1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tài nguyên sinh học và vấn đề đa dạng sinh học trong tự nhiên và đời sống

17 498 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 54,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KẾT LUẬN Việt Nam rất đa dạng về sinh học, chúng ta gần có gần như đầy đủ các nguồn tài nguyên sinh học như: rừng, biển,…Tuy nhiên, sự đa dạng này đang dần cạn kiệt, một số loài sinh vật gần như đã biến mất. Tình trạng môi trường hiện tại đang đặt vào trạng thái cấp bách, hàng loạt các hiện tượng gần đây cho chúng ta thấy môi trường đang suy kiệt như: bê bối chất thải nhà máy Formosa, cá chết hàng loạt ở Hồ Gươm hay rừng đầu nguồn bị tàn phá nghiêm trọng…Chính sự ô nhiêm môi trường, tàn phá môi trường sống….do con người đã gây ra sự suy giảm đáng kể và gần như là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng cạn kiệt, xóa sổ các loại tài nguyên sinh học.

Trang 1

CHỦ ĐỀ 3:

Tài nguyên sinh học và vấn đề đa dạng sinh học trong tự nhiên và đời sống

MỤC LỤC

A MỞ BÀI 1

B NỘI DUNG 1

I Khái niệm 1

II.Phân loại đa dạng sinh học 1

1 Đa dạng loài 2

2 Đa dạng hệ sinh thái 3

3 Đa dạng di truyền 4

III Thực trạng đa dạng sinh học trên thế giới và Việt Nam 5

1 Trên thế giới 5

2 Ở Việt Nam 6

IV Nguyên nhân 7

1 Nguyên nhân cơ bản 7

2 Nguyên nhân trực tiếp 8

V Hậu quả 11

VI Biện pháp 12

6.1 Xây dựng các vườn quốc gia và khu bảo tồn 12

6.2 Ban hành sách đỏ Việt Nam 13

6.3 Đưa ra các quy định về khai thác 13

6.4 Tăng cường trồng rừng 14

6.5 Phát triển du lịch sinh thái 14

6.6 Nâng cao nhận thức chung của toàn dân về đa dạng sinh học và bảo tồn nó 14

6.7 Tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo vệ tính đa dạng sinh học 15

KẾT LUẬN 15

Trang 2

A MỞ BÀI

- Đa dạng sinh học là sự giàu có, phong phú các nguồn gen, các loài và các hệ sinh thái trên bề mặt trái đất, là tài nguyên tái tạo, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển tiến hóa của sinh giới và đặc biệt là đối với đời sống con người Công ước đa dạng sinh học ghi nhận giá trị kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, giải trí, sinh thái

và môi trường, và cũng nhấn mạnh vai trò của nó đối với sự sống của con người hiện tại và tương lai

- Đa dạng sinh học không chỉ cung cấp nguyên liệu cho việc cải thiện các sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp và y dược, cải thiện điều kiện sinh thái, điều hòa khí hậu, mà nó cũng là nguyên liệu cho quá trình tiến hóa sinh học

B NỘI DUNG

I Khái niệm

Đa dạng sinh học là toàn bộ sự phong phú của cơ thể sống và các tổ hợp sinh thái

mà chúng là thành viên, bao gồm sự đa dạng bên trong, giữa các loài và sự đa dạng của các hệ sinh thái (theo Công ước của Liên hợp quốc năm 1992 về Môi trường

và phát triển)

II.Phân loại đa dạng sinh học

Việt Nam là một nước nhiệt đới gió mùa Do vị trí địa lý, Việt Nam rất đa dạng về địa hình, kiểu đất, cảnh quan, có đặc trưng khí hậu khác nhau giữa các miền Đặc điểm đó là cơ sở rất thuận lợi để giới sinh vật phát triển đa dạng về thành phần loài, phong phú về số lượng Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế -xã hội, mức độ đa dạng sinh học ở Việt Nam có nhiều thay đổi theo thời gian

Đa dạng sinh học gồm 3 mức độ như sau:

- Đa dạng di truyền là sự phong phú những biến dị trong cấu trúc di truyền của các

cá thể bên trong loài hoặc giữa các loài; những biến dị di truyền bên trong hoặc giữa các quần thể

Trang 3

- Đa dạng loài là sự phong phú về các loài được tìm thấy trong các hệ sinh thái tại một vùng lãnh thổ xác định thông qua việc điều tra, kiểm kê

- Đa dạng hệ sinh thái là sự phong phú về các kiểu hệ sinh thái khác nhau ở cạn cũng như ở nước tại một vùng nào đó Hệ sinh thái là hệ thống bao gồm sinh vật và môi trường tác động lẫn nhau mà ở đó thực hiện vòng tuần hoàn vật chất, năng lượng và trao đổi thông tin

1 Đa dạng loài

- Đa dạng loài là sự phong phú về các loài được tìm thấy trong các hệ sinh thái tại một vùng lãnh thổ xác định thông qua việc điều tra, kiểm kê

Tầm quan trọng về mặt sinh thái học của một loài có thể có ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc quần xã, và do đó đến đa dạng sinh học Theo các tài liệu thống kê, Việt Nam là một trong 25 nước có mức độ ĐDSH cao trên thế giới với dự tính có thể có tới 20.000-30.000 loài thực vật Việt Nam được xếp thứ 16 về mức độ ĐDSH (chiếm 6,5% số loài có trên thế giới)

1.1 Đa dạng loài trong hệ sinh thái trên cạn

Khu hệ thực vật: Tổng kết các công bố về hệ thực vật Việt Nam, đă ghi nhận có

15.986 loài thực vật ở ViệtNam Trong đó, có 4.528 loài thực vật bậc thấp và 11.458 loài thực vật bậc cao Trong số đó có 10 % số loài thực vật là đặc hữu

Khu hệ động vật: cho đến nay đă thống kê được 307 loài giun tròn, 161 loài giun

sán ký sinh ở gia súc, 200 loài giun đất, 145 loài ve giáp, 113 loài bọ nhảy, 7.750 loài côn trùng, 260 loài bò sát, 120 loài ếch nhái, 840 loài chim, 310 loài và phân loài thú

1.2 Đa dạng loài trong hệ sinh thái đất ngập nước nội địa

Các thủy vực nước ngọt nội địa Việt Nam rất đa dạng về hệ thực vật cũng như hệ động vật, bao gồm các nhóm vi tảo, rong, các loài cây cỏ ngập nước và bán ngập nước, động vật không xương sống và cá

1.3 Đa dạng loài trong các hệ sinh thái biển và ven bờ

Đặc tính của khu hệ sinh vật biển Việt Nam thể hiện rő ở đặc tính nhiệt đới, đặc tính hỗn hợp, đặc tính ít đặc hữu và đặc tính khác biệt bắc - nam Trong vùng biển

Trang 4

nước ta đă phát hiện được chừng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình và thuộc 6 vùng đa dạng sinh học biển khác nhau,

2 Đa dạng hệ sinh thái

- Đa dạng hệ sinh thái là sự phong phú về các kiểu hệ sinh thái khác nhau ở cạn cũng như ở nước tại một vùng nào đó Hệ sinh thái là hệ thống bao gồm sinh vật và môi trường tác động lẫn nhau mà ở đó thực hiện vòng tuần hoàn vật chất, năng lượng và trao đổi thông tin

2.1 Hệ sinh thái trên cạn

Trong các kiểu hệ sinh thái trên cạn thì rừng có sự đa dạng về thành phần loài cao nhất, đồng thời đây cũng là nơi cư trú của nhiều loài động, thực vật hoang dã và vi sinh vật có giá trị kinh tế và khoa học Các kiểu hệ sinh thái tự nhiên khác có thành phần loài nghèo hơn

2.2 Hệ sinh thái đất ngập nước

Công ước Ramsar định nghĩa "Đất ngập nước là những vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời, có nước chảy hay nước tù, là nước ngọt, nước lợ hay nước biển kể cả những vùng nước biển có độ sâu không quá 6 mét khi triều thấp" Đất ngập nước (ĐNN) Việt Nam rất đa dạng về loại hěnh và hệ sinh thái, thuộc 2 nhóm ĐNN: ĐNN nội địa, ĐNN ven biển Trong đó có một số kiểu có tính ĐDSH cao:

- Rừng ngập mặn ven biển: Rừng ngập mặn có các chức năng và giá trị như cung cấp các sản phẩm gỗ, củi, thủy sản và nhiều sản phẩm khác; là bãi đẻ, bãi ăn và ương các loài cá, tôm, cua và các loài thủy sản có giá trị kinh tế khác; xâm chiếm

và cố định các bãi bùn ngập triều mới bồi, bảo vệ bờ biển chống lại tác động của sóng biển và bão tố ven biển; là nơi cư trú cho rất nhiều loài động vật hoang dã bản địa và di cư (chim, thú, lưỡng cư, bò sát)

- Đầm lầy than bùn: đầm lầy than bùn là đặc trưng cho vùng Đông Nam Á U Minh thượng và U Minh hạ thuộc các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau là hai vùng đầm lầy than bùn tiêu biểu còn sót lại ở đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam

- Đầm phá: thường thấy ở vùng ven biển Trung bộ Việt Nam Do đặc tính pha trộn giữa khối nước ngọt và nước mặn nên khu hệ thủy sinh vật đầm phá rất phong phú

Trang 5

bao gồm các loài nước ngọt, nước lợ và nước mặn Cấu trúc quần xã sinh vật đầm phá thay đổi theo mùa rõ rệt

- Rạn san hô, cỏ biển: đây là các kiểu hệ sinh thái đặc trưng cho vùng biển ven bờ, đặc biệt rạn san hô đặc trưng cho vùng biển nhiệt đới Quần xă rạn san hô rất phong phú bao gồm các nhóm động vật đáy (thân mềm, giáp xác), cá rạn Thảm cỏ biển thường là nơi cư trú của nhiều loại rùa biển và đặc biệt loài thú biển Dugon

- Vùng biển quanh các đảo ven bờ: ven bờ biển Việt Nam có hệ thống các đảo rất phong phú Vùng nước ven bờ của hầu hết các đảo lớn được đánh giá có mức độ ĐDSH rất cao với các hệ sinh thái đặc thù như rạn san hô, cỏ biển

Việt Nam có 2 vùng ĐNN quan trọng là ĐNN vùng cửa sông đồng bằng sông Hồng và ĐNN đồng bằng sông Cửu Long

Mỗi kiểu hệ sinh thái ĐNN đều có khu hệ sinh vật đặc trưng của mình Tuy nhiên, đặc tính khu hệ sinh vật của các hệ sinh thái này còn phụ thuộc vào từng vùng cảnh quan và vùng địa lý tự nhiên

2.3 Hệ sinh thái biển

Việt Nam có đường bờ biển dài 3.260 km và vùng đặc quyền kinh tế rộng trên 1 triệu km2 với nguồn tài nguyên sinh vật biển khá phong phú Trong vùng biển nước

ta đã phát hiện được chừng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình, thuộc 6 vùng ĐDSH biển khác nhau

3 Đa dạng di truyền

Đa dạng di truyền là sự phong phú những biến dị trong cấu trúc di truyền của các

cá thể bên trong loài hoặc giữa các loài; những biến dị di truyền bên trong hoặc giữa các quần thể

Theo đánh giá của Jucovski (1970), Việt Nam là một trong 12 trung tâm nguồn gốc giống cây trồng của thế giới Mức độ ĐDSH của hệ thực vật cây trồng ở Việt Nam cao hơn nhiều so với dự đoán

Nguồn gen giống cây trồng, vật nuôi

Ở Việt Nam, hiện nay đang sử dụng trong sản xuất nông nghiệp 16 nhóm các loài cây trồng khác nhau như cây lương thực chính, cây lương thực bổ sung, cây ăn quả, cây rau, cây gia vị, cây làm nước uống, cây lấy sợi, cây thức ăn gia súc, cây bóng mát, cây công nghiệp, cây lấy gỗ với tổng số trên 800 loài cây trồng với hàng nghìn giống khác nhau Có 3 nhóm cây trồng đang được nông dân sử dụng

Trang 6

- Các giống cây trồng bản địa: Nhóm giống cây trồng này hiện nay đang chiếm vị

trí chủ đạo đối với nhiều loại cây trồng Trong số nhóm giống cây trồng này có những giống đă được nông dân sử dụng và lưu truyền hàng nghìn năm nay

- Các giống cây trồng mới: Là những giống cây có khả năng cho năng suất cao và

có một số đặc tính tốt khác như: phẩm chất nông sản tốt, khả năng chống chịu sâu bệnh cao được các nhà khoa học chọn lọc, lai tạo thành

- Các giống cây trồng được nông dân ở các tỉnhh biên giới trao đổi với nhau qua biên giới

Hiện nay, Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia đang bảo tồn 12.300 giống của 115 loài cây trồng Đây là tài sản quý của đất nước, phần lớn không còn trong sản xuất

và trong tự nhiên nữa Một bộ phận quan trọng của số giống này là nguồn gen bản địa với nhiều đặc tính quý mà duy nhất chỉ nước ta có

Về vật nuôi, hiện nay Việt Nam có 14 loài gia súc và gia cầm đang được chăn

nuôi chủ yếu bao gồm 20 giống lợn trong đó có 14 giống nội, 21 giống bò (5 giống nội), 27 giống gà (16 giống nội), 10 giống vịt (5 giống nội), 7 giống ngan (3 giống nội), 5 giống ngỗng (2 giống nội), 5 giống dê (2 giống nội), 3 giống trâu (2 giống nội), 1 giống cừu, 4 giống thỏ (2 giống nội), 3 giống ngựa (2 giống nội), bồ câu, hươu và nai (có khoảng 10 ngàn con hươu nai được nuôi trong toàn quốc)

III Thực trạng đa dạng sinh học trên thế giới và Việt Nam

1 Trên thế giới

- Cho đến nay, người ta đã biết trên 1,7 triệu loài được mô tả và ít nhất là còn gấp 2 lần con số này chưa được con người biết đến đặc biệt là côn trùng

- Trong số 80.000 loài thực vật có khả năng cung cấp nguồn lương thực,thực phẩm, con người mới sử dụng có hiệu quả khoảng 1.500 loài Các nguồn lợi về cây thuốc trong tự nhiên còn rất lớn Cho đến nay mới chỉ phát hiện khoảng 5.000 loài cây dược liệu và mang lại cho thế giới ước khoảng 40 tỉ USD/năm

- Về các loài động vật hoang dã thì có nhiều loại đã bị tuyệt chủng hoặc có nguy cơ tuyệt chủng cao: chim bồ câu viễn khách, khỉ “mắt kính”, chim ưng, khỉ lông vàng, cọp, tê giác, vượn,…

- Những vùng có đa dạng sinh học cao nhất thế giới là rừng mưa nhiệt đới ở Đông Nam Á, Trung và Tây Phi và vùng nhiệt đới Nam Mỹ Hơn một nữa số loài của cả thế giới tập trung trong các vùng rừng mưa nhiệt đới

Trang 7

+ Về thực vật: đến nay thống kê được khoảng 90.000 loài có mặt ở vùng nhiệt đới Vùng nhiệt đới Nam Mỹ là nơi giàu loài nhất, chiếm 1/3 tổng số loài: Brazil có 55.000 loài, Colombia có 35.000 loài, Venezuela có 15.000-25.000 loài Vùng châu Phi kém đa dạng hơn Nam Mỹ: Tazania 10.000 loài, Camorun 8.000 loài, trong khi đó toàn bộ vùng Bắc Mỹ, Âu, Á chỉ có 50.000 loài Xét chung, vùng nhiệt đới chiếm 2/3 con số ước tính 250.000 loài thực vật có mạch trên thế giới + Động vật có xương sống: tỷ lệ số loài động vật có xương sống ở cạn tìm thấy trong các rừng nhiệt đới có thể so sánh với con số này của thực vật Số loài chim của rừng nhiệt đới ước tính là 2600, trong đó 1300 loài tìm thấy ở vùng tân nhiệt đới,400 loài ở vùng nhiệt đới châu Phi, 900 loài ở vùng nhiệt đới châu Á Con số này xấp xỉ 30% tổng số loài toàn cầu

+ Động vật không xương sống: Khoảng 30 triệu loài động vật chân khớp, chiếm 96% tổng số loài trên trái đất, có thể tồn tại trong các rừng nhiệt đới

- Cùng với sự phát triển công nghiệp, tính đa dạng sinh học trên trái đất ngày càng giảm dần Trước hết do sự phá hủy rừng, nhất là rừng mưa nhiệt đới ngày một tăng Nhiều loài sinh vật đang bị đe dọa và có thể bị tuyệt chủng, có loài còn bị tuyệt chủng trước khi phát hiện Từ năm 1660 đến nay, người ta đã thống kê tới hơn 700 loài động vật có xương sống, không xương sống và thực vật có mạch đã bị tuyệt chủng

- Một số nhà khoa học cho rằng với tốc độ tuyệt chủng của các sinh vật như hiện nay thì đến giữa thế kỉ XXI, khoảng 25% số loài sinh vật trên trái đất sẽ bị mất đi

- Sự nóng lên của khí hậu toàn cầu là nguyên nhân làm thay đổi điều kiện sống của sinh vật, dẫn đến nạn tuyệt chủng của nhiều loài

2 Ở Việt Nam

- Việt Nam được xem là một trong những nước thuộc Đông Nam Á giàu về đa dạng sinh học và được xếp thứ 16 trong số các quốc gia có đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới Do sự khác biệt lớn về khí hậu, từ vùng gần xích đạo tới giáp vùng cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình, đã tạo nên tính đa dạng sinh học cao ở Việt Nam

Trang 8

- Hệ sinh thái của Việt Nam rất phong phú, bao gồm 1.458 loài động vật, 21.017 loài thực vật và khoảng 3.000 loài vi sinh vật, trong đó có rất nhiều loài được sử dụng để cung cấp vật liệu di truyền Cụ thể, hệ động thực vật của Việt Nam không những giàu về thành phần loài mà còn có nhiều nét độc đáo đặc trưng cho vùng Đông Nam Á với 11.373 loài thực vật bậc cao có mạch, khoảng 1.500 loài rêu,

2500 loài tảo, 286 loài bò sát, 3170 loài cá, 7500 loài côn trùng và các động vật có xương sống khác

- Trong 30 năm qua, nhiều loài động thực vật được bổ sung vào danh sách các loài của Việt Nam như 5 loài thú mới là sao la, mang lớn, mang Trường Sơn, chà vá chân xám và thỏ vằn Trường Sơn, 3 loài chim mới là khướu vằn đầu đen, khướu Ngọc Linh và khướu Kon Ka Kinh, khoảng 420 loài cá biển và 7 loài thú biển Nhiều loài mới khác thuộc các lớp bò sát, lưỡng cư và động vật không xương sống

Về thực vật, tính từ năm 1993 đến 2002, các nhà khoa học đã ghi nhận thêm 2 họ,

19 chi và trên 70 loài mới Tỷ lệ phát hiện loài mới đặc biệt cao ở họ Lan có 3 chi mới và 62 loài mới; 4 chi và 34 loài đầu tiên được ghi nhận ở Việt Nam Ngành hạt trần có 1 chi và 3 loài mới lần đầu tiên phát hiện trên thế giới; 2 chi và 12 loài được bổ sung vào danh sách thực vật của Việt Nam

- Tuy nhiên, hiện nay đa dạng sinh học ở nước ta đang suy thoái rất nhanh Diện tích các khu vực có các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng bị thu hẹp dần Số loài và

số lượng cá thể của các loài hoang dã bị suy giảm mạnh Nhiều loài hoang dã có giá trị bị suy giảm hoàn toàn về số lượng hoặc bị đe dọa tuyệt chủng ở mức cao Các nguồn gen hoang dã cũng đang trên đà suy thoái nhanh và thất thoát nhiều Suy thoái đa dạng sinh học dẫn đến mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của con người, đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước Sách đỏ Việt Nam năm 1992 mới chỉ có 721 loài động thực vật bị đe dọa ở các mức khác nhau thì đến năm 2007 số loài này đã lên đến 882 Ngoài ra nhiều giống cây trồng vật nuôi bản địa quý giá như lúa, đậu tương, ngô, cây ăn quả, các loài cá, lợn, gà… cũng đã mất dần Đây là một tổn thất rất lớn trên tất cả các phương diện: kinh tế, khoa học, môi trường, và nhân văn

- Theo thống kê năm 2013, 10 loài có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam: bò tót, sao

la, hổ, hươu vàng, vọc mũi hếch, vọc đầu trắng, voi, rùa da, có quắm cánh xanh

Trang 9

IV Nguyên nhân

1 Nguyên nhân cơ bản

- Sự suy giảm và sự mất đi nơi sinh cư Sự suy giảm và sự mất đi nơi sinh cư có thể do các hoạt động của con người như sự chặt phá rừng (kể cả rừng ngập mặn), đốt rừng làm rẫy, chuyển đổi đất sử dụng, khai thác huỷ diệt thuỷ sản , các yếu tố

tự nhiên như động đất, cháy rừng tự nhiên, bão, lốc, dịch bệnh, sâu bệnh

- Sự khai thác quá mức Do áp lực tăng dân số, sự nghèo khổ đã thúc đẩy sự khai thác quá mức tài nguyên sinh vật và làm giảm đa dạng sinh học Đáng kể là tài nguyên thuỷ sản ven bờ bị suy kiệt nhanh chóng Mặt khác, một số phương thức khai thác có tính huỷ diệt nguồn lợi thuỷ sản như nổ mìn, hoá chất đang được sử dụng, đặc biệt các vùng ven biển

- Ô nhiễm môi trường Một số hệ sinh thái bị ô nhiễm bởi các chất thải công nghiệp, chất thải từ khai khoáng, phân bón trong nông nghiệp, thậm chí chất thải

đô thị Trong đó đáng lưu ý là tình trạng ô nhiễm dầu đang diễn ra tại các vùng nước cửa sông ven bờ, nơi có hoạt động tầu thuyền lớn

- Ô nhiễm sinh học Sự nhập các loài ngoại lai không kiểm soát được, có thể gây ảnh hưởng trực tiếp qua sự cạnh tranh, sự ăn mồi hoặc gián tiếp qua ký sinh trùng, xói mòn nguồn gen bản địa và thay đổi nơi sinh cư với các loài bản địa

2 Nguyên nhân trực tiếp

a Khai thác, sử dụng không bền vững tài nguyên sinh vật

- Khai thác gỗ: Trong giai đoạn từ 1986-1991, các lâm trường quốc doanh đã khai thác trung bình 3,5 triệu mét khối gỗ mỗi năm Thêm vào đó, khoảng 1-2 triệu m3

gỗ được khai thác ngoài kế hoạch Số gỗ này nếu qui ra diện tích thì mỗi năm bị mất đi khoảng 80.000 ha rừng Ngoài ra,, nạn chặt gỗ trái phép thường xảy ra ở khắp nơi, kể cả ở các trong các khu rừng bảo vệ Hậu quả là rừng có chất lượng bị cạn kiệt nhanh chóng

- Khai thác củi: Theo thống kê, trong phạm vi toàn quốc, hàng năm một lượng củi khoảng 21 triệu tấn được khai thác từ rừng phục vụ cho nhu cầu sử dụng trong gia đình Lượng củi này nhiều gấp 6 lần lượng gỗ xuất khẩu hàng năm (Phạm Bình Quyền và nnk, 1999)

- Khai thác động vật hoang dại: đồng thời với nạn phá rừng, nạn săn bắn cũng gây nên tình trạng suy giảm ĐDSH Theo điều tra, năm 1995 toàn quốc có tới 39.671

Trang 10

khẩu súng các loại hiện đang sử dụng để săn bắn chim thú, bình quân mỗi thôn bản

có 12 khẩu Với số lượng người đi săn với những thứ vũ khí kể trên chưa kể đến các loại bẫy thường dùng như: bẫy treo, bẫy kẹp, bẫy thòng lọng, bẫy sập, bẫy lồng, lưới nên số lượng cá thể động vật rừng bị săn bắt khá cao Chỉ kể 18 loài động vật thuộc diện quí hiếm đã ghi trong sách đỏ Việt Nam, từ năm 1991-1995,

đã có tới 8.964 cá thể bị săn bắt, bình quân hàng năm có tới 1.743 cá thể động vật

quí hiếm bị săn bắt

- Khai thác các sản phẩm khác: Trong số khoảng 3.300 loài thực vật cho các sản phẩm ngoài gỗ như song mây, tre nứa lá, cây thuốc, cây tinh dầu… đã được khai thác nhiều để dùng và bán trên các thị trường trong nước cũng như xuất khẩu Trầm, một loại thuốc đặc biệt qúy hiếm, một loại hương liệu cao cấp đã bị săn lùng khai thác để xuất khẩu Chỉ trong một số năm, có tới trên 300 tấn trầm đã bị bán ra nước ngoài Các dẫn liệu trong bảng 6.8 cho thấy, chỉ sau năm năm khai thác, một lượng trầm khá lớn đã bị mất đi đồng thời còn chứng tỏ khối lượng trầm khai thác được cũng ngày càng giảm xuống rõ rệt

b Cháy rừng

Do điều kiện khí hậu của Việt Nam, khả năng cháy rừng vào mùa khô hàng năm là rất lớn Trung bình mỗi năm có 25.000-100.000 ha rừng bị cháy ở Việt Nam, nhất

là ở vùng cao nguyên Trung Bộ Theo các thống kê, kể từ năm 1995 trở lại đây, cháy rừng đã được giảm nhiều so với thời gian trước dó nhưng mức độ trầm trọng của cháy rừng lại cao hơn như vụ cháy rừng tràm U Minh trong các năm 2002,2003 Sự kiện cháy rừng vào tháng 3, 4 năm 2002 tại vườn Quốc gia U Minh Thượng là một tai hoạ đối với tài nguyên sinh vật và ĐDSH Vườn Quốc gia U Minh Thượng là vùng rừng tự nhiên trên ĐNN có nền đất than bùn Rừng U Minh Thượng bị cháy khoảng 4.000 ha, rừng U Minh Hạ bị cháy khoảng 300 ha Tại U Minh Thượng, trước khi bị cháy rừng đã thống kê được 32 loài thú Sau khi bị cháy, ít nhất có 25 loài thú (78,2%) bị ảnh hưởng với các mức độ khác nhau Một

số loài có nguy cơ không gặp lại ở HST độc đáo này: Dơi ngựa lớn Pteropus vampirus; Sóc lửa Callosciurus finlaysoni; Rái cá lông mũi Lutra sumatrana; Rái

cá vuốt bé Aonyx cirerea; Mèo cá Prrionailurus viverinus; Tê tê Manis javanica; Cầy giông đốm lớn Viverra megaspila; Cầy vòi hương Paradoxurus hermaphroctulus; Dơi ngựa Thái lan Pteropus lylei; Mèo rừng Prionailurus bengalensis

Các loài chim vì có khả năng di chuyển nhanh nên ảnh hưởng ngay lập tức không lớn Tuy nhiên, về lâu dài, cấu trúc thành phần loài chim thay đổi do mất nơi cư trú hoặc nguồn thức ăn từ quả, hạt, thuỷ sinh vật Trước khi bị cháy, tại vườn Quốc gia

U Minh thượng có 94 loài chim thuộc 15 họ Kết quả kiểm kê sơ bộ sau vụ cháy

Ngày đăng: 13/12/2016, 23:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w