Lịch sử phát triển xã hội loài ngư¬ời, từ khi xuất hiện giai cấp và nhà nước là lịch sử đấu tranh cho tự do, dân chủ. Dân chủ là khát vọng giải phóng từ bao đời nay của nhân dân lao động trong các cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột và nô dịch, xoá bỏ ách nô lệ để giành lấy quyền tự do, quyền làm chủ của con người trong xã hội. Dân chủ là giá trị văn hoá, là một trong những thước đo tiến bộ xã hội. Chính vì lẽ đó, ngay từ thời cổ đại, dân chủ đã được các nhà tư¬ tư¬ởng, các nhà cải cách chính trị đặc biệt quan tâm nghiên cứu. Bản chất của dân chủ đó là tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, quyền lực nhà nư¬ớc. Song trên thực tế, nhân dân sau khi đã trao quyền, uỷ quyền cho nhà nước, lại thường đứng trước nguy cơ bị mất quyền dân chủ do sự tha hoá quyền lực, sự lộng quyền, lạm quyền của những người nắm giữ quyền lực gây nên.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử phát triển xã hội loài người, từ khi xuất hiện giai cấp và nhànước là lịch sử đấu tranh cho tự do, dân chủ Dân chủ là khát vọng giải phóng từbao đời nay của nhân dân lao động trong các cuộc đấu tranh chống áp bức, bóclột và nô dịch, xoá bỏ ách nô lệ để giành lấy quyền tự do, quyền làm chủ củacon người trong xã hội Dân chủ là giá trị văn hoá, là một trong những thước đotiến bộ xã hội Chính vì lẽ đó, ngay từ thời cổ đại, dân chủ đã được các nhà tưtưởng, các nhà cải cách chính trị đặc biệt quan tâm nghiên cứu Bản chất của dânchủ - đó là tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể của quyềnlực chính trị, quyền lực nhà nước Song trên thực tế, nhân dân sau khi đã traoquyền, uỷ quyền cho nhà nước, lại thường đứng trước nguy cơ bị mất quyền dânchủ do sự tha hoá quyền lực, sự lộng quyền, lạm quyền của những người nắm
giữ quyền lực gây nên Quan liêu, tham nhũng, chuyên chế, độc tài là những mặt đối lập của dân chủ Đó là những phản dân chủ tệ hại nhất, là vật cản lớn
nhất của phát triển Do vậy, đấu tranh cho tự do, dân chủ là tất yếu, khách quan,
là động lực phát triển của xã hội loài người Sự vận động, phát triển của lịch sửnhân loại, sự chuyển đổi từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế -
xã hội khác cao hơn chính là những bước tiến của giá trị dân chủ
Xã hội càng phát triển, tiến bộ, dân chủ với tư cách là một hình thức thể chế nhà nước hay một giá trị xã hội phải ngày càng được hoàn thiện hơn, tức là
quyền làm chủ của nhân dân phải được đảm bảo, không dừng lại ở những lờituyên bố, mà phải được thể chế hóa thành hiến pháp và pháp luật, phải được bảođảm thực hiện trên thực tế ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Đó chính là yêucầu tất yếu đối với mọi quốc gia dân tộc nhằm phát triển và phát triển bền vững
Ngày nay, trong xu thế phát triển mạnh mẽ của xã hội đương đại, vớicách mạng KHCN, toàn cầu hoá, xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức, sự phát
Trang 2triển hay suy thoái của một quốc gia đều ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đối vớicác quốc gia khác Dân chủ gắn liền với nhu cầu công khai hoá, minh bạch hoácác vấn đề quốc tế, các quan hệ kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội giữa các nướctrong quá trình hội nhập, cạnh tranh và hợp tác càng trở nên cấp thiết, nhất là đốivới các nước thuộc nhóm nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Thực tiễn chính trị thế giới trong những thập niên qua đã đặt ra nhiều
vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa dân chủ và phát triển xã hội, đòi hỏi các
nhà nghiên cứu lý luận, các nhà hoạt động chính trị thực tiễn phải chuyên tâmnghiên cứu Phải chăng dân chủ càng cao, quyền làm chủ của nhân dân càngđược đảm bảo, xã hội càng phát triển và ngược lại? Đây là một vấn đề cần có sựluận giải xác đáng, bởi trên thực tế, có những quốc gia khi thực hiện dân chủhoá xã hội đã có những bước phát triển đáng kể như Việt Nam, Trung Quốc,song cũng có không ít các quốc gia khác lại trở nên trì trệ, kém phát triển nhưcác nước ở châu Phi, và thậm chí có một số quốc gia đã trở nên giàu có, pháttriển khi trải qua chế độ chuyên chế trong một giai đoạn lịch sử nhất định nhưSingapore, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Tất cả những vấn đề đó chứng tỏ, không phải nền dân chủ nào cũng đương nhiên thống nhất và tỉ lệ thuận với sự phát triển xã hội Dân chủ, nếu
không được thực hiện đúng với bản chất của nó, nếu không có những đảm bảokinh tế, pháp luật và đạo đức, nếu không có những cơ chế vận hành và kiểm soát
tốt để ngăn chặn những biến dạng lệch lạc có thể xảy ra, tất yếu sẽ dẫn đến phản phát triển; trái lại, dân chủ thực sự là mục tiêu và động lực của phát triển, một
khi nó xuất phát từ nhu cầu, từ đòi hỏi thực tiễn của xã hội Điều này có nghĩa
là, xã hội càng phát triển, nhu cầu làm chủ xã hội, làm chủ nhà nước, làm chủbản thân của mỗi con người ngày càng lớn; và các quyền dân chủ ấy cao haythấp, ít hay nhiều thực sự chỉ có thể được khẳng định và được bảo đảm trên cơ
sở những điều kiện phát triển kinh tế - xã hội nhất định
Vấn đề đặt ra hiện nay là, làm thế nào để xây dựng được một nền dânchủ bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân lao động? Đây là bài toán xã
Trang 3hội không đơn giản, cần có lời giải chính xác đối với mỗi quốc gia dân tộc trongquá trình thực hiện mục tiêu phát triển bền vững Đối với nước ta, nhất là trongthời kỳ đổi mới hiện nay, vấn đề dân chủ hoá xã hội, phát huy quyền làm chủcủa nhân dân, huy động mọi nguồn lực để phát triển xã hội là việc làm cần thiết
và cấp bách Để thực hiện được vấn đề này, đòi hỏi phải kết hợp đồng bộ nhiều
biện pháp nhằm đạt được hiệu quả thực chất Đó là không chỉ tạo lập các điềukiện cần thiết để nhân dân thực hiện quyền dân chủ như: Xây dựng và phát triểnnền KTTT định hướng XHCN; đổi mới và hoàn thiện HTCT theo hướng dânchủ - pháp quyền; xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dântộc…, mà còn phải chú trọng giáo dục ý thức dân chủ, trau dồi năng lực dân
chủ, trình độ làm chủ của nhân dân, thực hành dân chủ trong xã hội, trước hết là dân chủ trong Đảng, làm cho nhân dân hiểu rõ, hiểu đúng quyền làm chủ của
mình, từ đó khắc phục tình trạng dân chủ hình thức, tập trung quan liêu và thói
tự do vô chính phủ, bảo đảm cho dân chủ thực sự là mục tiêu và động lực của
công cuộc đổi mới xã hội - nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững ở nước
ta như Văn kiện Đại hội X của Đảng đã khẳng định
Với ý nghĩa đó, việc nghiên cứu vấn đề “Dân chủ và phát triển xã
hội ở nước ta hiện nay” trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ Chính trị học, là
việc làm có ý nghĩa thiết thực cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn trong thời kỳ đẩymạnh CNH, HĐH đưa nước ta trở thành nước công nghiệp phát triển
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Dân chủ và dân chủ hoá là một trong những vấn đề xã hội được rất
nhiều học giả từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây quan tâm nghiên cứu Tuỳ theotừng góc độ tiếp cận khác nhau, với mục tiêu và mức độ nghiên cứu khác nhau,
mà dân chủ được bàn đến từ nhiều khía cạnh, lát cắt khác nhau: Bản chất vànguồn gốc dân chủ, các thể chế, thiết chế dân chủ, các nguyên tắc và các giá trịdân chủ… Rất nhiều tác phẩm kinh điển, cũng như các lý thuyết, các dòng tưtưởng khác nhau của nhiều tác giả có tên tuổi của các thời đại đã đề cập đến
những vấn đề này: C.Mác, F.Ăngghen, V.I.Lênin bàn về dân chủ, tư tưởng Hồ
Trang 4Chí Minh về dân chủ, “thuyết dân chủ trong Đảng” của Đặng Tiểu Bình, tư tưởng về “chủ quyền tối thượng của nhân dân” của Jean Jacques Rousseau, hay
tư tưởng về “tự do cá nhân và xã hội” của John Stuart Mills…
Ở nước ta, trong 20 năm đổi mới, dân chủ, phát huy quyền làm chủcủa nhân dân đã thực sự trở thành một chủ đề quan trọng thu hút sự quan tâm,không chỉ đối với các nhà nghiên cứu lý luận, mà còn đối với các nhà hoạt độngchính trị thực tiễn Có thể tóm lược những thành tựu từ các công trình khoa học,các bài viết nghiên cứu về dân chủ ở những khía cạnh sau đây:
Một là, nhóm tác phẩm, bài viết, các công trình nghiên cứu khoa học
bàn về khái niệm, nguồn gốc và bản chất của dân chủ, về thể chế, thiết chế dânchủ và các giá trị dân chủ, về nguyên tắc và cơ chế thực hiện dân chủ như: Đề
tài khoa học cấp bộ “Mở rộng và phát huy dân chủ trong nội bộ Đảng Cộng sản, vấn đề và giải pháp” do PGS,TSKH Phan Xuân Sơn làm chủ nhiệm,
“Tổng quan về dân chủ và cơ chế thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, quan điểm, lý luận và phương pháp nghiên cứu” của GS,TS Hoàng Chí Bảo,
“Một cách tiếp cận khái niệm dân chủ” của Nguyễn Đăng Quang, “Dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa” của Thái Ninh và GS,TS Hoàng Chí Bảo,
“Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa - Xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân trong sạch vững mạnh” của nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười, “Một số suy nghĩ về xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay” của TS Đỗ Trung Hiếu,
“Dân chủ và tập trung dân chủ, lý luận và thực tiễn” của TS Nguyễn Tiến Phồn, “Thể chế dân chủ và phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay” do TS
Nguyễn Văn Sáu và GS Hồ Văn Thông làm chủ biên…
Hai là, nhóm tác phẩm, bài viết bàn về các tư tưởng dân chủ, về các hình thức, mô hình dân chủ như: Đề tài khoa học “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và sự vận dụng trong sự nghiệp đổi mới hiện nay” do TS Phạm Hồng Chương làm chủ nhiệm,“Quá trình hình thành tư tưởng về dân chủ vô sản của K Marx”, “Tư tưởng của Lênin về cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản vì dân chủ và chủ nghĩa xã hội” của PGS,TS Lê Minh Quân, “Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà
Trang 5nước của dân, do dân, vì dân” của TS Nguyễn Đình Lộc, “Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ” của Lê Văn Tuấn, “Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền làm chủ của nhân dân” của TS Nguyễn Thị Hiền Oanh, “Mô hình dân chủ đa số
và mô hình dân chủ đồng thuận” của Nguyễn Thị Lan vv…
Ba là, nhóm các tác phẩm và công trình nghiên cứu khoa học về Quy
chế dân chủ ở cơ sở, về dân chủ hoá và phát huy quyền làm chủ của nhân dântrong quá trình thực hiện đường lối đổi mới ở nước ta hiện nay như: Đề tài
khoa học “Vai trò của đoàn thể nhân dân trong việc bảo đảm dân chủ ở cơ sở hiện nay” do PGS,TSKH Phan Xuân Sơn làm chủ nhiệm, đề tài khoa học
“Bảo đảm và phát huy dân chủ trong chế độ một Đảng cầm quyền ở nước ta hiện nay” do PGS,TS Mạch Quang Thắng làm chủ nhiệm, “Thực hiện Quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay” do TS Nguyễn Văn Sáu và GS Hồ Văn Thông làm chủ biên, “Phát huy dân chủ ở xã, phường” của PGS,TS Vũ Văn Hiền, “Dân chủ và việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở” của PGS,TS Lương Gia Ban, “Hệ thống chính trị cấp cơ sở và dân chủ hoá đời sống xã hội nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta” của PGS,TS Nguyễn Quốc Phẩm, “Khâu đột phá của quá trình phát huy dân chủ ở nước ta trong thời kỳ mới” của Tòng Thị Phóng, “Bài học về dân chủ và dân chủ hoá ở Đông Âu và Liên Xô trong đổi mới” của Nguyễn Vi Khải, “Đảng và Nhà nước đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống tham ô lãng phí, phát huy dân chủ ở cơ sở trong thời kỳ mới”
vv… Nhìn chung, những công trình nghiên cứu này đã đề cập đến vai trò củadân chủ đối với sự phát triển xã hội, về sự cần thiết tất yếu, khách quan củaviệc đảm bảo thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong đờisống xã hội, về những thành tựu đạt được, những mặt hạn chế và những vấn đềđặt ra trong quá trình triển khai và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trongnhững năm qua Đặc biệt là, nhiều học giả đã thừa nhận rằng, vấn đề thực hiện
Quy chế dân chủ ở cơ sở là khâu đột phá của quá trình phát huy dân chủ ở
nước ta trong giai đoạn hiện nay - giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Trang 6Bên cạnh các học giả trong nước, nhiều học giả nước ngoài cũng rấtquan tâm đến vấn đề này Đặc biệt là, trong thời kỳ hiện nay - thời kỳ mà cùngvới sự khủng hoảng của CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là sự thànhcông, phát triển của các nước XHCN còn lại, với việc thực hiện đường lối đổimới, cải cách theo hướng dân chủ một cách đúng đắn và phù hợp Trong bốicảnh đó đã xuất hiện nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu khoa học bàn
về dân chủ, mô hình dân chủ, về khuynh hướng xã hội dân chủ, về quá trìnhthực hiện dân chủ cũng như những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn triểnkhai dân chủ cơ sở ở các nước, nhất là ở Trung Quốc… Có thể kể đến các công
trình khoa học như: “Dân chủ” của Gioóc-giơ Mác-se, “Toàn cầu hoá và dân chủ” của I.B.Levin, “Bàn về phát triển nền chính trị dân chủ và xây dựng văn minh chính trị xã hội chủ nghĩa” của Liễu Thành Diệm, “Thuyết dân chủ hoá trong Đảng nhìn từ góc độ phát triển chính trị” của Xiao Gongqin, “Then chốt
để xây dựng năng lực cầm quyền: Thúc đẩy toàn diện dân chủ xã hội chủ nghĩa từ góc độ văn minh chính trị” của Chú Tác Hàn, “Hãy để dân chủ trở thành một bộ phận trong đời sống nhân dân” của Lý Trữ Vọng, “Tác dụng của dân chủ nông thôn và tính hạn chế của nó” của Từ Dũng…
Phát triển và phát triển bền vững trong xã hội hiện đại là mối quan tâm
của mọi quốc gia dân tộc, nhất là đối với những quốc gia đã trải qua những thángnăm ròng rã chiến đấu hy sinh cho độc lập dân tộc, cho tự do, hạnh phúc của nhândân Vấn đề tìm kiếm, lựa chọn các mô hình, phương thức phát triển bền vững
đã trở thành mục tiêu của mỗi quốc gia Trên thực tế, đã có nhiều lý thuyết,nhiều công trình khoa học nghiên cứu về phát triển xã hội dưới nhiều góc độ,khía cạnh khác nhau (kinh tế học, văn hoá học, xã hội học…)
Ở cấp độ lý thuyết phải kể đến lý thuyết “tăng trưởng cân bằng” của Nurkse, lý thuyết “cú hích lớn” của Roseinstein Rodan…, song các lý thuyết
này chỉ nhấn mạnh đến yếu tố kinh tế và kỹ thuật của sự tăng trưởng, mà khôngchú ý đến nhân tố con người, không thấy được rằng, một xã hội phát triển phải
là một xã hội mà ở đó tất cả đều vì con người, cho con người, vì sự phát triển
Trang 7toàn diện và tự do của mỗi người Điều này có nghĩa là, sự phát triển bền vữngtrong xã hội hiện đại phải gắn liền với việc phát huy nhân tố con người, gắn liềnvới công bằng, dân chủ và tiến bộ xã hội, song trên thực tế, không ít các quốcgia được coi là những nước phát triển nhất lại là nơi có nhiều áp bức, bất công
và mất dân chủ nhất, hoặc là xã hội càng phát triển, KHCN càng đạt được nhiềuthành tựu, thì các giá trị nhân văn, các chuẩn mực đạo đức càng bị đảo lộn, môi
trường sinh thái càng bị suy thoái Đó chính là nghịch lý của sự phát triển Để
luận giải cho vấn đề này, nhiều công trình nghiên cứu khoa học, nhiều bài viếtcủa các học giả trong và ngoài nước đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau
của vấn đề phát triển Có thể kể đến các công trình sau đây: “Chủ nghĩa xã hội hiện thực, khủng hoảng, đổi mới và xu hướng phát triển” của GS,TS Hoàng Chí Bảo, “Triết lý phát triển ở Việt Nam, mấy vấn đề cốt yếu” do GS,TS Phạm Xuân Nam làm chủ biên, “Phát triển xã hội với tư cách là đối tượng của khoa học chính trị” của PGS,TSKH Phan Xuân Sơn, “Văn hoá với sự phát triển của
xã hội Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa” của Lê Quang Thêm, “Một
số vấn đề về dân tộc và phát triển” của PGS,TS Lê Ngọc Thắng, “Các lý thuyết phát triển và chính trị” của ThS Hồ Ngọc Minh, “Phát triển là quyền tự do” của Amartya Sen, “Phát triển - cái giá phải trả của chủ nghĩa tự do” của R.Bergeran, “Phát triển bền vững và xã hội thông tin: Xu thế, vấn đề, mâu thuẫn” của Levin A.I vv… Các tác phẩm này bàn về khái niệm phát triển và
phát triển bền vững, về những thành quả cũng như những khuyết tật trong các
mô hình phát triển, về các nhân tố ảnh hưởng, tác động đến các quá trình pháttriển của thế giới đương đại, và đặc biệt là, trong một chừng mực nhất định, cáctác giả cũng đề xuất những cách thức, con đường giải quyết các mâu thuẫn,nghịch lý, tạo động lực bảo đảm cho xã hội phát triển và phát triển bền vững
Dân chủ và phát triển xã hội có mối quan hệ với nhau Đó là mối quan
hệ biện chứng Song trên thực tế, còn rất ít tác phẩm, công trình khoa học đề cậpđến vấn đề này một cách lôgíc và hệ thống Có chăng chỉ là đề cập một cách đanxen, lồng ghép về vai trò, tác dụng của dân chủ đối với sự phát triển xã hội, hoặc
Trang 8là xem dân chủ là một trong những tiêu chí cơ bản của sự phát triển xã hội.
Chẳng hạn như, tác phẩm “Dân chủ, kinh tế thị trường và phát triển - từ góc nhìn châu Á” của Farrukh Iqbal và Jong-ll You, “Dân chủ và phát triển” của Philippe Marchesin, “Những thách thức của phương Nam” của Ban phương
Nam phong trào Không liên kết…
Như vậy, với khả năng tiếp cận tư liệu của bản thân, chúng tôi thấyrằng, ở Việt Nam chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về mối quan hệ
này một cách cơ bản, hệ thống, do đó, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa dân chủ và phát triển xã hội ở nước ta hiện nay là một hướng nghiên cứu mới, có ý
nghĩa cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn, mà bản luận văn này là một cố gắng banđầu của tác giả nhằm góp phần giải quyết vấn đề đã đặt ra
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa dân chủ
và phát triển trong điều kiện đổi mới kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay dựa
trên những cứ liệu thực tiễn 20 năm đổi mới (1986-2006)
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích:
Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa dân chủ và phát triển xã hộitrong 20 năm đổi mới ở nước ta, từ đó xác định phương hướng và một số giảipháp chủ yếu nhằm thúc đẩy quá trình dân chủ hoá và phát triển xã hội trongthời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, hội nhập quốc tế hiện nay
* Nhiệm vụ:
- Luận giải những cơ sở lý luận và thực tiễn về dân chủ, phát triển
và mối quan hệ giữa chúng
- Phân tích, đánh giá mối quan hệ giữa dân chủ và phát triển trong quátrình dân chủ hoá, xây dựng nền dân chủ XHCN và phát triển xã hội trong thời
kỳ đổi mới ở nước ta hiện nay
Trang 9- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩyquá trình dân chủ hoá và phát triển xã hội ở nước ta trong những năm sắp tới.
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về dânchủ và dân chủ hoá, về phát triển và phát triển xã hội
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngànhnhư phương pháp so sánh chính trị học, kết hợp lôgíc và lịch sử, phân tích vàtổng hợp vv…
6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa dân chủ và phát triển trongđiều kiện đổi mới ở Việt Nam
- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiệndân chủ và phát triển bền vững ở nước ta trong tiến trình CNH, HĐH và hộinhập quốc tế
7 Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể góp phần nâng cao nhận thức
xã hội về dân chủ, thúc đẩy quá trình dân chủ hoá đáp ứng yêu cầu phát triểnkinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việcnghiên cứu, giảng dạy, học tập những vấn đề liên quan đến dân chủ và phát triển
xã hội trong khoa học chính trị, trong thực tiễn quản lý xã hội và đổi mới hệthống chính trị
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo,luận văn được kết cấu thành 3 chương, 6 tiết
Trang 10Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ DÂN CHỦ VÀ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI
1.1 KHÁI NIỆM DÂN CHỦ VÀ PHÁT TRIỂN
1.1.1 Dân chủ - nguồn gốc, bản chất và khái niệm
1.1.1.1 Nguồn gốc của thuật ngữ “dân chủ”
Thuật ngữ “dân chủ” ra đời vào khoảng thế kỷ VII - VI TCN Theo
đánh giá của Aristotle (384 - 322 TCN), Solon (638 - 559 TCN) là người đầu tiênđặt nền tảng cho nguyên lý dân chủ Là một nhà hoạt động chính trị thực tiễn vớinhững tư tưởng cải cách tiến bộ, Solon mong muốn xây dựng một nhà nước dânchủ trên cơ sở tuyển cử và quản lý xã hội bằng pháp luật, bởi vì theo ông, đó làhai nhân tố cơ bản bảo đảm dân chủ, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân
Xét về mặt ngữ nghĩa, “dân chủ” là một từ ghép, xuất phát từ tiếng
Hy Lạp cổ - demoskratia, trong đó, demos là nhân dân, kratia là cai trị, là quyền lực, chính quyền Do vậy, theo nghĩa gốc, dân chủ là nhân dân cai trị hay dân chủ là tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể của quyền lực.
Như vậy, thuật ngữ “dân chủ” chỉ xuất hiện khi xã hội bắt đầu phân
hoá thành giai cấp và tổ chức thành nhà nước, khi có sự uỷ quyền của nhân dâncho nhà nước trong việc thực thi quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước, tức làkhi nhân dân là chủ thể của quyền lực và có quyền năng áp đặt ý chí của mìnhlên nhà nước Điều này chứng tỏ rằng, vấn đề dân chủ đã được các nhà tư tưởng,các nhà hoạt động chính trị thực tiễn đặt ra nghiên cứu ngay từ thời cổ đại - ngaysau khi hình thức nhà nước đầu tiên - nhà nước chiếm hữu nô lệ ra đời Đây làhình thái dân chủ chính trị trong các xã hội chính trị với sự xuất hiện của chế độ
tư hữu, giai cấp và nhà nước
Ở đây, nảy sinh hai vấn đề cần phải làm sáng tỏ, đó là:
Trang 11Một là, tại sao thuật ngữ “dân chủ” lại xuất hiện gắn liền với sự ra
đời, tồn tại và phát triển của nhà nước, trong khi ở xã hội cộng sản nguyên thuỷ,theo đánh giá của Morgan, đã có mặt hầu hết những giá trị dân chủ?
Một trong những lý do để luận giải vấn đề này là ở chỗ, nguyên nhânchủ yếu mà các nhà tư tưởng đặc biệt quan tâm nghiên cứu về vấn đề dân chủ,
với tư cách là một chế độ chính trị, là do trong xã hội đã xuất hiện tình trạng tha hoá quyền lực của giới cầm quyền Từ chỗ là những người tự do, những người
được hưởng sự bình đẳng, bác ái, được sống trong một tập thể thân ái, gắn bó,với những quyền cá nhân ngang nhau mà chế độ thị tộc mang lại, họ đã trởnhững người dân bị tước đoạt các quyền tự do, dân chủ, bị áp bức, bóc lột saukhi đã trao quyền, uỷ quyền cho nhà nước Những bất công phi nhân tính đó đãthúc giục họ tích cực đấu tranh cho dân chủ, giành quyền làm chủ và mongmuốn xây dựng một nhà nước dân chủ - một thể chế chính trị tiến bộ, mà ở đóquyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân Chính vì lẽ đó, cùng với sự ra đời,
tồn tại và phát triển của nhà nước, thuật ngữ “dân chủ” cũng xuất hiện và dân chủ
ở đây được xem xét, nghiên cứu như là một hình thái nhà nước
Hai là, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân hay nhân dân là chủ
thể của quyền lực Vậy, nhân dân là ai? Có phải tất cả quần chúng nhân dân laođộng đều là chủ thể của quyền lực trong tất cả các thời đại lịch sử không?
Các nhà tư tưởng chính trị trước Mác đều khẳng định rằng: dân chủ lànhân dân cai trị, là quyền lực thuộc về nhân dân Song ở đây, nhân dân khôngphải là số đông những người lao động - những người sản xuất ra của cải vậtchất, bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển xã hội, mà nhân dân chỉ là số ít tronggiới cầm quyền - những người nắm giữ quyền lực Trong xã hội chiếm hữu nô
lệ, nhân dân chính là giai cấp chủ nô, các nhà thông thái và các công dân tự dođược nhà nước công nhận, còn đa số nô lệ không được coi là con người, mà chỉ
là những “công cụ biết nói”, những thân phận nô lệ Trong xã hội phong kiến,
khi mà quyền lực thuộc về một người - đó là vua, nhân dân lao động cũng khôngđược xem là nhân dân, mà chỉ là thần dân, thảo dân, con đen, con đỏ, không có
Trang 12một chút quyền lực chính trị nào, nếu không muốn nói đó là những người đứngngoài chính trị, không được tham gia vào công việc chính trị, công việc nhànước Nhân dân - đó là vua và quân tử - những người thuộc giai cấp thống trị,những người nắm giữ quyền lực Như vậy, có thể kết luận rằng, quan điểm
“nhân dân” trong xã hội chiếm hữu nô lệ và phong kiến chỉ thuộc về giai cấp
thống trị, còn giai cấp bị trị - giai cấp chiếm số đông và cũng là lực lượng laođộng chủ yếu tạo ra của cải vật chất cho xã hội không được coi là nhân dân
Đến CNTB, sự ra đời của nền dân chủ tư sản đã đánh dấu một bước
tiến mới trong lịch sử đấu tranh cho dân chủ, xã hội thần dân đã chuyển thành
xã hội công dân, quyền con người, quyền công dân đã được pháp luật tư sản
thừa nhận và bảo đảm thực hiện phần nào trên thực tế Song về bản chất, đó chỉ
là một nền dân chủ hạn chế, nền dân chủ chỉ đảm bảo dân chủ đối với giai cấp tưsản cầm quyền, còn chuyên chế đối với các giai tầng khác, nhất là giai cấp côngnhân và nhân dân lao động Như vậy, trong xã hội tư bản, mặc dù người laođộng được coi là nhân dân, được pháp luật tư sản bảo đảm các quyền dân chủ -
quyền được hưởng “tự do, bình đẳng, bác ái”, nhưng phần lớn mới chỉ dừng lại
ở sự thừa nhận pháp lý Trên thực tế, mặc dù nhà nước tư sản đã điều chỉnh chứcnăng quản lý xã hội, bảo đảm phần nào lợi ích của người lao động, song xét đếncùng, các quyền dân chủ ấy chỉ được thực hiện ở một mức độ nhất định, thường
bị hạn chế và cắt xén
Cho đến khi CNXH hiện thực ra đời sau thắng lợi của Cách mạngTháng Mười Nga, 1917 và nước Nga Xô viết được thành lập, thì dân chủ, từ lýtưởng mới trở thành hiện thực Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, nhân dân laođộng, từ thân phận nô lệ, lầm than đã được giải phóng, họ trở thành chủ thể củaquyền lực Điều đó chứng tỏ rằng, chỉ có trong CNXH, người lao động mới thực
sự là nhân dân, thực sự là chủ thể của mọi quyền lực Dân chủ, với ý nghĩa đích
thực của nó là tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, chính là cơ sở, nền tảng, là nội dung hợp thành của phát triển và phát triển bền vững.
1.1.1.2 Bản chất của dân chủ
Trang 13Ngày nay, về cơ bản, thuật ngữ “dân chủ” vẫn còn giữ nguyên nghĩa,
song để hiểu bản chất của dân chủ, cần phải có cách tiếp cận đúng đắn về phạmtrù dân chủ Dân chủ là một phạm trù đa diện, với nội dung rất phong phú, đadạng và nhiều tầng nấc, thể hiện rõ bản chất sâu rộng của nó Do đó, khi nghiêncứu bản chất của dân chủ, cần phải hiểu dân chủ ở tất cả các khía cạnh sau đây:
bản chất Người của con người
Vấn đề đặt ra là, thực tiễn vận động của các nền dân chủ chính trịtrong lịch sử nhân loại dường như không tự động trùng hợp, trùng khít với bảnchất đích thực của dân chủ Vốn đã là con người, tất yếu phải được hưởng tự do,bình đẳng, mà trước hết là bình đẳng về cơ hội phát triển, nhưng trên thực tế, vẫncòn tồn tại sự bất bình đẳng, không chỉ là bất bình đẳng giữa các giai cấp, cácnhóm xã hội, mà còn là bất bình đẳng giữa các quốc gia dân tộc Vậy, con ngườicần phải làm gì để đạt được các giá trị tự do, dân chủ ấy?
Để lý giải cho vấn đề này, nhiều học thuyết tôn giáo, dân tuý, khaisáng… đã ra đời, nó đáp ứng phần nào khát vọng tự do, dân chủ của con người(cho dù chỉ ở lĩnh vực đời sống tinh thần là chủ yếu) Cho đến nay, chỉ có họcthuyết mà nền dân chủ chính trị đưa ra là hợp lý và được áp dụng rộng rãi trongđời sống xã hội, bởi vì tiền đề xuất phát của dân chủ chính trị chính là hiện thực
- đó là vấn đề trao quyền, uỷ quyền cho nhà nước nhằm mục đích bảo đảmquyền tự do, bình đẳng cho mọi công dân, trên cơ sở quyền lực nhà nước thực
sự thuộc về nhân dân, vận hành theo ý chí chung và phục vụ lợi ích của nhân
Trang 14dân Tất cả những vấn đề này chỉ có thể được bảo đảm trong một chế độ dân chủđích thực - một thể chế nhà nước tiến bộ, mà ở đó tất cả quyền lực thực sự thuộc
về nhân dân
Lịch sử nhân loại, từ khi xuất hiện giai cấp và nhà nước đến nay, đãtrải qua các chế độ dân chủ - dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản và dân chủ XHCN.Hiện nay, nhiều học giả nước ngoài đã phỏng đoán về những dấu hiệu đầu tiêncủa một nền dân chủ thông tin mang tính toàn cầu trong điều kiện bùng nổ toàncầu hoá và cuộc cách mạng khoa học công nghệ - thông tin [14, tr 12], song đâyvẫn là vấn đề còn nhiều tranh cãi
Như vậy, trong lịch sử nhân loại đã có một thời kỳ dài nhà nước tồntại trong sự thiếu vắng dân chủ, nếu không muốn nói là xa lạ và đối lập với dânchủ Đó là chế độ phong kiến phân quyền ở Tây Âu chuyên chế, hà khắc vớihàng trăm năm đêm trường Trung Cổ, từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ XIV và chế độphong kiến tập quyền ở châu Á kéo dài hàng ngàn năm Tuy nhiên, cũng phảithừa nhận rằng, trong chế độ phong kiến, nếu như ở một nơi, một lúc nào đó,con người đạt được những thành quả dân chủ nhất định, thì đó chính là kết quảđấu tranh của đông đảo quần chúng chống lại chính quyền, chống lại sự độcđoán, chuyên quyền của giai cấp phong kiến cầm quyền, hoặc là khi quốc giadân tộc phải đối mặt với những thách thức lịch sử, ảnh hưởng trực tiếp đến sựtồn vong của dân tộc (ví dụ như nạn ngoại xâm), đòi hỏi giai cấp phong kiến
phải đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, phải “thực hành dân chủ” để đáp ứng nhu
cầu giải phóng dân tộc Ở Việt Nam, Hội nghị Diên Hồng thời Trần thế kỷ XIII
là một ví dụ Điều này chứng tỏ, không phải lúc nào dân chủ cũng hiện diện trong mối quan hệ giữa nhân dân và nhà nước, không phải chế độ nhà nước nào cũng là một chế độ dân chủ đích thực Một nhà nước được gọi là dân chủ, tiến
bộ, song nếu tự nó không khắc phục được tệ quan liêu, tham nhũng, tự do vô
chính phủ, rơi vào tình trạng tha hoá như đã thường xảy ra ở mọi chế độ nhà
nước, thì đến một lúc nào đó nhà nước ấy (kể cả nhà nước XHCN) cũng trở nênmất dân chủ, phản dân chủ Do vậy, đấu tranh cho dân chủ, giành quyền làm chủ
Trang 15cho nhân dân là điều tất yếu, khách quan, là quy luật phát triển nội tại của cácchế độ xã hội theo chiều tiến hoá, từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoànthiện hơn, nhằm xây dựng chế độ dân chủ thực sự - một sự thống nhất, phù hợp,trùng hợp giữa chế độ nhà nước với chế độ dân chủ
Một chế độ dân chủ thực sự là nền dân chủ như thế nào? Khi xem xétdân chủ là một chế độ nhà nước, chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra rằng, dân chủ
là quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể quyền lực và chi phối quyềnlực; không có dân chủ chung chung, dân chủ phải gắn với một chế độ xã hộinhất định, do đó, dân chủ, đặc biệt là dân chủ chính trị luôn mang tính giai cấp
Bản chất giai cấp của dân chủ là do bản chất giai cấp của nhà nước quy định.
Điều đó có nghĩa là, mức độ dân chủ hay mức độ thực thi quyền lực của nhândân là cao hay thấp, ít hay nhiều sẽ tuỳ thuộc phần lớn vào cách thức tổ chức,vận hành nhà nước của giai cấp cầm quyền và việc thực hiện hai chức năng cơbản - chức năng chính trị và chức năng xã hội của nhà nước đó Nói một cáchkhác, mối quan hệ giữa nhân dân và nhà nước có dân chủ hay không, nhân dân
có thực hiện được các quyền dân chủ hay không là phụ thuộc vào hai tiêu chí:
một là, mức độ tham gia của các công dân vào công việc nhà nước và xã hội; hai là, khả năng phối hợp giữa nhà nước và công dân để tạo nên sự đồng thuận
[41, tr.9] Đây cũng là hai tiêu chí cơ bản để đảm bảo dân chủ trong thực tế, bảođảm vai trò động lực của dân chủ đối với sự phát triển xã hội Chế độ nhà nướcnào thiết lập được phương thức hoạt động bảo đảm cho nhân dân tham gia kiểmtra, kiểm soát quyền lực, thì tất yếu sẽ tạo lập được sự đồng thuận xã hội, tạo lậpđược cơ sở, nền tảng để phát huy quyền làm chủ của người dân, thúc đẩy xã hội
phát triển theo hướng tiến bộ Có như vậy, dân chủ mới thực sự trở thành mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội.
Lênin đã từng nhắc nhở những người cộng sản rằng:
Không phải chỉ tuyền truyền về dân chủ, tuyên bố và ra sắc lệnh về dânchủ là đủ, không phải chỉ giao trách nhiệm thực hiện chế độ dân chủ cho “nhữngngười đại diện” nhân dân trong những cơ quan đại biểu là đủ Cần phải xây dựng
Trang 16ngay chế độ dân chủ, bắt đầu từ cơ sở, dựa vào ý kiến của bản thân quần chúng,với sự tham gia thực sự của quần chúng vào tất cả đời sống của nhà nước, không
có “sự giám sát” từ trên, không có quan lại [16, tr.366-367]
Đồng thời, để xây dựng nền dân chủ mới - một nền dân chủ của đại đa
số quần chúng nhân dân với những cơ chế bảo đảm cho nhân dân thực hiện vàphát huy quyền làm chủ của mình trong việc tham gia vào công việc nhà nước
và xã hội, Lênin đặc biệt quan tâm đến vấn đề dân chủ trong bầu cử Ông khẳngđịnh: “Dân chủ là sự thống trị của đa số Chỉ có thể gọi cuộc bầu cử là dân chủkhi nào nó là phổ thông, trực tiếp và bình đẳng Chỉ có những uỷ ban nào dotoàn dân bầu ra trên cơ sở quyền phổ thông đầu phiếu mới là những uỷ ban dânchủ” [16, tr.66]
Cụ thể hơn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:
Nước ta là một nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân
Sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của dân
Chính quyền từ xã đến chính phủ đều do dân cử ra
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên
Nói tóm lại quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân [23, tr.698].
Như vậy, nền dân chủ chính trị ưu việt và thực chất từ trước đến naychính là nền dân chủ XHCN - một thể chế chính trị dân chủ tạo lập được cơ chếbảo đảm quyền làm chủ thực sự của người dân, bảo đảm được ý nghĩa đích thực
của khái niệm dân chủ - “dân là chủ, dân làm chủ”, đúng như Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã khẳng định
Tuy nhiên, đó là nguyên tắc và lý tưởng, trong thực tiễn vẫn còn nhiềuvấn đề đòi hỏi phải có sự lý giải xác đáng để từ đó có những bước đi thích hợp,đáp ứng yêu cầu phát triển của thời đại Với gần 600 năm tồn tại và phát triển,nền dân chủ tư sản, tuy còn nhiều hạn chế, nhưng vẫn có những giá trị nhất định.Chính những giá trị tiến bộ đó đã hình thành nên ý thức dân chủ, tập quán dân
Trang 17chủ cho mọi công dân, nhất là ở các nước tư bản phát triển hiện nay Trong khi
đó, nền dân chủ XHCN, tuy bản chất ưu việt, tiến bộ, song chưa có nhiều thờigian trải nghiệm trong thực tiễn và vẫn còn đang trong quá trình xây dựng, chưathực sự trưởng thành Ở Việt Nam, việc xây dựng nền dân chủ XHCN trong bốicảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay là nhiệm vụ quan trọng, cókhông ít những khó khăn, thách thức đối với Đảng, Nhà nước và toàn dân ta
Xuất phát từ một nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, lại khôngtrải qua nền dân chủ tư sản, chưa được thừa hưởng các giá trị dân chủ tư sản,
tư tưởng tiểu nông còn ăn sâu trong tư duy, ý thức, tâm lý, lối sống và tập quáncủa mỗi con người, nên đã có một thời kỳ dài chúng ta đã không quan tâmđúng mức đến vấn đề dân chủ, vi phạm nghiêm trọng các quyền dân chủ, làmmất lòng tin của dân đối với Đảng, làm cho kinh tế - xã hội trở nên trì trệ, kémphát triển, thậm chí lâm vào khủng hoảng Từ khi thực hiện đường lối đổi mớiđến nay, với ý thức nhìn thẳng vào sự thật và quyết tâm sửa chữa sai lầm, Đảng
ta đặc biệt coi trọng việc xây dựng chế độ dân chủ Dân chủ thực sự là mụctiêu và động lực của công cuộc đổi mới, là cơ sở, nền tảng của sự phát triển vàphát triển bền vững Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, nền dân chủ mà chúng tađang xây dựng là nền dân chủ mới đang vận động trong điều kiện KTTT địnhhướng XHCN, trong bối cảnh mở cửa, hội nhập , nên tất yếu sẽ xuất hiệnnhững yếu tố mới, mà tư duy truyền thống về dân chủ trước đây có nhiều điểmkhông còn phù hợp nữa Do vậy, vấn đề đặt ra đối với các cấp, các ngành vàmọi công dân là phải có một tư duy mới, nhận thức mới về dân chủ, phải tạolập được ý thức và tập quán dân chủ, làm cho dân chủ trở thành một nhu cầu
thiết yếu trong đời sống hàng ngày của mỗi người dân, phải “phát triển dân chủ đến triệt để” đúng như chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định.
Dân chủ chính trị là một phạm trù lịch sử, nó xuất hiện, tồn tại và phát
triển cùng với sự ra đời, vận động và thay thế nhau của các chế độ nhà nước.Khi nhà nước tiêu vong, dân chủ chính trị gắn với nhà nước cũng sẽ không còntồn tại như Lênin đã từng nói, còn dân chủ với tư cách là một giá trị xã hội gắn
Trang 18với bình đẳng, công bằng, với tự do, sáng tạo và quyền làm chủ chân chính củacon người sẽ mãi mãi tồn tại và phát triển Đó là thước đo của giải phóng và tiến
bộ xã hội mà toàn nhân loại hướng đến
Thứ hai, dân chủ là một giá trị xã hội.
Đây là mặt bản chất thứ hai của phạm trù dân chủ Trước đây, xuất phát
từ sự luận giải của Lênin về sự tiêu vong của nhà nước, nên đã có lúc dường như
có quan niệm cho rằng, phải chăng khi nhà nước tiêu vong thì dân chủ sẽ trở nênthừa và không cần thiết? phải chăng dân chủ chỉ là một hiện tượng tạm thời, chỉtồn tại trong các xã hội có giai cấp và nhà nước? Quan niệm này là đúng hay sai
và nên hiểu như thế nào?
Dân chủ là một phạm trù đa diện, nhiều tầng bản chất Do đó, dân chủkhông thể chỉ dừng lại ở cách tiếp cận thể chế nhà nước, với tư cách là mộtphạm trù lịch sử Dân chủ còn là vấn đề liên quan đến sự tồn tại và phát triểncủa cá nhân lẫn cộng đồng, nó không chỉ hiện diện trong đời sống chính trị, màcòn có mặt trong tất cả các lĩnh vực khác như kinh tế, văn hoá, xã hội , tức làtrong đời sống hiện thực của xã hội Chính vì thế, trong lịch sử nhân loại, ngay
cả khi xã hội chưa có giai cấp và nhà nước (thời kỳ cuối cộng sản nguyên thuỷ)
đã có các yếu tố dân chủ như là những mầm mống phôi thai Ăngghen, trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”, đã trích
dẫn lời của Morgan khi viết về chế độ thị tộc:
Toàn thể các thành viên của thị tộc đều là những người tự do, có nghĩa
vụ bảo vệ tự do cho nhau, họ đều có những quyền cá nhân ngang nhau - cả tùtrưởng lẫn thủ lĩnh quân sự đều không đòi hỏi những đặc quyền, ưu tiên nào cả;
họ kết thành một tập thể thân ái, gắn bó với nhau bởi những quan hệ dòng máu
Tự do, bình đẳng, bác ái, tuy chưa bao giờ được nêu thành công thức, nhưng vẫn
là những nguyên tắc cơ bản của thị tộc [20, tr.130]
Có thể gọi những yếu tố dân chủ sơ khai đó là dân chủ tiền chính trị.
Đó là một hình thức dân chủ độc đáo - dân chủ không gắn với nhà nước, không
Trang 19gắn với các chuẩn mực chính trị, mà chỉ dựa trên các chuẩn mực tự do, côngbằng và bình đẳng trong cộng đồng xã hội Khi nghiên cứu phạm trù dân chủ,
cần phải phân biệt dân chủ chính trị, mà đặc trưng của nó là nhà nước và dân chủ xã hội, mang hình thức tự quản, ở bên ngoài các thiết chế quyền lực chính
trị với đặc trưng là quan hệ cộng đồng, hợp tác và đồng thuận Dân chủ khôngchỉ là một thể chế nhà nước, mà còn là giá trị xã hội - một thành quả của nền văn
minh nhân loại Với ý nghĩa đó, chúng ta có thể kết luận rằng, dân chủ xuất hiện
từ trước khi có nhà nước và ngay cả khi nhà nước tiêu vong, dân chủ vẫn tồn tại với tư cách là khát vọng giải phóng ngày càng đầy đủ, ngày càng mạnh mẽ của con người và xã hội loài người, hướng tới tự do, bình đẳng, công bằng và tiến
bộ, đúng như lời dự báo của C.Mác: Khi nhà nước không còn, xã hội sẽ phát triển đến trình độ tự quản và thay thế cho nhà nước, đó là “thể liên hiệp của cộng đồng những con người tự do” Dự báo này của Mác về xã hội tương lai là
cực kỳ sâu sắc
Với tư cách là một giá trị xã hội, dân chủ là một nhu cầu bức thiết củađời sống con người; là thước đo mức độ giải phóng con người và xã hội loàingười thoát khỏi những áp bức, bất công, bất bình đẳng; là lý tưởng sống vì conngười, phụng sự con người, phù hợp với quy luật khách quan, phù hợp với lẽphải và phù hợp với khát vọng của toàn nhân loại
Dân chủ là một học thuyết tiến bộ chứa đựng các giá trị chân, thiện,
mỹ và các giá trị phổ biến khác như: quyền tự do cá nhân, quyền bình đẳng về
cơ hội phát triển của mỗi cá nhân trong xã hội, và sự thống nhất trong tính đa dạng của các cá nhân trong cộng đồng, giữa các cộng đồng với nhau trong một
quốc gia dân tộc, hay giữa các quốc gia, các nền văn hoá, văn minh trên toàn thế
giới Dân chủ còn là thước đo của tiến bộ xã hội, là điều kiện hình thành và hoàn thiện nhân cách con người Đó chính là những thuộc tính tự nhiên vốn có
và phổ biến của dân chủ để con người biểu hiện và khẳng định sức mạnh bảnchất của mình trong đời sống hiện thực
Trang 20Một là, khi bàn về quyền tự do cá nhân, các nhà tư tưởng đều gắn liền
dân chủ với tự do Họ cho rằng, khi điều chỉnh các mối quan hệ hay điều khiểncác công việc chung trong xã hội, con người luôn phải đối mặt với tình huống làlàm thế nào để cân bằng hai khuynh hướng căn bản trong mỗi con người, đó làkhuynh hướng tự khẳng định ý chí của mình một cách chủ động (khuynh hướng
tự do cá nhân) và khuynh hướng liên kết, hợp tác với những người xung quanhbằng cách tuân thủ những chuẩn mực mà xã hội thừa nhận (khuynh hướng xãhội) Để dung hoà hai khuynh hướng này, đòi hỏi mỗi người phải hy sinh một phầnquyền tự do cá nhân của mình vào việc nâng cao phúc lợi xã hội và nền an ninhcông cộng, để từ đó họ có thể được hưởng những quyền tự do cao hơn
Lý giải cho vấn đề này, các nhà tư tưởng lập luận rằng, do nhu cầu, sởthích và địa vị xã hội khác nhau, mà mỗi cá thể có quan niệm về tự do không giốngnhau, cho nên tự do cho người này có thể cản trở, triệt tiêu tự do của người khác Vìvậy, cần phải có một tất yếu xã hội tồn tại dưới hình thức nhà nước, pháp luật, cácchuẩn mực đạo đức vv… để điều chỉnh, hoà giải các mâu thuẫn, khắc phục nhữngxung đột, va chạm, tạo nên sự hoà hợp và đồng thuận trong xã hội Điều này cónghĩa là, để bảo đảm tự do cá nhân trong cuộc sống cộng đồng, đòi hỏi mỗi ngườidân, sau khi đã trao quyền, uỷ quyền cho nhà nước, phải xây dựng cho được một thểchế chính trị dân chủ - một thể chế nhà nước mà ở đó, mỗi người dân (công dân)được phép hành động tự do những gì mà pháp luật không cấm, còn nhà nước chỉ
được làm những gì pháp luật cho phép Có như vậy, sự tự do cho một người mới là điều kiện tự do cho tất cả mọi người và chỉ có dân chủ chính trị mới là nhân tố cơ bản bảo đảm cho quyền tự do cá nhân được thực thi trong cuộc sống Lênin đã từng
nhấn mạnh: “Dân chủ là tự do, là bình đẳng, là quyết định của đa số; còn có gì caohơn tự do, bình đẳng, quyết định của đa số nữa” [18, tr.414]
Hai là, khi lý giải về quyền bình đẳng về cơ hội phát triển của mỗi cá
nhân trong xã hội, các nhà tư tưởng chính trị đều thừa nhận đó là yếu tố tất yếutrong đời sống xã hội Họ quan niệm rằng, các quyền tự nhiên - quyền đượcsống, quyền được mưu sinh, mưu cầu hạnh phúc… của mọi cá thể là như nhau,
Trang 21tức là mỗi người đều có cơ hội ngang nhau về mặt pháp lý để phát triển mọi khảnăng, năng lực của mình Sự bình đẳng về cơ hội phát triển, xét về bản chất,không thủ tiêu sự khác biệt giữa các cá nhân hay giữa các cộng đồng, dân tộc;trái lại, với sự tồn tại của nó, một người, một dân tộc muốn được hưởng tự do,bình đẳng, cần phải thừa nhận tự do, bình đẳng của người khác cũng như củacác dân tộc khác
Để minh hoạ cho vấn đề này, Kant nhấn mạnh, bình đẳng không cónghĩa là bình đẳng về tài năng, mà bình đẳng về cơ hội để phát triển tài năng, do
đó, cần phải loại bỏ mọi đặc quyền giai cấp, tông tộc, chủng tộc… trong đời
sống xã hội Các nhà khai sáng Pháp lại lý giải sự bình đẳng thông qua “luật tự nhiên” Họ cho rằng: “Trước khi người ta làm ra luật thì đã có những quan hệ về
sự công bằng tất yếu rồi” [29, tr.38], và sự công bằng tất yếu đó có thể đượchiểu là: Đã là con người, thì ai cũng quan tâm đến an ninh thân thể, đến nhu cầumưu sinh và tình hữu ái đồng loại, đến nguyện vọng sống thành xã hội để chia
sẻ tri thức vv… [14, tr.22] Đó chính là các quyền tự nhiên mà mọi người đều
được bình đẳng như nhau Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945 khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đã nhấn
mạnh: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng
có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” [22, tr.1] Như vậy, bình đẳng là yếu tố không thể thiếu của dân chủ, đấu tranh cho quyền bình đẳng về
cơ hội phát triển giữa các quốc gia dân tộc, giữa các cộng đồng hay giữa các
cá nhân chính là cuộc đấu tranh cho dân chủ, giành quyền dân chủ
Ba là, đặc trưng thứ ba của giá trị dân chủ là sự thống nhất trong tính
đa dạng Nhờ sự thống nhất ý chí, mà các cá nhân khác biệt có thể hợp thành xãhội và tạo lập quyền lực công cộng - điều kiện căn bản để tự do cá nhân đượcbảo tồn, tôn trọng và phát triển Chỉ có trong xã hội dân chủ, sự khác biệt, đadạng về lối sống, sắc tộc, luật tục địa phương… mới được chấp nhận và được bảo
vệ bởi pháp luật Điều này chứng tỏ rằng, với sự thống nhất trong tính đa dạng, các
Trang 22quyền tự do cá nhân, quyền bình đẳng về cơ hội phát triển của các cá nhân, các dântộc sẽ được thực sự bảo đảm trong chế độ dân chủ.
Bốn là, dân chủ là điều kiện và tiêu chuẩn của tiến bộ xã hội, là con
đường dẫn đến sự phát triển Lịch sử nhân loại đã chỉ ra rằng, dân chủ là mộttrong những nội dung hợp thành của tiến bộ xã hội, là động lực thúc đẩy pháttriển xã hội Do đó, dân chủ có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự tiến bộ xãhội, nó quyết định trực tiếp đến tính chất, mức độ, tốc độ của tiến bộ xã hội Vaitrò to lớn đó được thể hiện ở hai khía cạnh sau đây:
- Mỗi bước phát triển của tiến bộ xã hội sẽ đánh dấu một trình độ mới,một bước tiến mới của dân chủ Dân chủ, với tư cách là một nội dung hợp thànhkhông thể thiếu của tiến bộ xã hội, sẽ vừa là kết quả được tạo ra bởi tiến bộ xãhội, vừa là tiêu chuẩn, điều kiện để xác định, đánh giá về tiến bộ xã hội Lịch sửphát triển của xã hội loài người đã trải qua các thời đại khác nhau và đã đạt đượcnhững thành quả vô cùng to lớn về mọi phương diện, xét đến cùng, đó là thànhquả của dân chủ Dân chủ có mặt trong những tinh hoa văn hoá nhân loại, trongnhững thành tựu của các nền văn minh, cho nên dân chủ là thước đo của tiến bộ,của phát triển, của văn minh
- Tiến bộ xã hội là một nhu cầu tự nhiên, một xu hướng tất yếu của
vận động xã hội Có vô số các nhân tố giữ vai trò “động lực” đối với tiến bộ xã
hội, trong đó, dân chủ là một động lực đặc biệt, bảo đảm thúc đẩy xã hội pháttriển một cách nhanh chóng, bền vững theo xu hướng tiến bộ Với ý nghĩa đó,dân chủ chính là con đường dẫn đến sự phát triển và tiến bộ xã hội - một sự pháttriển bền vững của con người, do con người và cho con người, tất cả vì sự giảiphóng triệt để con người, bảo đảm quyền làm chủ của con người trong quá trìnhchinh phục tự nhiên và cải tạo xã hội
Năm là, dân chủ là điều kiện thực hiện và phát triển nhân cách con
người Không có dân chủ thực chất, đúng nghĩa, thì không có nhân cách trungthực, sáng tạo Chỉ khi nào sống và làm việc trong một môi trường dân chủ thực
sự, trong một thể chế dân chủ chân chính, con người mới có thể bộc lộ được
Trang 23chính mình, mới có thể tự do phát biểu ý kiến, tự do sáng tạo, tự do tham giathảo luận, quyết định những vấn đề chung của tập thể và có thể bảo đảm cácquyền tự do, dân chủ, quyền bình đẳng về cơ hội phát triển của mỗi cá nhântrong tập thể, cộng đồng và xã hội Thông qua quá trình đó, với tư cách là chủthể của mọi hành động, con người hình thành và không ngừng hoàn thiện nhâncách Nếu một nền dân chủ chính trị chỉ mang tính hình thức - dân chủ giả tạo,dân chủ trên danh nghĩa, thì những con người sống trong môi trường ấy sẽ trởthành những người không trung thực, luồn lách, lắt léo, đánh mất chính kiến,không dám nói sự thật, không dám đấu tranh cho lẽ phải, công bằng vv… Chínhmôi trường phi dân chủ đó đã kìm hãm sự sáng tạo vốn có của con người, ảnhhưởng tiêu cực đến quá trình hoàn thiện nhân cách, thậm chí là làm méo mó, thui
chột nhân cách con người Hiện tượng đó gọi là sự “phân thân” với những giả
nhân cách, còn trong chính trị, đó là sự dung dưỡng thói cơ hội, tùy thời và chủ
nghĩa cơ hội Do vậy, dân chủ, với ý nghĩa đích thực của nó, chính là môi trường thuận lợi để con người hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách - một nhân cách in đậm tính nhân văn, nhân đạo cao cả.
Từ góc nhìn giá trị xã hội, dân chủ là phạm trù vĩnh viễn, gắn liền với
sự ra đời, tồn tại và phát triển của con người và cộng đồng loài người Lịch sửphát triển của xã hội loài người chính là lịch sử đấu tranh cho dân chủ, cho tự
do, bình đẳng, công bằng và tiến bộ nhằm mục đích cuối cùng là giải phóng conngười và phát triển toàn diện các năng lực, sức mạnh bản chất của con người, là
sự hoàn thiện nhân tính
Ngoài ra, dân chủ còn là phương thức tổ chức xã hội hiện đại, lànguyên tắc tổ chức và hoạt động chủ yếu của các tổ chức chính trị, chính trị - xãhội… Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, nguyên tắc dân chủ và tập trung dân chủ,
nếu chỉ bao hàm ý nghĩa thiểu số phục tùng đa số, sẽ có những mặt trái của nó,
đó là khi đa số chỉ là đa số trung bình, thậm chí yếu kém, lạc hậu Lúc đó,
“những nguyên tắc dân chủ lại mở đường cho những kẻ mị dân, cơ hội, kém vănhóa, những kẻ đục nước béo cò… thoán đoạt chính quyền” [42, tr 20] Hơn nữa,
Trang 24trong thực tế không phải lúc nào và ở đâu, đa số cũng đồng nhất với chân lý Cókhông ít trường hợp, chân lý lại thuộc về thiểu số Điều này thường thấy tronghoạt động nghiên cứu khoa học Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫnđến trì trệ, bảo thủ, cản trở sự phát triển và tiến bộ xã hội Do vậy, với tư cách làphương thức tổ chức xã hội hiện đại, nguyên tắc dân chủ phải chứa đựng nội
hàm “thiểu số phục tùng quyết định của đa số, đa số tôn trọng và bảo vệ thiểu số” Trong nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng Cộng sản còn nói rõ: Thiểu
số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, nhưng thiểu số được quyền bảolưu ý kiến trong khi vẫn chấp hành quyết định của tổ chức Khi thực tiễn đãchứng tỏ có những quyết định của đa số là không đúng, thì phải kịp thời sửachữa, điều chỉnh và không bao giờ được định kiến, thành kiến với những người
có ý kiến khác
Từ sự phân tích trên, có thể kết luận rằng, để hiểu rõ bản chất sâurộng, đa diện của phạm trù dân chủ có thể tiếp cận từ hai hướng cơ bản sau đây:
+ Dân chủ như một kiểu quan hệ xã hội, một giá trị xã hội gắn với tự
do, bình đẳng, công bằng và tiến bộ xã hội
+ Dân chủ với tư cách là một thể chế, một thiết chế gắn với quyền lực
và những phương tiện, điều kiện để thực thi quyền lực nhà nước như luật pháp,chính sách, cơ chế, nhà tù, công nghệ thông tin, đội ngũ cán bộ công chức, cácphương tiện bạo lực để cưỡng chế khi cần thiết
Tóm lại, phạm trù dân chủ là một phạm trù đa nghĩa, nhiều cấp độ, là một phạm trù mang bản chất “kép” [40, tr.46]: Dân chủ vừa là một phạm trù lịch sử, vừa là một phạm trù vĩnh viễn Là phạm trù lịch sử, dân chủ gắn với chính trị, giai cấp và nhà nước Là phạm trù vĩnh viễn, dân chủ gắn với nhân tính, với khát vọng tự do, sáng tạo của con người Phạm trù lịch sử của dân chủ được biểu hiện ra là chế độ dân chủ, nền dân chủ; còn khi là phạm trù vĩnh viễn, dân chủ được biểu hiện ra là những giá trị nhân văn, văn hoá, là thước đo của tiến bộ xã hội, là mức độ giải phóng con người và xã hội loài người.
Trang 251.1.1.3 Quan niệm về dân chủ
Dân chủ là một trong những vấn đề rất quan trọng trong đời sống xãhội Tuỳ thuộc vào quan điểm giai cấp, dân tộc, tôn giáo, tập quán văn hóa vàtruyền thống chính trị, cho đến nay vẫn còn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau vềdân chủ Tựu trung lại, có thể khái quát một số cách nhìn nhận về dân chủ nhưsau:
1 Nhân dân được coi là nguồn gốc và chủ thể của quyền lực nhànước
2 Các cơ quan quyền lực phải được nhân dân bầu hoặc bãi miễnthông qua bầu cử tự do, bình đẳng và bỏ phiếu kín (có thể trực tiếp hoặc giántiếp)
3 Các thể chế chính trị và nhà nước phải hợp hiến, hợp pháp, quản lý
xã hội bằng luật với sự ngự trị tối cao của pháp luật
4 Không tập trung, hoặc tuyệt đối hóa quyền lực vào bất kỳ một chủ thểquyền lực nào, thực hiện nguyên tắc phân quyền, tản quyền
5 Nhà nước thực thi quyền lực một cách công cộng và công khai
6 Nhà nước phải phối hợp hoạt động với xã hội công dân, tạo điềukiện cho công dân tham gia rộng rãi vào quyết định công việc của nhà nước,giám sát, phê bình hoạt động của nhà nước
7 Nhân dân dễ dàng tiếp cận các phương tiện thông tin đại chúng
8 Thiểu số phải phục tùng quyết định của đa số và đa số tôn trọng,bảo vệ thiểu số [43, tr.30-31]
Tuy nhiên, khi đề cập đến vấn đề dân chủ, cần phải lưu ý thêm nhữngkhía cạnh cơ bản sau đây:
Một là, thực chất của dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, nên chế độ dân chủ là chế độ uỷ quyền Vấn đề đặt ra ở đây là, phải phân biệt hai
chủ thể - chủ thể uỷ quyền và chủ thể tiếp nhận quyền Chủ thể uỷ quyền là
nhân dân, nhân dân là chủ thể gốc của quyền lực Nhà nước là chủ thể tiếp nhận quyền lực của nhân dân, nên quyền lực nhà nước phải là hiện thân của
Trang 26quyền lực nhân dân, phải được thực thi một cách đúng đắn, không bị tha hoá.
Muốn vậy, nhân dân sau khi trao quyền, uỷ quyền cho nhà nước, phải tạo lậpđược những điều kiện, những khả năng để kiểm soát quyền lực, tức là phải xâydựng một thể chế chính trị dân chủ, mà ở đó, nhà nước trong khi thực thi quyềnlực của nhân dân, đồng thời phải chịu sự kiểm soát của nhân dân thông qua cácthiết chế quyền lực ngoài nhà nước của nhân dân như Mặt trận, các tổ chứcchính trị - xã hội, các nhóm lợi ích Có như vậy, quyền lực nhà nước mới thực
sự thuộc về nhân dân
Hai là, nói đến dân chủ là nói đến mối quan hệ giữa quyền và nghĩa
vụ, giữa lợi ích và trách nhiệm Các mặt này gắn bó chặt chẽ với nhau, không
thể tách rời Nếu tuyệt đối hóa mặt này mà xem nhẹ mặt kia, thì đó là sự phá hoại dân chủ, không còn là dân chủ đích thực Sự thiếu vắng trách nhiệm,
không chú trọng nghĩa vụ, bổn phận chính là những phản dân chủ rất tệ hại,
là nguyên nhân dẫn sự đình đốn, trì trệ, kìm hãm sự phát triển xã hội
Ba là, dân chủ còn là mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa
công dân và nhà nước được chi phối bởi pháp luật và đạo đức Dân chủ đượcthể hịên trong mọi hoạt động của con người và được đo lường thông qua thái
độ, hành vi của mỗi người Do vậy, mức độ dân chủ của một chế độ xã hội tuỳ
thuộc vào thái độ ứng xử dân chủ, trình độ văn hoá dân chủ của các công dân trong xã hội đó, đặc biệt là văn hoá ứng xử dân chủ dựa trên tinh thần trọng dân, trọng pháp của đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý trong các mối quan hệ đối
với nhân dân Điều này chứng tỏ, dân chủ và pháp luật có mối quan hệ đặc biệt
với nhau - dân chủ đồng thời là pháp luật, pháp luật chính là giới hạn của dân chủ, là hành lang vận động của dân chủ Vì vậy, ở nước ta trong thời kỳ đổi
mới, vấn đề dân chủ hoá các lĩnh vực của đời sống xã hội cũng là quá trìnhpháp chế hoá nhằm bảo đảm trật tự, kỷ luật, kỷ cương xã hội Đấu tranh phòngchống tệ quan liêu, tham nhũng, thói tự do vô chính phủ, dân chủ hình thức, viphạm dân chủ, lộng quyền, lạm quyền là những yêu cầu tất yếu của việc xây
Trang 27dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN trên cơ sở xem pháp luật là tối thượng, bảođảm sự tự do, công bằng, bình đẳng của mọi công dân.
Bốn là, về phương diện cá nhân, nói đến dân chủ là nói đến một phức
hợp từ ý thức đến năng lực thực hành dân chủ, từ nhu cầu dân chủ đến sự hình
thành thói quen, lối sống, nề nếp ứng xử dân chủ Tất cả những vấn đề đó là tập quán pháp chi phối mọi hành vi của cá nhân con người Về phương diện xã hội,
nhất là trong các tổ chức chính trị và quyền lực chính trị, dân chủ phải được biểuhiện ở nhiều yếu tố, đó là: sự gương mẫu thực hành dân chủ, tôn trọng dân chủcủa chủ thể lãnh đạo chính trị; bầu không khí tâm lý, đạo đức, văn hoá để dânchủ hình thành và phát triển; sự hình thành đồng bộ các thể chế luật pháp; trình
độ học vấn và văn hoá của cộng đồng; những điều kiện có tính hiện thực về kinh
tế, sản xuất, mức sống của dân cư Do đó, để dân chủ hoá, pháp chế hoá đời
sống xã hội, một nguyên lý có tính phổ quát là phải chăm lo dân sinh, nâng cao dân trí, bảo đảm dân quyền để thực hiện và phát huy dân chủ Đó chính là quy
luật hình thành dân chủ
Năm là, trong quá trình xây dựng và phát triển dân chủ, một vấn đề
thường trực được đặt ra đối với tất cả các cấp, các ngành, các địa phương, đơn
vị cũng như từng công dân là tích cực phát hiện và đấu tranh chống lại một
cách có hiệu quả những phản dân chủ như chuyên chế, độc quyền, quan liêu, tham nhũng trên cơ sở thực hành dân chủ rộng rãi, bảo đảm quyền làm chủ
thực sự thuộc về nhân dân, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳngđịnh: “Thực hành dân chủ là chìa khoá vạn năng để giải quyết mọi khó khăn”[27, tr 249]
Trên cơ sở những chiều cạnh và các cách tiếp cận cơ bản về dân chủ,
có thể hiểu nội dung của khái niệm dân chủ như sau:
Dân chủ là một giá trị văn hoá - xã hội của nhân loại chứa đựng các yếu tố chân, thiện, mỹ, tự do, bình đẳng, công bằng và tiến bộ; là một hình thái
nhà nước mà ở đó “dân là chủ”, “dân làm chủ”, tất cả quyền lực thuộc về
nhân dân; là phương thức tổ chức xã hội hiện đại - một phương thức tốt nhất
Trang 28để giải quyết các vấn đề của cộng đồng người theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số, đa số tôn trọng và bảo vệ thiểu số.
1.1.2 Phát triển xã hội - cách tiếp cận, khái niệm và tiêu chí đánh giá
1.1.2.1 Những cách tiếp cận khác nhau về phát triển xã hội
Là một phạm trù đa diện và phức tạp, với những tiêu chí phản ánhphong phú, đa dạng, nên việc đưa ra định nghĩa phổ quát cho khái niệm pháttriển xã hội vẫn còn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi Tuy nhiên, phát triển xãhội có thể được hiểu ở nhiều khía cạnh khác nhau tuỳ thuộc vào sự nhận thức vàgóc độ tiếp cận của từng chủ thể
Theo nghĩa chung nhất, phát triển là một quá trình biến đổi từ chấtlượng cũ sang chất lượng mới, từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ kémhoàn thiện đến hoàn thiện hơn Khái niệm này chỉ ra rằng, phát triển không phải
là quá trình chuyển hoá đơn thuần về lượng, mà nó đòi hỏi có sự biến đổi về chất Do đó, chỉ khi nào có sự thay đổi về chất mới được gọi là sự phát triển.
Đây là sự phát triển nhảy vọt, là sự biến đổi cách mạng, trong đó bao hàm nhữngbước tiến hóa, tiệm tiến Nguyên lý về sự phát triển của chủ nghĩa Mác cho
rằng: Lịch sử xã hội loài người là lịch sử phát triển của các hình thái kinh tế
-xã hội từ thấp đến cao.
Các học giả khác cho rằng, sự thịnh vượng của một quốc gia dân tộcphụ thuộc vào sự giàu có tài nguyên thiên nhiên của quốc gia ấy như đất đai màu
mỡ, tài nguyên, khoáng sản phong phú… Sự lý giải này, trước đây - trong thời
kỳ văn minh nông nghiêp và cả văn minh công nghiệp đều được coi là điều hiểnnhiên, không phải bàn cãi Nhưng trong thời đại hiện nay, khi mà cuộc cáchmạng KHCN phát triển mạnh mẽ như vũ bão, quan niệm đó khó có thể đứngvững Trên thực tế, không thiếu những quốc gia khan hiếm tài nguyên mà vẫnthuộc nhóm nước phát triển, và ngược lại, có những quốc gia có nguồn tàinguyên thiên nhiên phong phú, có những bộ tộc đang làm chủ những vùng đất
Trang 29phì nhiêu, nhưng vẫn là những nước, những khu vực nghèo nàn, lạc hậu, thậmchí là kém phát triển.
Những người theo thuyết địa lý, nhân chủng học lại nhấn mạnh yếu tốđịa lý, chủng tộc Họ cho rằng, một quốc gia phát triển là nhờ vào vị trí địa lý vàchủng tộc những người da trắng thông thái của quốc gia đó Song ngày nay, tất cảmọi châu lục đều có những quốc gia phát triển Sự phồn vinh, thịnh vượng, pháttriển không chỉ có ở người da trắng, mà còn có ở những người da màu, không chỉ ởphương Tây, mà còn cả phương Đông, không chỉ ở Bắc bán cầu, mà còn cả Nambán cầu Do đó, yếu tố địa lý và nhân chủng không phải là cái quyết định, mà chỉ
là nhân tố tác động đến sự phát triển của các quốc gia dân tộc
Các nhà kinh tế học cho rằng, một xã hội phát triển trước hết phải có
sự phát triển trong kinh tế Sự phát triển kinh tế trước hết được đánh giá bởi sựtiến bộ của công cụ lao động - đó là sự phát minh, sáng chế và thường xuyên cảitiến công cụ sản xuất nhằm mục đích tăng năng suất lao động, tăng sản phẩm xãhội và thay đổi cơ cấu nền kinh tế, trên cơ sở đó tạo điều kiện để ngày càng phânphối công bằng hơn các phúc lợi xã hội Chỉ khi nào bảo đảm đầy đủ các yếu tốnày mới được gọi là một xã hội phát triển Quan niệm này chỉ xem xét sự pháttriển xã hội dưới góc độ kinh tế, đồng nhất phát triển xã hội với tăng trưởng kinh
tế, mà không thấy rằng, cùng với các tiêu chí khác, tăng trưởng kinh tế chỉ lànhân tố cơ bản, trọng tâm của phát triển xã hội
Các nhà xã hội học lại xem xã hội là một chỉnh thể thống nhất baogồm nhiều nhóm xã hội khác nhau, và sự thay đổi vai trò, vị trí của các nhóm xãhội đó theo một tỉ lệ nhất định, phù hợp với yêu cầu thực tiễn, khách quan chính
là sự phát triển xã hội Các nhà xã hội học tư sản đã đưa ra quan niệm về sự pháttriển như sau: Về vấn đề giai cấp, phát triển là sự tăng dần giai cấp tư sản, tiểu
tư sản, giảm dần giai cấp nông dân và địa chủ phong kiến, tăng dần tầng lớptrung lưu, co hẹp dần tầng lớp giàu và nghèo Về lao động, đó là sự tăng lên về tỉ
lệ dịch vụ và giảm tối thiểu tỉ lệ nông nghiệp, công nghiệp Về giáo dục, chútrọng và tăng cường giáo dục - đào tạo bậc cao như đại học, sau đại học và tạo
Trang 30điều kiện phát triển khoa học, trí tuệ Về giới, phát triển là tăng cường vai tròcủa nữ giới trên mọi lĩnh vực… Xét về thực chất, đây chính là quan niệm về cơcấu xã hội, xem xét sự phát triển dưới góc độ thay đổi cơ cấu xã hội
Một quan niệm khác dưới góc độ xã hội học cho rằng sự phát triển là
sự tương ứng giữa hao phí nguồn lực và phúc lợi nhận được Khía cạnh này, vềbản chất, chính là quan niệm về công bằng xã hội, đồng nhất sự phát triển vớicông bằng xã hội - một trong những tiêu chí cơ bản của phát triển xã hội
Như vậy, xét đến cùng, những quan niệm nêu trên cùng với những yếu
tố được đề cập trong đó đều có sự tác động, ảnh hưởng nhất định đối với sự pháttriển xã hội, quy định tốc độ, chiều hướng của sự phát triển, song vẫn còn phiếndiện, hạn hẹp, chưa phản ánh đầy đủ bản chất của sự phát triển Để có một cáchnhìn nhận thoả đáng, một cách lý giải đầy đủ về phát triển xã hội, có thể và cầnphải nghiên cứu cách tiếp cận của chính trị học mácxít về sự phát triển
1.1.2.2 Cách tiếp cận chính trị học mácxít về phát triển xã hội
Những nhà chính trị học mácxít quan niệm rằng, xã hội loài người làmột bộ phận của thế giới vật chất được tách ra từ thế giới ấy trong những điềukiện đặc biệt Đó là nấc thang phát triển cao nhất của hệ thống hữu cơ, hữu sinh,tức là sự sống Từ khi xuất hiện đến nay, lịch sử vận động, biến đổi của nhânloại chẳng qua chỉ là kết quả hoạt động sống của con người đang theo đuổinhững mục đích nhất định Theo ý nghĩa đó, mặc dù lịch sử phát triển của xã hộiloài người là một quá trình lịch sử - tự nhiên, nhưng nó lại được thực hiện thôngqua hoạt động sống của con người, do đó, quá trình phát triển xã hội chủ yếuphụ thuộc vào con người, vào việc tổ chức hoạt động người trong đời sống sảnxuất xã hội Nói một cách khác, sự phát triển xã hội cao hay thấp, nhanh hay
chậm, ít hay nhiều phụ thuộc phần lớn vào việc giải quyết mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội sao cho tất cả vì con người, vì sự phát triển toàn
diện bản chất người
Với ý nghĩa đó, theo cách tiếp cận chính trị học mácxít, con người vừa
là chủ thể, vừa là mục tiêu của sự phát triển xã hội Với tư cách là chủ thể chính
Trang 31trị vươn tới tự do, con người có sứ mệnh quyền lực là tác động vào tự nhiên và
xã hội nhằm cải tạo nó theo những mục tiêu đã xác định
Một là, đối với tự nhiên, con người luôn có xu hướng chinh phục tự
nhiên thông qua việc tổ chức các hoạt động sản xuất xã hội nhằm thoát khỏi tìnhtrạng trói buộc của những điều kiện sản xuất thấp kém, thoát khỏi sự nghèo đói,bệnh tật, thoát khỏi sự lệ thuộc vào tự nhiên Chính trong quá trình lao động đó,con người phải thường xuyên tìm kiếm các phương thức, cách thức sản xuất, các
mô hình kinh tế phù hợp để tự giải phóng, từng bước làm chủ tự nhiên, buộc tựnhiên phục vụ cuộc sống của mình Ngày nay, việc xây dựng mô hình KTTTchính là khuynh hướng phát triển kinh tế chủ đạo của thế giới và cũng là điềukiện cần thiết cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia
Hai là, đối với xã hội, kể từ khi xã hội phân hoá thành giai cấp và nhà
nước, để giải phóng con người và xã hội loài người thoát khỏi mọi chế độ ápbức, bất công - áp bức giai cấp, áp bức dân tộc, vươn lên làm chủ vận mệnh củamình, bản thân con người phải tự tìm kiếm, lựa chọn và xây dựng các kiểu tổchức đời sống xã hội, mà đỉnh cao là hình thức nhà nước sao cho bảo đảm trênthực tế các quyền tự do, dân chủ, các điều kiện phát triển con người Hiện nay,
mô hình nhà nước có hiệu quả mà các quốc gia quan tâm xây dựng chính làNNPQ và cơ sở tồn tại, phát triển của nó là XHCD Đây là hai điều kiện cơ bảnbảo đảm quyền làm chủ của con người về lĩnh vực chính trị - xã hội, đồng thờicũng là hai nhân tố chủ yếu quyết định trực tiếp đến sự phát triển xã hội
Với sự lý giải trên đây, chúng ta có thể thống nhất với định nghĩa màBan phương Nam của tổ chức Liên hiệp quốc đã đưa ra:
Phát triển là một quá trình cho phép con người phát triển nhân cáchcủa mình, tự trị ở chính mình là quá trình giải phóng các cư dân khỏi sự lo sợ
về nhu cầu, về sự bóc lột và sự đẩy lùi sự áp bức về chính trị, kinh tế, xã hội
Sự phát triển của một dân tộc phải dựa trên những nguồn lực của chính nó…Phát triển phải là một cố gắng của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Sựphát triển thực sự lấy con người làm trọng tâm [4, tr.26]
Trang 32Định nghĩa này chứng tỏ, phát triển là một quá trình mà trong đó, xã hội, nhà nước, công dân tạo ra các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội
để bảo đảm cho con người (với tư cách là công dân trong quan hệ với nhà nước, là cá nhân trong quan hệ với cộng đồng) - trung tâm của sự phát triển - ngày càng được tự do hơn trong việc làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội vì những nhu cầu, lợi ích chính đáng của họ.
Như vậy, vươn tới tự do chính là điểm hướng đích của sự phát triển
mà xã hội loài người nói chung, mỗi quốc gia dân tộc nói riêng đều phải hướngtới Sự tự do đó không chỉ được thể hiện trong đời sống vật chất, mà còn hiệndiện sâu rộng trong đời sống văn hoá tinh thần Trong thời đại ngày nay, một xãhội phát triển bền vững - bảo đảm quyền tự do thực sự cho con người phải là xãhội có một nền chính trị dân chủ đích thực, một sự ổn định chính trị bền vững,một nền kinh tế tăng trưởng gắn liền với công bằng xã hội, một nền văn hoá pháttriển theo hướng nhân văn, tiến bộ, đủ sức giao lưu, hội nhập quốc tế và conngười ngày càng hoàn thiện nhân cách, phát triển toàn diện Nói cách khác, một
xã hội phát triển là một xã hội hội đủ ít nhất 5 yếu tố cơ bản: tăng trưởng, ổn định, công bằng, dân chủ, nhân văn Đó chính là những mục tiêu phát triển bền
vững mà các quốc gia, dân tộc hiện nay đang hướng đến
Với ý nghĩa đó, chúng ta có thể thừa nhận quan điểm về phát triển xãhội mà B.Gali - nguyên Tổng thư ký của Liên hiệp quốc đã nêu ra trong bài
“Một chương trình nghị sự cho thiên niên kỷ mới” năm 1995:
Phát triển là một quá trình hướng việc thiết lập một nền dân chủ ổn địnhcho phép không ngừng nâng cao điều kiện sống (vật chất và tinh thần) cho quầnchúng nhân dân theo một cách thức mang tính nhân văn và công bằng Nói cáchkhác, phát triển là một quá trình tiến hoá đồng bộ của năm thành tố cơ bản: tăngtrưởng kinh tế, ổn định, công bằng, dân chủ và quyền con người [28, tr.29]
Khái niệm phát triển xã hội trên đây của Liên hiệp quốc đã chứa đựng
những tiêu chí của sự phát triển bền vững - đó là “sự phát triển thoả mãn được
nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng thoả mãn nhu
Trang 33cầu của các thế hệ tương lai” [3, tr.17] Sự phát triển đó không chỉ đơn thuầnbao hàm sự tăng trưởng kinh tế, mà còn bao hàm cả tính công bằng xã hội vàkhả năng bảo vệ, tái tạo môi trường nhằm thoả mãn những nhu cầu cơ bản của
con người, phát triển toàn diện nhân tố con người Như vậy, khái niệm phát triển bền vững không được dùng để chỉ bất cứ sự phát triển nào, mà chỉ được sử
dụng để thể hiện sự phát triển của các chế độ xã hội, các quốc gia dân tộc, trong
quá trình phát triển của mình, đã bảo đảm được sự kết hợp hài hoà các chỉ số bền vững trên cả ba phương diện: kinh tế, xã hội và môi trường, tức là đã tìm
kiếm và lựa chọn được cách thức, con đường và mô hình phát triển, mà ở đó cócác điều kiện đảm bảo cho kinh tế tăng trưởng lành mạnh, xã hội công bằng,bình đẳng và môi trường sinh thái được bảo vệ
Trong đời sống xã hội được tổ chức thành nhà nước, vấn đề đạt đượcnhững mục tiêu phát triển bền vững cho dân tộc chính là trách nhiệm to lớn củachế độ chính trị, trước hết là HTCT mà trung tâm là nhà nước Điều này cónghĩa là, cùng với các nhân tố khác, HTCT nói chung, nhà nước nói riêng có vai
trò then chốt trong việc định hướng quá trình phát triển của quốc gia dân tộc
thông qua việc đưa ra, lựa chọn các mục tiêu, mô hình, giải pháp, các trật tựpháp lý và các chính sách phù hợp để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, đồngthời cũng quy định nhịp độ, bước đi cho cả dân tộc trong việc chủ động hướngtới các mục tiêu đã xác định Hệ thống chính trị ấy, nền chính trị ấy được gọi là
chính trị của sự phát triển.
Chính trị của sự phát triển là chính trị của sự tập hợp sức mạnh của
đa số, hoạt động vì lợi ích của đa số; là chính trị biết dựa vào dân, xem dân là lực lượng quyết định và mục đích tối hậu của sự phát triển; là chính trị của sự phát triển lực lượng sản xuất, lấy việc tăng năng suất lao động làm thước đo nền tảng cho sự phát triển xã hội; là chính trị biết khai thác, phát huy sức mạnh văn hoá dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại; là chính trị của việc giải phóng con người, lấy con người làm trung tâm, làm mục đích của sự phát triển; là chính trị tạo được một nhà nước mạnh, cùng với các chính sách có hiệu lực và
Trang 34hiệu quả Nói tóm lại, đó là nền chính trị dân chủ của dân, do dân, vì dân, tất cả
quyền lực thực sự thuộc về nhân dân - một nền chính trị nhân văn, nhân đạo vìcon người, do con người và cho con người
Đây là những nguyên tắc có tính chất phương pháp luận, là những giátrị cơ bản, phổ biến được đúc rút từ việc nghiên cứu chính trị và phát triển xã hộitheo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng: Ởđâu, ở bất cứ lúc nào có một nền chính trị hợp lòng dân, một nền chính trị thực
sự của dân, do dân, vì dân, thì ở đó, lúc đó xã hội sẽ ổn định, phồn vinh, thịnhvượng; và ngược lại, một nền chính trị độc tài, quân phiệt, phát xít, quan liêu…sớm muộn gì cũng làm cho xã hội rơi vào tình trạng trì trệ, đình đốn, kém pháttriển Do đó, việc xây dựng một HTCT dân chủ, một thể chế nhà nước hiệu lực,hiệu quả với tất cả quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là nhân tố cơ bản, thenchốt để đảm bảo sự phát triển bền vững đối với mọi quốc gia dân tộc hiện nay.Thể chế nhà nước đó là NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân dựa trên nền tảngxây dựng và phát triển nền KTTT và XHCD Đó cũng là ba nội dung cơ bản củaphát triển xã hội trong xã hội hiện đại
1.1.2.3 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển xã hội
Xuất phát từ tính đa diện và phức tạp của phạm trù phát triển, thước
đo của sự phát triển xã hội phải là những tiêu chí phản ánh đầy đủ sự phong phú,
đa dạng của tất cả các mặt, các lĩnh vực hợp thành đời sống xã hội Tuỳ vàotừng góc độ tiếp cận khác nhau, người ta có thể đưa ra các tiêu chí đánh giá sựphát triển khác nhau
Để đo lường mức độ phát triển của một chế độ xã hội cũng như củamột quốc gia dân tộc, các nhà kinh tế học nhấn mạnh các yếu tố - tăng trưởngkinh tế, phát triển LLSX, trước hết là việc phát minh và cải tiến công cụ laođộng thông qua các cuộc cách mạng KHCN; các nhà xã hội học lại chú trọngđến công bằng xã hội và thay đổi cơ cấu xã hội một cách hợp lý, đúng với đòihỏi của thực tiễn khách quan; còn các nhà địa lý học và nhân chủng học thì coitrọng vị trí địa lý và yếu tố chủng tộc của từng quốc gia dân tộc…
Trang 35Tất cả các tiêu chí phản ánh sự phát triển xã hội trên đây, xét ở mộtgóc độ nhất định, là tương đối hợp lý đối với từng giai đoạn lịch sử cụ thể, từnglĩnh vực cụ thể Song xét trong một chỉnh thể thống nhất, nó chưa phản ánh đầy
đủ các tiêu chí đánh giá sự phát triển bền vững của xã hội hiện đại Trên thực tế,
có những quốc gia có nền kinh tế tăng trưởng cao, có thu nhập bình quân đầungười cao, nhưng chỉ số phát triển con người (HDI) không cao, công bằng xãhội không được bảo đảm; hoặc là có những quốc gia vì mục đích phát triển kinh
tế mà bất chấp vấn đề môi trường, gây nguy hại cho môi trường Tất cả nhữngvấn đề đó đã và đang tiềm ẩn các nhân tố bất ổn định, gây bất lợi cho sự pháttriển bền vững của nhân loại Vậy, các tiêu chí đánh giá sự phát triển - phát triểnbền vững của một chế độ xã hội, một quốc gia dân tộc là gì?
Như trên chúng tôi đã trình bày, một xã hội, một quốc gia dân tộc
được gọi là phát triển bền vững phải hội đủ ít nhất 5 nhân tố - tăng trưởng, ổn định, công bằng, dân chủ và nhân văn Đó chính là mục tiêu và động lực của sự
phát triển, đồng thời cũng là thước đo, là tiêu chí đánh giá mức độ, nhịp độ, tốc
độ phát triển của xã hội nói chung, của từng quốc gia dân tộc nói riêng Thựctiễn đã chứng minh rằng, quốc gia nào đạt được sự hợp nhất của các yếu tố: tăngtrưởng kinh tế, ổn định chính trị, công bằng xã hội, dân chủ và nhân văn thật sựđúng nghĩa của nó, thì sẽ có khả năng phát triển một cách bền vững Như vậy,
có thể xem các nhân tố tăng trưởng, ổn định, công bằng, dân chủ và nhân văn là
những tiêu chí đánh giá chung nhất về sự phát triển và phát triển bền vững trong
xã hội hiện đại
Chính trị học, với tư cách là một môn khoa học chuyên ngành, đánhgiá sự phát triển và phát triển bền vững dựa vào hai tiêu chí cơ bản sau đây:
Một là, mức độ tham gia của công dân vào công việc của nhà nước và
xã hội Bất cứ một chế độ xã hội nào, một thể chế nhà nước nào muốn tồn tại và
phát triển bền vững, cần phải bảo đảm và tạo lập trên thực tế các điều kiện đểnhân dân thực sự làm chủ Trong các thể chế nhà nước đã từng tồn tại và pháttriển, kể từ khi xã hội phân hóa thành giai cấp đến nay, chỉ có nhà nước XHCN
Trang 36là một nhà nước kiểu mới, khác hẳn về chất so với tất cả các nhà nước trước đó.Theo V.I Lênin, đó là nhà nước “nửa nhà nước”, nhà nước không còn nguyênnghĩa theo đúng nghĩa đen của từ này, nhà nước của đa số nhân dân lao động,bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân Vớichế độ nhà nước đó, toàn bộ các quyền của nhân dân trong việc làm chủ nhànước, làm chủ xã hội đều được thể chế hoá thành hiến pháp, pháp luật và đượchiện thực hoá trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Đây chính là những điềukiện cơ bản quy định trực tiếp mức độ tham gia của công dân vào quản lý nhànước và quản lý xã hội Song để đảm bảo sự tham gia đó một cách có hiệu quả,
cần phải thường xuyên nâng cao trình độ dân trí, trước hết là trình độ văn hoá dân chủ, khả năng thực hành dân chủ và ý thức pháp luật để người dân nhận
thức và thực hiện đúng đắn vai trò chủ thể chính trị của mình Nhà nước nào tạolập được trên thực tế các yếu tố này mới thực sự trở thành một trong những nhân
tố cơ bản, quyết định trực tiếp đến sự phát triển bền vững của xã hội Nhà nước
đó, xét về bản chất, chính là NNPQ XHCN - một nhà nước thực sự của dân, dodân, vì dân, một nhà nước đặt con người ở vị trí trung tâm, vừa là mục tiêu, vừa
là động lực của sự phát triển
Hai là, khả năng phối hợp giữa nhà nước và công dân của một quốc gia dân tộc trong việc tìm ra con đường, cách thức, mô hình phát triển tối ưu
cho dân tộc mình, và từ đó xây dựng một môi trường chính trị lành mạnh để
hiện thực hoá mô hình đó Đây chính là tiêu chí về sự đồng thuận xã hội Để đạt
được sự đồng thuận cao trong xã hội, đòi hỏi HTCT nói chung, nhà nước nóiriêng phải không ngừng tự đổi mới, tự hoàn thiện theo hướng dân chủ, nhân văn
Sự chuyển hoá từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hộikhác cao hơn, sự thay đổi các thể chế nhà nước - từ nhà nước chiếm hữu nô lệ,nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản đến nhà nước XHCN, thông qua các cuộccách mạng xã hội với những bước tiến không ngừng của dân chủ càng thể hiện sựphát triển, sự tự hoàn thiện của các thể chế nhà nước trong lịch sử Theo quanđiểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhà nước XHCN là nhà nước dân chủ gấp triệu
Trang 37lần dân chủ tư sản Chỉ trong nhà nước đó, giai cấp công nhân và nhân dân lao
động mới thực sự làm chủ và là chủ trong mọi hoạt động Chỉ có nhà nước đó
-nhà nước đại diện cho lợi ích chính đáng của quần chúng nhân dân mới tạo lậpđược đồng thuận xã hội - nhân tố cơ bản bảo đảm cho sự phát triển và phát triểnbền vững của các quốc gia dân tộc trong xã hội hiện đại
Chỉ có sự tham gia của nhân dân vào công việc nhà nước và xã hội,mới tạo nên đồng thuận; chỉ trong môi trường xã hội đồng thuận, người dân mới
có thể thực hiện vai trò chủ thể chính trị của mình trong việc quản lý nhà nước,
quản lý xã hội theo xu hướng ngày càng phát triển Do đó, sự tham gia của dân chúng và sự đồng thuận xã hội vừa là nội dung chủ yếu, vừa là tiêu chí cơ bản
để đánh giá mức độ, trình độ phát triển của mỗi quốc gia dân tộc hiện nay Bảođảm hai tiêu chí này chính là cơ sở, nền tảng để thực hiện các mục tiêu, các
chuẩn mực của sự phát triển bền vững - đó là tăng trưởng, ổn định, công bằng, tiến bộ, dân chủ và nhân văn.
Với ý nghĩa đó, việc xây dựng một chế độ dân chủ, mà ở đó nhân dân
có thể thực hiện và phát huy các quyền dân chủ là điều kiện chủ yếu bảo đảmtính bền vững của phát triển xã hội; một xã hội phát triển với nền kinh tế tăngtrưởng, nền chính trị ổn định, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh chính là môitrường thuận lợi để mọi công dân thực thi dân chủ, tự do phát triển và hoàn thiệnnhân cách, từ đó thúc đẩy xã hội ngày càng phát triển theo hướng tiến bộ, bềnvững và nhân văn
Về bản chất, dân chủ và phát triển xã hội có mối quan hệ biện chứng,tác động qua lại lẫn nhau Mức độ dân chủ của một chế độ xã hội quyết địnhtrực tiếp đến chiều hướng và tốc độ phát triển của xã hội đó; và ngược lại, sựphát triển xã hội, trước hết là sự phát triển kinh tế, quy định bản chất dân chủcủa nhà nước cũng như trình độ văn hoá dân chủ, nhu cầu dân chủ, khả năngthực thi dân chủ của các công dân trong xã hội Do đó, dân chủ hoá nhà nước,dân chủ hoá xã hội nhằm mục đích xây dựng một nền dân chủ chân chính - mộtthể chế chính trị bảo đảm cho nhân dân lao động trở thành trung tâm của sự phát
Trang 38triển cả về mục tiêu, nguồn lực và phương thức, với tư cách vừa là chủ thể, vừa
là đối tượng của sự phát triển, từ đó tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản lýnhà nước, quản lý xã hội, tạo lập sự đồng thuận xã hội, thúc đẩy kinh tế tăngtrưởng, thực hiện công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái chính là phươngthức chủ đạo bảo đảm sự phát triển bền vững của mọi quốc gia dân tộc trong xãhội hiện đại
1.2 VẤN ĐỀ DÂN CHỦ VÀ PHÁT TRIỂN TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI
1.2.1 Vai trò và tác dụng của dân chủ đối với sự phát triển xã hội
Phát triển xã hội, từ lâu đã là mối quan tâm của mọi quốc gia dân tộc
Từ khi xã hội phân hoá thành giai cấp và tổ chức thành nhà nước, một vấn đềluôn được đặt lên hàng đầu đối với các chủ thể nắm giữ quyền lực là làm thế nào
để tìm kiếm, lựa chọn một phương thức phát triển bền vững cho cả dân tộc.Thực tế là, trong các giai đoạn lịch sử nhất định, nhiều quốc gia dân tộc vớinhững chế độ chính trị khác nhau, cách thức cầm quyền khác nhau đã có nhữngbước phát triển, tiến bộ vượt bậc, đặc biệt là về lĩnh vực kinh tế và KHCN,chẳng hạn như các nước tư bản phát triển phương Tây sau các cuộc cách mạng
tư sản, các nước bắc Âu, các con rồng châu Á trong nửa cuối của thế kỷ XX Song liệu sự phát triển ở các quốc gia này trong thời gian qua có thật sự bềnvững hay không? Sự phát triển đó đã thực sự vì con người, cho con người, coicon người là trung tâm, là mục tiêu, là động lực của sự phát triển hay chỉ là sựtăng trưởng kinh tế hoặc chỉ là sự tiến bộ của các lĩnh vực khác trong đời sống
xã hội?
Điều này đặt ra cho các quốc gia dân tộc một vấn đề chung cần phải
giải quyết là, làm thế nào để phát triển và phát triển bền vững? Muốn phát triển
bền vững cần phải có những điều kiện gì? Các nhân tố chính trị, trước hết là chế
độ nhà nước có vai trò, tác dụng như thế nào đối với sự phát triển xã hội?
Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng, trong các thể chế nhà nước,nhà nước XHCN - một nhà nước được xây dựng trên nền tảng các giá trị dân
Trang 39chủ, xét về bản chất, là nhà nước có thể bảo đảm tốt nhất sự phát triển bền vững.Bởi vì, dân chủ, với ý nghĩa đích thực của nó, có vai trò vô cùng to lớn đối với
sự phát triển xã hội Vai trò đó được thể hiện ở những khía cạnh sau đây:
Một là, dân chủ bảo đảm điều kiện cho tăng trưởng kinh tế Tính bền
vững về kinh tế được thể hiện chủ yếu ở sự tăng trưởng và sự phát triển lànhmạnh của nền kinh tế, đáp ứng được nhu cầu nâng cao đời sống vật chất và tinhthần cho nhân dân, khắc phục tình trạng suy thoái, trì trệ không chỉ ở hiện tại màcòn ở tương lai, tạo lập cơ sở, nền tảng để phát triển văn hoá, xã hội Những yêu
cầu này chỉ có thể được bảo đảm bởi một nền chính trị dân chủ Một nhà nước
chuyên chế, tập trung quan liêu hay độc tài, trên thực tế, vẫn có thể thúc đẩykinh tế tăng trưởng, nhưng sự tăng trưởng ấy chỉ mang tính tạm thời, chỉ diễn ratrong một giai đoạn lịch sử nhất định của từng quốc gia dân tộc, chẳng hạn nhưHàn Quốc, Nhật Bản, Singapore Ở những quốc gia này, sự phát triển mạnh mẽcủa nền kinh tế trong môi trường chuyên chế khó có thể tránh khỏi những thiếu
sót nghiêm trọng về vấn đề công bằng và quản lý, tạo nên những bất ổn kinh tế
-xã hội Theo Tổng thống Hàn Quốc Kim Dae-jung, trong những thập niên qua,dưới cách thức cai trị độc đoán, chuyên quyền, nền kinh tế Hàn Quốc tăngtrưởng rất nhanh, song do thiếu những quy tắc cạnh tranh minh bạch và côngbằng, không được kiểm soát bởi các thiết chế dân chủ, nên đã phải trả giá là chủnghĩa bằng hữu tràn lan và tình trạng bất bình đẳng giữa các vùng, các nhóm xã
hội ngày càng trở nên nghiêm trọng Từ đó, ông coi dân chủ và KTTT là “hai bánh của một cỗ xe ngựa”, phải chuyển động cùng nhau và phụ thuộc vào nhau
để cùng tiến lên phía trước Ông kết luận:
Nếu ngay từ đầu, Hàn Quốc theo đuổi chính sách phát triển song song
cả dân chủ và kinh tế thị trường, thì nước này có thể kiểm soát được mối quan
hệ thông đồng giữa chính phủ và giới kinh doanh lớn vốn phát triển ngay trongkhu vực tài chính có sự kiểm soát của chính phủ Thậm chí Hàn Quốc còn có thểtránh được sức mạnh tàn phá của cơn bão khủng hoảng tiền tệ [15, tr.24]
Trang 40Còn Amartya Sen - người đoạt giải thưởng Nobel về Kinh tế học, khibàn về vai trò của dân chủ đối với KTTT, đã kết luận: “Dân chủ có thể giúp thịtrường vận hành tốt hơn do tạo động cơ chính trị cho một phương thức cầm
quyền tốt” [15, tr.11] Trong tác phẩm “Phát triển là quyền tự do”, ông đã phân
tích vai trò bảo vệ của dân chủ trong việc ngăn chặn nạn đói thông qua nhữngdẫn chứng so sánh thực tiễn giữa cách thức cầm quyền dân chủ ở Botswana, Ấn
Độ, Zimbabwe và cách thức cầm quyền độc tài ở khu vực châu Phi cận Saharanhư Su Đăng, Sômalia, Êtiôpia, đồng thời ông cũng chỉ ra rằng, cuộc khủngkhoảng kinh tế tài chính, tiền tệ ở khu vực các nước châu Á vừa qua chính là
“đòn trừng phạt” đối với một lối cầm quyền phi dân chủ [44].
Như vậy, cách thức cai trị độc đoán, chuyên quyền ở một số quốc giatrong những thập niên qua, tuy đã tỏ ra hữu hiệu trong việc tập trung các nguồnlực để phát triển, song sự phát triển ấy, xét đến cùng, không những không mangtính bền vững, mà còn chứa đựng những nhân tố bất ổn định, làm cho nền kinh
tế sau quá trình tăng trưởng mạnh lại rơi vào khủng hoảng trầm trọng Xây dựngnền chính trị dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, kết hợp với pháttriển nền KTTT là triết lý phát triển và tăng trưởng kinh tế một cách bền vững ởcác quốc gia dân tộc hiện nay
Hai là, dân chủ bảo đảm tính ổn định chính trị, ngăn ngừa và khắc phục tình trạng tha hoá quyền lực - độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, tham nhũng, vi phạm dân chủ Quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước, về bản chất,
là quyền lực của nhân dân, do nhân dân trao quyền, uỷ quyền cho nhà nước đểquản lý, điều hành và phát triển xã hội Song bản thân quyền lực, nếu không
được kiểm soát bởi các thiết chế dân chủ, tự nó sẽ dẫn đến sự tha hoá quyền lực.
Những người nắm giữ quyền lực, từ chỗ là những người được uỷ quyền lại trởthành chủ thể của quyền lực, lạm dụng quyền lực để mưu cầu lợi ích cá nhân, viphạm dân chủ Một nhà nước dân chủ, với cơ chế phân chia và kiểm soát quyềnlực một cách đúng đắn, hợp lý, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân chính là cơ
sở để ngăn ngừa và khắc phục tình trạng tha hoá này Tuy nhiên, cũng phải thừa