Xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, trong đó lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm nền tảng là quan điểm nhất quán của Đảng ta, của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lãnh đạo xây dựng quân đội ta ngay từ khi thành lập cho đến nay.Kế thừa kinh nghiệm xây dựng quân đội về chính trị trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, những năm đầu khi miền Bắc bắt tay vào công cuộc cải tạo, xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng và Bác Hồ đã rất chú trọng xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, hiện đại. Kết quả xây dựng quân đội những năm hoà bình đã tạo sức mạnh toàn diện cho quân đội ta bước vào cuộc chiến đấu mới, chống quân Mỹ xâm lược. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ý chí quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội là mục tiêu chiến đấu không gì lay chuyển nổi của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam (bộ phận không tách rời của Quân đội nhân dân Việt Nam). ý chí quyết tâm đó là động lực chính trị tinh thần to lớn để cán bộ, chiến sĩ quân đội vượt qua khó khăn
Trang 1XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM VỀ CHÍNH TRỊ
TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
Mục lục
Mở đầu
Chương 1 Đặc điểm, tình hình cuộc kháng chiến chống Mỹ và quá
trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về chính trị 1.1 Đặc điểm, tình hình cuộc kháng chiến chống Mỹ
1.2 Quá trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về
chính trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
Chương 2 Những bài học kinh nghiệm xây dựng Quân đội nhân dân
Việt Nam về chính trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
2.1 Bài học thứ nhất: Thường xuyên
2.2 Bài học thứ hai: Giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt
đối, trực tiếp, toàn diện của đảng đối với quân đội 2.3 Bài học thứ ba: Thường xuyên chăm lo xây dựng đội ngũ
cán bộ quân đội, đội ngũ chính ủy, chính trị viên 2.4 Bài học thứ tư: Phát huy vai trò của hệ thống chính trị,
của nhân dân cả nước căm lo xây dựng quân đội về chính trị
2.5 Bài học thứ năm: Thực hiện tốt công tác chính sách đối
với quân đội và hậu phương quân đội
Kết luậnDanh mục tài liệu tham khảo
Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, trong đó lấy xây dựng vữngmạnh về chính trị làm nền tảng là quan điểm nhất quán của Đảng ta, của Chủtịch Hồ Chí Minh trong lãnh đạo xây dựng quân đội ta ngay từ khi thành lập chođến nay
Kế thừa kinh nghiệm xây dựng quân đội về chính trị trong cuộc khángchiến chống thực dân Pháp, những năm đầu khi miền Bắc bắt tay vào công cuộccải tạo, xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng và Bác Hồ đã rất chú trọng xây dựng
Trang 2quân đội cách mạng, chính quy, hiện đại Kết quả xây dựng quân đội những nămhoà bình đã tạo sức mạnh toàn diện cho quân đội ta bước vào cuộc chiến đấumới, chống quân Mỹ xâm lược Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ý chí quyếttâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhấtđất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội là mục tiêu chiến đấu không gì laychuyển nổi của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, Quân giải phóngmiền Nam Việt Nam (bộ phận không tách rời của Quân đội nhân dân ViệtNam) ý chí quyết tâm đó là động lực chính trị - tinh thần to lớn để cán bộ, chiến
sĩ quân đội vượt qua khó khăn, gian khổ, hy sinh, cùng nhân dân cả nước thựchiện sứ mệnh lịch sử của dân tộc
Một trong những nguyên nhân đảm bảo cho quân đội ta càng đánh càngmạnh, càng đánh càng trưởng thành, đã đánh bại quân đội nhà nghề của Mỹ vàchư hầu, đập tan quân đội ngụy quyền Sài Gòn, cùng toàn dân giải phóng hoàntoàn miền Nam, thống nhất đất nước là vì quân đội ta được xây dựng vững mạnh
về chính trị, thể hiện cao độ ở sức mạnh chính trị - tinh thần của quân đội cáchmạng được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục, rèn luyện
Nghiên cứu tổng kết xây dựng quân đội về chính trị trong cuộc kháng chiếnchống Mỹ, rút ra những bài học kinh nghiệm để vận dụng vào xây dựng quânđội vững mạnh về chính trị trong điều kiện mới, nhất là trong thời điểm đangtriển khai thực hiện Nghị quyết số 51/NQ-TW của Bộ Chính trị (khóa IX) “Vềviệc hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huygắn với thực hiện chế độ chính uỷ, chính trị viên trong Quân đội nhân dân ViệtNam” mang tính cấp thiết Vì vậy, đề tài “Tổng kết xây dựng quân đội nhân dânViệt Nam về chính trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ” có ý nghĩa thiết thực
về lý luận và thực tiễn, không trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã côngbố
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Kể từ sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến nay đã cónhiều công trình nghiên cứu, cuốn sách viết về cuộc kháng chiến thần thánh củadân tộc, về Quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến đánh đuổi giặc
Trang 3Mỹ xâm lược Một số sách, công trình nghiên cứu trong số đó: Tổng kết công tácđảng, công tác chính trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975,Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội 1990; Tổng kết cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước - thắng lợi và bài học kinh nghiệm, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
Hà Nội 1995; Đảng lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quân đội về chính trị trong cuộckháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Biên niên sự kiện, Nhà xuất bảnQuân đội nhân dân, Hà Nội 1999; Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị trongQuân đội nhân dân Việt Nam 1944–2000, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HàNội 2000; Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và công tác chính trị trong quân đội,Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội 1997; Tácđộng của những biến đổi kinh tế - xã hội ở nước ta đến xây dựng Quân đội nhândân Việt Nam về chính trị trong giai đoạn cách mạng mới, Nhà xuất bản Quân độinhân dân, Hà Nội 2000; Tổng kết 60 năm xây dựng bản chất giai cấp công nhân,tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội nhân dân Việt Nam, đề tài cấp ngành Lịch
sử quân sự, Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự, năm 2004; Tổng kết tác chiếnchiến lược trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945–1975), Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội 2005
Các cuốn sách và công trình nghiên cứu đã công bố, trong đó đặc biệt là haicuốn sách: Tổng kết công tác đảng, công tác chính trị trong cuộc kháng chiếnchống Mỹ, cứu nước 1954-1975 và Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứunước - thắng lợi và bài học kinh nghiệm, là tài liệu tham khảo tốt trong tổng kếtxây dựng quân đội về chính trị trong kháng chiến chống Mỹ Song, đó là tổngkết cuộc kháng chiến, tổng kết hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, vìthế nghiên cứu: “Tổng kết xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam về chính trịtrong cuộc kháng chiến chống Mỹ” là một hướng tiếp cận mới; kết quả nghiêncứu sẽ có đóng góp vào quá trình xây dựng quân đội về chính trị trong thời kỳmới, bổ sung nội dung mới cho việc nghiên cứu tổng kết công tác đảng, công tácchính trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu
Trang 4Trên cơ sở nghiên cứu hoạt động xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam
về chính trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, rút ra những bài học kinh nghiệm
để vận dụng vào xây dựng quân đội ta vững mạnh về chính trị trong giai đoạncách mạng hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích quá trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về chính trịtrong cuộc kháng chiến chống Mỹ
- Khái quát phân tích những bài học kinh nghiệm xây dựng Quân đội nhândân Việt Nam về chính trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam
về chính trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
Phạm vi nghiên cứu Những quan điểm, nội dung, hình thức, biện pháp
xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về chính trị trong cuộc kháng chiếnchống Mỹ, từ năm 1954 đến năm 1975
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn, phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin về chiến tranh và quân đội; tư tưởng quân
sự Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về chiếntranh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng quân đội nhândân
Cơ sở thực tiễn
Thực tiễn xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về chính trị trong cuộckháng chiến chống Mỹ được phản ánh trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng;các bài viết của các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, các tướng lĩnh củaquân đội và các công trình nghiên cứu, các tổng kết và các sách, tài liệu lưu trữ đãđược công bố
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: Phân tích – tổng hợp, lịch sử - lôgíc, thống kê,tổng kết thực tiễn, phân tích tài liệu và số liệu
Trang 56 ý nghĩa lý luận và thực tiễn kết quả nghiên cứu của đề tài
Đề tài góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn, khái quátnhững bài học kinh nghiệm xây dựng quân đội về chính trị trong cuộc khángchiến chống Mỹ, cứu nước, làm cơ sở để vận dụng vào xây dựng quân đội vữngmạnh về chính trị trong giai đoạn cách mạng hiện nay
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trongnghiên cứu khoa học, giảng dạy các bộ môn khoa học xã hội nhân văn quân sự ởcác học viện, nhà trường quân đội; tài liệu tham khảo cho cán bộ ở đơn vị cơ sởtrong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị, vững mạnhtoàn diện
7 Kết cấu của đề tài
Kết cấu của đề tài gồm: mở đầu, hai chương, kết luận, danh mục tài liệutham khảo
Chương 1 Đặc điểm, tình hình cuộc kháng chiến chống Mỹ và quá trình xây dựng
Quân đội nhân dân việt nam về chính trị 1.1 Đặc điểm, tình hình cuộc kháng chiến chống Mỹ
1.1.1 Diến tiến của cuộc kháng chiến chống Mỹ
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ (7-1954) về lập lại hoàbình ở Việt Nam được ký kết, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân
ta kết thúc, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, miền Nam tạm thời chịu sự kiểmsoát của đối phương Theo Hiệp định Giơnevơ, hiệp thương giữa hai miền đượctiến hành từ ngày 20-7-1955 và Tổng tuyển cử vào tháng 7-1956 Nhưng đế quốc
Mỹ với ý đồ xâm lược nước Việt Nam từ lâu đã lợi dụng cơ hội này để gạt thựcdân Pháp, nhảy vào tổ chức chỉ huy ngụy quân, ngụy quyền, tăng cường viện trợ,biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, hòng chia cắt lâu dài đất nước ta Cả dântộc Việt Nam lại bước vào một cuộc chiến đấu mới chống đế quốc Mỹ xâm lược.Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta trải qua những giai đoạn chủyếu: 1954-1960, 1961-1965, 1965-1973, 1973-1975
Trang 6Giai đoạn 1954 - 1960
Tình hình thế giới sau năm 1954 đã có những thay đổi lớn, tác động đến cách mạng nước ta Đế quốc Mỹ thể hiện rõ ý đồ bá chủ thế giới với một chiếnlược toàn cầu phản cách mạng hết sức thâm độc: can thiệp vào hầu hết các cuộcchiến tranh, xung đột trên thế giới hòng ngăn chặn, bao vây, phá hoại phong tràođấu tranh giải phóng dân tộc và điên cuồng chống phá hệ thống xã hội chủnghĩa Thực hiện mưu đồ trên, ngày 7-7-1954 đế quốc Mỹ đưa Ngô Đình Diệmlên làm Thủ tướng kiêm Tổng trưởng nội vụ và Quốc phòng của chính quyềnBảo Đại ở miền Nam Ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Tổngthống Mỹ aixenhao công khai tuyên bố: Hoa Kỳ không bị các điều khoản củaHiệp định Giơnevơ ràng buộc Ngày 8-8-1954, Hộị đồng An ninh quốc gia Mỹ(NSC) do Aixenhao chủ trì đã quyết định gạt bỏ thực dân Pháp, xâm lược ViệtNam bằng Quyết định NSC số 5429/2, khẳng định Mỹ trực tiếp viện trợ choNgụy quyền Sài Gòn, không qua tay Pháp; Pháp chỉ được viện trợ 100 triệu đô
la trong tổng số 400 triệu viện trợ của Mỹ cho miền Nam và phải rút hết quân ởmiền Nam; loại bỏ Bảo Đại, ủng hộ Ngô Đình Diệm Ngày 8-9-1954, Mỹ lôikéo các nước Pháp, Anh, ôxtrâylia, NiuDilân, Philippin, Thái lan và Pakixtanlập ra khối “Liên minh quân sự Đông Nam á”(SEATO) và ngang nhiên đặt miềnNam Việt Nam dưới sự bảo trợ của khối này Tháng 9-1954, Chính phủ Mỹquyết định viện trợ trực tiếp cho Ngô Đình Diệm Ngày 19-12-1954, Pháp kýhiệp ước trao quyền hành chính, chính trị ở miền Nam cho Ngô Đình Diệm Saukhi đã tiêu diệt, loại bỏ các lực lượng đối lập thân Pháp, dựa vào sự ủng hộ của
Mỹ, ngày 23-10-1955, Ngô Đình Diệm tổ chức một cuộc “trưng cầu dân ý” đểphế truất Bảo Đại, lên làm Tổng thống Ngày 4-3-1956, Ngô Đình Diệm tiếnhành bầu cử “quốc hội” riêng rẽ ở miền Nam, ngày 26-10-1956 công bố “Hiếnpháp Việt Nam Cộng hoà” công khai vi phạm Hiệp định Giơnevơ Thông qua hệthống cố vấn và viện trợ, đế quốc Mỹ nuôi dưỡng chính quyền Ngô Đình Diệm,
ra sức phá hoại Hiệp định Giơnevơ, đàn áp khốc liệt phong trào yêu nước củanhân dân miền Nam
Trang 7Âm mưu cơ bản của đế quốc Mỹ trong chiến tranh Việt Nam là tiêu diệtbằng được phong trào yêu nước và phong trào cách mạng, thôn tính miền Nam,chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứquân sự của Mỹ; lập một phòng tuyến ngăn chặn chủ nghĩa xã hội lan trànxuống Đông Nam á, hòng đè bẹp và đẩy lùi chủ nghĩa xã hội ở vùng này, baovây và uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam trở thành một nơi thử tháchsức mạnh và uy tín của đế quốc Mỹ như chính giới cầm quyền của Mỹ đã thừanhận Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam là một bộ phận quan trọng trongchiến lược toàn cầu phản cách mạng của đế quốc Mỹ.
Trong giai đoạn 1954 - 1960 đế quốc Mỹ tiến hành chiến lược “chiến tranhmột phía ”; đã xây dựng cho chính quyền Ngô Đình Diệm một đội quân gồm 10
sư đoàn bộ binh, các tiểu đoàn pháo binh, thiết giáp, chủ lực cùng 54 nghìn quânđịa phương dưới sự điều khiển trực tiếp của Mỹ thông qua 700 cố vấn quân sự
Mỹ - Diệm thực hiện chính sách “tố cộng”, “diệt cộng”, với Luật 10/ 59 1959) đã dùng quân đội mở hàng trăm cuộc càn quét, đánh phá điên cuồng các
(5-cơ sở cách mạng, với quan điểm “giết nhầm còn hơn bỏ sót” chúng giết hại cán
bộ, đảng viên, quần chúng yêu nước, làm cho cách mạng miền Nam bị tổn thấtnặng nề
Tuy nhiên, chiến lược “chiến tranh một phía ” của Mỹ - Diệm đã bị thấtbại Quân và dân miền Nam đã tiến hành cuộc đấu tranh chính trị rộng lớn, mạnh mẽ đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, hiệp thương tổng tuyển cử thống nhấtnước nhà, chống trò hề “trưng cầu dân ý”, “bầu cử quốc hội” của chúng, đòi cácquyền tự do, dân chủ Các cuộc đấu tranh chống chính sách “tố cộng”, “diệtcộng”, chống khủng bố để bảo vệ cơ sở cách mạng đã diễn ra rộng khắp, nổi bật
là phong trào “Đồng khởi” Lúc đầu phong trào “Đồng khởi” diễn ra lẻ tẻ ở Bắc
ái (2-1959), Trà Bồng (8-1959) và đến ngày 17–1-1960 phát triển thành cao tràotại Bến Tre Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân huyện Mỏ Cày bằng giáomác, gậy gộc, súng ống nổi dậy đánh đồn bốt, diệt ác ôn phá vỡ từng mảng bộmáy cai trị và hệ thống kìm kẹp của địch ở thôn xã, thành lập Uỷ ban nhân dân
tự quản, ra mắt lực lượng vũ trang, tịch thu ruộng đất của địa chủ, cường hào
Trang 8đem chia cho dân nghèo Từ Bến Tre phong trào “Đồng khởi” lan rộng khắpNam Bộ, Tây Nguyên, tới Trung Bộ Tính đến cuối năm 1960, tại các tỉnh Nam
Bộ, cách mạng đã làm chủ 600 trên tổng số 1.298 xã, trong đó có 116 xã hoàntoàn giải phóng; đồng bằng Trung Bộ có 904 trong tổng só 3.829 thôn được giảiphóng; Tây Nguyên có tới 3.200 trong tổng số 5.721 thôn không còn chínhquyền ngụy [1–366,367] Đồng khởi đã giáng một đòn nặng nề vào chính sáchthực dân mới của Mỹ ở miền Nam, làm lung lay tận gốc chính quyền tay saiNgô Đình Diệm Phong trào “Đồng Khởi” đã đánh dấu bước phát triển nhảy vọtcủa cách mạng miền Nam chuyển từ giữ gìn lực lượng sang thế tiến công
Giai đoạn 1961- 1965
Đế quốc Mỹ tiến hành “chiến tranh đặc biệt” nhằm đàn áp phong trào nổidậy đã phát triển rộng khắp thành chiến tranh du kích ở miền Nam Thi hànhchiến lược “chiến tranh đặc biệt”, Mỹ sử dụng quân đội ngụy quyền Sài Gònlàm lực lượng chủ yếu trên chiến trường, cung cấp vũ khí trang bị, kỹ thuật quân
sự, cung cấp tài chính và chỉ huy bằng hệ thống cố vấn từ trung ương đến tỉnh,đặc khu, các sư đoàn và tiểu đoàn
Biện pháp của chiến lược “chiến tranh đặc biệt” là hành quân càn quét, gomdân lập ấp chiến lược nhằm bình định miền Nam trong vòng 18 tháng, từ giữa năm
1961 đến hết năm 1962 (kế hoạch Stalây - Taylo) và sau đó là kế hoạch bình địnhmiền Nam trong 2 năm 1964, 1965 (kế hoạch của Giônxơn - Mắc Namara) Chúngxác định mục tiêu sẽ lập 16 nghìn trong tổng số 17 nghìn ấp chiến lược trên toànmiền Nam
Chiến lược “chiến tranh đặc biệt ” được Mỹ - Diệm xác định đồng thời thựchiện ba mục tiêu chiến lược cơ bản đó là: tìm diệt bộ đội chủ lực và cơ sở cáchmạng; bình định để nắm dân; phá hoại miền Bắc bằng biệt kích và phong toả biêngiới, vùng biển để ngăn chặn chi viện của miền Bắc Trong đó, bình định để nắmdân được coi là là mục tiêu chủ yếu, biện pháp chiến lược trung tâm, xuyên suốt,tìm diệt là biện pháp hỗ trợ cho bình định đạt hiệu quả
Thực hiện chiến lược trên, Mỹ đã viện trợ ồ ạt cho chính quyền Ngô ĐìnhDiệm, đưa vào miền Nam lực lượng cố vấn quân sự và lực lượng hỗ trợ chiến
Trang 9đấu Chính quyền Diệm ra sức bắt lính, làm cho lực lượng quân ngụy tăngnhanh từ 170.000 tên (giữa năm 1961) lên 560.000 tên (cuối năm 1964) Quânngụy được trang bị vũ khí hiện đại của Mỹ và thực hiện chiến thuật mới: “trựcthăng vận”, “thiết xa vận”; được sự hỗ trợ chiến đấu và chỉ huy của cố vấn Mỹ,quân ngụy đã liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét nhằm tiêu diệt lực lượngcách mạng, tiến hành nhiều hoạt động phá hoại miền Bắc, phong toả biên giới,trên biển để ngăn chặn “sự thâm nhập của cộng sản vào miền Nam” Dựa vàosức mạnh quân sự và các cuộc hành quân càn quét Mỹ, ngụy ráo riết dồn dân lập
“ấp chiến lược”, lập ấp đến đâu giăng đồn bốt, bảo an, dân vệ chính quyền đến
đó để kiểm soát, kìm kẹp nhân dân
Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng ở miền Nam, ngày20-12-1960 Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập;tháng 1-1961 Trung ương Cục miền Nam được thành lập thay cho Xứ uỷ Nambộ; ngày 15-2-1961 thành lập Quân giải phóng miền Nam Việt Nam trên cơ sởthống nhất các lực lượng vũ trang cách mạng Dưới ngọn cờ đoàn kết cứu nướccủa Mặt trận, do Đảng lãnh đạo, Quân giải phóng miền Nam cùng với nhân dânđẩy mạnh đấu tranh chống Mỹ và tay sai, kết hợp đấu tranh chính trị với đấutranh vũ trang, nổi dậy với tiến công địch trên cả ba vùng chiến lược: rừng núi,đồng bằng, đô thị; tiến công địch trên cả ba mũi giáp công: chính trị, quân sự,binh vận Đến cuối năm 1964 đầu năm 1965, ba phần tư số ấp chiến lược đã bịphá, bốn phần năm đất đai dược giải phóng Về quân sự, các chiến dịch lớn doQuân giải phóng tiến hành đã thu được chiến thắng giòn rã: Chiến thắng ấp Bắc
ở Mỹ Tho (11-1963); chiến dịch Đông xuân 1964-1965 với trận mở màn BìnhGiã (2-2-1964); Chiến dịch An Lão (12-1964); Ba Gia (5-1965); Đồng Xoài (6-1965) Lực lượng quân ngụy ở miền Nam đứng trước nguy cơ tan rã hoàn toàn,ngụy quyền tay sai rệu rã, nội bộ mâu thuẫn sâu sắc Sau cuộc đảo chính lật đổanh em Diệm, Nhu (1-11-1963) đã có 13 lần bọn tay sai lật đổ lẫn nhau Nhưvậy, chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ và tay sai đã bị quân và dân tađánh bại, làm cho phá sản hoàn toàn
Giai đoạn 1965 - 1968
Trang 10Mỹ tiến hành “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và chiến tranh phá hoạimiền Bắc bằng không quân và hải quân.
Đầu năm 1965, trước nguy cơ phá sản hoàn toàn chiến lược “chiến tranh đặcbiệt”, đế quốc Mỹ đã ồ ạt đưa quân viễn chinh và chư hầu cùng với vũ khí, trang bị,phương tiện chiến tranh vào miền Nam, chủ trương chuyển sang chiến lược “chiếntranh cục bộ” ở miền Nam nhằm đẩy mạnh chiến tranh xâm lược, đồng thời tiếnhành chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc Tínhđến cuối năm 1965 số quân Mỹ và chư hầu được đưa vào miền Nam lên tới 20 vạn,trong những năm sau đó lúc cao nhất quân số xấp xỉ nửa triệu tên
Trong “chiến tranh cục bộ”, đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược “hai gọng kìm”:
“tìm diệt” quân chủ lực cách mạng và “bình định” nhằm trước hết giành lại nôngthôn, ổn định hậu phương, tranh thủ quần chúng nhất là nông dân Thực hiện chiếnlược “hai gọng kìm” chúng đã liên tiếp mở các cuộc tiến công chiến lược mùa khô1965-1966 và mùa khô 1966- 967 Với những cuộc hành quân lớn chúng hy vọng
sẽ tiêu diệt lực lượng cách mạng, xé nát căn cứ kháng chiến, xoay chuyển tình thếtrên chiến trường trong một thời gian ngắn
Ngày 5-8-1964 đế quốc Mỹ dựng lên “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, lấy cớ tiếnhành chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc, nhằmngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam, phá hoại côngcuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, lay chuyển quyết tâm chống Mỹcủa nhân dân hai miền Nam, Bắc nước ta
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân hai miền Nam, Bắc đã giáng chođịch những đòn thất bại nặng nề ở miền Nam, với quyết tâm “quyết chiến,quyết thắng giặc Mỹ xâm lược” quân và dân Miền Nam đã anh dũng đánh quân
Mỹ Với chiến thắng trận Núi Thành (Quảng Đà, 5–1965); trận Vạn Tường(Quảng Ngãi, 8–1965) đã chứng tỏ khả năng đánh thắng quân Mỹ của quân vàdân ta và mở đầu cho cao trào “Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt” Trong haimùa khô 1965–1966, 1966-1967 quân và dân ta đã đập tan các cuộc phản côngchiến lược của Mỹ ở khu V và miền Đông Nam Bộ, tiến hành Tổng tiến công vànổi dậy mùa Xuân 1968 trên toàn miền Nam, ngay tại sào huyệt của chúng ở Sài
Trang 11Gòn Với thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đãđảo lộn thế chiến lược của địch, buộc chúng phải từ bỏ chiến lược “tìm diệt” và
“bình định” chuyển sang phòng ngự bị động “quét và giữ ” “Chiến tranh cụcbộ” của Mỹ ở miền Nam trên thực tế đã bị phá sản
Trên miền Bắc, quân và dân ta đã tỏ rõ bản lĩnh kiên cường, vừa xây dựngchủ nghĩa xã hội, vừa chiến đấu và ra sức chi viện cho miền Nam Trong chốngchiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, từ ngày 5-8-1964 đến tháng 12-1968,quân và dân miền Bắc đã bắn rơi 3.200 máy bay hiện đại của Mỹ, tiêu diệt hàngchục tàu chiến Mỹ, nhiều giặc lái bị diệt hoặc bị bắt sống
Thắng lợi của quân và dân hai miền Nam, Bắc đã buộc Mỹ phải lùi bước.Tháng 3-1968 Mỹ tuyên bố ném bom hạn chế từ vĩ tuyến 20 trở ra đối với miềnBắc, đồng ý đến bàn dàm phán với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tạiPari (Hội nghị 2 bên) mở ra từ ngày 13-5-1968; và đến ngày 1-11- 1968 chúngbuộc phải tuyên bố chấm dứt hoàn toàn việc ném bom miền Bắc và chấp nhậnđàm phán với cả đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam vàđại diện Việt Nam Cộng hoà (Hội nghị bốn bên) chính thức họp từ ngày 25-1-1969
Như vậy, “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và chiến tranh phá hoại miềnBắc bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ đã bị thất bại
là “dùng người Việt đánh người Việt”, “dùng người Đông Dương đánh ngườiĐông Dương”, với công thức “chủ lực ngụy cộng với hoả lực Mỹ” Vì vậy, đểthực hiện chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” ở miền Nam, Mỹ tăng cường
Trang 12chiến tranh xâm lược đối với Lào, Campuchia (1970) và tiếp tục mở rộng chiếntranh phá hoại miền Bắc.
Ngày 6-6-1969 Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam ViệtNam được thành lập Vừa mới ra đời Chính phủ cách Mạng Lâm thời Cộng hoàmiền Nam Việt Nam đã được 23 nước công nhận, trong đó có 21 nước đặt quan
hệ ngoại giao
Trong 2 năm 1970, 1971 quân và dân và dân ba nước Đông Dương đã đoànkết đánh bại các cuộc hành quân xâm lược Campuchia và Lào của Mỹ Khắpmiền Nam phong trào đấu tranh phát triển rầm rộ Đến đầu năm 1971 cách mạnggiành quyền làm chủ thêm 3.600 ấp, với 3 triệu dân Tháng 3-1972 quân và dân
ta mở các chiến dịch khắp chiến trường miền Nam Sau 3 tháng đã loại khỏivòng chiến đấu hơn 20 vạn quân ngụy, giải phóng những vùng đất đai rộng lớnvới hơn 1 triệu dân
Trước thất bại ở miền Nam, tháng 5-1972 Nixon ra lệnh thả mìn phong toả
bờ biển và các sông, ngòi ở miền Bắc Quân và dân miền Bắc đã anh dũng chiếnđấu, từ tháng 4 đến tháng 9-1972 đã bắn rơi hơn 500 máy bay Mỹ, bắt sốngnhiều giặc lái Trong đợt tập kích chiến lược 12 ngày đêm bằng B52 của chúngvào Hà nội và Hải Phòng (12-1972) quân và dân Miền Bắc đã bắn hạ 81 máybay, trong đó có 34 máy bay B52, 5 F111, lập nên chiến công “Điện Biên Phủ”trên không
Với thắng lợi trên cả 2 miền Nam, Bắc ngày 27-1-1973 Mỹ buộc phải kýHiệp định Pari, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹnlãnh thổ của Việt Nam, rút hết quân về nước trong vòng 2 tháng, cam kết khôngdính líu về quân sự và can thiệp vào công việc nội bộ vủa Việt Nam Thắng lợicủa Hiệp định Pari là kết quả của quá trình đấu tranh lâu dài và anh dũng củaquân và dân ta, mở ra một thời kỳ mới, tạo điều kiện xây dựng lực lượng về mọimặt để tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn
Giai đoạn 1973 - 1975
Mặc dù buộc phải ký Hiệp định Pari và phải rút quân về nước, nhưng đế quốc
Mỹ vẫn cố bám lấy miền Nam, tiếp tục thực hiện chiến lược “Việt Nam hoá chiến
Trang 13tranh”, chúng để lại hàng vạn cố vấn quân sự khoác áo dân sự, tăng viện trợ chochính quyền Nguyễn Văn Thiệu, tăng cường lực lượng ngụy quân, điên cuồng phảnkích, lấn chiếm vùng giải phóng, phá hoại Hiệp định Pari
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đẩy mạnh tiến công địch trên cả
ba mặt trận: chính trị, quân sự, ngoại giao, đồng thời chuẩn bị để đánh bại quânđịch giành thắng lợi hoàn toàn Trong năm 1974, bằng những trận đánh tiêu diệtđịch ở Tây nguyên (5-1974), Thượng Đức (8-1974) ta chuyển từ đánh tiêu diệtsinh lực là chủ yếu sang đánh những trận lớn giải phóng dân, giải phóng đất đai
ở đồng bằng và thành phố Sau chiến dịch giải phóng thị xã và tỉnh Phước Long(1-1975) cho thấy thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam đã chín muồi ta tiếnhành Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 Chiến dịch giải phóng hoàntoàn miền Nam bắt đầu từ ngày 10-3-1975, bằng chiến dịch Tây Nguyên (từngày 10 đến 24-3-1975); chiến dịch Huế - Đà Nẵng (từ ngày 21 dến 29-3-1975)
và kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (từ ngày 26-4 đến 30-4-1975).Với thắng lợi của Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, cuộc kháng chiếnchống Mỹ cứu nước của nhân dân ta giành thắng lợi hoàn toàn sau 20 nămkháng chiến trường kỳ, non sông thu về một mối, Tổ quốc Việt Nam được hoàntoàn thống nhất; mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc, cả nước đi lên chủ nghĩa xãhội
1.1.2 Đặc điểm cơ bản chi phối quá trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về chính trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Sự nghiệp xây dựng quân đội về chính trị giai đoạn 1954-1975 chịu sự tácđộng, chi phối của các đặc điểm cơ bản của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứunước
Một là, chủ nghĩa xã hội phát triển thành một hệ thống thế giới.
Đây là đặc điểm lớn tác động trực tiếp đến cuộc kháng chiến chống Mỹ củanhân dân ta và tác động rất lớn đến xây dựng quân đội ta về chính trị giai đoạn
1954 - 1975
Trong những năm nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, hệthống xã hội chủ nghĩa đã có bước phát triển vượt bậc cả về thế và lực, trở thành
Trang 14hệ thống thế giới hùng mạnh, là thành trì của hoà bình thế giới tạo ra so sánhtương quan lực lượng có lợi cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, phongtrào công nhân, phong trào cách mạng thế giới
Năm 1955 Liên Xô đã hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ năm xây dựngchủ nghĩa xã hội Năm 1957 Liên Xô sản xuất được tên lửa vượt đại châu vàphóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên, mở ra kỷ nguyên loài người chinhphục vũ trụ Các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu hoàn thành công cuộc hợptác hoá nông nghiệp Trung Quốc tiến hành kế hoạch 5 năm lần thứ nhất xâydựng chủ nghĩa xã hội Và trong những năm tiếp theo Liên Xô, Trung Quốc, cácnước xã hội chủ nghĩa đã có sự phát triển toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh
tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, làm cho sự so sánh lựclượng trên thế giới đã có sự thay đổi rất căn bản Liên Xô, Trung quốc và cácnước xã hội chủ nghĩa đã tham gia tích cực có hiệu lực to lớn trong giải quyếtcác vấn đề quốc tế Tháng 5 -1955 tổ chức Hiệp ước Vácsava được thành lậpkhẳng định sức mạnh quân sự to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa - một tổchức quân sự hùng mạnh đối trọng với khối quân sự Bắc Đại Tây Dương(NATO) Tháng 11-1957, Hội nghị quốc tế của 64 Đảng Cộng sản và Đảng côngnhân đã họp ở Matxcơva (Liên Xô) ra tuyên bố hoà bình, khẳng định sự lớnmạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của hệ thống xã hội chủnghĩa thế giới
Sự lớn mạnh về kinh tế, quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa, nhất làLiên Xô, Trung Quốc là niềm tự hào, nguồn động viên, cổ vũ rất lớn đối với cán
bộ, chiến sĩ quân đội vững tin vào tương lai tươi sáng của chủ nghĩa xã hội, củng
cố mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; quyết tâm chiến đấu giải phóng miền Nam,thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện ước mơ baođời của nhân dân ta
Các nước xã hội chủ nghĩa đã trở thành “hậu phương lớn” của Việt Namtrong kháng chiến chống Mỹ; đã viện trợ to lớn, có hiệu quả cho cuộc khángchiến chống Mỹ của nhân dân ta; đã viện trợ cho quân đội ta nhiều loại vũ khítrang bị kỹ thuật hiện đại như: máy bay, tên lửa, pháo, xe tăng, tàu chiến, súng,
Trang 15đạn, quân trang, v.v… Sự viện trợ đó không chỉ giúp cho quân và dân ta có đủ
vũ khí đánh thắng các trang bị, vũ khí hiện đại của quân Mỹ mà còn tác độngtích cực đến quá trình xây dựng và chiến đấu, trưởng thành của quân đội ta,trước hết là củng cố niềm tin, sức mạnh chính trị – tinh thần, góp phần xây dựngquân đội vững mạnh về chính trị
Hai là, phong trào đấu tranh phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam của nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hoà bình, công lý trên thế giới kể cả nhân dân Mỹ đã phát triển mạnh mẽ, rộng khắp.
Đây cũng là một trong những đặc điểm nổi bật tác động đến cuộc khángchiến chống Mỹ của nhân ta, dân tộc ta và quá trình xây dựng Quân đội nhândân Việt Nam vững mạnh về chính trị
Với tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước củanhân dân ta, với những tội ác mà đế quốc Mỹ, chư hầu và chính quyền tay sai gâynên, cùng với những chiến thắng mà nhân dân ta đã giành được trên cả hai miềnNam, Bắc đã gây được tiếng vang lớn trên thế giới, làm cho nhân thế giới và cảnhân dân Mỹ nhận rõ tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược Việt Namcủa đế quốc Mỹ, từ đó mà ra sức ủng hộ nhân dân ta trong cuộc đấu tranh đánhđuổi đế quốc Mỹ xâm lược Hàng ngày, ở Mỹ và ở nhiều nước trên thế giới đã diễn
ra các cuộc biểu tình của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các tầng lớpthanh niên, sinh viên phản đối cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo của đế quốc Mỹđối với nhân dân Việt Nam, đòi Mỹ rút quân về nước, đòi chấm dứt chiến tranh ởViệt Nam, đòi Tổng thống Mỹ từ chức, vận động thanh niên Mỹ phản chiến, khôngsang miền Nam Việt Nam làm bia đỡ đạn cho cho giới quân phiệt trong chínhquyền Mỹ Cuộc đấu tranh ủng hộ nhân dân Việt Nam đánh Mỹ đã góp phần cô lập
đế quốc Mỹ trên trường quốc tế, đẩy chúng vào thế không chỉ phải đối phó với dưluận quốc tế mà ngay cả cuộc đấu tranh phản đối chiến tranh ngay trong lòng nước
Mỹ Đây là nguồn động viên to lớn về tinh thần đối với nhân dân ta, quyết tâmđánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược dù chiến tranh có thể kéo dài, gặp nhiều khókhăn ác liệt
Trang 16Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nhân dân ta còn nhận được sự hậuthuẫn, ủng hộ to lớn của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đang phát triểnmạnh ở cả châu á, châu Phi, châu Mỹ la tinh, chĩa mũi nhọn vào chống Mỹ, từngbước đẩy chủ nghĩa thực dân mới vào cuộc khủng hoảng Tháng 4-1955 Hộinghị á - Phi gồm 29 nước họp ở Băngđung (Inđônêxia) ra bản tuyên bố 10nguyên tắc hoà bình, trung lập là một đóng góp quan trọng vào phong tràochống chủ nghĩa thực dân, củng cố nền độc lập của các nước á - Phi và bảo vệhoà bình thế giới Phong trào độc lập dân tộc thế giới vừa có sức cổ vũ cho cáchmạng miền Nam, phân tán lực lượng của chủ nghĩa đế quốc, hỗ trợ tích cực chocách mạng xã hội chủ nghĩa Trong suốt những năm nhân dân ta tiến hành cuộckháng chiến chống Mỹ, phong trào giải phóng dân tộc đã ủng hộ mạnh mẽ đốivới sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta; đã trở thành mộttrong ba “dòng thác cách mạng” của thời đại cùng chung mục tiêu đánh đổ chủnghĩa thực dân kiểu mới, góp phần không nhỏ trong thắng lợi của quân và dân tatrong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong đó có xây dựng Quân độinhân dân Việt Nam về chính trị
Ba là, Đông Dương là một chiến trường, liên minh chiến đấu giữa Việt Nam, Lào, Campuchia ngày càng được củng cố vững chắc.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta là một bộ phận không tách rờicủa cuộc kháng chiến chống Mỹ của ba nước Đông Dương Liên minh chiến đấugiữa ba nước Đông Dương là nhân tố có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vào thắnglợi cuộc kháng chiến chống Mỹ của mỗi nước
Sự đoàn kết chiến đấu giữa ba nước Đông Dương đã tạo thuận lợi cho ViệtNam vận chuyển lương thực, vũ khí, chuyển quân từ miền Bắc chi viện chomiền Nam qua hệ thống đường Trường Sơn Sự đoàn kết chiến đấu của ba nướcĐông Dương đã tạo nên sức mạnh to lớn cho cách mạng cả ba nước và mỗinước trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Quân đội ba nước đã phốihợp chiến đấu, đập tan các cuộc tấn công của quân Mỹ và quân chư hầu khichúng mở rộng chiến tranh xâm lược sang Lào và Campuchia Đồng thời, tinhthần đoàn kết chiến đấu giữa ba nước Đông Dương đã giáng cho Mỹ những thất
Trang 17bại nặng nề Tình đoàn kết chiến đấu keo sơn giữa ba nước Đông Dương trongcuộc kháng chiến chống Mỹ là một nhân tố quan trọng trong thắng lợi của cuộckháng chiến chống Mỹ cứu nước nói chung và xây dựng quân đội ta vững mạnh
về chính trị nói riêng
Cùng chiến đấu trên một chiến trường, vừa thực hiện nhiệm vụ giải phóngmiền Nam, bảo vệ miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà, vừa làm nhiệm vụ quốc tế cao cả giúp nhân dân Lào và Campuchia, Quân đội nhân dân Việt Nam
đã luôn quán triệt, thấm nhuần tinh thần chủ nghĩa quốc tế vô sản của ĐảngCộng sản, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh “giúp bạn là tự giúp mình” Thựctiễn sát cánh chiến đấu cùng quân và dân Lào, Cămpuchia trong cuộc khángchiến chống Mỹ đã góp phần tô thắm bản chất, truyền thống Quân đội nhân dânViệt Nam anh hùng, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị
Bốn là, đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền, miền Bắc vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, đánh bại chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, vừa chi viện cho miền Nam đánh Mỹ.
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, miền Bắc tiến hành xây dựngchủ nghĩa xã hội, trở thành hậu phương lớn cung cấp sức người, sức của chomiền Nam đánh Mỹ, đồng thời trực tiếp đánh bại cuộc chiến tranh phá hoạibằng không quân và hải quân của Mỹ đối với miền Bắc, phối hợp nhịp nhàngcùng quân và dân miền Nam đánh Mỹ Miền Bắc xã hội chủ nghĩa không chỉsản xuất, cung cấp lương thực, thực phẩm, hàng hoá cho quân và dân miền Nam
mà còn là nơi trực tiếp tiếp nhận sự ủng hộ, viện trợ của các nước xã hội chủnghĩa, của nhân dân thế giới để chuyển vào miền Nam đánh Mỹ
Miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta có điều kiện huấn luyện, xây dựng quân đội chính quy vừa để bảo vệ miền Bắc, vừa cung cấp lực lượngcho miền Nam thành lập các đơn vị bộ đội chủ lực, vừa làm nhiệm vụ quốc tế ởLào, Campuchia Đây là điều kiện rất thuận lợi để thúc đẩy công cuộc khángchiến chống Mỹ, cứu nước đi đến thắng lợi và xây dựng Quân đội nhân dân ViệtNam vững mạnh về chính trị, càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng
Trang 18Mặt khác, chế độ xã hội chủ nghĩa được xây dựng ở miền Bắc trở thànhmục tiêu, lý tưởng, niềm tin động viên cán bộ chiến sĩ, nhân dân miền Nam anhdũng chiến đấu và chiến thắng đế quốc Mỹ, củng cố niềm tin vào hậu phươngmiền Bắc, vào sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị,Quân uỷ Trung ương, lòng tin tuyệt đối vào lãnh tụ Hồ Chí Minh, tin vào tươnglai tươi sáng của đất nước Tính chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa đãđược phát huy cao độ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ Nhân dân miền Bắc đãthi đua “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”, “Thóc khôngthiếu một cân, quân không thiếu một người”, thanh niên “Ba sẵn sàng sàng”,phụ nữ “Ba đảm đang”, “Tay cày tay súng”, “Tay búa tay súng”, lớp lớp thanhniên tình nguyện nhập ngũ vào miền Nam chiến đấu, tham gia lực lượng thanhniên xung phong, dân công hoả tuyến để được phục vụ chiến đấu Nhân dân sẵnsàng dỡ nhà mình để lát đường cho xe chở bộ đội, vũ khí, lương thực tiếp tế chomiền Nam Chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân vàdân ta, tạo nên sức mạnh vật chất, sức mạnh chính trị - tinh thần to lớn, tạo nênchiến thắng vĩ đại của dân tộc ta
Năm là, hệ thống chính trị của đất nước: Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị- xã hội, các tổ chức quần chúng và đoàn thể cách mạng được xây dựng và củng cố vững chắc.
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, hệ thống chính trị baogồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức trong hệ thống chính trị đãđược chăm lo xây dựng ngày càng vững mạnh cả ở miền Bắc và miền Nam Tháng 10-1954 tổ chức Hội nghị thành lập xứ uỷ Nam Bộ tại Chắc Băng (CàMau) để trực tiếp lãnh đạo cách miền Nam, đồng chí Lê Duẩn uỷ viên Bộ Chínhtrị làm bí thư Xứ uỷ, đồng chí Phạm Hữu Lầu làm Phó bí thư Ngày 20-12-1960Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập Cuối năm
1961 thành lập Trung ương Cục miền Nam do đồng chí Nguyễn Văn Linh làm
Bí thư nhằm thống nhất cơ quan lãnh đạo cách mạng miền Nam và tăng cường
sự lãnh đạo của Trung ương đối với cách mạng miền Nam, nắm vững và mở
Trang 19rộng thông tin, liên lạc từ Trung ương đến các địa phương Ngày 15-2-1961thành lập Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trên cơ sở thống nhất các lựclượng vũ trang cách mạng Trung ương Cục miền Nam đã kiện toàn bộ máy chỉđạo quân sự của Đảng đối với các lực lượng vũ trang, tổ chức chỉ đạo quân sự từTrung ương Cục xuống đến tỉnh, huyện, xã, xúc tiến thành lập các Bộ Tư lệnhquân khu ở miền Nam Cùng với sự phát triển của tình hình, nhiệm vụ cáchmạng các tổ chức quần chúng, đoàn thể cách mạng đều được tổ chức và hoạtđộng sôi nổi góp phần to lớn vào công tác tuyên truyền vận động quần chúng,tập hợp quần chúng và lãnh đạo quần chúng đấu tranh Ngày 6-6-1969 Chínhphủ Lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam được thành lập góp phần quantrọng vào sự nghiệp cách mạng miền Nam.
Trong suốt 20 năm tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đảng, Nhànước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội trong hệ thống chính trịđược chăm lo xây dựng vững mạnh, được rèn luyện trong đấu tranh cách mạng,trong lãnh đạo và tiến hành chiến tranh, đã phát huy cao độ vai trò của mìnhtrong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh cách mạnggiải phóng miền Nam Các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Mặt trận dân tộc Giảiphóng miền Nam Việt Nam, các tổ chức và đoàn thể cách mạng ở miền Namdưới sự lãnh đạo của Đảng đã phát triển lớn mạnh góp phần trực tiếp vào việclãnh đạo, tổ chức, đoàn kết quân và dân miền Nam tiến hành cuộc kháng chiếnchống Mỹ thắng lợi
Quân đội ta là quân đội nhân dân, quân đội cách mạng được Đảng Cộngsản Việt Nam, đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục,rèn luyện, vì vậy cùng với sự chăm lo xây dựng Đảng, Nhà nước, các đoàn thểchính trị- xã hội vững mạnh quân đội ta được Đảng, Nhà nước các đoàn thểnhân dân chăm lo xây dựng về mọi mặt, trước hết vững mạnh về chính trị Do
đó, trong mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh quân đội ta đã thể hiện rõ vai trò nòngcốt trong chiến tranh nhân dân, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình,xứng đáng với sự tin cậy, công lao chăm lo xây dựng của Đảng, Nhà nước vànhân dân ta
Trang 20Sáu là, quân đội ta có sự phát triển cả về quy mô, lực lượng, trang bị vũ khí kỹ thuật quân sự, về chất lượng chính trị và sức mạnh chiến đấu.
Kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp, để đáp ứng đòi hỏi khách quan củacách mạng, Trung ương Đảng, Chính phủ và Tổng Quân uỷ đã quyết tâm sớm tổchức các quân, binh chủng kỹ thuật hiện đại cùng với lục quân đủ sức bảo vệmiền Bắc và hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam
Thực hiện quyết tâm đó, từ tháng 8-1954 đến năm 1959 Tổng Quân uỷ, BộTổng tư lệnh liên tiếp ra các quyết định thành lập các đơn vị mới và các trường đàotạo cán bộ quân sự, chính trị, hậu cần, kỹ thuật trong toàn quân; tiến hành huấnluyện bộ đội, rèn luyện kỷ luật theo yêu cầu chính quy, tác chiến hiệp đồng quân,binh chủng quy mô lớn Về xây dựng lực lượng, từ tháng 8-1954 đến đầu tháng 10-
1959 Tổng quân uỷ đã quyết định thành lập các đơn vị và các trường nâng quy mô
tổ chức và đổi tên các đơn vị sau đây:
- Ngày 17-8-1954 thành lập Phòng công binh trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu,đến ngày 3-11-1954 thành lập Cục công binh Khi Mỹ chuẩn bị gây chiến tranhđánh phá miền Bắc chuyển thành Bộ Tư lệnh Binh chủng công binh Ngày 7-5-
1955 Thành lập Cục phòng thủ bờ biển thuộc Bộ Tổng tư lệnh và các đơn vị sẵnsàng chiến đấu Cuối tháng 1-1959 thành lập Cục Hải quân thuộc Bộ Tổng thammưu; đó là những đơn vị và cơ quan làm cơ sở để thành lập Quân chủng Hải quânvào đầu những năm 60
- Ngày 7-4-1954 thành lập Bộ Chỉ huy Pháo binh thuộc Bộ Tổng tư lệnh.Sau dó tiếp tục thành lập các đơn vị pháo binh Ngày 19-9-1954 thành lập 2 đạiđoàn pháo mặt đất: đại doàn 675, đại đoàn 349 Ngày 21- 9-1954 thành lập đạiđoàn pháo 367 pháo cao xạ Ba đại đoàn trên đều trực Bộ Chỉ huy pháo binh.Đến ngày 28-5-1956 Bộ Chỉ huy pháo binh chuyển thành Bộ Tư lệnh Binhchủng pháo binh, cả pháo mặt đất và cao xạ Ngày 21-3-1958 Bộ Tổng tư lệnhquyết định Thành lập Bộ tư lệnh Phòng không Ngày 24-1-1959 thành lập CụcKhông quân thuộc Bộ Tổng tham mưu Ngày 21-3-1959 thành lập trung đoàn ra
đa 290 thuộc Bộ tư lệnh Phòng không Ngày 1-5-1959 thành lập trung đoàn
Trang 21không quân vận tải 919 Đó là những đơn vị để phát triển thành Quân chủngPhòng không - Không quân tháng 1-1964.
- Từ 1957-1959, các Binh chủng Thông tin, Hoá học, Tăng- Thiết giápđược tập trung xây dựng với quy mô ngày càng lớn
- Về các đơn vị bộ binh, từ tháng 9-1954 đến tháng 12-1956 sau khi hoànthành nhiệm vụ tập kết bộ đội ở phía Nam và quân tình nguyện Việt Nam ở Lào
và Campuchia ra miền Bắc, Bộ Chính trị và Tổng Quân uỷ quyết định thành lập
8 sư đoàn (các đại đoàn thành lập trong kháng chiến chống Pháp như 308, 304,
316, 320, 325 đến tháng 6 - 1955 thống nhất gọi là sư đoàn) mang các phiênhiệu như sau: Sư đoàn 350 (20- 9-1954), Sư đoàn 305 (21-9-1954), Sư đoàn 330(1-1955) Sư đoàn 328, Sư đoàn 324, Sư đoàn 332, Sư đoàn 335 (cả 4 sư đoànđược thành lập tháng 6-1955) Các cơ quan chiến lược cũng được kiện toàn, đổitên, thành lập mới cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng
cố quốc phòng và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới
- Ngày 3-6-1956 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 017/SL thành lập 6quân khu gồm: Việt Bắc, Tây Bắc, Đông Bắc, Tả Ngạn, Hữu Ngạn (Sông Hồng)
và quân khu 4 thực hiện chức năng quản lý nhà nước về quân sự - quốc phòng,huấn luyện bộ đội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự xã hội, chuẩn bị chiến đấutrong xây dựng hoà bình và chỉ đạo, chỉ huy tác chiến trên một hướng chiến lượckhi xảy ra chiến tranh
- Ngày 3-3-1959 thành lập Công an nhân dân vũ trang (nay là Bộ đội biênphòng)
Trong giai đoạn từ tháng 11- 1954 đến tháng 9-1959 Bộ Quốc phòng đãquyết định thành lập 14 trường bổ túc cán bộ và đào tạo sĩ quan dài hạn về quân
sự, chính trị, hậu cần, chuyên môn kỹ thuật và gửi đi đào tạo ở các nước bạn.Các trường quân sự ở trong nước đã hình thành hệ thống các cấp học tương đốihoàn chỉnh từ sơ cấp, trung cấp, cao cấp, có lục quân, phòng không, hải quân,đặc biệt là thành lập Trường văn hoá quân đội (18-5- 1955) do Tổng cục Chínhtrị quản lý
Trang 22ở miền Nam, sau khi mở đường 559, với các đơn vị chủ lực ở miền Bắcđược bổ sung, tăng cường cho chiến trường đã thành lập các sư đoàn bộ binh,các trung đoàn, tiểu đoàn độc lập, các đơn vị bộ đội địa phương.
Trong kháng chiến chống Mỹ trình độ văn hoá phổ thông của cán bộ, chiến sĩ
đã tăng lên đáng kể so với trong cuộc kháng chiến chống Pháp Hầu hết bộ độinhập ngũ ở miền Bắc đều có trình độ văn hoá cấp 2, một bộ phận văn hoá cấp 3,phần đông cán bộ chiến sĩ ở các quân, binh chủng kỹ thuật có trình độ văn hóa cấp
3 Với hệ thống nhà trường quân đội ngày càng mở rộng và mối quan hệ hợp tácgiữa Việt Nam với Trung Quốc, Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa ngày càngphát triển nên số cán bộ quân đội được đào tạo ngày càng nhiều, nhất là cán bộ ởcác quân, binh chủng kỹ thuật Cùng với sự nâng lên về trình độ văn hoá phổthông, chất lượng chính trị, trình độ giác ngộ chính trị, giác ngộ cách mạng của cán
bộ, chiến sĩ quân đội cũng được nâng lên Những lớp cán bộ, chiến sĩ trong giaiđoạn cuối của cuộc chiến tranh được sinh ra, đào tạo, giáo dục trong chế độ xã hộichủ nghĩa nên phẩm chất, năng lực, đạo đức cách mạng được nâng cao Cán bộ,chiến sĩ ở các đơn vị thuộc chiến trường miền Nam được tôi luyện trong đấu tranhcách mạng, có bản lĩnh chính trị, ý chí quyết tâm chiến đấu ngoan cường, đượchuấn luyện đáp ứng yêu cầu phát triển của tình hình nhiệm vụ cách mạng Bộ độichủ lực, bộ đội địa phương, dân quân, du kích phát triển rộng khắp trình độ chiếnđấu được nâng lên
Các đơn vị quân đội ta do yêu cầu nhiệm vụ không chỉ tác chiến trên chiếntrường miền Nam mà còn tham gia thực hiện nhiệm vụ quốc tế, sát cánh chiến đấucùng với quân và dân Lào, Campuchia, đã làm cho trình độ chính trị, quân sự, kinhnghiệm tác chiến quân đội ta được nâng lên đáng kể, tạo ra những bước tiến bộtrưởng thành rất lớn so với trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp
Bảy là, quân đội ta được nhân dân chăm lo xây dựng về mọi măt, mối quan
hệ và tình đoàn kết quân dân đã được nâng lên ở tầm cao mới.
Quân đội ta là quân đội của dân, do dân, vì dân, từ nhân dân mà ra, vì nhândân mà phục vụ; ra đời từ yêu cầu của cuộc đấu tranh cách mạng lật đổ chế độthực dân, phong kiến, mang lại cuộc sống ấm no tự do, hạnh phúc cho nhân dân
Trang 23Vì vậy, ngay từ khi thành lập, quân đội ta đã được nhân dân tin yêu, đùm bọc,hết lòng chăm lo xây dựng Do dựa được vào dân, được dân nuôi dưỡng, chechở, giúp đỡ động viên về tình cảm, tinh thần nên trong cuộc kháng chiến chốngPháp, quân đội ta đã có sự trưởng thành nhanh chóng, chiến thắng vẻ vang,không ngừng phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” Sau khi hoà bình lập lại trênmiền Bắc, bước vào thời kỳ mới vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừatiến hành kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, quân đội ta được Đảng,Nhà nước, nhân dân hết lòng yêu thương, chăm lo xây dựng về mọi mặt Hìnhảnh “Bộ đội Cụ Hồ” luôn giành được tình cảm tốt đẹp, trìu mến của nhân dân ta.Quân đội không phải là lực lượng đứng độc lập với nhân dân, mà sống tronglòng nhân dân, là một bộ phận không thể tách rời khỏi nhân dân Trong nhữngnăm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hầu hết các gia đình đều có người thân đã
và đang phục vụ trong quân đội, thậm chí nhiều thế hệ trong một gia đình côngtác, chiến đấu trong quân đội Vì thế, quân đội là máu thịt của nhân dân, chăm loxây dựng quân đội không chỉ là trách nhiệm mà còn là tình cảm sâu nặng nghĩatình mà nhân dân ta dành cho quân đội Mối quan hệ, đoàn kết quân dân trongcuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã trở thành hình mẫu, biểu tượng sángngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam
Chính những tình cảm đó là nguồn động viên to lớn đối với mọi thế hệ cán
bộ, chiến sĩ quân đội sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp cách mạng, vì thắng lợi củacuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, xứng đáng là quân đội cách mạng củadân, do dân vì dân Đây thực sự là một động lực chính trị, tinh thần to lớn đểquân đội ta đã chiến đấu và chiến thắng đội quân nhà nghề của đế quốc Mỹ vàquân đội chư hầu, góp phần cùng toàn dân giải phóng miền Nam, thống nhất Tổquốc
Những đặc điểm cơ bản trên đây đã tác động mạnh mẽ đến sự nghiệp cáchmạng Việt Nam, nhất là trong xây dựng quân đội ta vững mạnh chính trị Nhậnthức rõ các đặc điểm trên, Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khai thác, phát huytốt sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, giải quyết thành công những vấn đề
Trang 24mới nảy sinh trong suốt 20 năm đánh Mỹ, đưa cách mạng đến toàn thắng bằngchiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử
1.2 Quá trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về chính trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
1.2.1 Giai đoạn 1954 – 1960
Tình hình, nhiệm vụ cách mạng và nhiệm vụ của quân đội
Sau chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, miền Bắc bắt tayvào khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xãhội ở miền Nam, nhân dân miền Nam tiến hành đấu tranh chính trị đòi Mỹ,Diệm thi hành Hiệp định Giơnevơ, đồng thời tìm phương thức thích hợp để vừahạn chế được tổn thất, thúc đẩy cách mạng ở miền Nam, vừa bảo vệ miền Bắc.Tháng 7-1954, tại Việt Bắc đã diễn ra Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hànhTrung ương (khóa II) Tại Hội nghị này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản báocáo quan trọng Báo cáo nhận định: Đế quốc Mỹ âm mưu kéo dài chiến tranhĐông Dương, phá hoại Hiệp định Giơnevơ, tìm cách hất cẳng thực dân Pháp đểđộc chiếm Việt Nam, Campuchia và Lào… Cho nên mọi việc của ta đều nhằmchống đế quốc Mỹ”
Tháng 12 năm 1957, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13 (khóa II), Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã khẳng định, ta đang đồng thời tiến hành hai chiến lược cáchmạng: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hộichủ nghĩa ở miền Bắc Từ ngày 12 đến ngày 22-1-1959, Hội nghị Trung ươnglần thứ 15 (khóa II) đã họp và ra Nghị quyết “Về tăng cường đoàn kết, kiênquyết đấu tranh giữ vững hoà bình, thực hiện thống nhất nước nhà” Sau nhữngnhận định về kẻ thù, về tình hình xã hội và cách mạng miền Nam, Nghị quyết đãchỉ rõ nhiệm vụ của cách mạng miền Nam: “Nhiệm vụ cơ bản là giải phóngmiền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dântộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ởmiền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ
và giàu mạnh”; “Nhiệm vụ trước mắt là đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranhchống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài
Trang 25Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập chính quyền liên hợp dân tộcdân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc và các quyền tự do dân chủ,…”[11–81,82].
Triển khai tinh thần của Nghị quyết Trung ương 13, miền Bắc tập trungvào tháo gỡ khó khăn sau cuộc chiến tranh, xây dựng và củng cố miền Bắc trởthành hậu phương lớn của cả nước Trong 3 năm 1958-1960 đã hoàn thành về cơbản công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công nghiệp, thương nghiệp, thủcông nghiệp, nông nghiệp, bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở miền Nam, trong những ngày tháng chịu những tổn thất nặng nề, đại bộphận đồng bào miền Nam vẫn một lòng, một dạ tin, theo cách mạng, tiếp tụccuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất chống lại sự tàn ác của Mỹ, Diệm, gìn giữlực lượng Từ 1955-1958 đã tổ chức được hơn 12 triệu lượt quần chúng đấutranh chính trị dưới các hình thức khác nhau Trước những hành động hung áccủa kẻ thù, đồng bào miền Nam đã không chỉ có đấu tranh chính trị mà đã tiếnhành các cuộc đấu tranh vũ trang mang tính bạo lực của quần chúng với nhữngmức độ khác nhau, bằng nhiều hình thức phong phú và sáng tạo, đặc biệt là cáccuộc đồng khởi của nhân dân các tỉnh miền Trung Nam Bộ và miền Đông Nam
Bộ Đến giữa năm 1959, cách mạng miền Nam đã ở trong quá trình khởi nghĩatừng phần Cao trào Đồng Khởi trên toàn miền Nam đã làm cho Mỹ, Diệm đứngngồi không yên, đồng thời khôi phục được các tổ chức cách mạng, lực lượng bathứ quân và hệ thống chỉ huy quân sự các cấp được hình thành, căn cứ địa đượccủng cố và mở rộng 20-12-1960 Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam ViệtNam được thành lập Tháng 1 năm 1961 Trung ương cục miền Nam được thànhlập Tháng 2 năm 1961, thành lập quân giải phóng miền Nam Việt Nam Vàođầu năm 1960, cách mạng miền Nam chuyển hẳn sang thế tiến công
Giai đoạn 1954–1960, quân đội có những nhiệm vụ chủ yếu: Xây dựngquân đội nhân dân hùng mạnh, tiến dần từng bước đến chính quy hóa, hiện đạihóa; tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế trên miền Bắc ởmiền Nam, các lực lượng vũ trang tìm mọi phương thức để bảo tồn và phát triển
Trang 26lực lượng, làm nòng cốt cho nhân dân tiến hành đồng khởi đưa cách mạng miềnNam tiến lên
Từ ngày 5 đến ngày 7-9-1954, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về “Tình hìnhmới, nhiệm vụ mới và chính sách mới của Đảng”, Nghị quyết xác định: “Quânđội nhân dân là trụ cột chủ yếu, chắc chắn nhất để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hoàbình… cần phải xây dựng quân đội nhân dân thành một quân đội cách mạng,chính quy, tương đối hiện đại” [45–133]
Trong thư gửi cho quân đội nhân kỷ niệm 10 năm ngày thành lập 1954), Bác Hồ xác định nhiệm vụ của quân đội: “Làm hậu thuẫn vững chắc chocuộc đấu tranh để củng cố hoà bình, bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thống nhất, hoànthành độc lập và dân chủ trong toàn quốc” Tại Hội nghị cán bộ cao cấp toànquân nghiên cứu những vấn đề điều chỉnh trong kế hoạch xây dựng quân đội(1958-1960), ngày 20-3-1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ cho quânđội: “Một là, xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh và sẵn sàng chiến đấu,…Hai là, tích cực tham gia sản xuất để góp phần xây dựng kinh tế, xây dựng vàcủng cố hậu phương” [45–152]
(22-12-Hội Nghị Trung ương lần thứ 12, tháng 3-1957 đã xác định phương châmxây dựng quân đội là: “Tích cực xây dựng quân đội nhân dân hùng mạnh, tiếndần từng bước lên chính quy và hiện đại”; Nhiệm vụ trước mắt và trong một thờigian nhất định là: “Tích cực phấn đấu để tiếp tục thực hiện và hoàn thành thắnglợi kế hoạch xây dựng quân đội nhân dân, làm cho quân đội ta trở thành một lụcquân cách mạng chính quy và tương đối hiện đại, đồng thời đặt cơ sở đầu tiêncho các quân và binh chủng khác” [9–207,208,209]
Quá trình xây dựng quân đội về chính trị
Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xâydựng quân đội về lập trường giai cấp công nhân, trình độ giác ngộ xã hội chủnghĩa, tinh thần yêu nước, tinh thần quốc tế vô sản, ý thức tổ chức kỷ luật, tinhthần sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao cho.Kiên quyết đấu tranh khắc phục tư tưởng hoà bình chủ nghĩa, lỏng lẻo ý chíchiến đấu, suy tính cá nhân, tự do vô tổ chức, vô kỷ luật
Trang 27Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ bảy (khóa II), từ ngày 3 đếnngày 12-3-1955 đã xác định: “Xây dựng quân đội nhân dân hùng mạnh, củng cốquốc phòng trong hoà bình là một công tác chủ yếu để tăng cường lực lượng….Đặc biệt là tăng cường công tác chính trị và lãnh đạo của Đảng trong quân đội”[45–139].
Tháng 3-1957, Ban Chấp hành Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị lần thứ
12 Hội nghị đã nghe Báo cáo của Bộ Chính trị do đồng chí Võ Nguyên Giáptrình bày và ra Nghị quyết “Về vấn đề xây dựng quân đội và củng cố quốcphòng” Nghị quyết chỉ rõ: “Phương châm xây dựng quân đội của chúng ta làtích cực xây dựng một quân đội nhân dân hùng mạnh tiến dần từng bước đếnchính quy hoá, hiện đại hoá”; muốn vậy cần: “ra sức giáo dục tinh thần yêunước, tinh thần quốc tế chủ nghĩa và chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho quânđội, nâng cao giác ngộ chính trị của quân đội ta lên một trình độ mới, tức là trình
độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa, làm cho quân đội ta hiểu rõ mục tiêu phấn đấu củadân ta, của quân đội ta, không phải chỉ là độc lập và dân chủ mà còn phải phấnđấu xây dựng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội”; “bất kỳ ở vào trình độ nào,tình thế nào, quân đội ta đều phải luôn luôn sẵn sàng chiến đấu” [9 – 287,288].Hội nghị nhấn mạnh tăng cường công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng,tiến hành chỉnh huấn chính trị trong toàn quân để “Củng cố lập trường giai cấpcông nhân, dần dần nâng cao trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa, nâng cao tinhthần yêu nước chân chính kết hợp với tinh thần quốc tế chủ nghĩa, phê phán tưtưởng tư sản và tiểu tư sản, tiếp tục chống ảnh hưởng của tư tưởng đế quốc vàphong kiến Khắc phục tư tưởng thái bình hưởng lạc, lỏng lẻo ý chí chiến đấu,suy tính cá nhân, công thần kiêu ngạo, cục bộ địa phương, tự do vô tổ chức, vô
kỷ luật” [9–295,296]
Ngày 22-12-1959, trong thư gửi quân đội nhân kỷ niệm 15 năm ngày thànhlập, Bác Hồ chỉ rõ: “Phải không ngừng nâng cao trình độ chính trị, kỹ thuật vàvăn hoá;…phải trau dồi đạo đức cách mạng, đoàn kết khiêm tốn, biết vì Đảng, vìdân; phải nâng cao chí khí chiến đấu, luôn luôn sẵn sàng bảo vệ hoà bình”
Trang 28Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị đã tập trung lãnhđạo, chỉ đạo xây dựng quân đội về chính trị, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cáchmạng, yêu cầu nhiệm vụ của quân đội giai đoạn 1954-1960 Trong giai đoạnnày, tập trung vào các vấn đề chủ yếu sau: Một là, khắc phục tư tưởng thái bìnhhưởng lạc, lỏng lẻo ý chí chiến đấu, suy tính cá nhân, công thần kiêu ngạo, cục
bộ địa phương, tự do vô tổ chức, vô kỷ luật; xây dựng tinh thần sẵn sàng chiếnđấu và tham gia khôi phục, phát triển kinh tế trên miền Bắc; Hai là, xây dựngquân đội nhân dân hùng mạnh tiến dần từng bước đến chính quy hoá, hiện đạihoá
Ngay sau ngày hòa bình trên miền Bắc, tháng 9-1954, Tổng cục Chính trị
đã chỉ đạo: Công tác giáo dục, tư tưởng trong toàn quân phải bền bỉ làm cho mọicán bộ, chiến sĩ nhận rõ nhiệm vụ, khắc phục lệch lạc, mơ hồ về ta, bạn, thù,nâng cao giác ngộ giai cấp, tăng cường đoàn kết, nêu cao ý thức tổ chức kỷ luật,tinh thần cảnh giác, chỉnh đốn tổ chức, làm cho nội bộ trong sạch Tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu, nâng cao ý thứccảnh giác cách mạng, chống ảo tưởng hoà bình và trì trệ, tiêu cực trong quânđội
Sau năm 1954, quân đội đã chủ động làm tốt công tác tư tưởng đối với bộđội trước bước ngoặt của cách mạng Trong toàn quân đã tiến hành sinh hoạtchính trị về tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, về âm mưucủa đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm, đấu tranh với những biểu hiệncông thần, kiêu ngạo, khắc phục biểu hiện ảo tưởng hòa bình, giảm sút tinh thầnsẵn sàng chiến đấu, xây dựng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng vàChính phủ giao cho
Kết quả là, quân đội đã hoàn thành nhiệm vụ tiếp quản, tiếp thu vùng mớigiải phóng; chống địch bắt ép đồng bào di cư vào Nam, giúp hàng vạn đồng bào
ra khỏi khống chế của địch; cùng với nhân dân miền Nam và tình nguyện quân ởLào thi hành nghiêm chỉnh hiệp định Giơnevơ về kết thúc chiến tranh trên toànĐông Dương và đấu tranh chống lại sự phá hoại hiệp định của địch; đón cán bộ,
bộ đội và thanh thiếu niên miền Nam tập kết Cán bộ, chiến sĩ quân đội đã giải
Trang 29quyết tốt mối quan hệ giữa chính trị và kỹ thuật, con người và vũ khí, dân chủ và
kỷ luật Tình hình kỷ luật và tinh thần sẵn sàng chiến đấu của quân đội ngàycàng được tăng cường
Tháng 8-1955, Tổng Quân uỷ xác định rõ: Tăng cường sự lãnh đạo củaĐảng đối với quân đội là vấn đề căn bản để giữ vững và tăng cường bản chấtcách mạng của quân đội Công tác chính trị là mạch sống, mạch máu, linh hồncủa quân đội, là vấn đề phân biệt giữa quân đội cách mạng và quân đội phảncách mạng
Thực hiện chủ trương của Tổng Quân ủy, công tác đảng, công tác chính trịtrong quân đội được đẩy mạnh, cơ quan chính trị được kiện toàn, củng cố và giữvững nền nếp công tác đảng, công tác chính trị để tăng cường bản chất cáchmạng cho quân đội Đi đôi với việc kiện toàn đảng uỷ, trong Đảng bộ quân đội
đã tập trung vào khâu xây dựng chi bộ, nhất là chi bộ đại đội, đẩy mạnh pháttriển đảng, phấn đấu chi bộ đại đội có chi uỷ, trung đội có tổ đảng, tiểu đội, khẩuđội có đảng viên Đến giữa năm 1956, toàn quân có 104.000 đảng viên, tỷ lệlãnh đạo đạt khoảng 40% so với quân số Từ 1955 đến 1960, toàn quân kết nạpđược 56.900 đảng viên, tính trung bình hàng năm tăng 10,4% tổng số đảng viên,
tỷ lệ lãnh đạo đạt 41,1% (1960) Cùng với công tác phát triển đảng, công tác xâydựng, củng cố chi bộ, chi ủy, đảng uỷ được tăng cường Trong thời kỳ này, xâydựng chi bộ và rèn luyện đảng viên là khâu mấu chốt Chế độ “Tập thể đảng ủylãnh đạo, thủ trưởng phân công phụ trách” được thực hiện tốt ở tất cả các đơn vị.Vai trò lãnh đạo toàn diện của tổ chức đảng đối với các đơn vị và các hoạt độngcủa quân đội được tăng cường, giữ vững, là chỗ dựa vững chắc cho người chỉhuy thực hiện nhiệm vụ Đảng viên ra sức học tập và rèn luyện theo tiêu chuẩn 4tốt: học tập tốt, chấp hành điều lệ tốt, kỷ luật tốt, dìu dắt đoàn kết quần chúngtốt Phong trào đó có tác dụng làm cho đảng viên phát huy vai trò tiên phong,gương mẫu trong huấn luyện, công tác Chi bộ đảng đã thực sự là hạt nhân tronglãnh đạo xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh về chính trị
Hội nghị Trung ương lần thứ 12 (3-1957) đã đánh giá: “từ chiến tranhchuyển sang hoà bình, quân đội ta đã khắc phục rất nhiều khó khăn, thực hiện
Trang 30tốt các việc ngừng bắn, tập kết, chuyển quân và tiếp thu các vùng mới giảiphóng,… Đã cùng các lực lượng công an tăng cường một bước bảo vệ biên giới,
bờ bể, tăng cường trị an nội địa, tiễu trừ thổ phỉ ở Đông Bắc và Tây Bắc, do đó
đã bảo vệ an toàn cho bờ cõi, giữ vững trật tự an ninh ở miền Bắc, bảo vệ côngcuộc lao động hoà bình của nhân dân”; “Về mặt xây dựng quân đội, công tác tổchức, biên chế, trang bị đã thực hiện được phần lớn kế hoạch đã định, làm choquân đội từ chỗ đơn thuần là bộ binh và phần lớn những đơn vị phân tán, sau hainăm trở nên một quân đội có một số binh chủng lớn, tập trung thành nhiều sưđoàn và trung đoàn”; “Việc giáo dục chính trị và lãnh đạo tư tưởng đã nâng caothêm một bước, trình độ chính trị và tư tưởng của cán bộ và chiến sĩ, việc củng
cố và phát triển Đảng được tiến hành có kết quả, nhờ đó đã đảm bảo cho quânđội làm tròn những nhiệm vụ trước mắt”; “Nói tóm lại, Quân đội nhân dân ViệtNam đã làm tròn nhiệm vụ của một đội quân chiến đấu và đội quân công tác,đồng thời đã đạt được cơ sở tốt để tiến tới một lục quân chính quy và tương đốihiện đại” Hội nghị cũng đã chỉ rõ: Công tác giáo dục chính trị và lãnh đạo tưtưởng “chưa theo kịp yêu cầu nhiệm vụ cách mạng và nhiệm vụ xây dựng quânđội… Tuy mặt chủ yếu là bộ đội ta đã tỏ ra có một bản chất chính trị tốt đẹp,hết sức trung thành với sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, với sự nghiệp cáchmạng của nhân dân Nhưng một mặt khác, tư tưởng bộ đội có những diễn biếnphức tạp, đặc biệt là những hiện tượng thắc mắc về quyền lợi, địa vị và tiền đồ
cá nhân, đi đôi với những hiện tượng kém tổ chức tính và kỷ luật tính tương đốiphổ biến, thậm chí có những hành động vô tổ chức, vô kỷ luật nghiêm trọng…Tình hình đó chứng tỏ trình độ chính trị của bộ đội tuy đã tiến bộ nhưng chưathật vững chắc, đòi hỏi công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng cần đượctăng cường trong thời gian sắp tới” [9–288,291,292]
Tháng 10-1957, Tổng cục Chính trị trình Trung ương và Tổng Quân uỷ báocáo tổng hợp về chính trị, tư tưởng và tổ chức của quân đội từ tháng 8-1954 đếntháng 10-1957 Báo cáo nêu rõ: Được Đảng lãnh đạo chặt chẽ, Chính phủ quantâm, nhân dân giúp đỡ và sự nỗ lực của cán bộ, chiến sĩ, toàn quân ta đã giữvững bản chất cách mạng và truyền thống tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, hoàn thành
Trang 31mọi nhiệm vụ khó khăn phức tạp ở những năm đầu thời kỳ mới Tuy nhiên, tìnhhình tư tưởng còn diễn biến phức tạp, thiếu niềm tin vào cách mạng (đất nướcchưa thống nhất) Tổng cục Chính trị xác định ba tồn tại chính: Một là, trình độnhận thức tư tưởng còn chưa phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ mới; hai là, trình độ
lý luận, trình độ văn hoá, năng lực công tác của cán bộ còn thấp kém, chưa đápứng yêu cầu mới về chỉ huy, lãnh đạo, về xây dựng chính quy hiện đại; ba là, tổchức và phương pháp công tác chính trị còn nặng nề, cũ kỹ, không thích hợp vớiđặc điểm mới về biên chế, trang bị
Sau Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 12, tháng 3-1957, TổngQuân uỷ xác định: “Tăng cường bản chất giai cấp cách mạng, tăng cường giáodục chính trị, tư tưởng trong việc xây dựng chính quy hiện đại có ý nghĩa quantrọng bậc nhất, có tác dụng quyết định Đó là nguyên tắc căn bản của việc xâydựng quân đội” [51–16] Tháng 2-1959, Tổng Quân uỷ quán triệt Nghị quyếtHội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15, bàn việc xây dựng quân đội trong giaiđoạn mới, đã xác định: “Xây dựng quân đội ta thành một quân đội cách mạng,chính quy, hiện đại, có số lượng thích hợp và chất lượng chiến đấu cao, đượctrang bị và huấn luyện chu đáo” [45–160]
Thực hiện Nghị quyết của Đảng, trong toàn quân đã sôi nổi học tập và thảoluận về định hướng xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, hiện đại Kết quả
là đã tạo sự chuyển biến trong nhận thức của cán bộ, chiến sĩ về tính tất yếu phảixây dựng quân đội cách mạng, chính quy, hiện đại trong điều kiện đất nước cònchia làm hai miền, nền kinh tế lạc hậu Đến cuối năm 1959, đầu năm 1960, trongtoàn quân đã dấy lên phong trào thi đua xây dựng chính quy hiện đại
Căn cứ vào các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Quân uỷ Trung ương xác địnhphải ra sức xây dựng đội ngũ cán bộ trong quân đội có số lượng đủ, chất lượngcao và cơ cấu thích hợp, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trong các giai đoạn củacách mạng Các cán bộ phải có đức và tài, đức là cơ bản, tài là quan trọng,Trong đó chú trọng bồi dưỡng và mạnh dạn đề bạt cán bộ xuất thân từ côngnông, tích cực bồi dưỡng, cải tạo, đề bạt thích đáng các thành phần khác Đồngthời cũng cần khắc phục tình trạng thành phần chủ nghĩa, cứ công nông thì đề
Trang 32bạt không chú trọng tiêu chuẩn, đề bạt cả những cán bộ không hoàn thành nhiệm
vụ Sau năm 1954, Quân ủy Trung ương xác định: đối với cán bộ quân đội, việchọc tập trở nên cấp bách Từ tháng 11-1954 đến tháng 9-1959, quân đội thànhlập 14 trường bổ túc cán bộ và đào tạo sĩ quan dài hạn Đồng thời tăng cườngcông tác đảng, công tác chính trị trong các nhà trường Đến năm 1960 đã có15.364 cán bộ học qua các trường trong nước, 2.323 cán bộ đi học ở nước ngoài
và hàng chục vạn cán bộ được tập huấn, bồi dưỡng tại chức Trình độ các mặtcủa cán bộ được nâng lên một bước, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cáchmạng, chính quy, hiện đại
Vào các năm 1958, 1959, trước tác động của tư tưởng xét lại, làm cho một
số sán bộ quân đội dao động về lập trường chính trị, thậm chí bị nhiễm tư tưởng
tư sản và tàn dư tư tưởng phong kiến, trỗi dậy tư tưởng cá nhân, coi thường lãnhđạo tập thể và công tác đảng, công tác chính trị Trong quân đội đã diễn ra cuộcđấu tranh phê phán những quan điểm lệch lạc và nhận thức mơ hồ do chủ nghĩaxét lại làm mê muội Kết quả là đã làm cho cán bộ, chiến sĩ toàn quân được tôiluyện trưởng thành về chính trị, bất luận trong điều kiện nào cũng kiên quyếtbảo vệ sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với quân đội
Giai đoạn 1954–1960, trước những bước ngoặt của cách mạng, xây dựngquân đội về chính trị được đẩy mạnh, đạt được mục tiêu nâng cao giác ngộ xãhội chủ nghĩa, xây dựng ý chí quyết tâm phấn đấu vì độc lập dân tộc, dân chủ,thống nhất Tổ quốc, tiến lên chủ nghĩa xã hội cho cán bộ, chiến sĩ Đã làm chocán bộ, chiến sĩ trong toàn quân thống nhất ý chí và hành động theo đúngphương hướng chiến lược, chủ trương và đối sách của Đảng, dồn sức hoàn thànhnhững nhiệm vụ cấp bách; tinh thần đoàn kết nội bộ, ý thức chấp hành kỷ luậtđược đề cao, tình đồng chí đồng đội được thể hiện đúng đắn, chân thành, lấyđộng viên giúp nhau cùng tiến bộ, cùng hoàn thành nhiệm vụ chung làm trọng.xây dựng tinh thần sẵn sàng chiến đấu và tham gia khôi phục, phát triển kinh tếtrên miền Bắc
1.2.2 Giai đoạn 1961 - 1965
Tình hình, nhiệm vụ cách mạng và nhiệm vụ của quân đội
Trang 33Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9 năm 1960) đã chỉ
rõ hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam: “Một là, tiến hành cáchmạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc; Hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách thốngtrị của đế quốc Mỹ và tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lậpdân tộc và dân chủ trong cả nước Hai nhiệm vụ ấy có mối quan hệ mật thiết vớinhau và có tác dụng thúc đẩy lẫn nhau”
Giai đoạn 1961–1965, nửa nước có chiến tranh Chiến tranh xâm lược kiểumới bằng hình thức thống trị của chính quyền tay sai thất bại, đế quốc Mỹ đãchuyển sang dùng “chiến tranh đặc biệt” để đối phó với cách mạng miền Nam
“Chiến tranh đặc biệt” được thực hiện bằng việc tăng cường quân ngụy, tăngcường viện trợ, cố vấn và các phương tiện chiến tranh hiện đại như máy bay trựcthăng, xe thiết giáp Nội dung cơ bản của chiến lược “chiến tranh đặc biệt” làcàn quét, dồn dân lập ấp chiến lược
Nhân dân miền Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là Trungương Cục miền Nam đã phát triển khởi nghĩa từng phần thành chiến tranh giảiphóng trên quy mô lớn toàn miền Nam Chiến tranh cách mạng và khởi nghĩa vũtrang của quần chúng được kết hợp chặt chẽ; đấu tranh chính trị và đấu tranh vũtrang cùng được tiến hành song song, đánh địch bằng ba mũi giáp công: quân
sự, chính trị, binh vận, trên cả ba vùng chiến lược: rừng núi, đồng bằng, thànhthị, hình thành hình thức tiến công: “hai chân, ba mũi, ba vùng chiến lược” [50–47,48] Bằng cách đánh sáng tạo và độc đáo, quân và dân miền Nam đã lần lượt
bẻ gẫy những cuộc hành quân càn quét, khủng bố của địch, góp phần rất tích cựctrong việc đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của của đế quốc Mỹ ởmiền Nam Đến cuối năm 1964, hệ thống ấp chiến lược do Mỹ, Diệm ra sức xâydựng trên miền Nam bị phá vỡ về cơ bản, chiến lược “chiến tranh đặc biệt”đứng trước nguy cơ phá sản
ở miền Bắc, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội được đẩy mạnh, thựchiện thắng lợi kế hoạch 5 năm lần thứ nhất về phát triển kinh tế - xã hội Trêncác mặt kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh có bước phát triển mới Các hợp tác
xã nông nghiệp đã góp phần phát triển kinh tế, xã hội ở nông thôn miền Bắc
Trang 34Phong trào thi đua “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt” đượcđẩy mạnh, miền Bắc ra sức chi viện sức người, sức của cho miền Nam; tổ chứcđội quân tình nguyện làm nhiệm vụ quốc tế trên chiến trường Lào, đồng thờitích cực chuẩn bị chiến đấu bảo vệ miền Bắc Ngày 5-8-1964, khi Mỹ mở rộngchiến tranh xâm lược bằng không quân ra miền Bắc, quân và dân miền bắc đãđánh trả quyết liệt, bắn rơi máy bay Mỹ ngay từ trận đầu, ngày đầu.
Giai đoạn 1961–1965, quân đội có nhiệm vụ hoàn thành chính quy hóa, phát triển lực lượng về số lượng và quy mô, bảo vệ miền Bắc, đánh thắng chiến tranh cục bộ ở miền Nam và thực hiện nghĩa vụ quốc tế với cách mạng Lào.
Ngày 25-2-1961, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch quân sự 5 năm lần thứhai (1961-1965) Nội dung chủ yếu gồm: Hoàn thành chính quy hoá; Xây dựnglực lượng vũ trang ở miền Nam 10 - 15 trung đoàn mạnh về xung lực, hoả lực;Giúp đỡ cách mạng Lào; Kiện toàn bộ máy chỉ đạo quân sự của Đảng, bảo đảm
sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân
Từ ngày 25 đến ngày 27-3 -1965, Hội nghị Trung ương lần thứ 11 (khóaIII), sau khi nhận định tình hình đã xác định nhiệm vụ của quân đội là “Kiênquyết bảo vệ miền Bắc, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại và phong toả bằngkhông quân và hải quân của địch… Chuẩn bị sẵn sàng đối phó và quyết thắngcuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam nếu địch gây ra Ra sức giúp đỡ cách mạngLào” [45–210]
Quá trình xây dựng quân đội về chính trị
Giai đoạn 1961–1965, Đảng và Bác Hồ đặc biệt quan tâm nâng cao giácngộ xã hội chủ nghĩa, bồi dưỡng tinh thần quyết chiến quyết thắng, sẵn sàng tiêudiệt địch, bảo vệ nhân dân, sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ cho quân đội; chỉ rõcách thức tiến hành xây dựng quân đội về chính trị: tăng cường giáo dục chínhtrị tư tưởng, ra sức củng cố tổ chức, trong đó đặc biệt nhấn mạnh việc tăngcường và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, củng cố đoàn kết nội
bộ, đoàn kết quân dân; cán bộ, chiến sĩ quân đội phải là những người có trình độgiác ngộ chính trị cao
Trang 35Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã chỉ rõ hai nhiệm vụchiến lược của cách mạng Việt Nam: tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ởmiền Bắc và giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai,thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập dân tộc và dân chủ trong cảnước Đường lối của Đảng về tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược đãchỉ ra phương hướng xây dựng quân đội về chính trị để đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ của cách mạng, của quân đội trong giai đoạn mới
Tháng 12-1963, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ chín (khóaIII) xác định: “Phải khẩn trương xây dựng lực lượng vũ trang của ta lớn mạnhmau chóng Trong việc xây dựng quân đội, phải bảo đảm phát huy dân chủ và
kỷ luật nghiêm minh, thực hiện cán binh đoàn kết nhất trí, quân dân đoàn kếtnhất trí” [45–196]
Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng số 87- CT/TW, ngày 11-12-1964
đã ghi rõ: Lực lượng vũ trang “cần tổ chức ôn lại lịch sử và truyền thống vẻvang của quân đội, của du kích và tự vệ, bồi dưỡng tinh thần quyết chiến quyếtthắng, sẵn sàng tiêu diệt địch, bảo vệ nhân dân, sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ khi
Tổ quốc cần đến” [17 ?- 286]
Ngày 25, 26-9-1964, Bộ Chính trị họp quyết định “Động viên toàn Đảng,toàn quân và toàn dân, tập trung mọi khả năng, lực lượng để giành một bướcthắng lợi quyết định trong một vài năm sắp tới” Trong đó nhấn mạnh, xây dựnglực lượng chủ lực “không những phải chú trọng về số lượng mà đặc biệt phảichú trọng về chất lượng Bộ đội chủ lực phải có trình độ kỹ thuật, chiến thuật vàgiác ngộ chính trị cao, trang bị hoả lực mạnh, trình độ chỉ huy của bộ đội phảigiỏi” [45–204]
Ngày 27-12-1965, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 12 chỉ rõ:
“Tăng cường giáo dục chính trị, làm cho bộ đội nhận rõ nhiệm vụ và vinh dựchiến đấu bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam và giúp đỡ cách mạng Lào đểmọi người hăng hái và quyết tâm đi chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu ở bất cứnơi nào mà Tổ quốc cần đến” [45–223]
Trang 36Vào đầu những năm 60, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Tổng cụcChính trị chú trọng công tác giáo dục mục tiêu lý tưởng xã hội chủ nghĩa; xâydựng tinh thần sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống vàtinh thần sẵn sàng nhận, hoàn thành mọi nhiệm vụ cho cán bộ, chiến sĩ trongquân đội
Năm 1961, Tổng cục Chính trị trình Quân uỷ Trung ương kế hoạch côngtác 5 năm và kế hoạch công tác đảng, công tác chính trị năm 1961 Phươnghướng chung chỉ rõ: “Làm cho toàn quân quán triệt thêm một bước sâu sắc hơnNghị quyết Đại hội lần thứ ba của Đảng, Nghị quyết Trung ương lần thứ ba vàNghị quyết Quân uỷ Trung ương về nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ quân sự,trên cơ sở tiếp tục tăng cường hơn nữa vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đốivới quân đội, nâng cao hơn nữa trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho cán bộ,đảng viên và chiến sĩ, tập trung đi sâu vào khoa học quân sự, đẩy mạnh tốc độxây dựng quân đội về mọi mặt…, bảo đảm cho quân đội luôn luôn sẵn sàngchiến đấu”
Sau Đại hội Đảng lần thứ III (năm 1960), trong quân đội đã thực hiện tốtviệc quán triệt Nghị quyết của Đại hội Đảng, trong đó đặc biệt nhấn mạnh việcthấu triệt đường lối thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng dân tộc dânchủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc; và mốiquan hệ giữa hai nhiệm vụ đó Sau học tập Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ III,các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và sinh hoạt chính trịquán triệt nhiệm vụ trong giai đoạn mới Đồng thời ra sức tuyên truyền vềnhững thành quả xây dựng chủ nghĩa xã hội của các nước xã hội chủ nghĩa: Liên
Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu Kết quả là, cán bộ,chiến sĩ trong quân đội đã hiểu rõ về hai nhiệm vụ chiến lược, nâng cao trình độgiác ngộ xã hội chủ nghĩa Toàn quân phơi phới niềm tin vào tương lai tươi sángcủa chủ nghĩa xã hội Các đơn vị quân đội được cử tham gia xây dựng và pháttriển kinh tế trên miền Bắc đã quán triệt tinh thần xây dựng chủ nghĩa xã hộibằng những thành tích trong xây dựng các công trình thủy lợi, xây dựng cácnông trường ở vùng rừng núi Tây Bắc, vùng ven biển,…
Trang 37Đầu những năm 60, quân đội đã thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng quân độichính quy, phát triển lực lượng về quy mô và trang bị Trước những âm mưu,thủ đoạn của Mỹ, Diệm, trước yêu cầu của chiến trường miền Nam, thực hiệnchủ trương chiến lược của Đảng: hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhândân ở miền Nam và chức năng chiến đấu của quân đội, Quân ủy Trung ương, BộQuốc phòng và Tổng cục Chính trị chú trọng xây dựng tinh thần sẵn sàng chiếnđấu, chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống và tinh thần sẵn sàng nhận, hoànthành mọi nhiệm vụ cho cán bộ, chiến sĩ trong quân đội
Vào những năm 60, công tác giáo dục chính trị tư tưởng đã chú trọng nângcao tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, nâng cao ý chí chiến đấu, lòngcăm thù địch, phê phán tư tưởng ngại khó khăn gian khổ, hy sinh Cùng với việcquán triệt nghị quyết của Đảng là giáo dục lòng căm thù Mỹ, Diệm và giáo dụctinh thần quốc tế vô sản, tình đoàn kết chiến đấu với các nước anh em, nhất làcách mạng Lào, Campuchia
Thông qua sinh hoạt tư tưởng, cán bộ, chiến sĩ quân đội đã quán triệt nhiệm
vụ của cách mạng nước ta, không ngừng nâng cao giác ngộ dân tộc, giác ngộgiai cấp, ra sức học tập chính trị, quân sự, kỹ thuật đáp ứng yêu cầu tiến lênchính quy, hiện đại, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu bảo vệ công cuộc xây dựngchủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Kếtquả là, tinh thần sẵn sàng tăng cường cho miền Nam chiến đấu đánh Mỹ, ngụy
và sẵn sàng làm nhiệm vụ quốc tế trên đất nước Lào anh em được đẩy cao.Nhiều đoàn cán bộ quân đội đã lên đường tăng cường cho chiến trường miềnNam Đường mòn Hồ Chí Minh trên đất liền, trên biển đã hình thành, mở rộng,góp sức cho việc chi viện đắc lực cho chiến trường miền Nam Do chuẩn bị chuđáo về tư tưởng và tổ chức, nên ngày 2-8-1964, một đơn vị hải quân đã kiênquyết tấn công tàu chiến Mỹ, bắn cháy khu trục hạm Ma - đốc (thuộc hạm đội 7của Mỹ), đuổi chúng ra khỏi hải phận nước ta Ngày 5-8 -1964, khi Mỹ sử dụngkhông quân đánh phá miền Bắc, các lực lượng vũ trang không bị bất ngờ, bắnrơi ngay từ ngày đầu 8 máy bay Mỹ, bắt sống 1 giặc lái
Trang 38Trong xây dựng quân đội đã bám sát các vấn đề mấu chốt: quán triệt sựlãnh đạo tuyệt đối của Đảng; nắm vững đường lối giai cấp trong xây dựng quânđội, xây dựng đội ngũ cán bộ; công tác đảng, công tác chính trị được đề cao, đạtđược tính chất lãnh đạo, tính chất giai cấp và tính chất quần chúng, thực sự lànguồn sống, là sức mạnh của quân đội ta Kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng vàcông tác tổ chức, tập trung kiện toàn biên chế tổ chức, xây dựng đảng bộ quânđội vững mạnh và xây dựng đội ngũ cán bộ về số lượng, chất lượng đáp ứng yêucầu nhiệm vụ của quân đội, yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng Cuối năm 1964,trong quân đội mở rộng cuộc vận động xây dựng “chi bộ bốn tốt”, triển khaicuộc vận động “bảo vệ Đảng” theo chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Kếtquả là, đã nâng cao tính nguyên tắc trong xây dựng Đảng, phương pháp lãnh dạođược cải tiến, số đông các chi bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ Đảng bộ quân độithực sự là chỗ dựa vững chắc của Đảng và nhân dân trong xây dựng và bảo vệmiền Bắc, trong đấu tranh giải phóng miền Nam.
Các đơn vị quân đội được tham gia chiến đấu trên đất nước Lào đã nêucao tinh thần đoàn kết quốc tế, tình đoàn kết chiến đấu keo sơn giữa quân tìnhnguyện Việt Nam với bộ đội Pathét Lào, hoàn thành tốt các nhiệm vụ đượcgiao, được nhân dân các bộ tộc Lào yêu quý Đầu năm 1962, trên nước Lào,
bộ đội Pathét Lào phối hợp với quân tình nguyện Việt Nam mở chiến dịchNậm Thà thắng lợi Hội nghị Giơnevơ về Lào xác nhận việc thiết lập chínhquyền liên hiệp ba phái ở Lào trong đó có Pathét Lào Thành tích chiến đấutrên đất Lào đã một lần nữa minh chứng cho sự giác ngộ chính trị của cán bộ,chiến sĩ quân đội, biểu hiện của kết quả xây dựng quân đội về chính trị nhữngnăm đầu thập kỷ 60 thế kỷ XX
Tháng 1 năm 1961, Tổng Quân uỷ Trung ương ra chỉ thị thành lập Quângiải phóng miền Nam Việt Nam, một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam.Cuối năm 1961, lực lượng vũ trang miền Nam gồm ba thứ quân: bộ đội chủ lực,
bộ đội địa phương, dân quân tự vệ Bộ đội chủ lực thuộc các quân khu có 11 tiểuđoàn; bộ đội địa phương có 24.500 cán bộ, chiến sĩ Đến tháng 6 năm 1965, bộđội chủ lực ở miền Nam đã lên đến 13 vạn người, được tổ chức thành 12 trung
Trang 39đoàn và 12 tiểu đoàn bộ binh; bộ đội địa phương có 22 tiểu đoàn, 79 đại đội và
433 trung đội [52–265]
Đầu năm 1962, Tổng cục Chính trị gửi tờ trình lên Bộ Chính trị, Quân uỷTrung ương kế hoạch công tác cán bộ đối với miền Nam, xác định: “Trong xâydựng đội ngũ cán bộ cho miền Nam, cần nắm vững nguyên tắc: Lấy chính trịlàm gốc, lấy công nông làm nòng cốt” Hội nghị công tác chính trị và công tácđảng trong Quân Giải phóng miền Nam, họp từ 13 đến 16-10-1962 đã đánh giá:
“Trải qua những bước vấp váp lúc đầu nhưng được bồi dưỡng uốn nắn, công tácchính trị và công tác đảng dưới sự lãnh đạo của Đảng dần dần đi vào nền nếp Vìvậy, tuy trình độ lý luận không cao, nhận thức chưa đầy đủ, trong công tác thực
tế, về cơ bản chúng ta đi đúng phương hướng đường lối, chính sách của Đảng,nhờ đó quân đội ta tuy chưa thật vững mạnh, cũng đã thể hiện rõ là quân độikiểu mới của giai cấp công nhân và trong thời gian qua đã đóng góp được mộtphần quan trọng vào thành tích chung của cách mạng” Hội nghị nhấn mạnh,tiếp tục tăng cường giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, tăng cường công tác tổchức đảng và công tác cán bộ, coi trọng bảo vệ chính trị nội bộ, đẩy mạnh côngtác dân vận và binh vận
Như vậy, sau khi thành lập Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, cùng vớiquá trình phát triển lực lượng là quá trình củng cố hệ thống tổ chức đảng theo hệthống dọc, hình thành hệ thống cơ quan công tác đảng, công tác chính trị Kếtquả, trung đội bộ đội địa phương có chi bộ đảng, đại đội có chính trị viên [45–183] Đồng thời, hoạt động công tác đảng, công tác chính trị được chỉ đạo thốngnhất, hoạt động có nền nếp Trong đó, đặc biệt nổi lên là hoạt động của công tác
tư tưởng nhằm giáo dục tinh thần yêu nước, tinh thần chiến đấu, tinh thần NamBắc một nhà, ý thức về Quân giải phóng miền Nam là bộ phận của Quân độinhân dân Việt nam do do Đảng sáng lập và xây dựng, giáo dục và lãnh đạo,niềm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, tin tưởng vào thắng lợi củacuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Kết quả là, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũtrang miền Nam có sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, tư tưởng, có ý chíquyết tâm chiến đấu cao
Trang 40Giai đoạn 1961–1965, quân đội đã liên tục tiến hành công tác tư tưởng, làmcho bộ đội nắm vững, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, tạo sự thống nhất
ý chí và hành động, không mơ hồ mất cảnh giác; đồng thời chủ động, tích cực,kiên quyết đấu tranh với khuynh hướng tự do hoá tư sản, chống ảnh hưởng của
tư tưởng xét lại hiện đại, góp phần bảo vệ Đảng, quân đội, khắc phục triệt đểnhững nhận thức lệch lạc Sự lãnh đạo, chỉ đạo sắc bén của các cấp đã làm chotình hình tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ có chuyển biến về chất lượng, giác ngộ
xã hội chủ nghĩa có cơ sở lý luận và thực tiễn hơn Trong quân đội, tư tưởng vôsản giữ vai trò chủ đạo, bản chất cách mạng và truyền thống tốt đẹp của quânđội được giữ vững và phát huy cao hơn, cán bộ, chiến sĩ đều nhất trí và tin tưởng
ở đường lối, quan điểm của Trung ương Đảng với mọi vấn đề trong nước vàquốc tế; quân đội đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Bác Hồ, nhândân giao cho
Trong buổi chiêu đãi mừng quân đội ta tròn 20 tuổi (22-12-1964), Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã đánh giá: “Quân đội ta anh dũng trong kháng chiến mà cũnganh dũng trong hoà bình Đã làm tốt nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc, đập tan mọihành động khiêu khích, phá hoại của đế quốc Mỹ và tay sai;…đã góp phần tíchcực xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá, làm tròn trách nhiệm của quân độicách mạng Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hysinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội Nhiệm vụ nào cũng hoànthành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng Cán bộ vàchiến sĩ thương nhau như ruột thịt, chia ngọt sẻ bùi Quân với dân như cá vớinước, đoàn kết một lòng, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau Quân đội ta có tinh thần yêunước chân chính, lại có tinh thần quốc tế vô sản cao cả… Quân đội ta có sứcmạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng talãnh đạo và giáo dục”
Báo cáo của Tổng cục Chính trị trình Quân uỷ Trung ương tháng 10-1964
đã ghi rõ: “Nhờ nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, chấp hành tốtphương châm công tác tư tưởng và đường lối tổ chức của Đảng, nhờ khôngngừng phát huy bản chất truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam