Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CDCCKT) nói chung, chuyển dịch cơ cấu lao động (CDCCLĐ) nói riêng là một tất yếu khách quan, phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất (LLSX) và phân công lao động xã hội. Hình thức, quy mô và bước đi của quá trình CDCCLĐ phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong đó, đặc điểm, điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, mỗi khu vực và mỗi tỉnh, thành phố là quan trọng nhất
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CDCCKT) nói chung, chuyển dịch cơ cấu
lao động (CDCCLĐ) nói riêng là một tất yếu khách quan, phản ánh trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất (LLSX) và phân công lao động xã hội Hình
thức, quy mô và bước đi của quá trình CDCCLĐ phụ thuộc vào nhiều yếu tố
Trong đó, đặc điểm, điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, mỗi
khu vực và mỗi tỉnh, thành phố là quan trọng nhất
Bình Dương là một tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, thuộc
khu vực miền Đông Nam Bộ Từ khi tỉnh được tái lập năm 1997 đến nay,
GDP của tỉnh gia tăng trung bình 15,4%/ năm giai đoạn 2001 - 2005 cơ cấu
kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp từ 31,1% năm
1997 lên 63,8% năm 2005 Sự tăng trưởng của ngành công nghiệp với tốc độ
nhanh đã thúc đẩy sự CDCCLĐ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
(CNH, HĐH) Tiền đề cho sự phát triển đó ngoài yếu tố khách quan thì chủ
trương xây dựng, phát triển khu công nghiệp (KCN) của lãnh đạo tỉnh và ủy
ban nhân dân tỉnh mang tính chất đột phá đã tạo ra bước ngoặt, tác động đến sự
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Giải quyết công ăn việc làm, tạo thu nhập
cho một lực lượng lao động đáng kể trong cả nước và tỉnh Bình Dương nói
riêng Đây chính là nguòn nhân lực giữ vai trò quan trọng trong cả hiện tại và
tương lai cho KVPT tỉnh Bình Dương
Song, thực trạng CDCCLĐ trên địa bàn tỉnh còn những bất cập Đó là:
Chưa sử dụng triệt để lực lượng lao động địa phương, chưa có đủ lực lượng lao
động được đào tạo cơ bản, có trình độ chuyên môn cao đáp ứng đòi hỏi của
KCN; số lao động ngoài tỉnh (do nhiều lý do) chưa thực sự gắn bó với doanh
nghiệp Đặc biệt là công tác huấn luyện dự bị động viên cho công nhân trong
các doanh nghiệp không được tiến hành thường xuyên và trải khắp trong KCN
3
Trang 2Xuất phát từ thực tế, khả năng, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh từ nay đến năm 2020 và thực trạng CDCCLĐ trong tỉnh Cùng với sự
phát triển mạnh mẽ của KCN tập trung, trong thời gian tới cần tiếp tục nghiên
cứu tìm ra những giải pháp tối ưu để đẩy nhanh CDCCLĐ, nhằm sử dụng lao
động có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển KCN và tăng cường lực lượng
củng cố KVPT trên địa bàn tỉnh Bình Dương Với ý nghĩa đó, tác giả chọn đề
tài “Tác động của CDCCLĐ trong phát triển khu công nghiệp đến bảo đảm
nguồn nhân lực cho KVPT tỉnh Bình Dương hiện nay” làm luận văn cao
học
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế có quan hệ biện chứng với CDCCLĐ,
nhằm khai thác và phát huy có hiệu quả nguồn lực lao động và các nguồn lực
khác của tỉnh Vấn đề CDCCLĐ đã được Đảng, Nhà nước ta đề cập trong
nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội cho đến nay đã có
nhiều tác giả và công trình nghiên cứu phân tích vấn đề này ở nhiều góc độ
khác nhau như:
“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa nền kinh tế
quốc dân” của GS, TS Ngô Đình Giao, Nxb CTQG, năm 1994
“Chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn và tác động của
nó đến củng cố quốc phòng nước ta hiện nay” Luận án tiến sĩ kinh tế của Phạm
Anh Tuấn
“Vấn đề lao động và việc làm” của GS, TS Đỗ Thế Tùng năm 1996
“Phát triển nguồn nhân lực để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước” của PGS, TS Phan Thanh Phố, Tạp chí kinh tế và phát triển số 5/1995.
“Thực trạng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn”
của Hoàng Kim Ngọc, Tạp chí lao động và xã hội số tháng 2/2001
4
Trang 3“Tăng cường chất lượng nguồn nhân lực cho nhu cầu quân sự những
thập niên đầu thế kỷ XXI” của thượng tá Phạm Đức Nhuấn, tạp chí giáo dục lý
luận chính trị quân sự, số (72) 2/2002 Học viện chính trị quân sự
“Tác động của đào tạo nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH, HĐH
đến củng cố quốc phòng ở nước ta hiện nay” luận văn thạc sĩ của Bùi Thúc
Vịnh
“Vấn đề tạo nguồn nhân lực tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
của GS, TSKH Vũ Huy Chương (chủ biên), Nxb CTQG, Hà nội 2002
Trên địa bàn tỉnh Bình Dương cũng đã có một số bài viết liên quan
như:
“Một số giải pháp chủ yếu để phát triển công nghiệp Bình Dương thời
kỳ 2001-2005” của Bùi Đức Xuân
“Bình Dương phát triển mô hình kinh tế khu công nghiệp” của
Nguyễn Văn Bình
“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bình Dương theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Luận văn thạc sĩ của Phạm Văn Quế
Ngoài ra còn nhiều bài viết khác có liên quan, song các đề tài nói trên
chỉ đề cập một số khía cạnh của vấn đề này, chưa thành một đề tài độc lập
được trình bày một cách có hệ thống Hơn nữa, việc nghiên cứu chủ đề tác giả
đặt ra trong phạm vi tỉnh, đặc biệt là tỉnh Bình Dương đến nay chưa có
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
* Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn tác động của CDCCLĐ trong phát triển
KCN đến đảm bảo nguồn nhân lực cho KVPT tỉnh Bình Dương Trên cơ sở đó
đề xuất những quan điểm và giải pháp nhằm phát huy những tác động tích cực,
hạn chế những tác động tiêu cực trong quá trình CDCCLĐ đến đảm bảo nguồn
nhân lực cho KVPT tỉnh Bình Dương hiện nay
5
Trang 4* Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận giải cơ sở lý luận, thực tiễn về sự tác động của CDCCLĐ trong
phát triển KCN đến đảm bảo nguồn nhân lực cho KVPT tỉnh Bình Dương
Xác định quan điểm và các giải pháp cơ bản, nhằm thúc đẩy CDCCLĐ
trong phát triển KCN gắn với đảm bảo nguồn nhân lực cho KVPT tỉnh Bình
Dương hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận chung của CDCCLĐ và thực trạng của
quá trình này ở Bình Dương Đề tài lấy CDCCLĐ trong phát triển KCN tác
động đến vấn đề đảm bảo nguồn nhân lực cho KVPT tỉnh Bình Dương hiện
nay làm đối tượng nghiên cứu
* Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu và đưa ra những quan điểm giải pháp cơ bản, liên
quan đến CDCCLĐ trong phát triển KCN nhằm đảm bảo nguồn nhân lực cho
KVPT tỉnh Bình Dương đến năm 2010
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam, các nghị quyết
về phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng - an ninh của tỉnh Bình Dương
* Phương pháp nghiên cứu:
Vận dụng phương pháp luận của kinh tế chính trị Mác-Lênin kết hợp
với các phương pháp lôgíc, lịch sử, điều tra, thống kê, so sánh Ngoài ra tác
giả còn sử dụng các phương pháp khảo sát, chuyên gia Từ đó tác giả hệ
thống khái quát rút ra những vấn đề cơ bản để giải quyết mục đích và các
nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
6
Trang 56 Đóng góp mới của luận văn
Làm rõ sự tác động của CDCCLĐ trong phát triển KCN đến đảm bảo
nguồn nhân lực cho KVPT tỉnh Bình Dương hiện nay
Đưa ra quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm đẩy nhanh CDCCLĐ, tạo
ra nguồn nhân lực xây dựng KVPT Tỉnh vững chắc hơn trong tương lai
7
Trang 67 Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm rõ cơ sở khoa học, về
sự tác động của CDCCLĐ trong phát triển KCN, đến đảm bảo nguồn nhân
lực cho KVPT tỉnh Bình Dương trong giai đoạn hiện nay
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo và giảng dạy bộ môn kinh
tế chính trị và kinh tế quân sự trong các nhà trường quân đội
8 Kết cấu luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài
Trang 7Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ TÁC ĐỘNG
CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG TRONG PHÁT TRIỂN
KHU CÔNG NGHIỆP ĐẾN ĐẢM BẢO NGUỒN NHÂN LỰC CHO
KHU VỰC VỰC PHÒNG THỦ TỈNH BÌNH DƯƠNG
1.1 Sự cần thiết chuyển dịch cơ cấu lao động trong phát triển khu
công nghiệp ở Bình Dương hiện nay
1.1.1 Cơ cấu lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động trong phát
triển khu công nghiệp ở tỉnh Bình Dương
Bàn về CCLĐ, theo Mác có nghĩa là bàn về cấu trúc bên trong của quá
trình phân công lao động xã hội Đó là các quan hệ tỷ lệ cũng như xu hướng
vận động, phát triển nguồn lao động giữa các ngành kinh tế (công nghiệp,
nông nghiệp, dịch vụ ), các vùng kinh tế (đồng bằng, trung du, miền núi, ven
biển ) và các thành phần kinh tế (Nhà nước, tập thể, cá thể tiểu chủ, tư bản
Nhà nước )
Sự hình thành và phát triển CCLĐ thường gắn với những điều kiện tự
nhiên, kinh tế - xã hội từng nước, từng vùng và từng doanh nghiệp trong từng
thời gian nhất định CCLĐ tồn tại, biến đổi thích ứng với sự biến động của
các điều kiện đó
Mọi sự biến đổi của CCLĐ không thể áp đặt chủ quan theo ý muốn của
con người, mà phải dựa vào sự thay đổi của các yếu tố khách quan và các mục
tiêu kinh tế - xã hội được đặt ra
Từ đó có thể hiểu: CCLĐ là mối quan hệ tỉ lệ về số lượng và chất
lượng lao động trong các ngành, các vùng các thành phần kinh tế; phản ánh
trình độ phát triển của LLSX, của phân công lao động xã hội; biểu hiện xu thế
phát triển của các ngành, các thành phần kinh tế và các vùng kinh tế
9
Trang 8CCLĐ biểu hiện sự gắn bó hữu cơ với nhau trong hệ thống phân công
lao động xã hội Việc nghiên cứu lao động phải gắn với điều kiện không gian
thời gian cụ thể, mới có thể xác định được một cách khoa học CCLĐ đang tồn
tại và xu hướng vận động của nó Từ đó, đưa ra cách thức tổ chức và phân bố
các yếu tố cơ bản của LLSX
Thông qua việc nghiên cứu quan niệm về CCLĐ có thể đưa ra khái
niệm: CDCCLĐ trong phát triển KCN ở tỉnh Bình Dương là quá trình Tỉnh
Uỷ, UBND Tỉnh chủ động làm thay đổi cấu trúc và các mối quan hệ của kết
cấu lao động theo một chủ đích và một phương hướng nhất định nhằm đáp ứng
nguồn nhân lực cho sự phát triển nhanh của KCN và củng cố KVPT của Tỉnh.
Nội hàm của khái niệm về CDCCLĐ ở Bình Dương chỉ rõ:
Một là, quá trình Tỉnh Uỷ, UBND tỉnh Bình Dương chủ động tác động
làm thay đổi cấu trúc và mối quan hệ vốn có của CCLĐ theo một quy hoạch
được vạch ra, thống nhất với quy hoạch chung của quốc gia
Hai là, mục tiêu của sự chuyển dịch là nhằm chủ động đáp ứng nguồn
nhân lực cho nhu cầu phát triển nhanh các KCN trên địa bàn tỉnh Bình
Dương, trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai
Ba là, thông qua đó không ngừng nâng cao số và chất lượng các lực
lượng đáp ứng cho KVPT Tỉnh, trong thời bình cũng như khi có tình huống
tác chiến xảy ra
Các vấn đề trên có mối quan hệ rất mật thiết với nhau, vấn đề này là
tiền đề của vấn đề kia hợp thành một chỉnh thể thống nhất tạo ra sự CDCCLĐ
ngày càng mạnh mẽ ở tỉnh Bình Dương, một trong những tỉnh thuộc trọng
điểm phát triển kinh tế phía Nam của nước ta
1.1.2 Sự cần thiết chuyển dịch cơ cấu lao động trong phát triển khu
công nghiệp ở Bình Dương hiện nay
10
Trang 9Quá trình CDCCLĐ trong phát triển khu công nghiệp ở Bình Dương
bắt nguồn từ những lí do cơ bản sau:
Một là, do yêu cầu phát huy vai trò của lao động trong sản xuất công
nghiệp ở KCN.
Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh vai trò
to lớn của lao động Theo Mác: lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa
con người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động chính mình, con
người làm trung gian điều tiết và kiểm soát sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên
Ông còn cho rằng: con người không chỉ làm biến đổi hình thái những cái do tự
nhiên cung cấp con người cũng đồng thời thực hiện các mục đích tự giác của
mình, mục đích ấy quyết định phương thức hành động của họ giống như một
quy luật và bất ý chí của họ phải phục tùng nó Trong bộ tư bản, Mác còn phân
tích một cách khoa học vai trò của tư bản khả biến đối với việc tạo ra giá trị
và giá trị thặng dư
Lênin cũng đánh giá cao vai trò của lao động, Ông cho rằng: LLSX hàng
đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động
Kế thừa và phát huy những di sản quý báu của các nhà kinh điển chủ
nghĩa Mác-Lênin và chọn lọc những kiến thức, những thành quả của kinh tế
học hiện đại, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn nước ta Đảng và Nhà nước
ta luôn quan tâm đến con người, tạo điều kiện để con người phát triển toàn
diện Trong văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng ta khẳng
định “Phát huy yếu tố con người và lấy con người làm mục đích cao nhất
của mọi hoạt động” [10, tr.9]
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội được thông qua tại Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VII, đã đặt con người vào vị trí trung tâm, lấy mục
tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người Đại hội
đã khẳng định: Nguồn lao động dồi dào, con người Việt Nam có truyền thống
yêu nước, cần cù, sáng tạo, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học và công
11
Trang 10nghệ đó là nguồn lực quan trọng nhất Đến đại hội lần thứ VIII, một lần nữa
Đảng ta lại khẳng định: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố
cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” [13, tr.35]
CNH, HĐH phát triển theo con đường rút ngắn hiện đại ở nước ta nói
chung và mỗi địa phương nói riêng phụ thuộc khá lớn vào việc khai thác, sử
dụng có hiệu quả các nguồn lực, bao gồm nguồn tài nguyên, nguồn vốn, khoa
học công nghệ, đặc biệt là nguồn lao động Trong đó, nguồn lực lao động có ý
nghĩa quyết định, bởi vì mọi hoạt động sản xuất vật chất và tinh thần, rút cuộc
đều là hoạt động của người lao động Chính vì vậy, Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ IX đã khẳng định: “Nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển
đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH” [14, tr.201]
Quá trình chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH gắn liền với việc
hình thành KCN tập trung ở Bình Dương hiện nay, càng đòi hỏi phải có lực
lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ luật, tay nghề và ý thức tổ chức kỷ
luật cao Do vậy với tư cách là người lao động, hơn bao giờ hết phải có nhận
thức sâu sắc để không ngừng bồi dưỡng và nâng cao trình độ văn hóa, chuyên
môn nghề nghiệp là yêu cầu cấp bách để sử dụng và tiếp thu có hiệu quả
những thành tựu khoa học- công nghệ tiên tiến của thế giới, góp phần làm
thay đổi CCLĐ phù hợp với quan điểm đại hội Đảng lần thứ IX: “Con đường
CNH, HĐH của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước
tuần tự, vừa có bước nhảy vọt” [14, tr.91]
Tốc độ phát triển nhanh của sản xuất công nghiệp ở Bình Dương hiện
nay đã tạo ra “cơn sốt” về lao động, kể cả số lượng lẫn chuyên môn cao Hơn
200 nghìn lao động công nghiệp và hơn 100 nghìn lao động các ngành nghề
trong tỉnh ít được đào tạo và đào tạo không cơ bản, là một trở ngại lớn cho
KCN hiện nay Đặc biệt là tình trạng thiếu lao động trong các doanh nghiệp,
sau dịp tết nguyên đán hàng năm, vì số công nhân ở các địa phương khác đến
làm việc, sau khi nghỉ tết không quay trở lại Trong năm 2006, Bình Dương
12
Trang 11có nhu cầu tuyển mới thêm 40 nghìn lao động nhưng khả năng cung ứng lao
động tại chỗ và nguồn lao động nhập cư khá bấp bênh
Tình trạng này đặt ra yêu cầu đối với ban quản lý KCN, các doanh
nghiệp cần phối hợp với các ban ngành trong tỉnh, các trung tâm dạy nghề
trong và ngoài tỉnh đưa ra chiến lược đào tạo và sử dụng nguồn lao động (đặc
biệt là nguồn lao động tại chỗ) có hiệu quả cao, nhằm thoả mãn nhu cầu lao
động cần thiết trong KCN
Hai là, do yêu cầu đẩy nhanh nhịp độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, một
nội dung của CNH, HĐH
Với điểm xuất phát là một nước nông nghiệp đang ở thời kỳ đầu của
quá trình CNH, HĐH Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã chú
trọng đến việc CDCCLĐ nhằm tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời
sống cho nhân dân bằng nhiều chủ trương, chính sách Do đó, CCLĐ trong
nước đã chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch
vụ; giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp Tuy nhiên quá trình chuyển dịch này
diễn ra còn chậm, chưa đồng đều so với khả năng thực tế [45]
Từ số liệu phụ lục 1 cho thấy, tỷ trọng lao động trong ngành nông
nghiệp có xu hướng giảm xuống, nhưng tốc độ giảm không đều giữa các năm
và tốc độ giảm chậm Tỷ trọng lao động trong ngành công nghiệp xây dựng
tăng chậm và không đều Có năm còn không tăng thêm (2004 = 17,4%; 2005
= 17%) tuy nhiên số giảm này chỉ là tương đối Nhìn chung tỷ trọng lao động
trong ngành nông nghiệp hiện nay ở nước ta còn cao, chiếm trên 50% lực
lượng lao động cả nước
Việc hình thành KCN tập trung, khu chế xuất đã thu hút một số lao
động có trình độ phổ thông dịch chuyển từ nông thôn, nông nghiệp vào KCN
may mặc, dệt, lắp ráp, điện tử Trong khu vực, kinh tế Nhà nước từ 12.300
doanh nghiệp, qua sắp xếp chỉ còn 6000 doanh nghiệp Việc sắp xếp lại doanh
nghiệp Nhà nước tuy đã góp phần thay đổi một bước cơ cấu và chất lượng lao
13
Trang 12động, nhưng số lao động dôi dư sau sắp xếp hiện nay đang là một thách thức
lớn cho tất cả các địa phương
Như vậy cho đến nay CCLĐ đang còn mất cân đối giữa các ngành, các
khu vực (giữa sản xuất và phi sản xuất), giữa các vùng (đô thị và nông thôn)
giữa các thành phần kinh tế (Nhà nước, tập thể và tư nhân ) đã gây ra những
khó khăn cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội và tạo ra sự mất cân đối về
phân bố lao động giữa các ngành, các vùng và các thành phần kinh tế trong
quá trình CNH, HĐH
Những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, Bình Dương vẫn còn là tỉnh
thuần nông Từ một tỉnh có tỷ trọng ngành nông nghiệp là chủ yếu, ngày nay
Bình Dương đã vươn lên trở thành một trong những nơi có tốc độ phát triển
công nghiệp nhanh nhất cả nước Nhiều nhà máy, xí nghiệp mọc lên, nhiều khu
công nghiệp tập trung liên tiếp hình thành, thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn đầu
tư và nguồn lao động trong và ngoài tỉnh Việc phát triển KCN tập trung góp
phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong tỉnh theo hướng
tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ giảm dần tỷ trọng nông nghiệp để thực
hiện mục tiêu chung của đất nước: đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp Đồng thời, việc phát triển công nghiệp về các vùng nông
thôn trong tỉnh, còn tạo ra nhiều việc làm để chuyển từ lao động nông nghiệp,
nông thôn sang lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ
CDCCLĐ là hệ quả tất yếu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế Bình
Dương là một tỉnh hiện đang có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế với tốc độ
nhanh và tích cực, từ ngành nông nghiệp có năng suất lao động thấp sang
ngành công nghiệp và dịch vụ có năng suất lao động cao hơn Đặc biệt là sự
hình thành và phát triển nhanh KCN tập trung đã, đang và sẽ thu hút một lực
lượng lao động lớn của xã hội
Ba là, do yêu cầu phát triển KCN hiện nay ở Bình Dương
14
Trang 13Theo định nghĩa của bách khoa toàn thư Wikiedia Khu công nghiệp là
khu vực đất đai dành cho phát triển công nghiệp theo một quy hoạch cụ thể
nào đó, nhằm đảm bảo được sự hài hòa và cân bằng tương đối giữa các mục
tiêu kinh tế - xã hội, môi trường Khu công nghiệp thường được Nhà nước cấp
phép đầu tư với hệ thống hạ tầng kỹ thuật và pháp lý riêng
Ở nước ta, theo quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghiệp
cao được ban hành kém theo nghị định 36/CP ngày 24/4/1997 gọi chung là khu
công nghiệp Theo đó, khái niệm về khu công nghiệp được hiểu là:
KCN là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất công nghiệp
và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác
định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ
quyết định thành lập, trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất
Khu công nghiệp là một mô hình quản lý kinh tế hiện đại Qua 15 năm
hình thành và phát triển các KCN ở nước ta cho thấy, nhiều KCN (bao gồm
cả khu chế xuất) đã và đang đóng vai trò quan trọng đối với kinh tế đất nước
Trong năm 2005 tổng giá trị sản xuất công nghiệp của các KCN đạt khoảng
14 tỷ USD, chiếm gần 30% tổng giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp
và tăng 25% so với năm trước, cao gần gấp rưỡi mức tăng trưởng chung của
toàn ngành
Ở Bình Dương, nhận thức rõ vị trí, vai trò và tầm quan trọng của khu
công nghiệp trong sự nghiệp CNH, HĐH quán triệt nghị quyết Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ IX: “Quy hoạch phân bố hợp lý công nghiệp trên cả nước
Phát triển có hiệu quả KCN, khu chế xuất, xây dựng một số khu công nghệ
cao, hình thành các cụm công nghiệp lớn và khu kinh tế mở”[14, tr.174]
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh và sự chỉ đạo của ủy ban nhân dân
tỉnh, tháng 9/1995 KCN đầu tiên “Sóng Thần” được hình thành Đến nay,
Bình Dương đã có 12 KCN được hình thành và đi vào hoạt động được thành
15
Trang 14lập và đi vào hoạt động với tổng diện tích 2.431 ha và 23 cụm công nghiệp
diện tích 3.573 ha Tính đến tháng 11/2004 Bình Dương có 2.754 dự án đầu
tư trong nước với tổng số vốn đầu tư hơn 11 nghìn tỷ đồng và 871 dự án đầu
tư nước ngoài 4,1 tỷ USD đã lấp đầy hơn 80% diện tích, Nhiều KCN có diện
tích đất cho thuê tới 95%, có 30 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Bình
Dương với các ngành nghề: Dệt may, da giày, chế biên thủy hải sản, vật liệu
xây dựng, xe đạp, cơ khí, điện, điện tử Đã có 434 doanh nghiệp trong các
KCN đi vào hoạt động có doanh thu và hàng năm đều tăng vốn mở rộng sản
xuất kinh doanh Riêng năm 2004 các doanh nghiệp trong KCN đạt doanh thu
1.605 triệu USD Tính chung giá trị sản xuất công nghiệp năm 2004 của Bình
Dương đạt hơn 32 nghìn tỷ đồng, tỷ trọng công nghiệp chiếm 63,3% GDP
Cùng với cả nước, bên cạnh 12 KCN đã đi vào hoạt động Hiện nay các
chủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN mới như: Mai Trung, Việt Hương II,
Mỹ Phước II, III đã và đang triển khai nhanh việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ
thuật như đường giao thông, hệ thống điện, hệ thống cấp thoát nước, nhà máy
xử lý nước thải để sớm đưa vào hoạt động
Đặc biệt đề án phát triển khu liên hiệp công nghiệp - dịch vụ và đô thị
Bình Dương đã được chính phủ phê duyệt ngày 19/3/2003 tại công văn số
295/CP -CN do phó thủ tướng thường trực Nguyễn Tấn Dũng ký Đề án này
được triển khai trong những năm tới trên diện tích quy hoạch là 4.196 ha
Trong đó sẽ có 2.200 ha dành cho việc thu hút đầu tư phát triển công nghiệp,
bao gồm khu công nghiệp tập trung là 1900 ha và 300 ha dành cho phát triển
khu công nghệ có hàm lượng chất xám cao Với hàng nghìn dự án đầu tư công
nghiệp sẽ cần từ 150 ngàn đến 200 ngàn lao động và hàng trăm cơ sở dịch vụ
đô thị sẽ thu hút từ 200 ngàn đến 300 ngàn lao động Sự phát triển của khu
liên hiệp sẽ là một nguồn công việc to lớn, có thể thu hút lực lượng lao
16
Trang 15động từ mọi miền đất nước và cả những chuyên gia nước ngoài đến làm
việc và định cư
Các KCN mở ra ở Bình Dương đã và sẽ tạo việc làm tăng thu nhập cho
hàng trăm ngàn lao động chủ yếu là lao động nông nghiệp vốn rất thiếu việc
làm; góp phàn giải quyết sức lao động xã hội, đồng thời tạo ra mức tăng
trưởng kinh tế cao của tỉnh trong những năm vừa qua Hiện nay, với số lượng
lao động hiện có trong toàn tỉnh (khoảng 600.000 người) thì việc đáp ứng nhu
cầu lao động cho các KCN là hết sức khó khăn Hơn nữa, công tác đào tạo
nghề để cung cấp cho thị trường lao động (đặc biệt là các KCN) một đội ngũ
người lao động có tri thức, có tay nghề, nâng cao chất lượng đội ngũ công
nhân cả trước mắt và lâu dài còn nhiều bất cập Số đông công nhân đến làm
việc tại các KCN trong tỉnh là những người chưa qua trường lớp dạy nghề nào
và đa số là người từ địa phương khác đến làm việc
Bốn là, do yêu cầu của việc ứng dụng và phát triển khoa học - công
nghệ hiện đại.
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã và đang diễn ra
nhanh chóng, tác động mạnh mẽ đến các châu lục trên thế giới Quy mô GDP
và tốc độ tăng trưởng kinh tế ở các nước phát triển chủ yếu dựa vào lao động
trí tuệ và công nghệ cao Đến lượt nó, sự phát triển của các nước này sẽ tạo ra
nhiều cơ hội phát triển cho các quốc gia khác, cho phép duy trì tốc độ tăng
trưởng cao, đẩy mạnh CDCCLĐ hợp lý, tạo ra nhiều công ăn việc làm, cải
thiện đời sống cho người lao động Tuy nhiên, để làm được điều đó, đòi hỏi
các quốc gia đang phát triển phải thay đổi cơ cấu và chất lượng nguồn lực con
người trên cơ sở đầu tư phát triển con người, tạo lập kỹ năng, tay nghề, năng
lực sáng tạo để làm ra các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao Người lao
động với tư cách là người cung ứng sức lao động cần nhanh chóng tri thức
17
Trang 16hóa để có sức cạnh tranh trên thị trường sức lao động và có khả năng thích
ứng cao trong giai đoạn mới- giai đoạn kinh tế tri thức hiện nay
Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp CNH,
HĐH Thực trạng về trình độ công nghệ của tỉnh Bình Dương hiện nay còn
rất thấp; 30% doanh nghiệp, chủ yếu là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài có trình độ tiên tiến Còn 70% doanh nghiệp, chủ yếu là doanh nghiệp
trong nước và có trình độ trung bình và lạc hậu (theo đánh giá của ban quản lý
các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương) Trình độ công nghệ lạc hậu là nguyên
nhân chính làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thấp,
chất lượng sản phẩm kém, hạn chế khả năng cạnh tranh của sản phẩm công
nghiệp trên thị trường trong và ngoài nước, đây cũng là thử thách lớn đối với
các doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế
giới
Trước thực trạng và yêu cầu cấp bách đó, tỉnh Bình Dương có chủ
trương: phải thực hiện cho được bước nhảy vọt về khoa học công nghệ trong
lĩnh vực công nghiệp của tỉnh nhà Hướng chính là hiện đại hóa từng phần,
từng công đoạn quan trọng trong dây chuyền sản xuất nhằm nâng cao chất
lượng sản phẩm, hạ giá thành, nâng sức cạnh tranh trên thị trường trong và
ngoài nước Thông qua đầu tư nước ngoài để đi thẳng vào công nghệ hiện đại
Nhập khẩu công nghệ và thiết bị có cân nhắc loại bỏ ngay từ đầu các công
nghệ đã lạc hậu hoặc sắp lạc hậu Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật để
nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, không ngừng tích lũy để tái
sản xuất mở rộng, ưu tiên một phần vốn của Nhà nước để nghiên cứu khoa
học và vận dụng kết quả vào nghiên cứu sản xuất, trước hết là các ngành công
nghiệp then chốt thuộc thế mạnh của địa phương, cho phép các doanh nghiệp
khấu hao tài sản cố định nhanh để thu hồi vốn, thay công nghệ mới, ưu tiên
cho các doanh nghiệp vay vốn để đổi mới công nghệ Căn cứ vào các chính
18
Trang 17sách vĩ mô của Nhà nước về công nghệ, tỉnh cần soạn thảo một chính sách
đặc biệt cho các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và hàng thay thế hàng
nhập khẩu để khuyến khích họ đầu tư đổi mới công nghệ trước Phát động
phong trào thi đua về sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong các doanh nghiệp, có
chế độ khen thưởng kịp thời và thoả đáng cho các tổ chức, cá nhân đạt nhiều
thành tích trong phong trào này
Để phát triển các KCN trong tỉnh lên một tầm cao mới, việc ứng dụng
và phát triển khoa học - công nghệ hiện đại là yêu cầu bức thiết đặt ra trong
giai đoạn hiện nay Muốn vậy, điều trước tiên phải tính đến là đội ngũ lao
động trong tỉnh, đặc biệt là đội ngũ công nhân đã và sẽ làm việc trong KCN
Họ phải có một trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật nhất định để
kịp thời nắm bắt và ứng dụng khoa học - công nghệ mới vào lao động sản
xuất trong các nhà máy xí nghiệp Đội ngũ công nhân này có thể đang làm
việc trong KCN, trong các nhà máy xí nghiệp hoặc chuyển từ các ngành kinh
tế khác sang Vì vậy, họ phải được đào tạo và đào tạo lại trong các nhà trường
hoặc các trung tâm dạy nghề một cách cơ bản Có như thế mới có một đội ngũ
công nhân, đáp ứng yêu cầu cho chủ trương đổi mới công nghệ của tỉnh Bình
Dương trong hiện tại và tương lai
Năm là, do yêu cầu của sự hình thành và phát triển thị trường sức lao
động trong nước.
Thị trường sức lao động là thị trường mà ở đó cung cầu về sức lao động
biểu hiện thông qua hợp đồng lao động được ký kết giữa người cung sức lao
động và người sử dụng sức lao động
Thị trường sức lao động là nơi gắn kết giữa cung sức lao động với cầu
sức lao động cùng với các thông số như số lượng, chất lượng và CCLĐ để
người lao động có nhiều cơ hội tìm việc làm Trong mối quan hệ gắn kết giữa
cung sức lao động với cầu sức lao động và giải quyết việc làm phải dựa trên
cơ sở và xoay quanh sức lao động Mọi sự thay đổi của cầu sức lao động về số
19
Trang 18lượng, chất lượng và CCLĐ giữa các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế,
trên thị trường sức lao động phải được nhận biết, phân tích xem xét và điều
chỉnh trong cung sức lao động Đây là sự thay đổi căn bản nhất trong cung
sức lao động của nền kinh tế hiện đại so với nền kinh tế truyền thống Thông
qua thị trường sức lao động sẽ giúp người lao động nắm bắt được những yêu
cầu thông tin theo định hướng cầu sức lao động để từ đó mà điều chỉnh khả
năng cung sức lao động cho phù hợp
Thực tế cho thấy nước ta là nước đang phát triển, các yếu tố thị trường
chưa đồng bộ và hoàn chỉnh, thị trường sức lao động còn sơ khai, còn tồn tại
song hành hai khu vực kinh tế (truyền thống và hiện đại) đang diễn ra sự
chuyển hóa về tỷ trọng với nhau:
Khu vực kinh tế truyền thống vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn, là nơi thu hút
nhiều lao động, nhất là nông nghiệp, nông thôn, song cũng đang có xu hướng
giảm dần Khu vực kinh tế hiện đại (nơi có thị trường sức lao động phát triển)
đang có sự biến động cả về quy mô và tốc độ, ngày càng thu hút nhiều sức lao
động hơn, trước hết là ở các vùng đô thị, KCN tập trung Khu vực kinh tế này,
cần sức lao động cũng có những thay đổi lớn và nhanh chóng, đòi hỏi cần có
sự điều chỉnh CCLĐ cho phù hợp
Thị trường sức lao động giữa các vùng phát triển chưa đồng đều, hệ
thống tổ chức cung ứng sức lao động chưa phát triển và hoạt động chưa có
hiệu quả, nên chưa trở thành cầu nối, gắn kết giữa cung sức lao động và cầu
sức lao động Điều đó biểu hiện: Việc tuyển dụng chủ yếu qua quan hệ cá
nhân; thông tin thị trường sức lao động còn yếu kém; công tác dự báo chưa
được coi trọng đó là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho cung,
cầu sức lao động không ăn khớp với nhau trong CDCCLĐ giữa các ngành,
các vùng và các thành phần kinh tế
Có thể nói, việc tổ chức và phát huy tốt vai trò của thị trường sức lao
động sẽ thúc đẩy việc phân bố và sử dụng sức lao động một cách có hiệu quả,
20
Trang 19khắc phục từng bước sự mất cân bằng giữa cung, cầu sức lao động theo
hướng nâng cao chất lượng lao động cho phù hợp với yêu cầu của khoa học
công nghệ hiện đại
Việc phát triển KCN ở Bình Dương đã và đang thu hút hàng trăm ngàn
lao động từ trong tỉnh và các địa phương khác đổ về Chủ yếu là số lao động
xuất thân từ lao động nông nghiệp, nông thôn trong tỉnh và các tỉnh khác
(trong đó đa số là ở các tỉnh khác) tìm đến đăng ký lao động trong các nhà
máy, xí nghiệp trong các KCN (có cả lao động người nước ngoài) đã tạo nên
thị trường sức lao động đang hoạt động rất sôi động tại tỉnh Bình Dương Có
thể nói, thị trường sức lao động ở Bình Dương được hình thành sớm và hoạt
động có hiệu quả so với các tỉnh, thành trong cả nước Từ đây có thể rút ra
những bài học kinh nghiệm quý giá nhằm thúc đẩy thị trường sức lao động
trong nước phát triển
1.1.3 Các xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động trong phát triển
khu công nghiệp
CDCCLĐ không hoàn toàn chủ quan, mà phụ thuộc vào nhiều nhân tố
khách quan và điều kiện của mỗi nước, mỗi địa phương như đã trình bày ở
phần trên Nói cách khác, sự vận động và phát triển của CDCCLĐ tuân theo
xu hướng khách quan nhất định Những xu hướng cơ bản của CDCCLĐ là:
Thứ nhất: Chuyển từ lao động thủ công năng suất thấp sang lao động
cơ khí có năng suất lao động cao.
Đây là xu hướng chuyển dịch phản ánh sự biến đổi về chất của nguồn
lao động Để xác lập CCLĐ phù hợp với việc sử dụng công cụ cơ khí, máy
móc cần phải tiến hành đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ lao động có trình độ tay
nghề, chuyên môn, nhất là đội ngũ công nhân kỹ thuật, đội ngũ chuyên gia
thực hành trình độ trung cấp, cao đẳng và đại học có tay nghề cao Xây dựng
mối quan hệ giữa công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ Xóa bỏ mọi định kiến
21
Trang 20bảo thủ, trì trệ trong sản xuất, xem nhẹ khoa học công nghệ ở một số ngành,
vùng hiện nay Thiết lập một cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu thành phần
kinh tế phù hợp, tạo điều kiện áp dụng những thành tựu khoa học - công nghệ
vào quá trình sản xuất
Thứ hai: Chuyển từ lao động nông nghiệp là chủ yếu sang lao động
công nghiệp, dịch vụ
Xu hướng khách quan này bắt nguồn từ chỗ: chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và CCLĐ có mối quan hệ biện chứng, vừa là điều kiện, tiền đề, vừa là kết quả
của nhau Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, tốc độ nhanh và hiệu quả
sẽ tạo điều kiện, tiền đề thuận lợi cho CDCCLĐ Song tính hiện thực của việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói trên phải được thực hiện thông qua nguồn lực
lao động, thông qua kết quả của việc CDCCLĐ Thực chất của xu hướng nói
trên là giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động công
nghiệp và dịch vụ trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Đây là xu hướng nhằm tạo ra một CCLĐ có chất lượng cao theo hướng
CNH, HĐH, từng bước tiếp cận trình độ kinh tế tri thức xu hướng này được
thực hiện đảm bảo nâng cao chất lượng cơ cấu ngành kinh tế, làm cho nền
kinh tế tăng trưởng và phát triển theo hướng bền vững
Thứ ba: Chuyển từ lao động phân tán sang lao động tập trung
chuyên môn hóa.
Kinh nghiệm các nước cho thấy lao động phi tập trung quy mô nhỏ đã
cản trở đến việc sản xuất hàng hóa, cản trở đến việc áp dụng tiến bộ khoa học
- công nghệ Bởi vậy, muốn phát triển kinh tế cần phải chuyển dịch lao động
theo hướng tập trung chuyên môn hóa kết hợp với nhiều quy mô khác nhau để
hình thành vùng kinh tế có lượng lao động tập trung trên cơ sở chuyên ngành,
chuyên nghề, chuyên môn, tạo điều kiện gắn liền với tiến bộ khoa học công
nghệ, tạo điều kiện mở rộng và nâng cao chất lượng thị trường sức lao động
22
Trang 211.1.4 Một số nét về tỉnh Bình dương và những nhân tố ảnh hưởng
đến chuyển dịch cơ cấu lao động trong phát triển khu công nghiệp trên
địa bàn Tỉnh
* Một số nét về tỉnh Bình Dương
Bình Dương là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong vùng
kinh tế trọng điểm phía Nam (thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng
Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu) Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía Nam giáp
thành phố Hồ Chí Minh, phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía Tây giáp thành
phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh
Tổng diện tích tự nhiên của toàn tỉnh là 2.716km2 với dân số 1030700
người, mật độ trung bình 382 người/km2, lao động trong độ tuổi chiếm 72%
dân số Về chất lượng lao động, công nhân kỹ thuật trung học, cao đẳng và
đại học chiếm 0,5% số lao động Hàng năm có từ 15.000-20.000 lao động trẻ
tham gia lực lượng lao động, CCLĐ được phân bố như sau (tính đến 2005):
Lao động trong công nghiệp- xây dựng: chiếm 60,5%
Lao động trong nông nghiệp: chiếm 21%
Lao động trong dịch vụ: chiếm 18,5%
Về thổ nhưỡng, đa phần là đất xám có độ cao trung bình từ 25-30mét
so với mặt nước biển, địa hình khá bằng phẳng (độ dốc 2-5%) áp lực chịu nén
trên 2kg/cm2 là điều kiện rất thích hợp để xây dựng các công trình kiến trúc,
giảm được chi phí trong xây dựng
Đất xây dựng công nghiệp, cơ sở hạ tầng và đô thị được quy hoạch trên
40.000ha, trong đó sử dụng là 21.000ha, dự kiến quy hoạch để mở rộng các
KCN (trong đó đất trồng cây hàng năm 40.000ha, cây lâu năm 114.000 ha,
chủ yếu là trồng cây cao su, điều và cây ăn trái)
Về thủy văn, Bình Dương có mạng lưới sông ngòi khá dày trong đó có
2 con sông lớn chảy qua là sông Sài Gòn hướng Tây Nam và sông Đồng Nai
23
Trang 22hướng Đông Bắc Đây là hai con sông cung cấp nguồn nước đồng thời là
đường giao thông rất thuận lợi đi các nơi
Về tài nguyên, tỉnh có 86 điểm khai thác mỏ khoáng sản, chủ yếu là
đất cao lanh, đá xây dựng có trữ lượng lớn và chất lượng tốt, đây là tiềm
năng thế mạnh của tỉnh để phát triển ngành nghề gốm sứ, xây dựng và các
ngành nghề khác
Trữ lượng đất cao lanh 150 triệu tấn, tập trung ở 2 huyện Dĩ An và Tân
Uyên
Trữ lượng đất sét làm gạch ngói 250 triệu m3, đá xây dựng 1,3 tỷ m3
Ngoài ra còn có một số khoáng sản khác như đất sét chịu lửa, banxít
vàng, sa khoáng, cát xây dựng các KCN Bình Dương được quy hoạch và
xây dựng chủ yếu tập trung ở 2 huyện Thuận An và Dĩ An thuộc phía Nam
của tỉnh nơi có nền đất thuận lợi cho việc xây dựng các công trình và vị trí địa
lý thuận lợi cho giao thông Ngoài ra tỉnh dự kiến quy hoạch thêm một số
vùng thuộc phía Bắc thị xã Thủ Dầu một và huyện Bến Cát Nơi có những
điều kiện địa lý, thổ nhưỡng thích hợp cho việc thành lập các KCN tập trung
Đặc điểm của Bình Dương khi còn là một bộ phận của tỉnh Sông Bé
thu nhập chủ yếu của tỉnh dựa vào nông nghiệp, lâm nghiệp và cây cao su
Công nghiệp hầu như chưa có gì đáng kể, chỉ là những mặt hàng thủ công mỹ
nghệ và gốm sứ Từ đó xuất phát điểm về công nghiệp là rất thấp, khi Đảng
khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới với phương châm thực hiện CNH,
HĐH đất nước Đảng bộ, chính quyền tỉnh Sông Bé lúc bấy giờ quán triệt rất
sâu sắc Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng, ra sức phấn đấu đưa
nền kinh tế tỉnh nhà đi lên theo con đường CNH, HĐH Tỉnh đã có nhiều
chính sách, Nghị quyết khuyến khích và kêu gọi đầu tư Khi đó tỉnh đã quy
hoạch 13 KCN tập trung với diện tích dự kiến 6200 ha, tận dụng những tiềm
năng và thế mạnh của tỉnh mở ra thời kỳ phát triển mới
24
Trang 23Năm 1997 Bình Dương được tách ra từ tỉnh Sông Bé, từ khi được tái
lập, tỉnh đã nhanh chóng kế thừa những kết quả về phát triển KCN của tỉnh
Sông Bé để lại Đảng bộ, chính quyền tỉnh Bình Dương kiên trì thực hiện
đường lối CNH, HĐH, đặc biệt là thực hiện quá trình xây dựng và phát triển
các KCN để tạo điều kiện cho việc thu hút vốn đầu tư làm bước khởi đầu cho
quá trình CNH, HĐH của Tỉnh
Với lợi thế là một tỉnh nằm cạnh thành phố Hồ Chí Minh - trung tâm
công nghiệp, có Cảng lớn, có sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất Các KCN Bình
Dương có vị trí thuận tiện cho các tuyến đường giao thông thủy, bộ, hàng
không, chỉ cách sân bay Tân Sơn Nhất 1520km; cách cảng Sài Gòn từ 9
-15km Ngay trong tỉnh có ga hàng hóa xe lửa Sóng Thần nằm gần KCN là
đầu mối giao lưu hàng hóa với khắp các tỉnh, thành trong cả nước Bên cạnh
đó, đất đai quy hoạch xây dựng các KCN là địa bàn có điều kiện thổ nhưỡng
thuận lợi cho việc xây dựng các công trình kiến trúc, các kết cấu hạ tầng
KCN Với những lợi thế trên phát triển các KCN tập trung sẽ mang lại hiệu
quả là một điều chắc chắn
Cùng với những lợi thế mà Bình Dương có được so với các tỉnh thành
phố khác, việc phát triển các KCN ở Bình Dương còn gặp những khó khăn đó
là:
Thứ nhất, Bình Dương chưa có được những kinh nghiệm trong việc
thành lập các KCN so với thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, bởi vậy công
tác kêu gọi đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài còn hạn chế
Thứ hai, Bình Dương không có thế mạnh về đội ngũ cán bộ khoa học kỹ
thuật, thiếu những công nhân lành nghề và có kỹ thuật kỹ thuật cao, mà chủ yếu là
những lao động xuất thân từ nông nghiệp, chưa quen với lao động công nghiệp
25
Trang 24Thứ ba, Bình Dương là một tỉnh đô thị loại 5 nên việc đầu tư cơ sở hạ
tầng còn nhiều thiếu thốn, ảnh hưởng tới tâm lý các nhà đầu tư
Thứ tư, là một tỉnh có dân số thấp, việc cung ứng lao động cho các
KCN trong tỉnh gặp nhiều khó khăn
Với những điều kiện thuận lợi và khó khăn đó, vấn đề đặt ra cho Bình
Dương là làm thế nào để đẩy nhanh tiến độ đầu tư phát triển KCN Đây là vấn
đề mà Đảng bộ, chính quyền tỉnh Bình Dương luôn quan tâm và trăn trở Phát
triển KCN là một yêu cầu bức xúc trong tiến trình thực hiện CNH, HĐH của
Tỉnh Chính vì điều đó, trong nghị quyết của Tỉnh đảng bộ, Nghị quyết của
hội đồng nhân dân Tỉnh và chương trình công tác của ủy ban nhân dân, luôn
quán triệt nhất quán phương châm “trải chiếu hoa để mời gọi các nhà đầu tư,
trải thảm đỏ để đón những nhà trí thức”
Từ việc vận dụng được những lợi thế về tiềm lực, Đảng và chính quyền
Tỉnh đã có những chủ trương đúng đắn và nhất quán đi đôi với những việc
làm cụ thể, nhất là cải cách thủ tục hành chính và phong cách làm việc của
các cấp lãnh đạo Bình Dương đã tạo ra một nguồn lực mạnh mẽ hấp dẫn thực
sự các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến Bình Dương để tìm hiểu cơ hội và
đâu tư sản xuất kinh doanh, chỉ trong một thời gian ngắn Bình Dương đã trở
thành một địa điểm được nhiều nhà đầu tư lưu tâm và hợp tác
Cho đến nay, quá trình CNH, HĐH ở Bình Dương đã đạt được nhiều
nhiều kết quả đáng khích lệ Với sự phát triển mạnh mẽ của ngành công
nghiệp trong tỉnh, tập trung nhất là hình thành và phát triển các KCN, đã giúp
Bình Dương thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực Từ
một tỉnh thuần nông, chỉ sau hơn 15 năm tập trung đầu tư, xây dựng và phát
triển các KCN, Bình Dương đã được cả nước biết đến là một tỉnh có nền công
nghiệp phát triển với giá trị sản xuất công nghiệp năm 2005 đạt hơn 32 nghìn
26
Trang 25tỷ đồng, tỷ trọng công nghiệp chiếm 63,8% GDP và nói đến Bình Dương hiện
nay, mọi người đều biết đó là tỉnh của các KCN
Với sự phát triển mạnh mẽ của các KCN điều quan trọng nhất đối với
Bình Dương hiện nay là phát triển nguồn nhân lực Nguồn nhân lực đáp ứng
cho nhu cầu sản xuất công nghiệp trong các KCN Nguồn nhân lực trước đây
chưa được chuẩn bị và cho đến hiện nay và tương lai đang còn thiếu nhiều
cả về số lượng và chất lượng Yêu cầu đặt ra cho Bình Dương là phải có
những chủ trương chính sách đúng đắn, phù hợp trong CDCCLĐ, nhằm khai
thác, sử dụng tối đa nguồn lao động trong tỉnh và thu hút nguồn lao động từ
bên ngoài để thoả mãn nhu cầu sản xuất công nghiệp nói chung và các KCN
trong tỉnh nói riêng
* Những nhân tố ảnh hưởng:
Một là, trình độ cơ sở vật chất kỹ thuật của khu công nghiệp
Trong bộ tư bản, khi nghiên cứu tích lũy tư bản, Mác đã đề cập đến mối
quan hệ giữa sự tăng lên của cấu tạo hữu cơ tư bản với sự biến đổi của quy
mô, cơ cấu và chất lượng lao động Theo ông, cấu tạo hữu cơ tư bản tăng lên
phản ánh sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ ngày càng hiện đại,
làm cho việc thu hút lao động về số lượng sẽ giảm tương đối, đồng thời
CCLĐ cũng thay đổi theo hướng tỷ trọng lao động giản đơn giảm xuống và tỷ
trọng lao động phức tạp tăng lên trong tổng số lao động xã hội, trong từng
thời kỳ tương ứng Từ ý tưởng trên có thể thấy CDCCLĐ theo hướng CNH,
HĐH nói chung và trong phát triển KCN ở tỉnh Bình Dương nói riêng không
thể không xem xét một cách nghiêm túc mối quan hệ tác động giữa nó với
trình độ cơ sở vật chất kỹ thuật
Phát triển các KCN về thực chất là tiến hành CNH, HĐH trong lĩnh vực
công nghiệp, nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, thay thế lao động thủ
27
Trang 26công bằng lao động cơ khí hóa và một phần tự động hóa trong các ngành kinh
tế và ngay trong các KCN Đồng thời trên cơ sở trình độ đã đạt được của cơ
sở vật chất - kỹ thuật mới, mà cải biến cơ cấu kinh tế lạc hậu, thúc đẩy quá
trình chuyển đổi CCLĐ, mở rộng thị trường, phát triển sản xuất và lưu thông
hàng hóa trong nước và quốc tế
Trình độ cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng cao do quá trình CNH,
HĐH mang lại đã tạo thêm nhiều điều kiện cho lao động chuyển dịch theo
hướng giảm dần tỷ trọng lao động trong ngành nông nghiệp, tỷ trọng lao động
trong các ngành công nghiệp và dịch vụ tăng lên, gắn liền với các giai đoạn phát
triển của công nghiệp, trình độ của người lao động không ngừng được nâng cao
Quá trình phát triển KCN ở Bình Dương gắn liền với việc thu hút đầu
tư và chuyển giao công nghệ mới Đó là việc ứng dụng những thành tựu hoa
học kỹ thuật vào sản xuất trong các nhà máy, xí nghiệp Điều đó sẽ làm cho
trình độ cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại hơn
Trong bối cảnh quốc tế và trong nước hiện nay, cho phép Bình Dương
tiếp nhận những phương tiện, máy móc hiện đại từ bên ngoài và trong nước
để trang bị trong các KCN với yêu cầu và khả năng của các doanh nghiệp
Để đáp ứng yêu cầu chuyển giao công nghệ Bình Dương cần có lực
lượng lao động có trình độ và chuyên môn nghiệp vụ Số lao động này có thể
được cung cấp từ nguồn lao động trong tỉnh, chuyển từ lao động nông nghiệp,
nông thôn đã được đào tạo hoặc thu hút từ các tỉnh, thành trong cả nước
Trong thực tế, hiện nay số lao động được đào tạo và khả năng đào tạo được
qua các trường, lớp, trung tâm dạy nghề của tỉnh rất thấp do hạn chế về trình
độ văn hóa và cuộc sống của họ gắn với nông nghiệp, nông thôn
Bên cạnh đó, trong đội ngũ công nhân làm việc ở các KCN hiện nay thì
công nhân làm việc trong các ngành da giày, dệt may, bao bì, chế biến thực
phẩm, lắp ráp điện tử, chiếm tỷ lệ đông nhất Đa số họ lại từ các tỉnh khác đến
28
Trang 27Bình Dương làm việc (chiếm 88%) ở các ngành này, phần đông lao động là nữ.
Do áp lực của công việc, do môi trường giao tiếp hạn hẹp nên chị em ít có điều
kiện tìm hiểu, xây dựng gia đình Vì vậy, đa số chị em làm việc dăm bảy năm là
tính đường về quê để lập gia đình Khi đó, trong các KCN lại thiếu một đội ngũ
công nhân lành nghề, có kinh nghiệm trong sản xuất Thực tế đó ảnh hưởng rất
lớn tới CDCCLĐ trong phát triển các KCN ở Bình Dương hiện nay
Hai là, trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật của người lao động
Đây là một nhân tố cơ bản có ý nghĩa quyết định đến việc CDCCLĐ
trong phát triển các KCN ở Bình Dương hiện nay Vì khi trình độ học vấn và
chuyên môn kỹ thuật được nâng cao tạo điều kiện cho người lao động tiếp cận
và vận dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến vào quá
trình sản xuất, đáp ứng yêu cầu phân công lao động xã hội Lý luận và thực
tiễn cho thấy: Một nước, một địa phương tỷ trọng lao động có trình độ đại
học, cao đẳng, trung học, chuyên nghiệp và phổ thông trung học càng cao thì
tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu ngành kinh tế càng cao
và ngược lại Nói cách khác, tỷ trọng lao động nông nghiệp có quan hệ tỷ lệ
nghịch với trình độ học vấn, còn tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ có
quan hệ tỷ lệ thuận với trình độ học vấn của người lao động
Một trở ngại đặt ra cho Bình Dương hiện nay là trình độ văn hóa và chuyên
môn kỹ thuật của người lao động còn thấp Về chất lượng lao động công nhân kỹ
thuật có trình độ trung học, cao đẳng và đại học chỉ chiếm 0,5% số lao động Trong
giai đoạn hiện nay còn đáp ứng được nhu cầu sản xuất trong các KCN, vì một số
nhóm ngành đòi hỏi trình độ chuyên môn của người lao động chưa cao như: chế biến
gỗ, dệt may, da dày và sản xuất sản phẩm công nghiệp khác, 4 nhóm ngành này
chiếm tới 76,57% còn lại 3 nhóm ngành hóa chất, cơ khí điện tử, dịch vụ hỗ trợ KCN
đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật cao chỉ chiếm 23,43% tổng số các dự án đầu tư
vào các KCN ở Bình Dương (tính đến 02/2004)
29
Trang 28Trong tương lai với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và
việc ứng dụng vào sản xuất trong các KCN, thì trình độ học vấn và chuyên
môn kỹ thuật của lực lượng lao động ở Bình Dương hiện nay là một khó khăn
rất lớn đặt ra trong quá trình CDCCLĐ
Ba là, tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhất là cơ cấu ngành và
nội bộ ngành kinh tế trong từng thời kỳ.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn liền với quá trình CDCCLĐ
Sự thay đổi cơ cấu kinh tế, nhất là cơ cấu ngành kinh tế tất yếu kéo theo sự
thay đổi trong CCLĐ, tạo ra sự phân công lao động mới CCLĐ một mặt phản
ánh cơ cấu kinh tế nhưng mặt khác nó cũng là một nhân tố quan trọng nhất có
tính quyết định đến sự thành bại của chuyển dịch cơ cấu kinh tế Kinh nghiệm
của các nước và lãnh thổ châu Á như Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan cho
thấy tiến trình CNH, HĐH đất nước nhất thiết phải xây dựng chiến lược
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và CCLĐ theo hướng chuyển từ nông nghiệp sang
công nghiệp và dịch vụ Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và CCLĐ là thước
đo kết quả của quá trình CNH, HĐH đất nước, là hiệu quả của các chính sách
phát triển kinh tế - xã hội theo ngành là chủ yếu
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, đặc biệt là việc hình thành
KCN trong thời gian qua trên địa bàn Bình Dương đã bước đầu phát triển
mạnh các ngành công nghiệp chế biến nông sản, da giày, dệt may, hóa chất,
cơ khí, điện tử Các hoạt động sản xuất công nghiệp đã tạo ra thị trường mới,
thu hút lao động dư thừa từ nông nghiệp, biến lao động thuần nông, giản đơn
thành lao động tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp và dịch vụ có trình độ kỹ
thuật và đạt năng suất lao động xã hội cao
Ngược lại, CDCCLĐ trong quá trình phát triển các KCN còn tạo nên sự
phân công lại lao động hợp lý giữa các ngành kinh tế trong tỉnh, cho phép
khai thác có hiệu quả tiềm năng kinh tế trong tỉnh, cho phép khai thác có hiệu
30
Trang 29quả tiềm năng kinh tế ngành, vùng để phát triển kinh tế, giải quyết công ăn
việc làm, tạo thu nhập cho người lao động
Bốn là, cải cách hành chính đi cùng hiệu quả thu hút đầu tư vào các KCN.
Nhận thức được lợi thế và tiềm năng, Đảng bộ và chính quyền tỉnh
Bình Dương đã có những chủ trương đúng đắn và nhất quán đi đôi với những
việc làm cụ thể, nhất là cải cách thủ tục hành chính và phong cách làm việc
của các cấp lãnh đạo trong tỉnh Bình Dương đã tạo ra một nguồn lực thực sự
hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước tìm đến
Không chỉ thu hút đầu tư nước ngoài, Bình Dương còn không ngừng đổi
mới, sắp xếp và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước, tạo
điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển Hiện toàn tỉnh đã có 2.734 doanh
nghiệp có vốn đăng ký 11.401 tỷ đồng để sản xuất, kinh doanh phục vụ hàng hóa,
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu Điều quan trọng là trong năm 2004 đã giải
quyết việc làm cho 33.000 lao động có việc làm Kinh tế công nghiệp đã góp phần
tăng tỷ trọng GDP, tăng thu ngân sách Nhà nước lên 27%, đáp ứng cho sự nghiệp
văn hóa-xã hội, quốc phòng-an ninh trên địa bàn tỉnh
Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương cho biết, với điều kiện cơ sở hạ tầng
của các KCN đã và đang được xây dựng, năm 2006 tỉnh sẽ thu hút được 1 tỷ
USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) gấp 3 lần so với dự kiến
Để thu hút đầu tư, tỉnh Bình Dương đã chỉ đạo các ngành các cấp phải
tiếp tục thực hiện tốt công tác cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một
cửa” tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư trong các quan
hệ, làm thủ tục về thuế, hải quan, đất đai, xây dựng, lao động, sản xuất kinh
doanh Tỉnh cũng đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại kêu gọi đầu tư,
hướng các dự án mới vào các KCN tập trung, hạn chế đầu tư lẻ bên ngoài, tập
trung lấp kín diện tích các KCN đã có và hạn chế phát triển thêm khu mới
Các chủ trương, chính sách về đầu tư đều được thực hiện nghiêm túc từ
sở, ngành, ban quản lý KCN trở xuống thông qua công tác cải cách hành
31
Trang 30chính UBND tỉnh đã ban hành quy định và thủ tục, trình từ và thời gian xét
duyệt cấp giấy phép đầu tư nước ngoài trong và ngoài KCN là 3 ngày (Đối
với dự án phải thoả thuận bằng văn bản của Bộ, ngành trung ương) Bình
Dương xác định, cải cách hành chính là nhiệm vụ rộng lớn có liên quan đến
đời sống chính trị- xã hội Trong tiến trình CNH, HĐH đất nước đòi hỏi Bình
Dương phải tiếp tục nâng lên tầm cao mới, bên cạnh cải cách thể chế hành
chính theo hướng tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý Nhà nước,
thực hiện kỷ cương phép nước, kỷ luật hành chính, nâng cao chất lượng phục
vụ nhân dân, tạo môi trường thông thoáng, để thu hút đầu tư Năm 2005, Bình
Dương sẽ đảm bảo việc thực thi pháp luật nghiêm minh trong các cơ quan
Nhà nước, trong từng cán bộ, công chức, phát huy quyền làm chủ của nhân
dân trên các lĩnh vực, tiếp tục hoàn thiện cơ chế “một cửa”, tiến hành điều tra,
đánh giá chính xác số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ công chức nhằm xây
dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, quản lý cán bộ công chức bằng
hệ thống tin học ở các cơ quan Nhà nước, hiện đại hóa công tác hành chính,
ứng dụng công nghệ thông tin nối mạng từ chính phủ đến cơ sở xã, phường,
thị trấn và xã hội hóa các đơn vị sự nghiệp
1.2 Cơ sở lí luận và những tác động của chuyển dịch cơ cấu lao động
trong quá trình phát triển khu công nghiệp đến đảm bảo nguồn nhân lực cho
khu vực phòng thủ tỉnh Bình Dương trong giai đoạn hiện nay
CDCCLĐ là một hoạt động kinh tế, xã hội có tầm chiến lược lâu dài
đối với cả nước nói chung và tỉnh Bình Dương nói riêng Quá trình này có sự
tác động rất to lớn tới phát triển kinh tế xã hội và xây dựng KVPT của tỉnh
Bình Dương và khu vực miền Đông Nam Bộ nói chung Để làm rõ sự tác
động của CDCCLĐ trong phát triển KCN đến đảm bảo nguồn nhân lực cho
KVPT Tỉnh cần nghiên cứu cơ sở lí luận của sự tác động này
32
Trang 311.2.1 Cơ sở lí luận về sự tác động của chuyển dịch cơ cấu lao động
trong phát triển khu công nghiệp đến đảm bảo nguồn nhân lực cho khu
vực phòng thủ tỉnh Bình Dương
Cần nhận thức rằng, cơ sở lí luận về sự tác động của CDCCLĐ trong
phát triển KCN đến đảm bảo nguồn nhân lực cho KVPT tỉnh Bình Dương, bắt
nguồn từ mối quan hệ giữa kinh tế với chiến tranh và quốc phòng
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, kinh tế và quốc phòng là
hai lĩnh vực khác nhau, nhưng chúng có mối quan hệ biện chứng tác động qua
lại với nhau Trong mối quan hệ này, kinh tế là nhân tố xét đến cùng quyết
định đối với quốc phòng, sự quyết định đó bao gồm, cả nguồn gốc, bản chất,
quy mô, trình độ và tổ chức biên chế của quốc phòng
Khi bàn về vấn đề này, Ph.ăngghen khẳng định: “Không có gì lại phụ
thuộc vào điều kiện kinh tế hơn là chính quân đội và hạm đội Vũ trang, biên
chế, chiến thuật, chiến lược phụ thuộc trước hết hết vào trình độ sản xuất đạt
được trong một thời điểm nhất định” [1, tr.235] Vũ khí, phương tiện và kết cấu
hạ tầng đảm bảo cho tiến hành chiến tranh và củng cố quốc phòng chịu sự
quyết định của nền kinh tế quốc dân Ph.ăngghen viết: “ …bất cứ ở đâu và bất
cứ lúc nào, những điều kiện kinh tế và tài nguyên kinh tế là những cái đã giúp
cho “bạo lực” chiến thắng, nếu không có những điều kiện và tài nguyên đó thì
bạo lực không còn là bạo lực nữa…”[1, tr 242] Điều đó cho thấy, vai trò của
nền kinh tế đối với chiến tranh và quốc phòng không ngừng tăng lên cùng với
sự tăng lên của LLSX Sự phụ thuộc của chiến tranh và quốc phòng vào kinh tế
không chỉ về mặt kinh tế - kỹ thuật mà cả kinh tế - xã hội Bàn về vấn đề này,
V.I.lênin viết: “ Khả năng phòng thủ, sức mạnh quân sự của một nước mà ngân
hàng đã được quốc hữu hoá, thì cao hơn khả năng phòng thủ của một nước mà
ngân hàng còn trong tay tư nhân Sức mạnh quân sự của một nước nông dân,
33
Trang 32trong đó ruộng đất ở trong tay uỷ ban nông dân thì cao hơn sức mạnh quân sự
của một nước còn chế độ địa chủ chiếm hữu ruộng đất”[22, tr.261]
Như vậy, các nhà kinh điển đều khẳng định, kinh tế quyết định chiến
tranh và quốc phòng Sự quyết định đó thông qua sự phát triển của trình độ
LLSX và chế độ kinh tế - xã hội
CDCCLĐ trong phát triển KCN ở tỉnh Bình Dương là một chủ trương
lớn có tầm chiến lược về kinh tế - xã hội của Tỉnh Uỷ và UBND Tỉnh, chủ
trương này có sự tác động mạnh mẽ trực tiếp tới sự phát triển của các KCN
trên địa bàn Tỉnh và nhiều mặt về đời sống kinh tế, xã hội của tỉnh nhà Chính
vì vậy, quá trình này có sự tác động toàn diện đối với xây dựng KVPT tỉnh
mà trực tiếp đó là vấn đề đảm bảo nguồn nhân lực
Khu vực phòng thủ (KVPT) tỉnh, thành phố là một bộ phận cấu thành
thế trận quốc phòng - an ninh cả nước Xây dựng KVPT vững mạnh góp phần
tạo sức mạnh quốc phòng, an ninh để thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Vì vậy, việc xây dựng tỉnh, thành phố
thành KVPT vững chắc là chủ trương có ý nghĩa chiến lược của Đảng và Nhà
nước ta trong giai đoạn hiện nay
Theo quan niệm của Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam: “KVPT
tỉnh, thành phố là đơn vị tổ chức về quốc phòng-an ninh theo địa bàn hành
chính của tỉnh ở Việt Nam, tạo thành thế trận quốc phòng, an ninh cả nước
KVPT tỉnh được xây dựng vững mạnh về mọi mặt; chính trị, kinh tế, xã hội,
quân sự, an ninh, dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của cấp tỉnh, tạo sức mạnh tổng
hợp, tập trung chủ yếu vào những KVPT then chốt để phòng thủ địa phương
chống mọi âm mưu hành động phá hoại và xâm lược của kẻ thù KVPT giữ vị
trí chiến lược quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam XHCN” [36, tr.446 - 447]
34
Trang 33Khái niệm trên chỉ rõ KVPT tỉnh là đơn vị tổ chức quốc phòng-an ninh
theo địa bàn hành chính tỉnh Xây dựng KVPT tỉnh vững chắc là chủ trương
có tính chiến lược của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc theo tư duy mới Đó là sự phát triển sáng tạo đường lối chiến
tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân mà các thế hệ cha anh đi trước đã tổng
kết trong điều kiện mới Sức mạnh KVPT là sức mạnh tổng hợp
Tỉnh Bình Dương là một tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng của khu
vực miền Đông Nam Bộ là cửa ngõ phía Đông của Thành phố Hồ Chí Minh
nằm ở vị trí trung tâm của Quân khu 7 Do đó, nội dung xây dựng KVPT tỉnh
Bình Dương vững mạnh là rất toàn diện, gồm cả về kinh tế, chính trị, xã hội,
quân sự, an ninh nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp để thực hiện phương
châm “tỉnh giữ tỉnh”, “huyện giữ huyện”, “xã giữ xã” Phương thức tiến trình,
xây dựng KVPT là kết hợp giữa xây dựng với bảo vệ, bảo vệ với xây dựng để
đáp ứng kịp thời cho mọi tình huống có thể xảy ra trên địa bàn, tập trung chủ
yếu vào những KVPT then chốt, sẵn sàng chống mọi âm mưu, hành động phá
hoại và xâm lược của kẻ thù Đồng thời cùng các địa phương khác trong cả
nước thực hiện giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, bảo
vệ chế độ XHCN, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền các cấp, bảo vệ nhân dân
Xây dựng KVPT trước hết là, nói đến khả năng tự vệ của nó bằng các
hoạt động vũ trang nhằm mục tiêu đủ sức đánh bại các đợt tấn công vũ trang
của kẻ xâm lược theo hướng chiến trường được dự kiến, bảo vệ vững chắc
địa bàn lãnh thổ, góp phần cùng cả nước hình thành thế trận chiến tranh
nhân dân vững chắc
Để có được KVPT tỉnh Bình Dương vững chắc thì việc bảo đảm nguồn
nhân lực là vấn đề có ý nghĩa then chốt, bởi con người bao giờ cũng là yếu tố
quyết định trong cả sản xuất và chiến đấu V.I.lênin đã từng nhấn mạnh:
35
Trang 34“Chiến tranh hiện đại cũng như kỹ thuật hiện đại đòi hỏi phải có nguồn nhân
lực có chất lượng cao” [21, tr.130]
Đảm bảo nguồn nhân lực cho xây dựng KVPT tỉnh Bình Dương là tổng
thể các quá trình, các giải pháp được Tỉnh Uỷ, ubnd Tỉnh tiến hành và sử
dụng nhằm đáp ứng các nhu về nhân lực cho xây dựng KVPT Đảm bảo
nguồn nhân lực cho KVPT tỉnh Bình Dương là một tất yếu khách quan, xuất
phát từ sự nghiệp xây dựng đất nước đi đôi với giữ nước; từ mối quan hệ biện
chứng giữa kinh tế với chiến tranh; kinh tế và quốc phòng; từ vai trò của Nhà
nước XHCN trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
Đảm bảo nguồn nhân lực cho xây dựng KVPT tỉnh Bình Dương, trong giai
đoạn hiện nay được tiến hành trong điều kiện đẩy mạnh CNH, HĐH nền kinh
tế; phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN Các quá trình đó được
biểu hiện tập trung thông qua chuyển dịch cơ cấu kinh tế, CCLĐ trên phạm vi
của tỉnh cũng như trên phạm vi của nước
1.2.2 Những tác động của chuyển dịch cơ cấu lao động trong phát
triển khu công nghiệp đến đảm bảo nguồn nhân lực cho khu vực phòng
thủ tỉnh Bình Dương hiện nay
Quá trình CDCCLĐ trong phát triển KCN ở tỉnh Bình Dương có sự tác
động rất tích cực, nhưng cũng có những tác động không tích cực, cần được
phân tích một cách toàn diện
1.2.2.1 Những tác động tích cực
Thứ nhất, làm tăng nhanh số lượng giai cấp công nhân trên địa bàn
tỉnh Bình Dương tạo cơ sở chính trị, xã hội tốt hơn cho xây dựng kinh tế
-xã hội và KVPT tỉnh
Bình Dương là một tỉnh vốn thuần nông, trước đây lực lượng lao động
chiếm tới trên 90%, nằm trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Chưa kể Bình
Dương là một tỉnh ở trung tâm Quân khu 7, nơi có vị trí cực kỳ quan trọng về
36
Trang 35kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh trong khu vực miền Đông Nam Bộ.
Trong thời kì Mỹ, Ngụy còn chiếm đóng, chúng cho phát triển rất nhiều các
loại tôn giáo nhằm tạo cơ sở chính trị bảo vệ chế độ tay sai và thực hiện âm
mưu chiếm đóng lâu dài của quan thầy Sau giải phóng, tình hình chính trị
từng bước đi vào thế ổn định và phát triển tốt Nhưng các lực lượng thù địch
với cách mạng nước ta luôn chọn nơi đây làm bàn đạp để thâm nhập vào
thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh khác trong khu vực Chính vì vậy, sự phát
triển nhanh lực lượng giai cấp công nhân trên địa bàn tỉnh Bình Dương có ý
nghĩa kinh tế, chính trị và quân sự rất to lớn Một mặt, lực lượng giai cấp
công nhân phát triển với số lượng ngày càng đông tạo cơ sở chính trị tốt cho
việc xây dựng chính quyền các cấp Đồng thời, bổ sung nhiều cán bộ là công
nhân vào các cấp lãnh đạo của các địa phương trong toàn tỉnh Mặt khác,
chính sự phát triển của giai cấp công nhân sẽ tạo tiền đề tốt cho việc xây dựng
các lực lượng dân quân tự vệ tại chỗ có thành phần cơ bản về chính trị, bảo vệ
sự an toàn về tài sản và trật tự an ninh ở các cơ quan, xí nghiệp, các cơ sở
kinh tế, xã hội của các địa phương trên toàn tỉnh
Việc thu hút lực lượng lao động vào các KCN, việc đa dạng hoá các
thành phần kinh tế trên địa bàn tỉnh trong thời gian vừa qua, đặc biệt từ năm
2001- 2005 có tác động to lớn tới cơ cấu dân cư tạo nên thế trận quốc phòng,
an ninh mới trong toàn tỉnh Cụ thể, phân bố lại dân cư ở hầu hết các huyện
thuộc tỉnh Bình Dương đều có sự tăng lên như sau: Thị xã Thủ Dầu I năm
2000 có 26.723 người, năm 2004 có 29.560 người Huyện Dầu Tiếng năm
2000 có 6590 người, năm 2004 có 14.410 người Huyện Bến Cát năm 2000
có 6.341 người, năm 2004 có 24.399 người Huyện Phú Giáo năm 2000 có
7768 người, năm 2004 có 16.283 người Tốc độ tăng giai cấp công nhân ở
tỉnh Bình Dương vào loại nhanh so với các tỉnh, thành trong cả nước Chẳng
hạn, năm 2001 là 153 nghìn người, thì đến năm 2005 tăng lên 369 nghìn
37
Trang 36người, tăng xấp xỉ 240%, bình quân mỗi năm gần 60% Điều đó cho thấy, nhu
cầu về lực lao động trong các KCN của tỉnh Bình Dương hàng năm rất lớn và
đã được đáp ứng kịp thời
Như vậy, so với thời kỳ sau giải phóng đến nay, cơ sở chính trị của
KVPT tỉnh Bình Dương đã có sự phát triển vượt bậc từ chỗ lực lao động chủ
yếu là nông dân và với nhiều loại tôn giáo như Thiên chúa giáo, Tin lành, đạo
Phật, đạo Hoà hảo rất phức tạp Ngày nay lực lượng công nhân đã chiếm tỷ
trọng ngày càng cao và được bố trí rộng khắp trong toàn tỉnh Với sự tăng
nhanh lực lao động là giai cấp công nhân, cơ sở chính trị để xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc của tỉnh Bình Dương đang không ngừng vững mạnh toàn diện
Cũng chính vì vậy, KVPT tỉnh đang được tăng cường một lực lượng đông đảo
giai cấp công nhân có bản lĩnh chính trị vững vàng, sẵn sàng xả thân bảo vệ
sự bình yên của tỉnh nhà và của Tổ quốc
Thứ hai, chất lượng lực lượng lao động ngày càng tăng cao đáp ứng tốt
cho nhiệm vụ phát triển kinh tế và xây dựng KVPT tỉnh.
Người lao động đến làm việc tại các KCN, đòi hỏi phải có kiến thức,
trình độ chuyên môn nhất định mới đáp ứng với yêu cầu của công việc Chính
đòi hỏi này, đã tác động đến việc nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn của
người lao động, tạo cơ sở nâng cao chất lượng lực lượng lao động hoạt động
trong các KCN tập trung và cho KVPT tỉnh
Sự gia tăng chất lượng lực lượng lạo động được thể hiện trước hết ở số
học sinh tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông ở Bình Dương từ
152.445 học sinh (2001) lên 153.420 học sinh (2005); Đặc biệt là học sinh
trung học phổ thông từ 22.989 học sinh (2001) lên 28.960 học sinh (2005) [7,
tr.10] Điều này chứng tỏ nhận thức của nhân dân trong tỉnh đã có sự thay đổi
trong việc nâng cao trình độ học vấn cho con em mình Chẳng hạn, để đảm
bảo nguồn nhân lực cho xây dựng KVPT tỉnh về kinh tế, tỉnh Bình Dương đã
38
Trang 37rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, đào tạo nhằm làm chuyển dịch nhanh
chóng cơ cấu, trình độ của lực lượng lao động trong tỉnh nói chung và trong
các KCN nói riêng, đáp ứng với nhu cầu CNH, HĐH Trong thời gian vừa
qua sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh tiếp tục được phát triển đã và đang
góp phần tích cực vào việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ CNH, HĐH trong
tỉnh, cơ sở vật chất được đầu tư xây dựng và nâng cấp Hàng năm mạng lưới
trường, lớp trên địa bàn phát triển từ thành thị đến nông thôn, đa dạng hoá các
loại trường lớp theo hướng xã hội hoá giáo dục (công lập, bán công, dân lập
và tư thục) Đội ngũ giáo viên các ngành học, bậc học ngày càng tăng và
chuẩn hoá về chất lượng Tháng 12/2003 tỉnh đã có 79/79 xã, phường được bộ
giáo dục và đào tạo công nhận phổ cập giáo dục trung học cơ sở và đến nay
đã có 27 trường đạt chuẩn quốc gia Năm năm 2001-2005 toàn tỉnh đã tăng 40
trường, trong đó, trường mầm non 20, trường tiểu học 16 Ngành học mẫu
giáo đã tăng 145 lớp và 252 giáo viên; ngành học phổ thông tăng 161 lớp và
1270 giáo viên; số học sinh từng cấp học tăng đều hàng năm Với sự quan tâm
của Đảng, chính quyền các cấp, sự nỗ lực cố gắng của giáo viên và học sinh
hàng năm tỷ lệ học sinh khá giỏi đạt 32-36%, số học sinh tốt nghiệp
(2000-2001) là 28723 học sinh, đến năm (2004 - 2005) tăng lên 32763 học sinh
Ngoài việc chăm lo hệ thống giáo dục phổ thông, tỉnh cũng đã tập trung
đầu tư hệ thống giáo dục thường xuyên chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học
“Năm học 2005-2006 toàn tỉnh có một trường đại học, hai trường cao đẳng
với 420 giáo viên So với năm học 2001-2002 tăng 1,8 lần và 6523 sinh viên,
tăng 1,3 lần Cùng với 6 trường trung học chuyên nghiệp với 178 giáo viên,
tăng 1,5 lần và 7018 học sinh , tăng 1,7 lần, đã có 6470 sinh viên học sinh tốt
nghiệp đáp ứng một phần nhu cầu nguồn nhân lực của tỉnh” [7, tr.22- 23]
Qua đó cho thấy, phát triển giáo dục, đào tạo ở Bình Dương là rất toàn
diện cả về văn hoá cơ bản, nghề nghiệp và chính trị Việc bồi dưỡng chính trị
39
Trang 38và đào tạo nghề đã tăng cường, chất lượng chính trị và trình độ chuyên môn
cho lực lượng lao động của tất cả các ngành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương
đã được nâng lên một bước Đây là sự đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực để
xây dựng KVPT tỉnh cả về kinh tế và quân sự Trong tương lai không xa,
khoảng 5-10 năm sau, ở Bình Dương cơ cấu trình độ của lực lượng lao động sẽ
có chuyển dịch nhanh hơn theo hướng lao động có trình độ văn hoá được đào
tạo nghề nghiệp thay thế dần lao động giản đơn, vì các thế hệ lao động kế tiếp
được giáo dục, đào tạo cơ bản hơn, chu đáo hơn Chất lượng nguồn nhân lực
cho xây dựng KVPT về kinh tế cũng như về các mặt khác nhờ kết quả của sự
phát triển giáo dục, đào tạo mà ngày càng được đảm bảo tốt hơn
Quá trình CDCCLĐ trong phát triển KCN ở Bình Dương những năm vừa
qua, đã có tác động nhất định đến xây dựng về lực lượng quân sự Các lực lượng
vũ trang thường trực làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự trên địa bàn tỉnh
huyện luôn quán triệt phương châm: Xây dựng lực lượng vũ trang theo hướng
“cách mạng, chính quy, tinh nhụê từng bước hiện đại”, có số lượng hợp lý, chất
lượng tổng hợp cao, chú trọng nâng cao chất lượng chính trị cho cán bộ, chiến sĩ,
coi đó là yếu tố quan trọng hàng đầu làm cơ sở nâng cao chất lượng toàn diện
Lực lượng vũ trang thường trực Bình Dương, trong giai đoạn hiện nay được biên
chế gọn nhẹ, thích hợp với thời bình, nhưng có khả năng phát triển nhanh khi
cần thiết theo yêu cầu của chiến tranh và nhiệm vụ quốc phòng an ninh đặt ra
trên địa bàn Bình Dương
Về việc xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, thực hiện chỉ thị 55/ CT-TU
của Ban bí thư Trung ương, Nghị định 29/CP của Chính phủ và pháp lệnh dân
quân tự vệ Bình Dương đã thường xuyên củng cố và kiện toàn lực lượng dân
quân tự vệ cả về số lượng, chất lượng và quy mô tổ chức Tuy nhiên, sự
CDCCLĐ trong phát triển KCN Bình Dương diễn ra tương đối nhanh chóng
nhất là sự chuyển dịch cơ cấu ngành nghề và CDCCLĐ vùng, lãnh thổ vừa tạo
40
Trang 39ra một số thuận lợi, vừa gây khó khăn Thuận lợi vì sự CDCCLĐ trong phát triển
KCN tạo ra nguồn nhân lực để xây dựng tự vệ ở nhà máy, KCN Nhưng sự
CDCCLĐ làm cho nguồn nhân lực của mỗi một địa phương, một cơ sở thường
xuyên biến động gây khó khăn cho việc kiện toàn về số lượng cũng như quản lý,
huấn luyện dân quân tự vệ Mặc dù vậy, tỉnh Bình Dương đã tận dụng được
những thuận lợi và khắc phục khó khăn về nguồn nhân lực để xây dựng lực
lượng dân quân tự vệ trong quá trình CDCCLĐ nhằm phát triển KCN Đó là
việc chủ động di dịch dân cư, lao động đến mọi vùng của tỉnh Hiện tại số lao
động chuyển dịch đến các KCN đã bao hàm hầu hết các địa bàn trong tỉnh như:
thị xã Thủ Dầu Một, huyện Dầu Tiếng, huyện Bến Cát, huyện Phú Giáo, huyện
Dĩ An, huyện Thuận An, Tân Uyên Số cơ sở công nghiệp trên các địa bàn ngày
càng tăng nếu như năm 2001 có 3.608 cơ sở thì đến năm 2005 là 5.110 cơ sở
Lực lượng lao động tăng lên tương ứng là: năm 2001 là 153 nghìn người (trong
đó lao động trong khu vực kinh tế Nhà nước: 13 nghìn, ngoài Nhà nước: 79
nghìn, đầu tư nước ngoài 61nghìn) Đến năm 2005 lực lượng lao động tăng lên
369 nghìn người (trong đó khu vực kinh tế Nhà nước: 13 nghìn; ngoài Nhà
nước: 129 nghìn; khu vực vốn đầu tư nước ngoài: 227 nghìn) [7, tr.31]
Bên cạnh công tác tự đào tạo, tỉnh còn có chủ trương khuyến khích, hỗ
trợ gửi cán bộ và con em trong tỉnh đi đào tạo tại các trường đại học và trung
học chuyên nghiệp của Trung Ương và các tỉnh, thành phố bạn, đặc biệt là
thành phố Hồ Chí Minh Chính vì vậy, chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh
Bình Dương trong những năm qua không ngừng tăng lên cả về chất lượng
chính trị và chất lượng về chuyên môn nghiệp vụ Từ năm 2000 đến cuối năm
2004 toàn tỉnh có 2726 lượt cán bộ, công chức được đào tạo bồi dưỡng về
chuyên môn, nghiệp vụ (trong đó : đào tạo sau đại học 285 người, đại học và
cao đẳng 1884 người, trung cấp : 257 người) Có 2091 lượt cán bộ, công chức
được đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị (trong đó sau đại học 5 người ,
41
Trang 40đại học 335 người, cao cấp 343 người, trung cấp 1408 người) Có 2271 lượt
cán bộ, công chức được đào tạo bồi dưỡng về kiến thức quản lý nhà
nước( trong đó đại học 58 người, trung cấp 644 người, chuyên viên chính 33
người, chuyên viên 1536 người) Có 9591 lượt cán bộ công chức được bồi
dưỡng về quốc phòng, tin học, ngoại ngữ và các kiến thức khác
Chính các hoạt động đào tạo và giáo dục được triển khai một cách
mạnh mẽ và thường xuyên đã góp phần quan trọng nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực của tỉnh Sự nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực là nhân
tố quyết định xây dựng tỉnh Bình Dương ngày càng giàu mạnh về kinh tế và
vững mạnh về quốc phòng, an ninh Xứng đáng là tỉnh nằm ở vị trí trung tâm
của Quân khu 7, xứng đáng với truyền thống vẻ vang “miền Đông gian lao
mà anh dũng”, trong các cuộc chiến tranh giải phóng trước đây
Thứ ba, cơ cấu lực lượng lao động không ngừng biến đổi theo chiều
hướng đáp ứng ngày càng tốt hơn cho phát triển KCN, đẩy nhanh tốc độ tăng
trưởng kinh tế và xây dựng KVPT tỉnh.
CDCCLĐ trong phát triển KCN làm cho phân công lao động và phân
bố lại dân cư một cách hợp lý giữa các ngành, các tiểu vùng và các thành
phần kinh tế nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng thế mạnh của ngành, vùng
và thành phần kinh tế gắn với các nguồn lực, các lợi thế của từng địa bàn
trong tỉnh Sự phát triển kinh tế tạo nên thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận
an ninh nhân dân vững chắc
CDCCLĐ trên địa bàn tỉnh đa dạng về ngành nghề, phân bố hợp lý
giữa các tiểu vùng, hoạt động sản xuất kinh doanh bằng nhiều hình thức, tổ
chức thích hợp, không chỉ phản ánh chất lượng lao động được nâng lên mà
còn nói lên tính phong phú, đa dạng về ngành nghề về chuyên môn Khi có
chiến tranh xảy ra, việc huy động nguồn nhân lực, vật lực cho chiến tranh
được thuận lợi, tiết kiệm được chi phí đào tạo, tham gia hoạt động theo yêu
42