Sự xuất hiện triết học Mác là một cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử triết học. Đó là kết quả tất yếu của sự phát triển lịch sử tư tưởng triết học và khoa học của nhân loại, trong sự phụ thuộc vào những điều kiện kinh tếxã hội, mà trực tiếp là thực tiễn đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản với giai cấp tư sản. Đó cũng là kết quả của sự thống nhất giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan. trở thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học của giai cấp công nhân và chính đảng cuả nó để nhận thức và cải tạo thế giới.
Trang 1TRIẾT HỌC MÁC KHÔNG PHẢI LÀ SỰ “DUNG HỢP” GIỮA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY TÂM KHÁCH QUAN CỦA HÊ GHEN VÀ
CHỦ NGHĨA DUY VẬT PHOIƠ BẮC
Sự xuất hiện triết học Mác là một cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử triết học Đó là kết quả tất yếu của sự phát triển lịch sử tư tưởng triết học và khoa học của nhân loại, trong sự phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế-xã hội, mà trực tiếp là thực tiễn đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản với giai cấp tư sản Đó cũng là kết quả của sự thống nhất giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trở thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học của giai cấp công nhân và chính đảng cuả nó để nhận thức và cải tạo thế giới Sự ra đời của triết học Mác là một tất yếu lịch sử, không phải là sự hư vô lịch sử Càng không phải
là sự dung hợp giữa triết học duy tâm khách quan của Hê ghen và chủ nghĩa duy vật siêu hình PhoiơBắc, mà luôn diễn ra theo đúng quy luật ra đời và phát triển của triết học nhân loại trong lịch sử Mặc dù triết học cổ điển Đức, mà trực tiếp
là triết học của Hêghen và triết học nhân bản PhoiơBắc được xem là nguồn gốc
lý luận chủ yếu, trực tiếp của triết học Mác Nghiên cứu sự ra đời của triết học Mác ở khía cạnh này ta thấy:
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, ở Tây Âu cuộc cách mạng công nghiệp
nổ ra và phát triển mạnh mẽ, thời kỳ này chủ nghĩa tư bản đã bước sang giai đoạn phát triển mới Nước Anh đã trở thành cường quốc tư bản chủ nghĩa lớn nhất với nền công nghiệp hùng mạnh Cuộc cách mạng công nghiệp ở Pháp cũng đang ở giai đoạn đỉnh cao Ở Đức và một số nước Tây Âu khác, mặc dù cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra muộn hơn, nhưng những thành tựu do nó đem lại
Trang 2cũng đủ làm cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa có được vị trí ngày càng lớn trong lòng xã hội phong kiến
Sự phát triển của lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa được thể hiện trên nhiều lĩnh vực như: Công nghiệp, giao thông vận tải, thương nghiệp, ngân hàng với việc xác lập chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, quan
hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã chiếm địa vị thống trị trong nền kinh tế của các quốc gia đó Tính hơn hẳn của chế độ tư bản chủ nghĩa so với chế độ phong kiến được thể hiện một cách rõ rệt Như Mác đã chỉ ra: "Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại" Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền sản xuất Tư Bản chủ nghĩa và sự phát triển của chủ nghĩa tư bản tư bản, những mâu thuẫn xã hội vốn có trong lòng của nó, đó là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, biểu hiện về mặt xã hội của mâu thuẩn giữa sự phát triển của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất TBCN ngày càng trở nên gay gắt Chính điều đấy thúc đẩy phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân phát triển mạnh mẽ, tuy lúc đầu cuộc đấu tranh đó diễn ra mang tính tự phát, nhưng càng ngày tính chất
tự giác của nó cũng ngày một rõ ràng hơn Các cuộc đấu tranh điển hình lúc đấy là: Khởi nghĩa của công nhân dệt ở Lyông (Pháp) vào các năm 1831 và 1834; phong trào hiến chương Anh cuối những năm 30; cuộc khởi nghĩa của công nhân nhà máy dệt Xilêdi (Đức )
Cuộc khởi nghĩa của công nhân nghành dệt Lyông đã thực sự vượt ra ngoài khuôn khổ của những cuộc đấu tranh kinh tế đơn thuần của người lao động trong nội bộ một ngành, để trở thành cuộc đấu tranh giữa giai cấp của
Trang 3những người có của với giai cấp của những người không có gì hết trong lòng
xã hội Pháp nói chung
Phong trào Hiến chương ở Anh vào cuối những năm 30, đã trở thành Phong trào cách mạng to lớn đầu tiên, thực sự có tính chất quần chúng và có hình thức chính trị
Với nước Đức, dù còn đang ở đêm trước của cuộc cách mạng tư sản, nhưng phong trào vô sản cũng đã được khơi dậy với cuộc khởi nghĩa tự phát của thợ dệt Xilêđi (1844) và sự xuất hiện sau đó một tổ chức cách mạng của những người vô sản-tổ chức Đồng minh những người chính nghĩa
Trong hoàn cảnh lịch sử nói trên, giai cấp tư sản không còn đóng vai trò là giai cấp cách mạng mà ngược lại trở thành giai cấp phản động, bảo thủ, thoả hiệp với giai cấp phong kiến quí tộc để đàn áp phong trào công nhân ở Anh và Pháp, mặc dù vẫn đang là giai cấp giữ vai trò thống trị xã hội, nhưng giai cấp tư sản đã đánh mất vai trò cách mạng ban đầu của mình Do hoảng sợ trước phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản, giai cấp tư sản không những đã thờ ơ với quá trình cải tạo dân chủ, mà còn hơn thế nữa, bắt đầu dùng bạo lực để trấn áp các cuộc đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ của các tầng lớp nhân dân lao động Còn ở nước Đức, giai cấp tư sản Đức chưa thực hiện được vai trò cách mạng của mình, với bản chất hèn nhác đã sớm trở thành lực lượng phản cách mạng Cuộc cách mạng tư sản ở Đức diễn ra sau các cuộc cách mạng tư sản ở Anh và ở Pháp Trong bối cảnh ấy, đáng ra cuộc cách mạng tư sản ở Đức cần phải và có thể được tiến hành triệt để hơn các cuộc cách mạng trước đó Nhưng, một mặt, do yếu kém về thế lực kinh tế và chính trị; mặt khác, do hủ bại về tư tưởng, lại hoảng sợ trước sự phát triển của phong trào công nhân, nên giai cấp tư sản Đức
đã chọn cho mình một "kế sách" nửa vời Nó mơ tưởng biến đổi nền quân chủ
Trang 4phong kiến thành nền quân chủ tư sản một cách hoà bình Tính chất cải lương, thiếu triệt để của cách mạng tư sản Đức là một kết cục đã được dự báo trước Vì vậy, lần đầu tiên giai cấp vô sản xuất hiện trên vũ đài lịch sử không chỉ với tư cách là "kẻ phá hoại" chủ nghĩa tư sản, mà còn là lực lượng tiên phong trong cuộc đấu tranh cho nền dân chủ-một nền dân chủ được mở ra bởi cuộc cách mạng
tư sản, nhưng bản thân giai cấp tư sản lại không đủ khả năng lãnh đạo công cuộc ấy đến thắng lợi cuối cùng
Thực tiễn sản xuất vật chất và thực tiễn đấu tranh cách mạng cho thấy, giai cấp
vô sản đã lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, thật sự trưởng thành, bước lên vũ đài lịch sử Chính thực tiễn xã hội đó đã làm nảy sinh yêu cầu khách quan là phải được soi sáng bằng lí luận khoa học Đồng thời sự tồn tại và phát triển của một lực lượng vật chất-xã hội năng động và cách mạng là giai cấp vô sản
là cơ sở khách quan quyết định tính tất yếu của sự ra đời của một hệ tư tưởng -lí luận cách mạng Sự ra đời của chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng, chính là sự giải đáp về mặt lí luận khoa học những vấn đề thực tiễn của thời đại đặt ra trên lập trường của giai cấp vô sản cách mạng
Chủ nghĩa Mác không những là sản phẩm tất yếu của những điều kiện kinh tế
- xã hội của xã hội tư bản chủ nghĩa giữa thế kỷ XIX, mà còn là sự phát triển hợp qui luật của lịch sử tư tưởng nhân loại Nguồn gốc lý luận của chủ nghĩa Mác là: Triết học cổ điển Đức; kinh tế chính trị cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp Trong đó nguồn gốc trực tiếp của triết học Mác là triết học Hêghen và chủ nghĩa duy vật nhân bản PhoiƠBắc
Tuynhiên ở đây chúng ta cần có nhận thức đúng đắn rằng: Mác và Ăng ghen đã làm một cuộc cách mạng thật sự trong triết học, chứ không phải như một số quan
Trang 5điểm cho rằng triết học Mác là sự “dung hợp” giữa triết học Hêghen với triết học
PhoiơBắc Điều đó được thể hiện:
Nội dung cơ bản của triết học Hêghen :
Hêghen nhà triết học duy tâm khách quan cổ điển đức sinh 1770 trong một gia đình quan chức cấp cao ở Đức Ông là nhà biện chứng lỗi lạc, bậc tiền bối của triết học mácxít Ph.Ăngghen nhận xét: Hêghen "không những chỉ là một thiên tài sáng tạo, mà còn là một nhà bác học có tri thức bách khoa, nên những phát biểu của ông tạo thành thời đại"
Hêghen coi nền tảng thế giới quan triết học của mình là tinh thần tuyệt đối, tinh thần tuyệt đối được hiểu như đấng tối cao, sáng tạo ra giới tự nhiên và con người Mọi sự vật, hiện tượng chỉ là hiện thân của tinh thần tuyệt đối Con người là sản phẩm và là giai đoạn phát triển cao nhất của tinh thần tuyệt đối Hoạt động nhận thức của con người là công cụ để tinh thần tuyệt đối nhận thức chính bản thân mình Tinh thần tuyệt đối của Hêghen được biểu hiện như sự hợp nhất, thống nhất giữa tư duy và tồn tại, tinh thần và vật chất Hêghen hiểu sự đồng nhất là kết quả của quá trình phát triển của tinh thần tuyệt đối: là xuất phát điểm và nền tảng của hiện thực Hêghen coi sự phát triển không chỉ là sự tăng, giảm đơn thuần về lượng hay sự dịch chuyển vị trí của vật trong không gian mà là một quá trình phủ định biện chứng liên tiếp diễn ra,cái mới thay thế cái cũ, kế thừa những yếu tố có khả năng thúc đẩy phát triển
"Hiện tượng học tinh thần" thể hiện sự khái quát quá trình lịch sử nhân loại
mà Hêghen coi là hiện thân của tinh thần tuyệt đối, được trình bày theo cơ cấu: Tinh thần chủ quan, tinh thần khách quan, tinh thần tuyệt đối
Tinh thần chủ quan là tinh thần thuần tuý, là tinh thần tuyệt đối ở giai đoạn phát triển sơ khai Tinh thần khách quan là giới tự nhiên, là giai đoạn tinh thần
Trang 6tuyệt đối tha hoá ra dạng tồn tại khác, là các sự vật tự nhiên Tinh thần tuyệt đối
là sự thống nhất của cả tinh thần chủ quan và tinh thần khách quan
Theo Hêghen, trong thế giới ngoài tinh thần tuyệt đối và các biểu hiện của
nó, không còn gì khác Ba giai đoạn phát triển của tinh thần tuyệt đối là quá trình nảy sinh và giải quyết mâu thuẫn giữa các mặt đối lập vật chất và tinh thần, khách thể và chủ thể
Khoa học lôgíc là bộ phận quan trọng nhất của triết học Hêghen, nghiên cứu tinh thần tuyệt đối ở giai đoạn sơ khai nhất, là điểm xuất phát nền tảng của toàn bộ hệ thống Theo Hêghen, lôgíc học từ trước tới giờ có nhiều hạn chế: Các phạm trù của lôgíc học trước đây tách rời với nội dung sự vật mà chúng thể hiện, chưa thấy sự thống nhất giữa chủ quan và khách quan trong các phạm trù lôgíc học
Theo Hêghen, lôgíc học là khoa học về tư duy, về những phạm trù và quy luật của tư duy Tư duy với tư cách là đối tượng của khoa học lôgíc được Hêghen hiểu là tư duy thuần tuý, là tinh thần tuyệt đối Lôgíc học là khoa học về vương quốc của tư tưởng thuần tuý
Hêghen phân biệt hai loại tư duy: tư duy tự nó là tinh thần tuyệt đối tạo thành bản chất của toàn bộ hiện thực và tư duy cho nó là tư duy con người Đây
là tư duy tự nó ở giai đoạn phát triển cao nhất Tư duy của mỗi người phải hoạt động theo những quy luật khách quan chung của tư duy (tư duy tự nó) Ông cho rằng, giới tự nhiên cũng chỉ là tư duy thể hiện dưới dạng các sự vật vật chất, còn gọi là tư duy khách quan vô thức Sự thống nhất giữa tư tưởng và hiện thực, tinh thần và vật chất được gọi là nguyên lý cơ bản của tư duy lôgíc
Lôgíc học thực chất là hệ thống các phạm trù của tư duy Luận điểm xuyên
Trang 7suốt lôgíc học và toàn hệ thống của Hêghen "Cái gì hợp lý thì hiện thực và cái gì hiện thực thì hợp lý" Đó là luận điểm thể hiện lập trường 2 mặt, vừa cách mạng, khoa học vừa bảo thủ, phản động của ông về mặt triết học.Theo Hêghen, mâu thuẫn là bản chất của mọi sự vật, mọi tư tưởng và khái niệm; mâu thuẫn là quá trình thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Hêghen cho rằng, giữa 3 quy luật (mâu thuẫn, lượng chất, phủ định) gắn bó hữu cơ với nhau trên mọi giai đoạn phát triển của sự vật và khái niệm; Sự thống nhất giữa tính lịch sử và tính lôgíc trong phát triển của các phạm trù lôgíc của ông Đó là sự diễn lại một cách khái quát quá trình phát triển tư tưởng nhân loại
Triết học tự nhiên của Hêghen.Triết học tự nhiên là sự nghiên cứu lý luận
về giới tự nhiên, được hiểu như sự tồn tại khách quan của tinh thần, sự tồn tại tinh thần dưới dạng vật chất Quá trình hình thành giới tự nhiên là quá trình tinh thần biểu hiện ra thành tự nhiên Theo Hêghen, thế giới là một chỉnh thể thống nhất, liên hệ hữu cơ không ngừng vận động và phát triển, tồn tại nhiều cấp độ phát triển khác nhau về chất của giới tự nhiên như: cơ học, vật lý, hoá học, địa chất, sự sống
Nhìn chung, triết học tự nhiên của Hêghen đem lại cho con người cách nhìn biện chứng về giới tự nhiên Mặc dù vậy, giới tự nhiên, theo Hêghen cũng chỉ là
sự tồn tại của tinh thần dưới dạng tồn tại khác Sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại ngày càng chỉ ra sự bất lực của cách giải thích duy tâm về giới tự nhiên của Hêghen
Triết học pháp quyền của Hêghen Trong triết học pháp quyền và triết học lịch sử, Hêghen thể hiện những quan niệm cơ bản về các vấn đề xã hội Hêghen cho rằng; nhà nước là "sự ngao du" của chúa trời trong xã hội loài người, là sự thể hiện tinh thần tuyệt đối Ông cho rằng, con người về bản tính vốn là bất bình đẳng
Trang 8Do vậy, sự bất công, tệ nạn xã hội là tất yếu của sự phát triển xã hội, những mâu thuẫn, xung đột giữa các đẳng cấp, tầng lớp xã hội không ngừng nảy sinh và chính
sự nảy sinh và giải quyết những mâu thuẫn trong xã hội là nguồn gốc, động lực thúc đẩy xã hội phát triển Hêghen cho rằng, nhà nước là tổng thể các quy chế, kỷ cương, chuẩn mực đạo đức, pháp quyền, chính trị, văn hoá Hơn nữa, Hêghen còn khẳng định nhà nước tồn tại trên mọi giai đoạn phát triển của lịch sử
Khi giải quyết mối quan hệ giữa lập trường chính trị bảo thủ, phản động của Hêghen với mặt cách mạng trong phép biện chứng, ông thừa nhận mâu thuẫn là động lực phát triển, Hêghen gặp phải mâu thuẫn không thể giải quyết được
Theo tư tưởng biện chứng thì bản thân nhà nước Phổ cũng sẽ tự phủ định, nó phải vượt qua chính bản thân nó, nhà nước Phổ tất yếu phải nhường chỗ cho nhà nước khác phát triển hơn, điều này trái với lập trường chính trị của ông
Quan niệm của Hêghen về lịch sử Hêghen cho rằng, mỗi con người là sản phẩm của một thời đại lịch sử nhất định, không ai có thể nhảy ra khỏi thời đại mình như nhảy ra khỏi cửa sổ Mỗi dân tộc cũng phát triển trong khung cảnh lịch
sử toàn thế giới nói chung, tham dự vào lịch sử toàn nhân loại, theo xu hướng chung của cả thời đại Lịch sử thế giới diễn ra thông qua lịch sử từng quốc gia, dân tộc riêng lẻ và đồng thời mỗi quốc gia dân tộc phải tuân thủ toàn bộ tiến trình lịch sử Như vậy, Hêghen đã tiếp cận được vai trò tích cực của hoạt động thực tiễn và nền tảng kinh tế đối với sự phát triển của đời sống xã hội cũng như tiến trình lịch sử Tuy nhiên, dưới góc độ duy tâm, hoạt động thực tiễn của con người vẫn bị Hêghen coi là dạng hoạt động tinh thần Ông chưa đánh giá đúng vai trò của sản xuất vật chất đối với sự phát triển của xã hội
Trang 9Tự do với tư cách là chuẩn mực cơ bản để đánh giá tiến trình lịch sử chưa được Hênghen cụ thể hoá Song, ở mức độ nhất định, đó là sự biểu hiện của một
tư tưởng sâu sắc của Hêghen Ông khẳng định tự do cũng như trình độ giải phóng con người và chinh phục tự nhiên là một trong những tiêu chuẩn cơ bản
để đánh giá tiến bộ lịch sử
Quan niệm của Hêghen về thẩm mỹ Hoạt động nghệ thuật là một bộ phận, một hình thức thể hiện tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại Hêghen cho rằng, nghệ thuật là một trong những phương thức "tự sản xuất" của con người nhằm thoả mãn những nhu cầu tinh thần của mình trong thế giới hiện thực Nghệ thuật khám phá chân lý luôn là sự thống nhất giữa tư tưởng và hiện thực, cái đẹp
là bản thân chân lý nhưng dưới dạng nghệ thuật Hêghen khẳng định sự sáng tạo nghệ thuật vừa mang tính chủ quan của con người vừa mang tính nội dung khách quan
Dưới hình thức duy tâm, Hêghen coi nghệ thuật là hình thức thể hiện tinh thần tuyệt đối thông qua các hình tượng nghệ thuật, Hêghen đóng vai trò to lớn trong sự phát triển tư tưởng thẩm mỹ, đem lại cách nhìn biện chứng về tiến trình phát triển nghệ thuật nhân loại
Như vậy, nghiên cứu toàn bộ hệ thống triết học của Hêghen chúng ta nhận thấy rằng Hêghen đã có những đóng góp hết sức to lớn trong việc khái quát triết học Đặc biệt Hêghen đã xây dựng nên một hệ thống phép biện chứng khá toàn diện, đã đưa ra những khái niệm, phạm trù, nguyên lý của phép biện chứng… Tuy nhiên điểm hạn chế lớn nhất trong triết học của Hêghen là sự mâu thuẫn giữa hệ thống duy tâm, bảo thủ với phương pháp biện chứng mang tính cách mạng Do vậy, đánh giá toàn diện hệ thống triết học này, như Mác chỉ ra có tới
Trang 1090 phần trăm là cạn bã, muốn sử dụng nó phải tiến hành cải tạo một cách căn bản Và về thực tế Mác Ăngghen đã tiến hành một cuộc cách mạng trong triết học, sáng tạo ra một hệ thống triết học mới trên cơ sở kế thừa những giá trị, tinh hoa trong tư tưởng triết học nhân loại mà trực tiếp là cải tạo phép biện chứng duy tâm trong triết học của Hêghen
Nội dung cơ bản của triết học của Phoiơbắc
Lútvích Phoiơbắc (1804 - 1872) nhà triết học duy vật cổ điển Đức, cũng là
nhà duy vật lớn nhất của triết học thời kỳ trước Mác Công lao vĩ đại của Phoiơbắc là chỗ: trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm và thần học, ông đã khôi phục lại địa vị xứng đáng cho triết học duy vật; đã giáng một đòn rất nặng vào triết học duy tâm của Hêghen và chủ nghĩa duy tâm nói chung Triết học của Phoiơbắc đối lập với triết học của Hêghen
Phoiơbắc chứng minh rằng, thế giới là vật chất; giới tự nhiên không do ai sáng tạo ra, nó tồn tại độc lập với ý thức và không phụ thuộc vào bất cứ thứ triết học nào Do đó, cơ sở tồn tại của giới tự nhiên nằm ngay trong lòng giới tự nhiên Chống lại hệ thống duy tâm của triết học Hêghen - hệ thống coi giới tự nhiên là "sự tồn tại khác" của tinh thần, phê phán Hêghen quan niệm về con người một cách trìu tượng và thần bí, Phoiơbắc đã phủ nhận luôn cả thành tựu vĩ đại nhất của Hêghen là phép biện chứng, không nhìn thấy hạt nhân hợp lý trong triết học Hêghen Phoiơbắc cho rằng, triết học mới phải có tính chất nhân bản, phải kết hợp với con người và khoa học tự nhiên
Phoiơbắc cho rằng, con người không phải là nô lệ của Thượng đế hay nô lệ của tinh thần tuyệt đối mà là kết quả phát triển của tự nhiên Nhận thức con người là nền tảng để nhận thức thế giới Chỉ có thể giải quyết vấn đề cơ bản của