1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiệu quả kinh tế về sản xuất cà phê của các nông hộ ở Thị trấn Quảng Phú Huyện CưM’gar Tỉnh ĐăkLăk

52 341 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 348 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực trạng trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hiệu quả kinh tế về sản xuất cà phê của các nông hộ ở Thị trấn Quảng Phú Huyện CưM’gar Tỉnh ĐăkLăk”. 1.2. Mục tiêu nghiên cứu Tìm hiểu tình hình phát triển cây cà phê trên địa bàn thị trấn Quảng Phú huyện CưM’gar tỉnh ĐăkLăk. Đánh giá hiệu quả kinh tế về sản xuất cà phê trên địa bàn thị trấn Quảng Phú huyện CưM’gar tỉnh ĐăkLăk.

Trang 1

cà phê Việt Nam đã trở thành mặt hàng có vị trí chiến lược quan trọng cho kinh tếđất nước Diện tích, năng suất và sản lượng xuất khẩu của cà phê đã tăng nhanh, vìvậy cây cà phê là một trong mười mặt hàng xuất khẩu có giá trị kim ngạch cao vàmang lại ngoại tệ tương đối lớn cho ngân sách nhà nước.

ĐăkLăk là một tỉnh thuộc Tây Nguyên Nam Trung Bộ, có vị trí kinh tế - xãhội khá chiến lược Đồng thời còn có điều kiện thuận lợi về đất đỏ bazan thích hợpcho phát triển cây cà phê, đó chính là mũi nhọn kinh tế của tỉnh Do vậy, cà phê làmặt hàng xuất khẩu chủ lực của ĐăkLăk, chiếm trên 80% kim ngạch xuất khẩu củatỉnh, với tổng diện tích trên 160.000 ha, sản lượng hàng năm đạt khoảng 300.000tấn Dù giá cả có biến động mạnh và theo chiều hướng bất lợi cho người sản xuấttrong những năm vừa qua, nhưng cây cà phê vẫn giữ một vị trí quan trọng trong sựnghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh ĐăkLăk trong vài thập niên tới Một trongnhững hạn chế chính của ngành cà phê Việt Nam cũng như của ĐăkLăk là phát triểnkhông bền vững, sức cạnh tranh trên thị trường thế giới thấp Để nâng cao tính bềnvững cho ngành cà phê ĐăkLăk thì cần phải thực hiện một số giải pháp để sản xuất

có hiệu quả Phát triển kinh doanh cây cà phê đã góp phần cải thiện đời sống cácdân tộc đồng bào miền núi khó khăn, đặc biệt là các tỉnh Tây Nguyên Ngoài ra,phát triển cây cà phê theo đúng quy hoạch còn góp phần cải tạo môi trường sinhthái

Hiện nay, cà phê là một mặt hàng nông sản xuất khẩu đứng trong hàng Topten

Trang 2

nước uống cao cấp, nhu cầu đòi hỏi của người tiêu dùng vẫn không ngừng tăng lên,chưa có những sản phẩm nhân tạo được chấp nhận để thay thế cho cà phê Vì vậy,việc trồng và xuất khẩu loại hàng hóa đặc biệt này vẫn có một ý nghĩa kinh tế lớnđối với nước ta Đồng thời, qua quá trình sản xuất cà phê giải quyết được nhiều vấn

đề xã hội như tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và hạn chế được các tệ nạn

xã hội, phát triển vùng kinh tế mới …

Nằm trong cơ cấu kinh tế của tỉnh ĐăkLăk, thị trấn Quảng Phú - huyệnCưM’gar trong những năm qua đã góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đãđem lại nhiều thành quả cao cho thị trấn, trong số đó có thành quả về kinh tế Nềnkinh tế của thị trấn đã tiến triển vượt bậc, các nông hộ gia đình làm cà phê có thunhập khá Đời sống của nông dân dần dần đi vào thế ổn định Tiềm năng đất đai, laođộng, ngành nghề của thị trấn cũng đã được phát huy một cách đúng mức theo lợithế của mình Đồng thời, do thu nhập từ cà phê mang lại rất cao cho nên đã huyđộng được tính tích cực sản xuất của người nông dân, thúc đẩy phát triển kinh tế -

xã hội của thị trấn

Tuy nhiên, khi diện tích và sản lượng cà phê ngày càng tăng đã gây không ítkhó khăn cho quá trình sản xuất, chế biến cũng như tiêu thụ sản phẩm Nhất là trongmấy năm gần đây, giá cả cà phê xuống thấp và liên tục biến động, thời tiết diễn biếnthất thường làm cho việc phát triển cây cà phê gặp nhiều khó khăn, bên cạnh đó càphê là loại cây trồng đòi hỏi vốn đầu tư khá lớn đi cùng với các biện pháp chăm sócchu đáo Trước vấn đề đó, việc quan trọng đã và đang đặt ra để phát triển kinh tếcủa các nông hộ trồng cà phê là phải chú ý tới các giải pháp nâng cao hiệu quả sảnxuất cà phê, mang lại mức thu nhập cao hơn cho các nông hộ và tạo ra được mộtlượng hàng nông sản xuất khẩu đem lại kim ngạch cho đất nước

Xuất phát từ thực trạng trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hiệu quả kinh

tế về sản xuất cà phê của các nông hộ ở Thị trấn Quảng Phú - Huyện CưM’gar

- Tỉnh ĐăkLăk”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu tình hình phát triển cây cà phê trên địa bàn thị trấn Quảng Phú huyện CưM’gar - tỉnh ĐăkLăk

Trang 3

- Đánh giá hiệu quả kinh tế về sản xuất cà phê trên địa bàn thị trấn Quảng Phú

- huyện CưM’gar - tỉnh ĐăkLăk

1.3 Địa điểm, thời gian và phạm vi nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: Thị trấn Quảng Phú - huyện CưM’gar - tỉnh ĐăkLăk

- Thời gian nghiên cứu: được tiến hành từ ngày 21/3/2005 đến ngày 27/5/2005 Thu thập số liệu trong năm 2004

- Phạm vi nghiên cứu: đánh giá hiệu quả về sản xuất cà phê trên địa bànhuyện

Đối tượng nghiên cứu là các hộ nông dân trồng cà phê trên địa bàn nghiêncứu

Trang 4

Xây dựng và phát triển kinh tế nông thôn là một vấn đề phức tạp và rộng lớn,

do đó cần có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Nó chứa đựng nhiều mặt kinh tế

-xã hội – chính trị mà đặc biệt quan trọng là yếu tố kinh tế Một quốc gia có nền kinh

tế phát triển thì các lĩnh vực khác cũng phát triển theo

Nông nghiệp nước ta là khu vực kinh tế truyền thống, tập trung tuyệt đại đa sốlao động của xã hội, nó phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên như đất đai, khíhậu và nông nghiệp là nơi duy nhất tạo ra lương thực, thực phẩm

Nông thôn nước ta với dân số chiếm trên 65 triệu người, trong đó lao độngnông nghiệp gần 28 triệu người, chiếm 75% về dân số và hơn 60% về lao động sovới cả nước Vấn đề phát triển nông nghiệp nông thôn nước ta là một trong nhữngvấn đề hết sức quan trọng và luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước Trong những năm vừa qua kinh tế nông nghiệp và nông thôn đã có nhữngbước phát triển đáng kể làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội nông thôn của cả nước,trong đó ngành nông nghiệp là ngành mũi nhọn đã đem về cho đất nước nhiều thànhtựu Một trong những thành tựu nổi bật là các mặt hàng nông sản tiếp tục tăng, nhất

Trang 5

phẩm thô chưa chế biến, chất lượng sản phẩm còn thấp, còn nhiều bất cập trong đầu

tư công nghệ và chế biến.[3]

Kinh tế hộ gia đình trồng cà phê là một nguồn lực kinh tế lớn đã tạo ra mặthàng nông sản cà phê xuất khẩu cho tỉnh nói riêng và cho cả nước nói chung Việcphát triển kinh tế cho các hộ sản xuất cà phê nơi đây có vai trò và vị trí quan trọngđối với nền kinh tế của tỉnh ta, các hộ trồng cà phê chiếm tới 70% diện tích toàntỉnh đã đem về cho tỉnh nhiều kim ngạch xuất khẩu cao Làm cho nền kinh tế củatỉnh tăng trưởng và phát triển, do đó kinh tế hộ gia đình sản xuất cà phê là một môhình thích hợp trong cơ cấu của tỉnh ĐăkLăk

2.1.1 Tổng quan về cây cà phê

Cà phê là cây công nghiệp quan trọng, sản phẩm của nó là một loại nước uốngkhông thể thiếu của nhiều dân tộc Nhu cầu càng ngày càng tăng khi đời sống conngười ngày càng đầy đủ và cùng với nhu cầu sử dụng tăng, yêu cầu chất lượng càphê cũng sẽ cao hơn, các loại cà phê có chất lượng thấp chắc chắn dần dần sẽ phảiloại bỏ để thay thế bằng những loại cà phê có chất lượng cao phục vụ theo nhu cầu.[3]

Cà phê là cây trồng có biên độ thích nghi với nhiệt độ khá rộng Ở mỗi loài,mỗi giống có phạm vi thích nghi khác nhau và khả năng thích nghi cao với điềukiện nhiệt độ Cho nên có thể trồng cà phê trên địa bàn rất rộng, song từng loài,từng giống khả năng phân bố có thể hẹp hơn, nhưng với từng giống, từng loài nàykhi có nhu cầu vẫn có thể trồng trọt trong phạm vi lớn và với khả năng thích nghirộng lớn nên vấn đề nghiên cứu để xác định khả năng mở rộng diện tích không phảivấn đề quan trọng Vấn đề mở rộng phải xét trong một phạm vi toàn cục để có một

cơ cấu cây trồng nói chung hợp lý, có hiệu quả kinh tế cao nhất.[3]

Hiện nay ở nước ta trồng 3 loài cà phê khác nhau phụ thuộc vào điều kiệnngoại cảnh (theo phân loại gọi là loài nhưng theo thói quen gọi là loại)

Trang 6

Cà phê chè gồm các giống: Typica, Bourbon, Mokka, Mundonovo, Catimor,

cả xen vào trong các loại cây như cao su, quế trong những năm đầu khi tán lá chưalớn, chưa ảnh hưởng tới cà phê.[3]

Hiện nay không những ở nước ta mà ngay cả ở các nước trên thế giới vẫn ápdụng kỹ thuật trồng cũ, có cách đây hàng trăm năm, chưa được cải tiến nên năngsuất cà phê nói chung cả thế giới còn thấp Các giống cà phê được lai tạo và đưa rasản xuất chủ yếu theo hướng cho năng suất cao, khả năng chống chịu khá, nhất làđối với sâu bệnh, mà chưa chú ý đến chọn ra được các giống có phẩm chất ngonchuẩn bị cho tương lai không xa.[3]

Ở nước ta không những năng suất mà cả sản lượng cà phê xuất khẩu trongnhững năm gần đây đã có những bước tiến đáng kể nhưng do kỹ thuật trồng, giống

cà phê có chất lượng chưa tốt cho nên đã hạn chế một phần rất lớn vấn đề xuấtkhẩu

2.1.2 Khái niệm hiệu quả kinh tế

Hiệu quả nói chung, là thuật ngữ được sử dụng cho mọi lĩnh vực trong đờisống Nó được dùng làm mô tả cách thức để đạt được mục tiêu đặt ra với hao tổn vềnguồn lực ít nhất Các giới hạn về tài nguyên, nhân lực, chi phí, thời gian,…buộccon người phải quan tâm đặc biệt tới hiệu quả của công việc Xã hội ngày càng pháttriển, phạm trù hiệu quả ngày càng được chú trọng, vì thế có thể xem xét trình độ

Trang 7

phát triển của một xã hội thông qua việc đánh giá xã hội đó sử dụng có hiệu quả haykhông các nguồn lực trong xã hội.[6]

Trong sản xuất, hiệu quả kinh tế được coi là thước đo phản ánh năng lực, trình

độ, khả năng phát triển của một tổ chức Nâng cao hiệu quả kinh tế được coi là cáchthức duy nhất và quan trọng nhất để sản xuất tồn tại và phát triển.Với tầm quantrọng như vậy, hiệu quả kinh tế được định nghĩa như sau: “hiệu quả kinh tế là mộtphạm trù kinh tế phản ánh trình độ và năng lực quản lý, đảm bảo thực hiện có kếtquả nhất những mục tiêu kinh tế - xã hội đặt ra với chi phí nhỏ nhất”[6] Qua địnhnghĩa trên ta thấy, hiệu quả kinh tế đề cập đến 2 thuật ngữ: kết quả và chi phí

+ Kết quả: là những gì đạt được sau một quá trình đầu tư sản xuất được đolường bằng các con số chỉ tiêu

+ Chi phí: là tổng giá trị các nguồn lực được sử dụng để đạt được mục tiêunhư: chi phí nguyên vật liệu, vật tư, phân bón, tiền lương,…Vậy chi phí biểu hiệntoàn bộ giá trị lao động được kết tinh trong kết quả thu được

Như vậy, kết quả và chi phí có mối quan hệ mật thiết với nhau, chi phí là tiền

đề để hộ gia đình nông dân thực hiện được kết quả đặt ra Hiệu quả kinh tế được xétkhi phối hợp giữa hai yếu tố chi phí và kết quả, nghĩa là về mặt định lượng hiệu quảkinh tế là một đại lượng so sánh giữa đầu vào và đầu ra, so sánh giữa chi phí kinhdoanh và kết quả thu được [6]

Đánh giá hiệu quả kinh tế của hộ nông dân được thực hiện trên cơ sở kết quảphân tích từng phần, tổng hợp, hướng vào mục tiêu chính là lợi nhuận

2.1.3 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh tế

Nâng cao hiệu quả kinh tế là điều kiện sống còn để các đơn vị sản xuất tồn tại

và phát triển, kể cả hộ nông dân Vì lẽ đó, có thể nói nâng cao hiệu quả kinh tếthường xuyên là cách thức duy nhất để sản phẩm của nó được chấp nhận trên thịtrường vì mục đích của việc nâng cao hiệu quả kinh tế không gì ngoài:

- Giảm chi phí đầu vào dẫn đến giảm giá bán sản phẩm ở đầu ra

- Nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng sức cạnh tranh trên thị trường

Để đạt được điều này, có nghĩa hộ gia đình nông dân phải tạo cho mình mộtsức cạnh tranh đủ mạnh trên thị trường để tồn tại và phát triển

Trang 8

Từ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986), Đảng đã xác định chuyểnnền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa, cùng với sự thừa nhận vai trò của kinh tế hộ đã làmcho nền kinh tế khởi sắc và phát triển Các hộ được giao quyền sử dụng đất lâu dài

và ổn định Họ được tự do lựa chọn phương hướng sản xuất, quy mô tổ chức, hìnhthức thực hiện và nơi tiêu thụ nông sản phẩm mà họ làm ra Nói cách khác hộ vừa làngười tổ chức vừa là người thực hiện và chịu toàn bộ trách nhiệm các khâu của quátrình tái sản xuất trong nông nghiệp để tạo ra nguồn thu nhập cho hộ mình Đóchính là động lực thúc đẩy các hộ tự nguyện bỏ thêm công sức, tiền bạc vào để đầu

tư thâm canh và tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật để phát triển sản xuất tạo rahiệu quả kinh tế cho hộ mình ngày một đầy đủ và giàu có hơn

Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chếthị trường có sự quản lý của nhà nước, các thành phần kinh tế luôn cạnh tranh nhau

và vấn đề quan tâm đầu tiên là giảm chi phí đầu vào để tăng thêm lợi nhuận, tức làtính đến chi phí biên (MC) và doanh thu biên (MR) Tại điểm MC = MR sản lượnglúc này đạt mức sản lượng tối ưu Mà doanh thu được tính bằng số lượng sản phẩmnhân với đơn giá Do đó giá cả đầu ra cũng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế

Vì vậy, khi hiệu quả kinh tế tăng có nghĩa là lợi nhuận tăng sẽ thúc đẩy nông dânvươn lên làm giàu, xóa đói giảm nghèo.[2]

Mặc dù các hộ trồng cà phê có cùng chung yếu tố đầu vào và đầu ra, nhưnghiệu quả kinh tế của mỗi hộ nhận được là khác nhau Đó là sự tác động lên các yếu

tố đầu vào là khác nhau ở từng nông hộ như là áp dụng khoa học kỹ thuật, kiến thức

và khả năng của các chủ hộ và cũng là yếu tố quan trọng của việc đạt hiệu quả sảnxuất cao hay thấp Tuỳ thuộc vào khả năng hiện có của mình mà mỗi hộ đầu tưchăm sóc cho cây cà phê khác nhau

Ngoài ý nghĩa chung về hiệu quả kinh tế, việc phát triển kinh tế từ cây cà phêcủa hộ nông dân còn mang lại tác dụng tích cực về mặt xã hội như tạo việc làm,nâng cao mức sống cho người nông dân và góp phần cải thiện môi trường sinh thái

2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tê

Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của việc sản xuất cà phênhư khí hậu, đất đai, giá cả, vốn,…nhưng bất kỳ một ngành trồng trọt nào cũng phải

Trang 9

có một điều kiện sinh thái thích hợp mới trồng được Bên cạnh đó con người sẽ canthiệp bằng cách lợi dụng các công trình nghiên cứu khoa học về nông học để điềutiết ít nhiều nhằm giảm bớt các ảnh hưởng của các nhân tố trên.

* Thời tiết và khí hậu: So với các nước trên thế giới và ngay cả các nước nhiệtđới thì điều kiện khí hậu, thời tiết của nước ta hết sức phức tạp và có nhiều sự saikhác rất lớn so với vùng khí hậu nhiệt đới thuần túy Với đặc điểm phức tạp của chế

độ thời tiết và khí hậu, việc nghiên cứu kỹ hơn để tìm ra cách dự đoán trước đượcthời tiết và xác định được chế độ khí hậu của từng vùng cụ thể có ý nghĩa hết sứcquan trọng trong việc xác định các loại cà phê được trồng cho từng vùng, thời điểmgây bệnh và thời điểm cần lợi dụng mưa để chăm bón, giảm được công lao động,tăng được khả năng sử dụng hữu hiệu của phân bón

* Thị trường và giá cả: là hai yếu tố quan trọng, vì nó là khâu tiếp theo củaquá trình sản xuất, góp phần đem lại doanh thu và lợi nhuận cho người nông dân khikhâu tiêu thụ được thực hiện thông suốt Đó là mong ước của tất cả những hộ sảnxuất cà phê

Trong lịch sử, cà phê biến động mạnh về giá chủ yếu do biến động về thời tiếtlàm giảm nguồn cung Trong niên vụ 1997 – 1998 đến 2002 – 2003, sản lượng càphê toàn cầu dường như tăng liên tục từ 97,6 triệu bao lên 118,8 triệu bao dẫn đếnthời kỳ khủng hoảng thừa và giá cà phê xuống thấp đến mức kỷ lục trong vòng 30năm qua trong niên vụ 2001 – 2002 Hậu quả khốc liệt của giai đoạn khủng hoảngnày đã được rất nhiều báo cáo đánh giá trên phạm vi toàn cầu và từng quốc gia Chođến nay việc phục hồi giá vẫn còn rất chậm do vẫn chưa có những biện pháp khắcphục hữu hiệu ở các nước sản xuất cũng như ở các mắc xích của kênh thị trường.[1]

Do sự sụt giảm của giá cả cà phê trên thị trường thế giới mấy năm vừa qua màcác nhà trồng cà phê ở Tây Nguyên đã có lúc khốn đốn vì giá thành sản phẩm caohơn giá bán Các biện pháp thâm canh trước đây có tác dụng đẩy năng suất cà phêlên cao, đã từng được lựa chọn làm phương án để giảm giá thành, thì nay đang đượcxem xét lại Nhiều người đã tính đến việc giảm đầu tư, trong đó phân bón, nướctưới và công lao động là những yếu tố đầu vào được đưa ra xem xét cắt giảm trướctiên.[1]

Trang 10

* Vốn: Ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế của các hộ sản xuất Vì vốn

là yếu tố quan trọng hàng đầu của bất kỳ đơn vị nào muốn sản xuất kinh doanh.Nông thôn nước ta còn nghèo, đặc biệt là các vùng nông thôn miền núi, do đó ngườinông dân không có vốn để đầu tư sản xuất Bên cạnh đó việc vay vốn lại gặp nhiềukhó khăn, hộ nào không có tài sản thế chấp thì không thể vay vốn được Mà nếukhông có vốn thì không thể áp dụng khoa học kỹ thuật, cải tiến chất lượng sản phẩmđược, sản phẩm không thể cạnh tranh trên thị trường thế giới…

* Chính sách kinh tế - xã hội: Đảng và nhà nước cần có các chính sách về tàichính - tín dụng, chính sách về thuế và giá cả, chính sách đầu tư vốn cho hộ sảnxuất với lãi suất thấp để khắc phục tình trạng chặt cây cà phê vì thấy sản xuất không

có hiệu quả Ngoài ra còn có các chính sách xóa đói giảm nghèo đối với vùng sâu,vùng xa để phát triển kinh tế nhằm sớm hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa -hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn

Ngoài các nhân tố trên, hiệu quả kinh tế còn chịu ảnh hưởng của các nhấn tốkhoa học – kỹ thuật, tổ chức sản xuất,

Tóm lại, hiệu quả kinh tế là do tổng hợp nhiều yếu tố tạo thành và phải đượcxem xét trong nhiều năm liên tục Việc huy động, khai thác và sử dụng các nguồnlực trên càng hợp lý và đầy đủ, càng cho phép đạt hiệu quả kinh tế cao, còn ngượclại sẽ làm cho hiệu quả kinh tế thấp.[6] Đặc biệt trong điều kiện kinh tế - xã hội củanông nghiệp và nông thôn nước ta là sản xuất nhỏ, cơ sở vật chất - kỹ thuật cònthấp, với trên 60% lao động xã hội làm nông nghiệp và 75% dân số xã hội sống ởnông thôn, với tuyệt đại đa số là nông hộ gia đình Nông nhiệp có phát triển nhanhchóng, bền vững hay không phụ thuộc vào việc khai thác và sử dụng có hiệu quảnguồn lao động này

2.2 Cơ sở thực tiễn

Cà phê là loại cây công nghiệp đặc sản của vùng nhiệt đới, hạt cà phê chứamột số Vitamin nhóm B, đặc biệt là axit nicotenic và một số chất khác Các nhàkhoa học Thụy Sỹ đã phân tích hạt cà phê và cho thấy trong hạt cà phê có 670 hợpchất thơm, tạo thành một mùi hương tổng hợp tuyệt vời (trong chè là 404, trong cacao là 385) Chính các chất và hương vị độc đáo có trong hạt cà phê đã làm cho

Trang 11

nhiều người nghiện cà phê và việc uống cà phê trở thành tập quán, là nhu cầu hàngngày của phần đông dân số thế giới, đặc biệt là ở các nước phát triển.[3]

Cà phê là một trong những mặt hàng nông sản quan trọng, đặc biệt là đối vớicác nước đang phát triển Hoạt động mậu dịch của cà phê trên toàn thế giới chiếm tỷtrọng rất cao, chỉ sau dầu mỏ Sự hưng thịnh và suy thoái của công nghiệp cà phê cóảnh hưởng trực tiếp đến khoảng 70 nước sản xuất cà phê và 25 triệu hộ nông dânvới 125 triệu nhân khẩu Đặc thù của thị trường cà phê là rất không ổn định về cungcầu và giá Sản lượng cà phê thế giới diễn biến mạnh tùy vào khí hậu thời tiết, tìnhhình tiêu thụ, giá cả, cán cân cung - cầu.[1]

Mức tiêu thụ cà phê trên thế giới ngày càng cao, cả những nước trước đây cótập quán uống trà thì nay mức tiêu dùng cà phê cũng tăng lên đáng kể như Anh,Nhật…Ở Nhật Bản trong những năm 1980 có khoảng 46% số dân uống cà phê và53,8% số dân uống chè.[7]

Các nước đang phát triển mức tiêu thụ cà phê ngày càng tăng Ở Việt Namtrước đây uống cà phê chỉ có ở các thành phố lớn (phía Nam là chủ yếu) thì đến nayviệc uống cà phê đã lan rộng khắp cả nước, không những chỉ thành thị mà đến cảnhững vùng nông thôn.[3]

Cà phê là nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp phát triển như: Bánhkẹo, rượu và sữa cà phê…Nhiều quốc gia sản xuất cà phê đang tìm kiếm các chiếnlược và giải pháp mới để tái khẳng định vị trí trên thị trường và giảm bớt sự phụthuộc vào hệ thống định giá tại các thị trường New York và London Nhiều quốcgia sản xuất đang tìm cách “đặc thù hóa” sản phẩm cà phê thông qua nguồn gốcxuất xứ, quá trình canh tác, chế biến, đặc trưng chất lượng, hương vị riêng biệt, ít bịlỗ…Các loại cà phê “đặc thù” này có thể được buôn bán thông qua những kênh thịtrường sinh lợi nhiều hơn so với kênh thị trường dành cho những sản phẩm cà phêtruyền thống.[7]

* 11-2004: Giá cà phê thế giới tăng mạnh

Ngược lại với xu hướng giảm nhanh của tháng 10/2004, giảm khoảng

8,5-10%, tháng qua giá cà phê các loại lại tăng mạnh Tại New York giá cà phê arabicagiao ngay ngày 17/10/2004 sẽ đạt 0,9350 USD/ Ib (2.064 USD/ tấn), tăng 23% so

Trang 12

cũng tăng 20% lên 655 USD/tấn Tại Châu Á giá chào bán cà phê robusta loại 2 củaViệt Nam và EK-1 loại 4 của Inđônêxia ngày 16/11/2004 Tuy nhiên so với cùng kỳnăm trước giá cà phê đã biến động rất khác nhau: giá cà phê arabica tại New York

đã tăng kỷ lục, tăng 52%, giá cà phê robusta tại Luân Đôn hầu như không đổi trongkhi giá cà phê của Việt Nam và Inđônêxia giảm 10-11% Một loạt nhân tố ngắn hạntác động làm giá cà phê tăng mạnh Trước tiên là nguồn cung giảm tại Braxin vàCôlômbia, hai nước sản xuất và xuất khẩu cà phê arabica lớn nhất, nhì thế giới.Theo hiệp hội quốc gia những người trồng cà phê Côlômbia (NFCC), thời tiết khôhạn, sâu bệnh đã làm sản lượng cà phê vụ 2003/2004 của nước này giảm gần 1 triệubao so với vụ trước, còn 10,88 triệu bao (1 bao = 60 kg) Nguồn cung cà phê choxuất khẩu của Côlômbia tháng qua vẫn giảm sút Xuất khẩu cà phê của Côlômbiahai tuần đến tháng 11/2004 ước tính chỉ đạt 232.000 bao, giảm hơn 35% so vớicùng kỳ năm trước Ngày 12/11/2004 một trận động đất lớn xảy ra tại Côlômbialàm xuất khẩu cà phê của nước này gần như bị ngưng trệ Điều này đã tác độngmạnh đến giá cà phê arabica trên thị trường giao ngay.[4]

Tại Braxin tồn kho cà phê nội địa giảm đã làm xuất khẩu cà phê mấy tuần quahạn chế, ước tính chỉ đạt 370.000 – 380.000 bao/tuần, giảm so với 420.000 –440.000 bao/tuần của tháng 10/2004 Trong bối cảnh này các nhà rang xay cà phê

Mỹ, các quỹ đầu tư lại có xu hướng tăng mua cà phê vào, gia tăng dự trữ Nhân tốnày đã làm giá cà phê arabica càng tăng nhanh hơn Giá cà phê arabica tăng mạnh lànguyên nhân chủ yếu thúc đẩy giá cà phê robusta cũng tăng nhanh tháng qua, mặc

dù nguồn cung cà phê robusta nên được đánh giá là dồi dào ở những nước xuất khẩulớn như Việt Nam, Inđônêxia và Uganđa.[4]

* Vụ 2004/2005: Giá cà phê thế giới sẽ giảm 10-15%

Theo Don Jones, báo cáo mới của Tổ chức Cà phê quốc tế (ICO) cho thấy, thịtrường cà phê thế giới vụ 2004/2005 (từ tháng 10/2004 đến tháng 9/2005) có thể lạithừa cung sau khi bị thiếu hụt tới 12,39 triệu bao vụ trước Sản lượng cà phê thếgiới vụ 2004/2005 dự báo sẽ tăng gần 15% so với vụ trước Trong đó sản lượng càphê arabica tăng 10,1% và sản lượng cà phê robusta tăng 24,7% Trong 5 nước sảnxuất cà phê lớn nhất thế giới, thì sản lượng cà phê Braxin vụ 2004/2005 dự báo sẽtăng gần 28,8% so với vụ trước; của Việt Nam tăng 11%; của Inđônêxia tăng 3%;

Trang 13

Ấn Độ tăng 4,3%; riêng của Côlômbia dự đoán giảm 5% Tiêu thụ cà phê thế giới

vụ 2004/2005 dự đoán chỉ tăng chút ít, tăng gần 1 triệu bao so với vụ trước, đạt 114triệu bao và thấp hơn sản lượng 1,7 triệu bao Trong đó tiêu thụ cà phê vụ2004/2005 ở các nước nhập khẩu dự đoán sẽ tăng 1% so với vụ trước và ở các nướcsản xuất dự đoán sẽ ở mức cao của vụ trước Tồn kho cà phê thế giới cuối vụ2004/2005 dự đoán sẽ tăng 12,4% so với cuối vụ trước.[4]

Sản lượng cà phê tăng cao sẽ đưa xuất khẩu cà phê thế giới vụ 2004/2005 đạtmức cao kỷ lục 95,8 triệu bao, tăng 8,8% so với vụ trước Trong đó xuất khẩu càphê arabica thế giới dự đoán sẽ tăng 8,5% và xuất khẩu cà phê robusta thế giới dựđoán sẽ tăng hơn 11% Trong 5 nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới, xuất khẩu

cà phê vụ 2004/2005 dự đoán sẽ tăng ở 4 nước: Braxin tăng hơn 10%; Việt Namtăng 6,1%; Inđônêxia tăng 3% và Ấn Độ tăng 13% Chỉ riêng Côlômbia xuất khẩu

cà phê vụ 2004/2005 dự đoán sẽ tiếp tục giảm 2,2% sau khi vẫn giảm gần 10% vụtrước.[4]

Theo ICO, vụ 2004/2005 giá cà phê sẽ bị bất lợi bởi nguồn cung thế giới tăngmạnh Giá cà phê arabica thế giới vụ 2004/2005 dự đoán sẽ chỉ đạt trung bình 66,90uscent/LB (1.477 USD/tấn, giảm 15,3%); giá cà phê robusta tại Luân Đôn sẽ đạt610USD/tấn, giảm 15,3%[4]

Trang 14

Phần 3:

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Địa lý của thị trấn như sau:

Phía bắc giáp xã Eakpam - huyện CưM’gar

Phía đông giáp xã Quảng Tiến - huyện CưM’gar

Phía tây giáp xã Quảng Tiến - huyện CưM’gar

Phía nam giáp xã Quảng Tiến - huyện CưM’gar

3.1.1.2 Địa hình

Thị trấn Quảng Phú có vị trí tương đối bằng phẳng, diện tích có độ dốc ítkhoảng 25% tổng diện tích đất tự nhiên Đất đai chủ yếu là đất đỏ bazan, đất cải tạo(đất đỏ pha sỏi) Nhóm đất đỏ có tầng dày, thành phần cơ giới rộng, tơi xốp và hàmlượng dinh dưỡng khá cao phù hợp với nhiều loại cây trồng

3.1.1.3 Đất đai

Thị trấn Quảng Phú có vị trí hết sức thuận lợi, đất đai màu mỡ là những yếu tốthích hợp để phát triển kinh tế cây trồng mang lại hiệu quả cao Mặc dù diện tích đấtbình quân cho mỗi hộ là rất lớn, nhưng chủ yếu nằm ở các xã lân cận nên diện tíchđất nông nghiệp thực tế ngay tại thị trấn không nhiều Do các hộ gia đình ở đây didân vào khoảng năm 1957 là chính nên đa phần là đất khai hoang

Trang 15

Bảng 1: Cơ cấu đất đai của thị trấn Quảng Phú

STT Tổng diện tích đất tự nhiênLoại đất Diện tích (ha)809 Tỷ lệ (%)100,00

3.1.1.4.Khí hậu và thuỷ văn

Thị trấn Quảng Phú nằm không xa thành phố Buôn Ma Thuột (16 km), do đókhí hậu, thời tiết tương đối giống tại thành phố Kiểu khí hậu mang tính chất nhiệtđới gió mùa cao nguyên cho nên thời tiết trong năm được chia làm hai mùa rõ rệt:

- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10

- Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 4 năm sau

Lượng mưa trung bình trong năm từ 1800 – 1850 mm nhưng phân bố khôngđồng đều, tập trung phần lớn vào mùa mưa Còn vào mùa khô thì chịu ảnh hưởng

Trang 16

của gió Lào từ tây nam thổi vào nên làm cho mùa khô trở nên khô hanh và thiếunước nghiêm trọng, gây ra hạn hán.

Nhiệt độ cao nhất trong năm là 32.50C

Nhiệt độ thấp nhất trong năm là 13.50C

Nhiệt độ trung bình trong năm là 24.50C

Độ ẩm trung bình trong năm là 82%

Với điều kiện khí hậu như vậy đã làm thời tiết của vùng ôn hòa, mát và ẩm rấtthích hợp cho nhiều loại cây trồng, có khả năng thâm canh, tăng vụ

3.1.1.5 Thảm thực vật

Thị trấn Quảng Phú có diện tích đất rừng ít, cụ thể là 42 ha, chiếm 5,20% tổngdiện tích đất tự nhiên của toàn thị trấn, nhưng tập trung chủ yếu trên đồi CưM’gar.Tuy nhiên, toàn bộ diện tích đất rừng của thị trấn đều là rừng trồng nên thảm thựcvật ở đây không được đa dạng và phong phú như các khu rừng nguyên sinh khác.Mặc khác, do là rừng trồng nên phần lớn thảm thực vật ở đây chủ yếu là lau, sậy rất

dễ gây cháy vào mùa khô nên UBND thị trấn luôn tổ chức thực hiện tốt công tácquản lý, bảo vệ, phòng chống cháy đồi CưM’gar

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

3.1.2.1 Điều kiện kinh tế

Thị trấn Quảng Phú sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, trong đó cây cà phêđóng vai trò chủ đạo trong thu nhập của người dân, bên cạnh đó còn có các loại câykhác như tiêu, điều,…Tổng thu nhập kinh tế: 110 tỉ đồng, đạt 100% kế hoạch vàbằng 112% so với năm 2003 Thu nhập bình quân đầu người không đạt kế hoạch doviệc tăng dân số cơ học từ nơi khác đến

Trang 17

- Tiêu: 56,8 ha (xâm canh: 46,8 ha), Năng suất: 20 tạ/ha Sản lượng: 113,6tấn.

- Điều: 11,2 ha (xâm canh)

- Ruộng nước: 22 ha (xâm canh: 20,5 ha), Năng suất 50 tạ/ha Sản lượng 110tấn

- Cây nông sản ngắn ngày: 40 ha (xâm canh)

- Cây ăn trái (quy đổi): 12 ha (xâm canh: 10 ha)

Do ảnh hưởng của đợt hạn cuối năm nên nhiều diện tích cây ngắn ngày bị mấttrắng và năng suất cà phê giảm, nhưng do giá cà phê có chiều hướng tăng, nên tổngthu nhập từ trồng trọt đạt 65 tỉ đồng, đạt 100% kế hoạch và bằng 104,8% năm 2003 + Ch ă n nuôi :

Mặc dù bị ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm nhưng chăn nuôi đã có nhữngbước phát triển mới Chăn nuôi bò và dê có phát triển về số lượng nhưng chủ yếu làgiống địa phương Công tác phòng trừ dịch bệnh đã thực hiện tốt nên không có dịchbệnh xảy ra

- Đàn bò: 152 con, sản lượng 03 tấn thịt

- Đàn heo: 8.769 con, sản lượng 480 tấn thịt

- Đàn dê : 397 con, sản lượng 06 tấn thịt

- Đàn gia cầm: 20.000 con, sản lượng 20 tấn thịt

Trang 18

do ý thức chấp hành của người dân còn kém, hoạt động quản lý của địa phươngchưa sâu sát

+ Về chi ngân sách: việc chi ngân sách đã được thực hiện nghiêm túc theo dựtoán phân bổ ngân sách và kế hoạch chi, đảm bảo phục vụ cho công tác chi hoạtđộng cho toàn bộ cơ quan Trong năm đã phát sinh một số nguồn chi về hoạt độngcủa UBND, chi phục vụ quốc phòng, VHTT-TDTT, mua sắm sửa chữa tài sản cốđịnh

* Quản lý đ ất đ ai, xây dựng :

Đã tổ chức xây dựng kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và đã được HĐNDthị trấn thông qua Các tranh chấp đất đai đã được giải quyết kịp thời, chính xác Tuy nhiên, công tác quản lý đất đai còn lỏng lẻo, chưa sâu sát, cụ thể và chặtchẽ, chưa phân định rõ và chính xác số liệu từng loại đất, từng khu vực đất trên địabàn, thiếu chủ động trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý đất đai trên địa bàn,trong đó có việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất hàng năm Do nhiều nguyên nhânkhác nhau nên tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn chậm, thời giankéo quá dài, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân

* Giao thông:

Các tuyến đường giao thông trên địa bàn đã được nhân dân thường xuyên tusửa để đảm bảo giao thông Tuy nhiên, do những tháng mưa nhiều và lượng mưalớn đã làm một số tuyến đường bị xuống cấp Việc vận động nhân dân tham gia xâydựng vỉa hè thuộc công trình xây dựng Tỉnh lộ 8 đang được triển khai thực hiện.Công trình xây dựng đường nhựa tại Tổ dân phố 03 do huyện bố trí nguồn vốnchậm nên hiện nay mới bắt đầu tiến hành làm hồ sơ triển khai thực hiện

Việc thu vốn đối ứng xây dựng giao thông các tuyến Quảng Phú – Ea Mnang,Quảng Phú – Ea Mdroh và đường vành đai chưa thực hiện được do việc giao chỉtiêu của huyện quá cao, không đúng với thực tế, do đời sống nhân dân đang gặp khókhăn và một số vị trí không xác định được chủ sử dụng

* Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:

Chủ yếu là các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ của tư nhân Việc sắp xếp hoạt động chưathực hiện được do chưa xây dựng khu công nghiệp tập trung, từ đó dẫn đến việchoạt động còn gây ô nhiễm môi trường, mất mỹ quan đô thị Toàn địa bàn có 63 cơ

Trang 19

sở Công nghiệp - Tiể thủ công nghiệp gồm: 04 cơ sở xây dựng cơ bản, 14 cơ sở khí,

08 cơ sở rèn, 06 cơ sở mộc và hàng dân dụng, 09 cơ sở sản xuất ống nước nhựa, 17

cơ sở sản xuất thực phẩm, 01 cơ sở sản xuất nước đá, 06 cơ sở giày dép Tổng thunhập 11 tỉ đồng, đạt 100% kế hoạch và bằng 137,5% năm 2003

* Thương mại, dịch vụ:

Mặc dù ban quản lý chợ đã đi vào hoạt động và các hoạt động hỗ trợ của địaphương diễn ra nhiều nhưng việc sắp xếp trật trự mua bán thực hiện chưa đảm bảoyêu cầu Ý thức chấp hành nghĩa vụ thuế của nhân dân chưa đồng đều, một số hộchây ỳ, dây dưa nợ thuế và không chấp hành nghĩa vụ thuế Việc cạnh tranh khônglành mạnh và gian lận vẫn diễn ra Số hộ hoạt động thương mại và dịch vụ ngàycàng tăng, trong đó thương mại 194 hộ, dịch vụ 136 hộ Tổng thu nhập 18 tỉ đồng,đạt 100% kế hoạch và bằng 128,5% năm 2003

3.1.2.2 Điều kiện văn hóa – xã hội

* Giáo dục:

Năm học 2003-2004 đã kết thúc với chất lượng đạt khá Có 5/6 trường đạttrường tiên tiến, 42 giáo viên dạy giỏi cấp huyện, 2 giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh, 30%giáo viên thị trấn được công nhận lao động giỏi loại A, 45 giáo viên đạt lao độnggiỏi xuất sắc, 06 giáo viên đạt chiến sĩ thi đua Có 110 học sinh đạt danh hiệu họcsinh giỏi cấp huyện, 18 học sinh giỏi cấp tỉnh Tốt nghiệp tiểu học đạt 100%, tốtnghiệp THCS đạt 99,3% và trên 45% cháu mẫu giáo đạt danh hiệu Cháu ngoan BácHồ

Kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm 87 cơ sở, có 30 cơ sở vi phạm, nhắc nhở

27 cơ sở, chuyển huyện xử lý 30 cơ sở

Tại trạm y tế đã trang bị 01 điện thoại, bắt hệ thống nước máy, làm mái chetrước hiên và láng xi măng đường đi vào trạm để phục vụ công tác khám chữa bệnh

Trang 20

Đã hoàn thành công tác kê khai thành tích kháng chiến cho đối tượng chínhsách và đã được cấp trên công nhận.

- Xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa được 140.320.000 đồng, làm hồ sơ hưởngchế độ bảo trợ xã hội cho 11 đối tượng

- Tặng 60 xuất quà cho đối tượng chính sách nhân dịp tết Nguyên đán và ngày27/7 trị giá 1.650.000 đồng Hỗ trợ sửa chữa nhà ở cho 3 đối tượng với số tiền15.000.000 đồng

- Điều tra đối tượng bảo trợ xã hội: 251 đối tượng, trong đó: tàn tật là 127 đốitượng, trẻ mồ côi là 99 đối tượng và người già cô đơn là 25 đối tượng

- Tổng số hộ nghèo là 137, trong đó có 27 hộ nghèo phát sinh mới, xét giảm

hộ nghèo được 30 hộ Hiện nay đã có 02 hộ chuyển nơi cư trú nên tổng số còn lại là

105 hộ, chiếm 3,62% tổng số hộ trên địa bàn Việc thực hiện chương trình xóa đóigiảm nghèo còn chậm, chưa xây dựng được mô hình giảm nghèo, chưa kiểm tra xóanghèo cho những hộ đủ điều kiện theo quy định

* V ă n hóa thông tin - Thể dục thể thao :

- Về công tác thông tin tuyên truyền: Tổ chức tuyên truyền luật bầu cử H ĐNDcác cấp Trang trí khánh tiết phục vụ các buổi hội nghị, đại hội, phục vụ cuộc bầu

cử HĐND các cấp, các ngày lễ lớn trong năm

- Về hoạt động TDTT: Tổ chức tốt hoạt động hè cho thiếu nhi Kết hợp cùngkhối Dân vận thị trấn tổ chức hội thao chào mừng ngày truyền thống Dân vận củaĐảng

- Công tác xây dựng đời sống văn hóa: Triển khai xét duyệt và công nhậndanh hiệu gia đình văn hóa cho 07 Tổ dân phố đã ra mắt và đã có 2.773 hộ đạt danhhiệu gia đình văn hóa Hoàn tất hồ sơ, đã được UBND huyện phê duyệt Quy ước Tổdân phố văn hóa tại tổ 08 và đã tiến hành ra mắt trong tháng 12 năm 2004

- Công tác quản lý các hoạt động văn hóa: đã tiến hành kiểm tra xử lý 02trường hợp kinh doanh băng đĩa với hình thức cảnh cáo nhắc nhở Tham gia cùngđoàn 814 của huyện tiến hành kiểm tra phát hiện và xử lý 06 trường hợp kinh doanhbăng đĩa và 01 trường hợp kinh doanh karaoke không có giấy phép kinh doanhchuyển về huyện xử lý

* An ninh, Quốc phòng:

Trang 21

+ An ninh: Trong năm 2004, tình hình thế giới và trong nước cũng như ở địaphương tiếp tục có những diễn biến khá phức tạp, các thế lực thù địch tìm mọi cáchchia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc dưới nhiều hình thức khác nhau.

Năm 2004 nổi lên đáng chú ý là sự kiện ngày 10/4, địa bàn Tây nguyên nóichung và huyện CưM’gar nói riêng có một số đồng bào dân tộc ít người bị bọn phảnđộng dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo đã có những hành vi tổ chức gây rối trật tự côngcộng, chống người thi hành công vụ, vượt biên trái phép,…

Do ảnh hưởng của các hoạt động bạo loạn trên địa bàn huyện nên tình an ninhtrật tự trên địa bàn thị trấn cũng có những diễn biến phức tạp Tuy nhiên, do thựchiện tốt công tác trực, tuần tra, bám sát cơ sở của lực lượng Công an thị trấn và sựhoạt động tích cực của các Ban bảo vệ dân phố nên tình hình an ninh chính trị trênđịa bàn được giữ vững

+ Quốc phòng:

- Xây dựng lực lượng: Tổng quân số gồm 212 đồng chí, chiếm 1,5% dân số.Gồm: 01 trung đội cơ động huyện 25 đồng chí; 01 trung đội cơ động thị trấn 24đồng chí; 01 trung đội và 07 tiểu đội dân quân tại chỗ tại 08 Tổ dân phố; 01 tiểu độicông binh 09 đồng chí; 01 tiểu đội nữ cối 60 ly 12 đồng chí và tổ trinh sát 09 đồngchí

- Công tác trực, tuần tra canh gác: Kết hợp với lực lượng công an thực hiện tốtnhiệm vụ tuần tra trên địa bàn Tuy nhiên, ý thức chấp hành kỷ luật của chiến sĩchưa tốt, vẫn còn chiến sĩ vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật

3.2 Nội dung nghiên cứu

Tìm hiểu hiệu quả về sản xuất cà phê của các nông hộ trên địa bàn nghiên cứu

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

* Phương pháp thu thập số liệu gián tiếp

Thu thập số liệu thông qua các tài liệu, các sách báo, các báo cáo hàng năm …

* Phương pháp thu thập số liệu trực tiếp

Tôi tiến hành phỏng vấn bằng phiếu điều tra đối với các hộ nông dân trồng càphê trên địa bàn thị trấn Quảng Phú - huyện Cư’Mgar - tỉnh Đăklăk

Trang 22

* Tiêu chuẩn phân loại hộ:

Theo quyết định số 1143/ 2000 BLĐ – TBXH ra ngày 01/11/2000, quy địnhmức thu nhập bình quân đầu người đối với vùng nông thôn miền núi là:

- Hộ đói: Mức thu nhập bình quân/ người < 80.000 đồng/ tháng

- Hộ nghèo: Mức thu nhập bình quân/ người từ 80.000 – 100.000 đồng/ tháng

- Hộ trung bình: Mức thu nhập bình quân/ người từ 100.000 – 200.000 đồng/tháng

- Hộ khá: Mức thu nhập bình quân/ người từ 200.000 – 400.000 đồng/ tháng

- Hộ giàu: Mức thu nhập bình quân/ người > 400.000 đồng/ tháng

Dựa vào tiêu chuẩn trên, trong đề tài này chúng tôi phân loại các hộ ở xã ralàm 4 nhóm hộ chính: Nhóm hộ giàu, nhóm hộ khá, nhóm hộ trung bình, và nhóm

hộ nghèo

Trên cơ sở phân loại hộ, tôi lựa chọn những hộ trồng cà phê có diện tích từ 0,5

ha cà phê kinh doanh ổn định trở lên, đại diện cho bốn nhóm hộ giàu, khá, trungbình và nghèo của thị trấn Việc chọn những hộ có diện tích từ 0,5 ha trở lên nhằmđảm bảo cho việc đánh giá chính xác hơn

Đây là cách chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng: là việc phân các đối tượngnghiên cứu thành các nhóm, tầng theo các đặc tính, sau đó lấy mẫu ngẫu nhiên theonhóm

* Dung lượng mẫu

Để tiết kiệm thời gian và chi phí nhưng dung lượng mẫu vẫn mang tính đạidiện cho các nông hộ trồng cà phê của thị trấn, tôi tiến hành điều tra, phỏng vấn mộinhóm hộ là 30 hộ (tổng số hộ là 120 hộ)

3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu, thông tin thu thập được tiến hành phân tổ, tổng hợp các số liệutheo chỉ tiêu cụ thể, sàng lọc, lựa chọn các thông tin thích hợp làm cơ sở cho đề tài.Dùng chỉ tiêu thống kê thông thường như số trung bình để tổng hợp và phân tích sốliệu

3.3.4 Các chỉ tiêu đánh giá

Trang 23

* Diện tích, sản lượng và năng suất bình quân

* Chi phí lao động gia đình: ở đây tôi tính công lao động gia đình bằng cách

lấy số ngày công lao động của họ làm việc trong một năm rồi nhân với số tiền phảitrả cho một công lao động

Số ngày làm việc của các nhóm hộ:

+ Hộ giàu: 120 ngày/năm

+ Hộ khá: 135 ngày/năm

+ Hộ trung bình: 160 ngày/năm

+ Hộ nghèo: 168 ngày/năm

Cách tính: Lao động gia đình = Số ngày làm việc * Đơn giá

Trong đó: Đơn giá là chi phí phải trả cho 1 công lao động Chi phí cho 1 cônglao động là 30.000 đồng

* Thu nhập thuần của nông hộ: vì có những năm giá cả biến động mạnh,

thời tiết thay đổi làm năng suất cà phê giảm, giá giảm dẫn đến tổng thu giảm Để cóthể vẫn tiến hành sản xuất được thì “tổng thu = tổng chi phí khả biến”, vì vậy phảitính chỉ tiêu này để biết được có nên tiến hành sản xuất nữa hay không

Công thức:

Thu nhập thuần = Tổng thu – Chi phí khả biến

* Lãi thuần (lợi nhuận)

Công thức:

Lãi thuần = Thu nhập thuần – Chi phí cố định

Hay: Lãi thuần = Tổng thu - Tổng chi phí

Trong đ ó : Tổng chi phí = Chi phí khả biến + Chi phí cố định

* Tổng chi phí/ha

Phản ánh mức độ đầu tư cho sản xuất cà phê của các nhóm hộ

Trang 24

* Chi phí lãi vốn vay: vì các hộ nông dân ở đây vay vốn không phải chỉ dùng

cho sản xuất cà phê nên tôi lấy 70% tổng số vốn vay của hộ dùng cho sản xuất càphê

* Tỷ suất lợi nhuận

Thể hiện khi bỏ ra 1 đồng chi phí thì sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận

Công thức:

Tỷ suất lợi nhuận = Lợi nhuận/ Tổng chi phí

* Thu nhập/nhân khẩu

Phản ánh mức sống bình quân của các thành viên trong nông hộ

* Thu nhập/ha

Được tính bằng tổng thu từ cà phê/ tổng diện tích trồng cà phê

Phản ánh hiệu quả kinh tế đem lại trên một đơn vị diện tích

* Chi phí khả biến: là những chi phí thay đổi khi mức đầu ra thay đổi hoặc

khi quy mô của hoạt động sản xuất thay đổi

* Chi phí cố định: là những chi phí không thay đổi khi mức độ sản xuất thay

đổi, đó là các chi phí về tài sản cố định như máy móc, đất đai, Chi phí cố địnhthường được tính bằng việc khấu hao các tài sản cố định hàng năm, do vậy chi phínày là chi phí tiền mặt

* Phương pháp khấu hao: Ở đây tôi sử dụng phương pháp khấu hao theo

đường thẳng

Công thức:

KH = (Giá mua – Giá thanh lý)/ Thời gian sử dụng

Giá thanh lý: Vào thời điểm hết hạn sử dụng đối với các tư liệu sản xuất tôicoi như giá thanh lý không có ý nghĩa và bằng không

Máy cày, máy bơm, máy xay xát: tính khấu hao trong 15 năm

Ống tưới: tính khấu hao trong 10 năm

Trang 25

Giếng nước: đa phần được sử dụng vĩnh viễn nhưng có những yếu tố ngoạicảnh có thể tác động làm cho thời gian sử dụng của giếng nước ngắn lại Vì vậy ởđây tôi tính khấu hao cho giếng nước trong 20 năm.

* Giá trị hiện tại ròng của cà phê: Thể hiện giá trị hiện tại thu được của một

quy trình sản xuất 1 ha cà phê sau khi đã trừ đi chi phí

0 ( 1 ) Trong đó:

i: là tỷ suất chiết khấu

Ở đây lấy theo lãi suất của NHNN & PTNT là 13,8% ( 1,15%/tháng) Bt: là doanh thu năm thứ t

Ct: là chi phí năm thứ t

t: là thời gian (20 năm)

Vì chi phí thời kỳ kiến thiết cơ bản các hộ không nhớ nên tôi tham khảo chiphí thời kỳ kiến thiết cơ bản của công ty cà phê Eapôk

Vốn đầu tư ban đầu: 12.252.700 đồng/ha

Chi phí kiến thiết cơ bản:

* Tỷ số doanh lợi C B :nói lên việc đầu tư của một dự án có hiệu quả hay

không

C BPNC PNB

Trong đó:

PVB: là những khoản thu nhập tính ở hiện tại

PVC: là những khoản chi phí tính ở hiện tại

Trang 26

Nếu B/C > 1 thì dự án đầu tư có lãi.

Nếu B/C < 1 thì dự án đầu tư không có lãi (bị lỗ)

Nếu B/C = 1 thì dự án đầu tư hoà vốn

* Suất nội hoàn IRR: là tỷ suất sinh lời nội bộ: Lãi suất chiết khấu mà tại đó

giá trị hiện tại của dòng tiền vào bằng giá trị hiện tại của dòng tiền ra, hay NPV = 0.Suất nội hoàn để đo lường tỷ lệ hòa vốn của dự án, nó cũng được làm tiêu chuẩn đểxem xét một dự án đầu tư

Để tính IRR tôi sử dụng hàm IRR trong Excel

Nếu IRR > i thì dự án khả thi, nên đầu tư

Nếu IRR < i thì dự án không khả thi, không nên đầu tư

Nếu IRR =i cần xem xét trong các vấn đề về lợi ích xã hội, kinh tế,

Phần 4:

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Tình hình chung của các nông hộ điều tra

Việc phát triển nông nghiệp nông thôn đã được Đảng và nhà nước đặc biệt

quan tâm, nhất là những vùng khó khăn, kinh tế chậm phát triển Từng hộ gia đình

Ngày đăng: 14/12/2016, 09:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Ngọc Báu - Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao tính bền vững cho ngành cà phê ĐăkLăk, Thông tin Khoa học kỹ thuật, số 2 - 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao tính bền vững cho ngành cà phê ĐăkLăk
Tác giả: Lê Ngọc Báu
Nhà XB: Thông tin Khoa học kỹ thuật
Năm: 2004
2. Lê Thị Thúy Diễm, LV 666 “Hiệu quả kinh tế của việc trồng cà phê trong các nông hộ tại xã Hòa Phú - huyện CưJut”, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả kinh tế của việc trồng cà phê trongcác nông hộ tại xã Hòa Phú - huyện CưJut
3. PTS. Đỗ Trọng Hùng, Kỹ thuật trồng cà phê mật độ dày cho năng suất cao.NXB Nông nghiệp. Hà Nội – 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng cà phê mật độ dày cho năng suất cao
Tác giả: Đỗ Trọng Hùng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
4. Vũ Hòa - Vụ 2004/2005: Thị trường cà phê thế giới sẽ thừa cung, Thị trường giá cả, số tháng 12 – 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vụ 2004/2005: Thị trường cà phê thế giới sẽ thừa cung
Tác giả: Vũ Hòa
Nhà XB: Thị trường giá cả
Năm: 2004
5.Tô Thị Phượng, Giáo trình lý thuyết thống kê, Đại học kinh tế quốc dân, NXB Giáo Dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý thuyết thống kê
Tác giả: Tô Thị Phượng
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1998
6. Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Quản trị doanh nghiệp nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị doanh nghiệp nông nghiệp
Tác giả: Trường Đại học Kinh tế quốc dân

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 1: Cơ cấu đất đai của thị trấn - Hiệu quả kinh tế về sản xuất cà phê của các nông hộ ở Thị trấn Quảng Phú  Huyện CưM’gar  Tỉnh ĐăkLăk
th ị 1: Cơ cấu đất đai của thị trấn (Trang 15)
Bảng 11: Cơ cấu chi phí sản xuất 1 ha cà phê của các nhóm hộ - Hiệu quả kinh tế về sản xuất cà phê của các nông hộ ở Thị trấn Quảng Phú  Huyện CưM’gar  Tỉnh ĐăkLăk
Bảng 11 Cơ cấu chi phí sản xuất 1 ha cà phê của các nhóm hộ (Trang 37)
Bảng 20: Giá trị hiện tại, tỷ số B/C và suất nội hoàn IRR - Hiệu quả kinh tế về sản xuất cà phê của các nông hộ ở Thị trấn Quảng Phú  Huyện CưM’gar  Tỉnh ĐăkLăk
Bảng 20 Giá trị hiện tại, tỷ số B/C và suất nội hoàn IRR (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w