buồng trứng bị viêm kéo dài thì tế bào tổ chức bị thoái hóa, các tổ chức liên kết tăng sinh, cả hai buồng trứng bị xơ cứng, khi ấy con vật
sẽ mất khả năng sinh sản, gây thiệt hại về kinh tế
* Thiểu năng buồng trứng
Theo Arthur (1964) [43], Settergreen (1986) [54], đều khẳng định: bệnh thiểu năng và teo buồng trứng xảy ra rất phổ biến, đây là nguyên nhân cơ bản gây ra tình trạng rối loạn sinh sản nhất là đối với đại gia súc
Nguyên nhân chủ yếu gây ra bệnh thiểu năng buồng trứng là do kế phát của viêm tử cung, viêm ống dẫn trứng, nuôi dưỡng, chăm sóc kém, bị khai thác làm việc quá sức
Theo Settergreen (1986) [54], vai trò của TSH (Thyromin Stimulin Hormone) rất quan trọng, khi hàm lượng hormone này trong máu thấp thì buồng trứng của gia súc không hoạt động Triệu chứng đặc trưng của bệnh
Trang 38thiểu năng và teo buồng trứng là chu kỳ sinh dục của gia súc bị rối loạn: động dục không rõ, chu kỳ sinh dục kéo dài, động dục nhưng không phóng noãn
* Xơ cứng buồng trứng
Theo Settergreen (1986) [54], ở gia súc cái hay xảy ra tình trạng tế bào buồng trứng thoái hóa, tổ chức liên kết tăng sinh, buồng trứng bị teo, biến dạng và cứng lại, gọi là xơ cứng buồng trứng Nếu cả hai buồng trứng xơ cứng thì tử cung sẽ teo nhỏ lại, gia súc cái mất hoàn toàn khả năng sinh sản gây thiệt hại kinh tế
Buồng trứng bị xơ cứng là do: kế phát từ hiện tượng viêm buồng trứng,
do hậu quả của quá trình chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý, khai thác và sử dụng gia súc cái không hợp lý Bệnh có thể xuất hiện trạng thái chai cứng toàn bộ hay một phần của buồng trứng
Đặc điểm chủ yếu của bệnh là buồng trứng teo nhỏ lại, mặt ngoài của buồng trứng lồi, lõm không đều
* Bệnh u nang buồng trứng
Theo Siegmund và Fraser [55], cho biết u nang buồng trứng là dạng thoái hóa buồng trứng, thường xuất hiện hiện tượng cuồng động dục hoặc không động dục
Theo Đặng Đình Tín và Nguyễn Hùng Nguyệt (1986) [36], Anberth Youssef (1997) [42], thì trong quá trình hình thành, phát triển của noãn bào, các
tế bào thượng bì của noãn bao dần bị thoái hóa và biến đổi, các tổ chức liên kết của noãn bào tăng sinh, màng noãn bao dày lên, noãn bao không vỡ ra được, tế bào trứng bị chết dịch noãn bao chứa đầy trong bao noãn
Nguyên nhân dẫn đến bệnh u nang buồng trứng là do quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc kém, chế độ khai thác không hợp lý Ngoài ra còn do rối loạn cơ năng thần kinh và hormone trong cơ thể, kế phát từ sát nhau, sảy thai, viêm ống dẫn trứng, động dục nhiều lần mà không phối được giống
Trang 39Triệu chứng lâm sàng của bệnh là hoạt động sinh dục có độ hưng phấn rất cao, không theo một quy luật nhất định, con vật thường kêu rống lân hay nhảy lên lưng con khác, mép âm môn bóng láng và sệ xuống Niêm mạc âm đạo ẩm và xung huyết, có nhiều niêm dịch từ tử cung chảy ra và đọng lại tại đây Đuôi thì cong lên, thích gần đực, khi gặp con đực thì luôn đứng trong trạng thái hoàn toàn chịu đực
Theo Deas và cộng sự, (1979) [45], có trường hợp do các tế bào thượng
bì của noãn bao bị thoái hóa nên Foliculin tiết ra quá ít hoặc không sản sinh làm cho gia súc mất hẳn động dục trong một thời gian
* Thể vàng tồn lưu
Theo Athur, (1964) [43], Anberth Youssef, (1997) [42], bệnh này thường gặp ở gia súc cái sinh sản với đặc điểm là: gia súc sau khi đẻ xong hoặc sau hiện tượng động dục, chưa phối giống hay phối giống không có thai nhưng thể vàng vẫn tồn tại, từ đó làm cho gia súc không động dục hoặc vô sinh Xét
về mặt cấu tạo, chức năng và tác dụng của thể vàng trong bệnh này thì hoàn toàn giống thể vàng của buồng trứng trong thời gian gia súc mang thai
Nguyên nhân của bệnh này thường xuất phát từ khâu chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng kém đặc biệt là trong khẩu phần thức ăn thiếu protein, vitamin, chất khoáng (nhất là Fe, I2) sẽ làm rối loạn cơ năng từ đó làm cho thể vàng tồn tại trên buồng trứng Bệnh còn do kế phát của viêm tử cung tích mủ, thai canxi hóa, sát nhau
1.4 Tình hình nghiên cứu bệnh viêm tử cung lợn trên thế giới và Việt Nam
Trên thế giới vấn đề bệnh sinh sản ở gia súc đã và đang được nghiên cứu một cách toàn diện Hàng năm các chương trình đào tạo của Quốc tế về sinh sản gia súc thường xuyên được tổ chức tại Trường Đại học Khoa học Nông nghiệp Uppsala (Thuỵ Điển), Trung tâm khoa học Quốc tế về Nông nghiệp Cairo (Ai Cập) Trong nội dung của những khoá học đào tạo này, vấn đề
Trang 40phương pháp chẩn đoán, phát hiện và điều trị các bệnh sinh sản luôn là một nội dung chính
Tuy nhiên, cho đến nay những tư liệu nghiên cứu về bệnh sản khoa ở lợn còn rất ít Và trong những tư liệu nghiên cứu đó, cũng mới chủ yếu tập trung vào nghiên cứu bệnh viêm tử cung ở lợn
1.4.1 Thế giới
Trong chăn nuôi lợn sinh sản thậm chí cả nuôi lợn thịt, năng suất chăn nuôi phụ thuộc phần lớn vào khả năng sinh sản trong đó hai yếu tố chính là độ đông con và độ mắn đẻ Do vậy, ưu tiên hàng đầu và liên tục của chăn nuôi lợn sinh sản là tạo ra được nhiều lợn con sinh ra và sống sót cho tới lúc cai sữa và đồng thời giảm thời gian phi sản xuất của lợn nái nhất là do không thụ thai Mục tiêu trên, đòi hỏi sự làm việc cường độ cao ở lợn nái và nhất là cơ quan sinh sản Do vậy các cơ quan sinh sản đóng vai trò rất quan trọng quyết định năng suất chăn nuôi Những bất thường của cơ quan sinh sản, nói rõ hơn
là các rối loạn kiểu viêm tử cung, làm năng suất chăn nuôi lợn nái bị ảnh hưởng (Madec và Neva, 1995) [18]
Theo Vtrekaxova (1997) [40] trong số các nguyên nhân dẫn tới ít sinh đẻ
và vô sinh của lợn thì các bệnh ở cơ quan sinh dục chiếm từ 5 - 15%
Winsơn khi mổ khám những lợn vô sinh đã xác định trong cơ quan sinh dục ở 52,5% lợn nái đẻ lứa đầu 32,1% lợn nái cơ bản có những biến đổi bệnh lý: viêm vòi tử cung có nước và có mủ…
Theo Madec và Neva (1995) [18] khi tiến hành nghiên cứu bệnh lý sinh thái vào năm 1991 trên số đàn lợn xứ Brơ - ta - nhơ (Pháp) với chủ đề bệnh
lý sinh đẻ cho thấy 15% số lợn nái bị viêm tử cung, viêm tử cung thường bắt đầu bằng sốt một vài giờ sau khi đẻ, chảy mủ ngày hôm sau và bệnh thường kéo dài 48 đến 72 giờ