“Tiền đề cơ bản của chủ nghĩa duy vật là thừa nhận thế giới bên ngoài, thừa nhận sự tồn tại của vật ở ngoài ý thức chúng ta và độc lập với ý thức chúng ta” . Triết học Mác cũng như vậy, song, đối với triết học Mác, thừa nhận tính vật chất của thế giới chỉ là khởi điểm chứ không phải kết thúc, cũng không phải là toàn bộ. Xuất phát từ khởi điểm này, phải lý giải và nắm vững một cách biện chứng duy vật về mối quan hệ giữa thế giới và con người, giữa tính vật chất của thế giới và tính năng động của hoạt động tinh thần nhân loại, mới có thể xây dựng được một thế giới quan hoàn chỉnh, khoa học. Các nhà triết học trước đây, kể cả các nhà duy vật chỉ xem xét con người ở vị trí lệ thuộc với hoàn cảnh bên ngoài, chứ chưa đạt tới quan điểm hoạt động của con người.
Trang 1MỞ ĐẦU
“Tiền đề cơ bản của chủ nghĩa duy vật là thừa nhận thế giới bên ngoài,thừa nhận sự tồn tại của vật ở ngoài ý thức chúng ta và độc lập với ý thứcchúng ta”1 Triết học Mác cũng như vậy, song, đối với triết học Mác, thừanhận tính vật chất của thế giới chỉ là khởi điểm chứ không phải kết thúc, cũngkhông phải là toàn bộ Xuất phát từ khởi điểm này, phải lý giải và nắm vữngmột cách biện chứng duy vật về mối quan hệ giữa thế giới và con người, giữatính vật chất của thế giới và tính năng động của hoạt động tinh thần nhân loại,mới có thể xây dựng được một thế giới quan hoàn chỉnh, khoa học Các nhàtriết học trước đây, kể cả các nhà duy vật chỉ xem xét con người ở vị trí lệthuộc với hoàn cảnh bên ngoài, chứ chưa đạt tới quan điểm hoạt động của conngười Trong Luận cương về Phoiơbắc, Mác đã viết: “Khuyết điểm chủ yếucủa toàn bộ chủ nghĩa duy vật từ trước đến nay - kể cả chủ nghĩa duy vật củaPhoiơbắc -là sự vật, hiện thực, cái cảm giác được, chỉ được nhận thức dướihình thức khách thể hay hình thức trực quan, chứ không được nhận thức làhoạt động cảm giác của con người, là thực tiễn, không được nhận thức về mặtchủ quan”2 Chủ nghĩa duy vật ấy xem cảm giác như trạng thái thụ động, chịutác động từ bên ngoài con người, thực ra theo C.Mác, hoạt động cảm giác tự
nó đã là hoạt động thực tiễn cụ thể của con người Con người không chỉ chịu
sự tác động của hoàn cảnh, mà còn là chủ thể tích cực cải tạo hoàn cảnh Chủnghĩa duy vật cũ chưa làm sáng tỏ ý nghĩa nhận thức khi con người tác độngvào thế giới Cần thấy rằng con người nhận thức thế giới là để cải tạo thế giới.Nhận thức cảm giác về thế giới bên ngoài là yếu tố đương nhiên trong hoạtđộng thực tiễn Việc tách rời quan hệ cảm giác về thế giới khỏi hoạt độngthực tiễn đã cho thấy tính phiến diện của cách tiếp cận trực quan, giản đơn.Khắc phục những hạn chế đó, triết học Mác, đã đưa ra quan niệm về thực tiễnđồng thời vạch rõ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, đó là: thực tiễn là cơ
1 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.18, tr.92
2 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr.9.
Trang 2sở, động lực, mục đích của nhận thức, thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra chân
lý
Quan niệm của triết học Mác về vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
đã trở thành điểm xuất phát cho mọi hoạt động cách mạng của giai cấp côngnhân và nhân dân lao động Song, ngày nay bản thân triết học Mác – Lêninnói chung và quan niệm về thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thứcnói riêng cũng đứng trước những thử thách lớn Những thay đổi hết sức sâurộng trong đời sống nhân loại đang cần những giải đáp mới cả về triết học,kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học Bên cạnh đó, cũng cónhững học thuyết, quan điểm công khai phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin.Ngay ở Việt Nam, bất chấp thực tiễn hùng hồn được chứng minh qua 20 nămđổi mới, nhiều người do thông tin không đầy đủ, do bất cập trong nhận thức
lý luận và thực tiễn, phai nhạt lý tưởng, cơ hội chính trị hoặc do bản chấtchống cộng bằng nhiều hình thức công khai hay giấu mặt đã ra sức tấn công,xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, xuyên tạc đường lối đi lên chủ nghĩa xã hộicủa Đảng ta Trước tình hình đó, những quan điểm của triết học Mác - Lênincần thiết phải được bảo vệ và chứng tỏ những giá trị, ý nghĩa bền vững củamình, phải được nhận thức và được phát triển một cách chính xác, sâu sắc,toàn diện và có hệ thống để có thể tiếp tục đóng vai trò làm cơ sở lý luận vàphương pháp luận cho nhận thức khoa học
Với những lý do đó, tôi đã chọn đề tài:”Vai trò của thực tiễn đối với
nhận thức” để làm tiểu luận kết thúc môn học.
Trang 3gì đối với nhận thức của con người.
Sở dĩ các trào lưu triết học trước đó không giải quyết chính xác vấn đềthực tiễn vì ngoài những nguyên nhân về thế giới quan và phương pháp luậncòn do sự hạn chế về mặt nhận thức thực chất vấn đề thực tiễn Bản thân thựctiễn đã có sẵn đặc trưng mâu thuẫn, một mặt, thực tiễn là hoạt động có mục
Trang 4đích của con người, hàm chứa nhân tố chủ quan của con người, chịu sự chiphối lý tính và có ý thức của con người; mặt khác, thực tiễn lại là của conngười thực thể vật chất, thông qua các công cụ vật chất đã tiến hành quá trìnhkhách quan biến đổi thế giới vật chất Không nắm vững một cách toàn diện vàsâu sắc những mâu thuẫn nội tại của thực tiễn là nguyên nhân dẫn đến sựtranh cãi nhận thức luận không dứt, là sự cố chấp giữa chủ nghĩa duy tâm vàchủ nghĩa duy vật.
Kế thừa và phát triển sáng tạo những yếu tố hợp lý trong những quanniệm về thực tiễn của các nhà triết học trước đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã cóquan niệm đúng đắn, khoa học về thực tiễn và vai trò của nó đối với nhậnthức cũng như đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Với việcđưa phạm trù thực tiễn vào lý luận nhận thức, các nhà kinh điển của chủ nghĩaMác-Lênin đã tạo nên một bước chuyển biến cách mạng trong triết học nói
chung và trong lý luận nhận thức nói riêng Thực tiễn là toàn bộ những hoạt
động vật chất, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm mục đích cải biến tự nhiên, xã hội và tư duy.
1.1.2 Đặc trưng và hình thức cơ bản của thực tiễn
*Đặc trưng của hoạt động thực tiễn
Nhìn từ tổng thể, thực tiễn có ba đặc trưng cơ bản: tính hiện thực kháchquan, tính năng động tự giác và tính lịch sử xã hội
Thứ nhất, thực tiễn là hoạt động khách quan có tính vật chất Các yếu tố
và tiền đề cấu thành của thực tiễn gồm: Chủ thể của thực tiễn (con người), đốitượng của thực tiễn (thế giới bên ngoài) và phương tiện của thực tiễn (côngcụ…) Chúng đều là thực tại khách quan mà con người có thể cảm biết được.Kết quả của thực tiễn chính là “sự thật” mà ta cảm biết được, nó cũng là sựtồn tại khách quan ở bên ngoài ý thức của con người; độ rộng, độ sâu và quátrình phát triển của thực tiễn đều chịu sự chế ước của điều kiện khách quan và
sự chi phối của quy luật khách quan Thực tiễn với tư cách là hoạt động khách
Trang 5quan, đặc điểm của nó chính là lấy thực thể cảm tính (con người) cùng vớithực thể cảm tính (vật) phát sinh quan hệ, đồng thời lấy phương thức của cảm
tính tác động vào đối tượng cảm tính Trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và
chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, khi nói đến “Luận cương về Phoiơbắc” của
Mác, Lênin đã dẫn lời của Lêvy: “Mác cho rằng cùng phù hợp với hoạt độngcủa hiện tượng của nhân loại là hoạt động của vật, tức là thực tiễn của nhânloại không chỉ có ý nghĩa của hiện tượng, mà còn có thời gian, ý nghĩa củathực tại khách quan, loài nói của ông ấy về bản chất là chính xác”
Thứ hai, thực tiễn là hoạt động năng động của tự giác, thực tiễn là hoạt
động có tính sáng tạo của con người tự giác cải tạo thế giới vật chất Tronghoạt động thực tiễn, con người lấy nội dung của “vật” chiếu rọi đến chính bảnthân mình, đồng thời lấy nhu cầu của bản thân mình làm hình thức tập trungđến nội dung của “vật”, làm cho sự vật của quan niệm chuyển hoá thành sựvật vật chất Cho nên làm cho “vật” biến thành sự vật tồn tại phụ thuộc ở nhucầu của con người Giữa con người và sự vật thiết lập nên một kiểu thốngnhất mới Ở điểm này, sự tác dụng lẫn nhau giữa hoạt động thực tiễn và thựcthể cảm tính trong giới tự nhiên là căn bản không giống nhau Tính mục đích,tính tự chủ, tính sáng tạo của hoạt động thực tiễn biểu thị rõ thực tiễn có tínhnăng động, tự giác Tính năng động tự giác không chỉ là đặc điểm của thựctiễn, mà còn là một trong những thước đo trình độ phát triển thực tiễn
Thứ ba, thực tiễn là hoạt động lịch sử xã hội Hoạt động thực tiễn được
thực hiện thông qua việc con người sử dụng những công cụ vật chất tác độngtrực tiếp vào những đối tượng làm cho chúng biến đổi theo những mục đíchnhất định Hoạt động này được thực hiện một cách tất yếu, khách quan vàkhông ngừng phát triển bởi con người qua các thời kỳ lịch sử Vì vậy, thựctiễn bao giờ cũng là hoạt động mang tính lịch sử - xã hội
Thực tiễn vừa bắt đầu đã là thực tiễn của xã hội, là thực tiễn của lịch sửđang phát triển Con người luôn ở trong mối quan hệ nhất định để tiến hành
Trang 6các hoạt động thực tiễn Cho dù thực tiễn có thể biểu hiện là hoạt động cá thểcủa một con người, nhưng con người luôn dựa vào lực lượng xã hội làm nảysinh quan hệ với tự nhiên, làm hoạt động thực tiễn Mác đã chỉ ra để tiến hànhsản xuất, giữa những con người với nhau thường nảy sinh những liên hệ vàquan hệ nhất định; chỉ có trong phạm vi của những liên hệ xã hội và quan hệ
xã hội này mới có thể có ảnh hưởng của họ đối với giới tự nhiên và mới cósản xuất “Ngay cả khi tôi chuyển về hoạt động khoa học…, hoạt động mà chỉtrong những trường hợp hiếm có tôi mới có thể thực hiện trng sự giao tiếp vớinhững ngưoiừ khác, ngay cả lúc đó tôi cũng tiến hành một hoạt động xã hội…không những tài liệu cần cho hoạt động của tôi, cả đến bản thân ngôn ngữ mànhà tư tưởng dùng để hoạt động, được cung cấp cho tôi với tính cách là mộtsản phẩm xã hội”1 Còn hoạt động thực tiễn của con người bao gồm đốitượng, phạm vi, quy mô và phương thức của thực tiễn đều chịu sự chế ướccủa điều kiện lịch sử
*Những hình thức cơ bản của hoạt động thực tiễn:
Hoạt động thực tiễn rất đa dạng với nhiều hình thức ngày càng phongphú, song có ba hình thức cơ bản là hoạt động sản xuất vật chất, hoạt độngchính trị - xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học
Hoạt động sản xuất vật chất là hình thức hoạt động cơ bản, đầu tiên của
thực tiễn Đây là hoạt động mà trong đó con người sử dụng những công cụ laođộng tác động vào giới tự nhiên để tạo ra những của cải và các điều kiện thiếtyếu nhằm duy trì sự tồn tại, phát triển của mình và xã hội Trước hết nhân loạichỉ có thể giải quyết vấn đề tư liệu tiêu dùng vật chất như ăn, uống, ở, mặcthông qua sản xuất mới có thể nói đến các hoạt động khác như chính trị, khoahọc, nghệ thuật… Do vậy, cải tạo hoạt động sản xuất đối với tự nhiên là hoạtđộng thực tiễn sớm nhất của nhân loại, cũng là hoạt động căn bản của nhân
loại quyết định tất cả các hoạt động khác Hoạt động chính trị xã hội là hoạt
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.42, tr.170.
Trang 7động của các tổ chức cộng đồng người khác nhau trong xã hội nhằm cải biến
những mối quan hệ xã hội để thúc đẩy xã hội phát triển Thực nghiệm khoa
học là hình thức đặc biệt của thực tiễn, là hoạt động mà con người tạo ra
những trạng thái gần giống, giống hoặc lặp lại của tự nhiên và xã hội nhằmxác định các quy luật biến đổi và phát triển của đối tượng nghiên cứu Hoạtđộng thực tiễn này ngày càng có vai trò quan trọng trong sự phát triển của xãhội, đặc biệt là trong thời kỳ cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại.Mỗi hình thức hoạt động cơ bản của thực tiễn có chức năng quan trọngriêng, song giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫnnhau Trong mối quan hệ đó, hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động cơ bảnnhất, đóng vai trò quyết định đối với các hoạt động khác Bởi vì, nó là hoạtđộng “nguyên thuỷ” nhất và tồn tại một cách khách quan, thường xuyên trongđời sống của con người và nó tạo ra những điều kiện, của cải thiết yếu có tínhquyết định đối với sự sinh tồn và phát triển của con người Không có hoạtđộng sản xuất vật chất thì không thể có các hình thức hoạt động khác Cáchình thức hoạt động khác suy cho cùng cũng xuất phát từ hoạt động sản xuấtvật chất và phục vụ cho hoạt động sản xuất của con người Chính sự tác độngqua lại lẫn nhau của các hình thức hoạt động cơ bản đó làm cho thực tiễn vậnđộng, phát triển không ngừng và ngày càng có vai trò quan trọng đối với nhậnthức
1.2 Phạm trù nhận thức
1.2.1 Bản chất của nhận thức
Trong lịch sử triết học, cuộc đấu tranh xung quanh vấn đề con người cóthể nhận thức được thế giới khách quan hay không cũng như cơ sở nền tảngcủa nhận thức là gì, luôn diễn ra gay go, phức tạp với nhiều quan điểm khácnhau
Chủ nghĩa duy vật trước Mác với các đại biểu như Hêraclit, Đêmôcrit,
Ph Bêcơn, T Hôpxơ, đặc biệt là L Phoiơbắc đã đấu tranh quyết liệt chống lại
Trang 8chủ nghĩa duy tâm, cố gắng lý giải bản chất nhận thức trên lập trường duy vật.
Họ thừa nhận khả năng nhận thức của con người đối với thế giới và coi nhậnthức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc người Song, do hạn chếbởi điều kiện xã hội và trình độ nhận thức nên những quan điểm triết học của
họ còn thiếu cơ sở khoa học, còn mang tính siêu hình, trực quan, máy móctrong giải quyết các vấn đề về nhận thức, chưa phản ánh đúng bản chất vàmối quan hệ giữa các giai đoạn nhận thức Đặc biệt, hạn chế lớn nhất của chủnghĩa duy vật trước Mác là không luận giải đúng vai trò của thực tiễn đối vớinhận thức, nên giải thích một cách siêu hình mối quan hệ giữa chủ thể vàkhách thể nhận thức
L.Phoiơbắc đánh giá cao vai trò của cảm giác trong nhận thức và chỉ ranguồn gốc, cơ sở khách quan của nó Song, lý luận nhận thức của ông cònmang tính duy giác luận, trực quan, cảm tính, chỉ thừa nhận yếu tố sinh vậttrong cảm giác của con người mà không thấy mặt xã hội của nó Ông khôngphân biệt được sự khác nhau về bản chất giữa nhận thức cảm tính với nhậnthức lý tính, hiểu chưa đầy đủ về vai trò thực tiễn là cơ sở của nhận thức, nênđồng nhất cảm giác với tư duy, phủ nhận vai trò tích cực của ý thức
Trái với chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm xuất phát từ việc khôngthừa nhận thế giới vật chất tồn tại độc lập với ý thức nên đã phủ định khảnăng nhận thức thế giới của con người, hoặc nếu thừa nhận thì cho đó chỉ là
sự áp đặt, chi phối từ những lực lượng “siêu nhiên” và kết quả nhận thứckhông phải sự phản ánh hiện thực khách quan
Các nhà duy tâm khách quan, mặc dù không phủ nhận khả năng nhậnthức thế giới, song luôn coi nhận thức không phải là sự phản ánh hiện thựckhách quan, mà chỉ là “tự nhận thức” của ý niệm, còn tư tưởng là sự tồn tại ởđâu đó ngoài con người G Hêghen đã coi “ý niệm tuyệt đối” là linh hồn củanhận thức khoa học chân chính; nhận thức của con người là “ý niệm tuyệt đối
tự nhận thức bản thân mình” Ông còn quy “thực tiễn” vào hoạt động tinh
Trang 9thần; hơn nữa, do chưa thoát khỏi lập trường giai cấp nên ông không đánh giáđúng vai trò của thực tiễn, đặc biệt là vai trò sản xuất vật chất đối với sự pháttriển xã hội.
Các nhà duy tâm chủ quan hoàn toàn thủ tiêu khách thể khi đề cập đếnnhận thức luận Họ cho rằng, tất cả mọi cái đang tồn tại đều là “phức hợp cảmgiác” của con người G Béccơli (1685-1753) cho rằng, “tồn tại có nghĩa làcảm giác được”, đối tượng nhận thức và cảm giác chỉ là một Tất cả mọi cái
từ cảm giác mà ra, và sự vật là sự kết hợp của những cảm giác chủ quan;không có chủ thể thì không có khách thể Cũng như G Béccơli, nhà duy tâmchủ quan và nhà bất khả tri luận Đ Hium (1711-1766) đã tuyệt đối hoá vai tròcủa cảm giác, theo ông, năng lực chủ quan là kim chỉ nam cho cuộc sống,nhận thức chỉ là quá trình tâm lý xảy ra trong con người; thậm chí mối liên hệnhân quả cũng không phải là quy luật của tự nhiên mà chỉ là thói quen tâm lý.Những nhà bất khả tri luận khẳng định thế giới là không thể biết được; lý trícon người có tính chất hạn chế và ngoài giới hạn của cảm giác, con ngườikhông thể biết được gì I.Cantơ cho rằng, con người chỉ nhận thức được “hiệntượng”, còn “vật tự nó” thuộc về “siêu nghiệm”, tuyệt đối không biết được,không phải là đối tượng nhận thức; cảm giác chủ quan là nguồn gốc duy nhấtcủa nhận thức, là cái đứng giữa chủ thể và “vật tự nó”
C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra những quan điểm, nguyên tắc nền tảng
khi trình bày về lý luận nhận thức C.Mác đã vạch ra khuyết điểm chủ yếu của
toàn bộ chủ nghĩa duy vật kể cả chủ nghĩa duy vật của L.Phoiơbắc: “ sự vật,
hiện thực, cái có thể cảm giác được, chỉ được nhận thức dưới hình thức khách
thể hay hình thức trực quan, chứ không được nhận thức là hoạt động cảm giác của con người, là thực tiễn, không được nhận thức về mặt chủ quan”1;đồng thời, ông phê phán chủ nghĩa duy tâm đã tuyệt đối hoá vấn đề tư duy,tuyệt đối hoá “lực lượng tinh thần” ngoài con người C.Mác và Ph.Ăngghen
1 C.Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội 1985, tập 3, tr.9
Trang 10đã đưa ra quan điểm đúng đắn về thực tiễn, vai trò của nó đối với nhận thức,nhận thức khoa học; hai ông đã thực hiện bước ngoặt cách mạng trong lý luậnnhận thức C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: nhận thức là sự thu nhận trithức vào ý thức con người; đời sống xã hội về bản chất là có tính thực tiễn; ýthức, nhận thức chỉ là sự phản ánh hiện thực khách quan vào đầu óc conngười, v.v
V.I.Lênin đã kế tục tư tưởng vĩ đại của C.Mác và Ph.Ăngghen, đồng thờiphát triển lý luận về nhận thức và khẳng định nhận thức là bộ phận cấu thành
hệ thống triết học mácxít hoàn chỉnh Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và
chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, V.I.Lênin đã nêu 3 nguyên tắc làm cơ sở
nghiên cứu lý luận nhận thức duy vật biện chứng
“1) Có những sự vật tồn tại độc lập với ý thức của chúng ta, độc lập vớicảm giác của chúng ta, ở ngoài chúng ta
2) Dứt khoát là không có và không thể có bất kỳ sự khác nhau nào vềnguyên tắc giữa hiện tượng và vật tự nó Chỉ có sự khác nhau giữa cái đãnhận thức và cái chưa được nhận thức
3) Trong lý luận nhận thức, cũng như trong tất cả những lĩnh vực kháccủa khoa học, cần suy luận một cách biện chứng, nghĩa là đừng giả định rằngnhận thức của chúng ta là bất di bất dịch và có sẵn ”1
Cùng với kết luận trên, V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Quan điểm về đời sống, vềthực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”2.Với tinh thần đó, V.I.Lênin đã chỉ ra những vấn đề bản chất nhất của nhậnthức như: đối tượng nhận thức, khả năng nhận thức thế giới khách quan củacon người, sự thống nhất giữa nhận thức với thực tiễn và biện chứng phức tạpcủa quá trình nhận thức Điều đó khẳng định rõ tính thứ nhất của vật chất vàlàm rõ vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường duy vật biện chứng Hơn
1 V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1980, tập 18, tr.117.
2 V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1980, tập 18, tr 167.
Trang 11thế, trong khi khái quát về khả năng nhận thức của con người đối với thế giớikhách quan, V.I.Lênin đã phê phán sâu sắc các quan điểm duy vật siêu hình,duy tâm, thuyết không thể biết.
Như vậy, nhận thức hiểu theo nghĩa chung nhất là sự hiểu biết của conngười đối với hiện thực khách quan, là quá trình tạo thành tri thức trong bộ óc
con người về hiện thực khách quan Bản chất nhận thức là quá trình phản
ánh biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào óc người trên cơ sở thực tiễn.
Nhận thức không phải là hiện thực khách quan mà là quá trình phản ánhhiện thực khách quan một cách tích cực, sáng tạo Điều này vừa khẳng địnhtrình độ nhận thức của con người đối với hiện thực, vừa thừa nhận thế giới vậtchất tồn tại khách quan độc lập với ý thức của con người
Nhận thức là quá trình tác động biện chứng giữa chủ thể và khách thểnhận thức trên cơ sở thực tiễn Chủ thể nhận thức không phải những ngườiriêng lẻ, trừu tượng ngoài xã hội, mà chính là những con người, những thànhviên của những cộng đồng xã hội nhấn định Với chủ quan của mình, chủ thểnhận thức đã tác động tích cực tới khách thể, làm cho nó bộc lộ bản chất, quyluật và như vậy chủ thể nhận thức sẽ có sự hiểu biết về khách thể Quá trìnhnhận thức diễn ra mang tích tích cực, chủ động, sáng tạo Điều này được thểhiện ở sự nhận thức có mục đích; sự phản ánh vượt trước thông qua hoạt độngthực tiễn; nội dung phản ánh là do hiện thực khách quan quy định, nhưng sựphản ánh đó đã thông qua lăng kính chủ quan của chủ thể, là “hình ảnh chủquan của thế giới khách quan”, là “cái vật chất được di chuyển vào óc người”nhưng đã được cải biến ở trong đó Để khắc phục những giới hạn của các giácquan, con người luôn luôn chế tạo ra công cụ, “nối dài các giác quan củamình” để khám phá thế giới - đây cũng là vấn đề căn bản thể hiện tính tíchcực, chủ động, sáng tạo của quá trình nhận thức
Trang 12Nhận thức là một quá trình phản ánh biện chứng phức tạp của con ngườiđối với hiện thực khách quan, thông qua các giai đoạn và mối quan hệ chặtchẽ giữa các giai đoạn Theo V.I.Lênin: “Nhận thức là quá trình xâm nhập(của trí tuệ) vào giới tự nhiên vô cơ, để làm cho giới tự nhiên ấy chịu sự chiphối của chủ thể và để khái quát (nhận thức cái chung trong các hiện tượngcủa tự nhiên ấy) ”1 “Nhận thức là sự tiến gần mãi mãi và vô tận của tư duy
đến khách thể Phản ánh của giới tự nhiên trong tư tưởng con người phải
được hiểu không phải một cách “chết cứng”, “trừu tượng”, không phải khôngvận động, không mâu thuẫn, mà là quá trình trong vĩnh viễn của vận động,của sự nảy sinh mâu thuẫn và sự giải quyết các mâu thuẫn đó”2
Là sự phản ánh thế giới vật chất phong phú, phức tạp luôn vận động biếnđổi cho nên nhận thức của con người cũng có một quá trình “vĩnh viễn củavận động” từ chưa hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện Những thành quảnhận thức của các thế hệ kế tiếp nhau đã làm cho tri thức của nhân loại ngàycàng phong phú, sâu sắc và đầy đủ hơn Quá trình nhận thức thế giới là kếtquả tổng hợp tri thức của mỗi cá nhân, của các thế hệ kế tiếp nhau và chịu sựchế ước của điều kiện, hoàn cảnh lịch sử nhất định Con người ngày càngnhận thức sâu sắc những thuộc tính và mối liên hệ mới của thế giới Song, conngười không thể nhận thức hết được thế giới khách quan, bởi vì nhận thức là
“quá trình vô hạn của việc tìm ra những mặt mới, những quan hệ mới”, là
“quá trình vô hạn của sự đi sâu nhận thức của con người về các sự vật, hiệntượng”3, đó là sự tiến gần mãi mãi và vô hạn của tư duy đến khách thể, là quátrình xâm nhập của lý trí vào hiện thực, là quá trình không ngừng làm phongphú trí tuệ của nhân loại bằng tri thức mới Quá trình phản ánh theo trình tự từthấp đến cao, từ đơn giản tới phức tạp, từ hiện tượng tới bản chất, từ bản chấtkém sâu sắc tới bản chất sâu sắc hơn
1 V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M 1981, tập 29, tr 206 - 207.
2 V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M 1981, tập 29, tr 207 - 208.
3 V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M 1981, tập 29, tr 240.
Trang 13Nhận thức kinh nghiệm là loại nhận thức hình thành từ sự quan sát trực
tiếp các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội hay trong các thí nghiệmkhoa học Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là những tri thức kinh nghiệm.Tri thức này có hai loại là tri thức kinh nghiệm thông thường và tri thức kinhnghiệm khoa học Tri thức kinh nghiệm thông thường là loại tri thức đượchình thành từ sự quan sát trực tiếp hàng ngày về cuộc sống và lao động sảnxuất Còn tri thức kinh nghiệm khoa học là loại tri thức thu được từ sự khảosát các thí nghiệm khoa học Hai loại tri thức này có quan hệ chặt chẽ vớinhau, xâm nhập vào nhau để tạo nên tính phong phú, sinh động của nhận thứckinh nghiệm
Nhận thức lý luận là loại nhận thức gián tiếp, trừu tượng và khái quát về
bản chất, quy luật của các sự vật, hiện tượng Nhận thức lý luận có tính trừutượng và khái quát vì nó chỉ tập trung phản ánh cái bản chất mang tính quyluật của sự vật và hiện tượng Do đó, tri thức lý luận - kết quả của nhận thức
lý luận - thể hiện chân lý sâu sắc, chính xác và hệ thống hơn nhận thức kinhnghiệm
Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận là hai giai đoạn nhận thứckhác nhau, nhưng có quan hệ biện chứng với nhau, Chủ tịch Hồ Chí Minhkhẳng định: “Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng,một mắt mờ”1 Trong mối quan hệ đó, nhận thức kinh nghiệm là cơ sở củanhận thức lý luận, nó cung cấp cho nhận thức lý luận những tư liệu phongphú, cụ thể Nhận thức kinh nghiệm gắn bó chặt chẽ với thực tiễn tạo thành cơ
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 1996, tập 5, tr 234.
Trang 14sở hiện thực để kiểm tra, sửa chữa, bổ sung cho lý luận đã có và tổng kết, kháiquát thành lý luận mới Tuy nhiên, nhận thức kinh nghiệm mới chỉ dừng lại ở
sự miêu tả, phân loại các sự kiện, các dữ kiện thu được từ sự quan sát và thínghiệm trực tiếp, mới đem lại sự hiểu biết về các mặt riêng rẽ, bề ngoài, rờirạc, chưa phản ánh được cái bản chất, những mối quan hệ có tính quy luật củacác sự vật, hiện tượng Cho nên, nhận thức kinh nghiệm “tự nó không bao giờ
có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu”1 Ngược lại, được tổng kết từkinh nghiệm, nhận thức lý luận mang tính hệ thống, khái quát cao Đồng thời,
do tính độc lập tương đối của nó, lý luận có thể đi trước những dữ kiện kinhnghiệm, hướng dẫn sự hình thành những tri thức kinh nghiệm có giá trị, lựachọn những kinh nghiệm hợp lý để phục vụ cho hoạt động thực tiễn, góp phầnlàm biến đổi đời sống của con người Thông qua đó mà nâng những tri thứckinh nghiệm từ chỗ là cái cụ thể, riêng lẻ, đơn nhất trở thành cái khái quát,phổ biến
Việc nắm vững bản chất, chức năng của từng loại nhận thức cũng nhưmối quan hệ biện chứng giữa chúng có ý nghĩa phương pháp luận quan trọngtrong việc đấu tranh khắc phục “bệnh” kinh nghiệm chủ nghĩa và “bệnh” giáođiều Do nhận thức được mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức kinh nghiệm
và nhận thức lý luận nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễnĐảng ta đã luôn chủ động, sáng tạo đi sâu tổng kết thực tiễn và phát triển lýluận, đó là một trong những yếu tố làm nên thắng lợi trong công cuộc đổi mới
ở nước ta
Căn cứ vào tính chất tự phát hay tự giác của sự xâm nhập vào bản chất của sự vật thì nhận thức lại có thể được phân chia ra thành nhận thức thông
thường và nhận thức khoa học.
Nhận thức thông thường (nhận thức tiền khoa học) là loại nhận thức
được hình thành một cách tự phát, trực tiếp từ trong hoạt động hàng ngày của
1 C.Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 1994, t 20, tr 718.
Trang 15con người Nó phản ánh sự vật, hiện tượng xảy ra với tất cả những đặc điểmchi tiết, cụ thể và những sắc thái khác nhau Nhận thức thông thường mangtính phong phú, nhiều vẻ và gắn liền với những quan niệm sống thực tế hàngngày, vì thế nó có vai trò thường xuyên và phổ biến chi phối hoạt động củamọi người trong xã hội.
Khác với nhận thức thông thường, nhận thức khoa học là loại nhận thức
được hình thành một cách tự giác và gián tiếp từ sự phản ánh đặc điểm bảnchất, những quan hệ tất yếu của đối tượng nghiên cứu Sự phản ánh này diễn
ra dưới dạng trừu tượng lôgíc, là các khái niệm, các quy luật khoa học Nhậnthức khoa học có tính khách quan, trừu tượng, khái quát, có tính hệ thống, cócăn cứ và chân thực Nhận thức khoa học sử dụng một hệ thống các phươngpháp nghiên cứu, sử dụng cả ngôn ngữ thông thường, thuật ngữ khoa học đểdiễn tả sâu sắc bản chất và quy luật của đối tượng nghiên cứu Vì thế, nhậnthức khoa học có vai trò ngày càng to lớn trong hoạt động thực tiễn, đặc biệttrong thời đại khoa học và công nghệ hiện đại
Nhận thức thông thường và nhận thức khoa học là hai bậc thang khácnhau về chất của quá trình nhận thức, giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau Trong đó, nhận thức thông thường có trước nhận thức khoa học và lànguồn chất liệu để xây dựng nội dung của các khoa học Mặc dù đã chứađựng những mầm mống của những tri thức khoa học, song nhận thức thôngthường chủ yếu vẫn chỉ dừng lại ở những bề ngoài, ngẫu nhiên, không bảnchất của đối tượng và tự nó không thể chuyển thành nhận thức khoa học.Muốn phát triển từ nhận thức thông thường thành nhận thức khoa học cầnphải thông qua khả năng tổng kết, khái quát đúng đắn của các nhà khoa học.Ngược lại, nhận thức khoa học, xâm nhập vào nhận thức thông thường, làmcho nó không ngừng phát triển
Trang 16II VAI TRÒ CỦA THỰC TIỄN ĐỐI VỚI NHẬN THỨC
2.1 Thực tiễn là cơ sở của sự phát sinh nhận thức
Con người là anh linh của vạn vật, đặc điểm của con người là có tưtưởng và biết tư duy, hành động chịu sự chi phối của tư tưởng Nghĩ trướclàm sau, lấy sự hiểu biết thống nhất để làm mô thức thông thường của hành vicon người Nhưng từ đó cũng dễ xuất hiện ảo giác cho rằng, nhận thức xuấthiện trước thực tiễn, nhận thức quyết định thực tiễn Quả thực, trong hiện thựccuộc sống của con người, nhận thức và thực tiễn, hiểu biết và hành động là sựvướng mắc khó phân giải Hai vấn đề này thường biểu hiện chế ước lẫn nhau,quyết định lẫn nhau Về căn bản thực tiễn là cơ sở của nhận thức, thực tiễnquyết định nhận thức Muốn lý giải quan điểm này, trước tiên cần xem xét sựphát sinh của nhận thức
Sự phát sinh nhận thức ở đây không phải là chỉ ở đây không phải là chỉ
sự xuất hiện và hình thành của một kiểu nhận thức cụ thể nào đó, mà là quátrình phát sinh năng lực nhận thức của con người từ không đến có Đối với sựphát sinh của nhận thức, những trường phái triết học không giống nhau có sựgiải thích không giống nhau Triết học chủ nghĩa Mác lấy nhân tố lịch sử tựnhiên và nhân tố xã hội của sự phát sinh nhận thức kết hợp lại Xuất phát từthực tiễn, triết học Mác cho rằng, lấy mục đích của lao động làm đặc trưngchủ yếu trong sự phát sinh của nhận thức, lao động có tác dụng quyết định đốivới nhận thức
Sự hình thành năng lực nhận thức của con người, xét cho cùng đượcquyết định bởi hoạt động thực tiễn mà chỉ riêng con người mới có Thực tiễncủa con người lấy tính mục đích tự giác làm đặc trưng cải tạo thế giới kháchquan Nó yêu cầu con người phải nắm được tri thức về bản chất và quy luậtcủa đối tượng; đồng thời cũng lấy đó làm cơ sở xác định mục tiêu thực tiễncải tạo đối tượng Điều đó đã đưa ra nhu cầu con người cần nắm bắt tínhkhách quan của thế giới, tức là đã nêu ra tính tất yếu của thế giới nhận thức