1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN TRIẾT học tư TƯỞNG về CON NGƯỜI TRONG các TRÀO lưu TRIẾT học ý NGHĨA và GIÁ TRỊ HIỆN THỰC của nó đối với VIỆC xây DỰNG và PHÁT HUY NHÂN tố CON NGƯỜI ở VIỆT NAM HIỆN NAY

30 551 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 270,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tư tưởng về con người và giải phóng con người là một trong những nội dung cơ bản mà các trào lưu triết học nói chung, triết học Mác nói riêng đều tập trung giải quyết. Tuy nhiên, ở mỗi thời đại lịch sử vấn đề đó được đặt ra và giải quyết trong những bối cảnh và nội dung khác nhau tuỳ thuộc vào thế giới quan và nhân sinh quan của các nhà triết học.

Trang 1

TIỂU LUẬN

Nội dung: Tư tưởng về con người trong các trào lưu triết học – Ý

nghĩa và giá trị hiện thực của nó đối với việc xây dựng và phát huy nhân

tố con người ở nước ta hiện nay.

I NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN VỀ CON NGƯỜI TRONG CÁC TRÀO LƯUTRIẾT HỌC.

Tư tưởng về con người và giải phóng con người là một trong những nộidung cơ bản mà các trào lưu triết học nói chung, triết học Mác nói riêng đềutập trung giải quyết Tuy nhiên, ở mỗi thời đại lịch sử vấn đề đó được đặt ra

và giải quyết trong những bối cảnh và nội dung khác nhau tuỳ thuộc vào thếgiới quan và nhân sinh quan của các nhà triết học

Thời cổ đại, sản xuất chưa phát triển, con người sống chủ yếu phụthuộc vào tự nhiên, săn bắt, hái lượm Do vậy, mặc dù trong giải quyết nhữngvấn đề thuộc về bản thể luận, nhận thức luận và nhân sinh quan có đứng trênlập trường thế giới quan duy vật và biện chứng, nhưng còn sơ khai, chất phác,nặng về đời sống tâm linh Chẳng hạn, các nhà triết học Ấn Độ thường tậptrung vào việc lý giải những vấn đề then chốt nhất - đó là vấn đề bản chất, ýnghĩa của đời sống, nguồn gốc nỗi khổ của con người và con đường, cáchthức giải thoát cho con người khỏi bể khổ của cuộc đời Mục đích, nhiệm vụcủa các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại là giải thoát.Tư tưởng này luônbiến đổi và phát triển với đời sống xã hội, từ thời Vêđa đến Brahman và pháttriển trong triết lý Upanisad Mỗi trường phái có nôi dung triết lý, khuynhhướng giáo lý và quan điểm đạo đức nhân tính khác nhau Song có thể nói tất

cả như một cuộc hành trình của con người tìm kiếm, phát hiện và trở về vớibản chất và lương tâm của chính mình khi mà con người còn vô minh, thamdục và lãng quên nó Cách thức và con đường giải thoát của kinh Vêđa là luôntôn thờ và cầu xin sự phù hộ của các đấng thần linh, còn kinh Upanisad là

Trang 2

đồng nhất giữa linh hồn mình với vũ trụ, giữa Atman với Brahman Trong hệthống không chính thống, Jaina chủ trương tu luyện đạo đức bằng phươngpháp khổ tu, không sát sinh, không ăn cắp, không nói dối không dâm dục,không tham lam Đỉnh cao của tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ là ởPhật giáo Phật giáo coi mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới, kể cả con người

là do nhân duyên hoà hợp mà biểu hiện, biến đổi vô thường Vì vạn vật vôthường nên vạn pháp vô ngã Do vô minh và lòng tham dục của con người màgây nên những nỗi khổ triền miên Bởi vậy, phải tu luyện trí tuệ, thiền định và

tu luyện đạo đức theo giới luật để phá bỏ vô minh, diệt trừ tham dục, để làmcho tâm thanh tịnh, hoà nhập vào cõi Niết bàn

Tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ cổ đại thể hiện tính chất nhânbản, nhân văn sâu sắc Tuy nhiên, do giải thích chưa đúng nguồn gốc của nỗikhổ cho nên tư tưởng giải thoát này mới dừng lại ở sự giải phóng con người

về mặt tinh thần, tâm lý, đạo đức chứ không phải là biến đổi cách mạng thựcsự

Còn ở Trung Quốc, vào thời điểm này quyền sở hữu tối cao về đất đaithuộc về tầng lớp địa chủ, chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất đã hình thành

Từ đó, xã hội có sự phân hoá giàu nghèo, sự tranh giành địa vị của các thế lựccát cứ và đẩy xã hội Trung Quốc cổ đại vào tình trạng chiến tranh khốc liệt.Điều kiện ấy làm xuất hiện những tụ điểm, những trung tâm “kẻ sĩ” luôn tranhluận về trật tự xã hội và đề ra những hình mẫu cho xã hội tương lai, dẫn tớihình thành các tư tưởng lớn và các trường phái triết học khá hoàn chỉnh Rađời trên nền tảng hiên thực ấy, nên đặc trưng chủ yếu của triết học TrungQuốc cổ, trung đại là hầu hết các học thuyết đều có xu hướng đi sâu giảiquyết những vấn đề thực tiễn chính trị - đạo đức của xã hội, với nội dung baotrùm là vấn đề con người và xây dựng con người

Trang 3

Trong tư tưởng về con người, Khổng Tử và Mặc Tử đều cho rằng trờisinh ra con người và muôn vật Lão Tử khác với Khổng Tử và Mặc Tử ở chỗông cho rằng trước khi có trời đã có Đạo Theo ông, trời, đất, người, vạn vậtđều do Đạo sinh ra Trang Tử người kế thừa thuyết Lão Tử cho rằng ở mỗivật đều có cái đức tự sinh tự hoá ở bên trong Như vậy, khi đề cập đến nguồngốc của con người, mặc dù có những cách tiếp cận khác nhau, nhưng nhìnchung các nhà triết học Trung Quốc cũng không vượt qua khỏi vòng luân lýcủa đạo và trời.

Khi xác định vị trí, vai trò của con người trong mối quan hệ với trời,đất, con người và vạn vật, Lão Tử cho rằng bốn yếu tố đó quan hệ tương đồnglẫn nhau Nhưng đối với Nho giáo, con người được đặt lên vị trí cao nhất.Con người do trời sinh ra nhưng sau đó con người cùng với trời, đất là ba ngôitiêu biểu cho tất cả mọi vật trong thế giới vật chất và tinh thần “Trời, đất,Người là tam tài”

Khi bàn tới quan hệ giữa trời với người, các nhà duy tâm cho rằng cómệnh trời và mệnh trời chi phối cuộc sống xã hội của con người, cuộc đời củamỗi con người Các triết gia tiến bộ cho rằng trời là gốc của con người, họ coitrời với người là một, do đó đưa ra chủ trương “thiên nhân hợp nhất” Tuynhiên, trong quan hệ với trời, con người phải theo trời, con người phải lấyphép tắc của trời làm mẫu mực, coi thiên đạo là nhân đạo, người đời ăn ở phảihợp với đạo trời

Khi bàn tới bản tính con người, Khổng Tử cho rằng “tính mỗi conngười là gần nhau, do tập tành và thói quen mới hoá ra xa nhau” Từ quanđiểm này người ta suy luận tranh cãi đưa ra nhiều thuyết khác nhau Mạng Tửcho răng bản tính con người là thiện, còn Tuân Tử cho rằng bản tính conngười là ác Cáo Tử cho rằng bản tính con người không thiện cũng không ác.Còn Vương Sung cho rằng bản tính con người có thiện có ác Song, nổi bật

Trang 4

trong các quan điểm trên là thuyết tính thiện của Mạnh Tử và thuyết tính áccủa Tuân Tử Mạnh Tử khẳng định bản tính con người vốn là thiện, khôngmột người nào sinh ra mà tự nhiên bất thiện Ông còn nói thêm sự khác nhaugiữa con người với con vật là ở chỗ trong mỗi con người đều có phần quýtrọng và phần bỉ tiện, có phần cao đại và phần thấp hèn, bé nhỏ Chính phầnquý trọng, cao đại mới là tính người, mới là cái khác giữa người và cầm thú.

Ý nghĩa tích cực “thuyết tính thiện” của Mạnh Tử là ở chỗ biết phát huy, làmcho phần tốt trong con người ngày càng phát triển, còn phần xấu thì ngàycàng thu hẹp lại Còn Tuân Tử cho rằng tính con người, sinh ra là hiếu lợi,thuận theo tính đó dẫn đến tranh đoạt lẫn nhau nên không có từ nhượng; sinh

ra là đố kỵ, thuận theo tính đó không có lòng trung tín; sinh ra là ham muốn,thuận theo tính đó thành dâm loạn…Vì vậy, ông chủ trương phải có chínhsách uốn nắn sửa lại tính để không làm điều ác Muốn vậy phải giáo hoá, phảidùng lễ nghĩa, lễ nhạc để sửa tính ác thành tính thiện, để cái thiện ngày càngđược tích luỹ tới khi hoàn hoả Hai quan điểm trên, tuy có sự khác nhau ởđiểm xuất phát nhưng thống nhất với nhau ở chỗ coi trọng sự giáo hoá và đềunhằm hướng con người tới cái thiện

Vấn đề xây dựng con người của các trường phái triết học Trung Quốc

cổ, trung đại là coi trọng sự nỗ lực của cá nhân, sự quan tâm của gia đình và

xã hội Đạo gia cho rằng bản tính của nhân loại có khuynh hướng trở về cuộcsống với tự nhiên Vì vậy, Lão Tử khuyên mọi người phải trừ khử những tháiquá, nâng đỡ cái bất cập, hướng con người vào cuộc sống thanh cao, trongsạch, gần gũi với thiên nhiên, tránh cuộc sống chạy theo nhu cầu vạt chất.Còn Phật giáo khuyên con người ăn ở hiền lành, không sát sinh, không làmhại người khác Nho gia đặt vấn đề xây dựng con người một cách thiết thựchơn Họ hướng con người vào tu thân và thực hành đạo đức là hoạt động thựctiễn căn bản nhất Tất cả mọi vấn đề điều lấy đạo đức làm chuẩn Mục tiêu

Trang 5

xây dựng con người của Nho gia là giúp con người xác định đúng và làm tròntrách nhiệm trong năm mối quan hệ cơ bản (ngũ luân), đó là: vua tôi, cha con,anh em, vợ chồng, bạn bè Và Nho gia còn chỉ ra con đường phấn đấu trướchết là phải tu dưỡng bản thân để xây dựng cuộc sống gia đình, góp phần vàoviệc quản lý đất nước, sau đó đem lại yên vui cho thiên hạ (Tu thân, tề gia, trịquốc, bình thiên hạ) Như vậy, mỗi học thuyết nêu trên đều có mặt tích cực vàhạn chế của nó Trong đó, tư tưởng triết học Nho gia về con người và việc xâydựng, tu dưỡng con người là có tính hợp lý hơn cả Nó thực sự góp phần tolớn vào việc củng cố trật tự xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ, nhưng đồng thờicũng là một trong những nguyên nhân làm trì trệ xã hội đó.

Vượt lên thế giới quan duy tâm, tôn giáo, các nhà triết học duy vật HyLạp cổ đại mặc dù còn ở trình độ trực quan, chủ nghĩa duy vật còn thô sơ,mộc mạc và phép biện chứng mang tính tự phát, nhưng chứa đựng nhữngmầm mống của thế giới quan duy vật sau này Trong đó, tư tưởng về conngười có mặt tiến bộ Chẳng hạn, Đêmôcrít cho rằng con người và linh hồncủa con người được cấu tạo từ nguyên tử và khoảng không Con người, theoông là động vật có khả năng học, có cảm giác, năng động; linh hồn con người

là tổng thể các nguyên tử và là cơ sở của mọi hoạt động cũng như sức sốngcủa con người Đêmôcrít có quan điểm duy vật về cảm giác Ông cho rằng,cảm giác dễ chịu là tiêu chuẩn của điều tốt, ngược lại, cảm giác khó chịu gâynên sự đau khổ, là tiêu chuẩn của điều xấu Vì thế, con người tìm những cảmgiác dễ chịu và tránh những cảm giác khó chịu, cũng có nghĩa là con ngườivượt tới điều thiện và tránh điều ác Đêmôcrít cho rằng sự hoàn thiện đạo đức

là có thể có được nhưng phải dưới sự chỉ đạo của lý trí Lý trí hướng conngười vào mục tiêu đúng đắn Do vậy phải thường xuyên trau dồi lý trí và tiếpthu những quy luật của tự nhiên, quy luật hành động của con người Ông chorằng con người hành động không đúng là do không hiểu được cái đúng Cho

Trang 6

nên, theo ông, xét cho cùng vấn đề trau dồi đạo đức là vấn đề làm sao cho conngười đạt được những tri thức cần thiết Tuy nhiên, điều hạn chế của ông làkhông chỉ ra được tiêu chuẩn của đúng và không đúng, tốt và xấu…Đây làchỗ trống mà chủ nghĩa duy tâm thường tấn công Arixtốt không trực tiếp bànđến vấn đề con người, mà chỉ tập trung đề cập về đạo đức con người Ông chorằng không phải hy vọng vào Thượng đế áp đặt để có người công dân hoànthiện về đạo đức, mà việc phát hiện ra nhu cầu trên trái đất, phát triển nhữngquyền lợi chính trị, khoa học mới tạo nên được con người hoàn thiện trongquan hệ đạo đức Ông coi đạo đức có liên quan mật thiết với chính trị Arixtốtxác định cái gì phục vụ được cho nhà nước và củng cố trật tự đang tồn tại, cái

đó là phẩm hạnh Để có được phẩm hạnh, con người phải thông qua hoạtđộng thực tiễn Trong đạo đức của Arixtốt, phạm trù chính nghĩa đứng ở vị trítrung tâm Ông cho rằng con người chỉ có thể đạt được chính nghĩa trongquan hệ với người khác, cho nên trong thực hành chính nghĩa, con người tựthể hiện mình trước hết như một thực thể chính trị, xã hội Hạnh phúc của conngười là điều thiện, luôn gắn với nhận thức, ước vọng và sự tiến bộ Êpiquyađem triết học giải phóng tinh thần con người và đối lập với tôn giáo Ông chorằng những yêu cầu, quyền lợi và khát vọng của con người phản ánh bản chấtcon người Do vậy, nhiệm vụ của đạo đức là dạy cho con người biết lựa chọnnhững thích thú một cách khôn ngoan, biết thoả mãn những mong ước tất yếu,tránh xa những mong ước vô nghĩa và phản tự hiên Học thuyết của ôngchống lạị tôn giáo, chống lại nỗi sợ hãi về cái chết Theo ông, sự anh minhgiúp con người thoát khỏi sự sợ hãi, thoát khỏi những dư luận giả dối, đem lạicho con người niềm tin chân lý, gợi cho con người lòng dũng cảm Sự anhminh còn làm cho con người ôn hoà, đem lại cho con người công lý Do vậy,

sự ôn hoà là cái gốc, là nền tảng của cuộc sống hạnh phúc Hêraclít là ngườigiải quyết một cách duy vật vấn đề “linh hồn” con người Ông cho rằng linh

Trang 7

hồn của con người là do lửa tạo thành Tuy nhiên, theo ông ngoài lửa ra, linhhồn còn có chỗ ẩm ướt, cho nên mới sinh ra người tốt, người xấu Ở ngườinào càng nhiều yếu tố lửa bao nhiêu thì anh ta càng tốt bấy nhiêu vì tâm hồnanh ta khô ráo Và ông còn nhấn mạnh, hạnh phúc con người không phải là sựhưởng lạc đơn thuần về thể xác mà là ở việc biết suy nghĩ, nói và hành độngtuân theo giới tự nhiên Prôtago là nhân vật tiêu biểu của phái nguỵ biện,nhưng ông có quan điểm về con người khá nổi tiếng “Con người là thước đotất thảy mọi vật” Luận điểm này rất đề cao vai trò, vị trí của con người trongthế giới hiện thực Theo ông, chính cái lợi cho con người là chuẩn mực đểđánh giá và phán xét mọi cái, kể cả tri thức và các chuẩn mực đạo đức Song,hạn chế của ông là ở chỗ chưa nhận thấy nền tảng khách quan của chân lý vàcác chuẩn mực đạo đức Có những cái lợi đối với người này nhưng lại có hạiđối với người khác Bản thân ông cũng chưa hiểu được cái lợi của con ngườitheo nghĩa rộng, chưa hiểu được nó ở quy mô xã hội, nhưng những quan niệmtrên của Prôtago mang nhiều ý nghĩa tích cực, là đỉnh cao của tư tưởng đề caocon người, coi con người là trung tâm của mọi vấn đề trong triết học cổ đại

Hy Lạp

Nhìn chung quan niệm về con người, việc xây dựng và phát huy nhân

tố con người trong thời kỳ cổ đại còn đơn sơ, mộc mạc, chứa đựng nhiều yếu

tố duy tâm, tôn giáo, con người vẫn sống trong thế giới tối tăm, hà khắc, chưa

có điều kiện phát triển cá nhân

Bước sang thời trung cổ, là thời kỳ hình thành và phát triển phươngthức sản xuất phong kiến Trong xã hôi phong kiến, trình độ sản xuất còn thấpkém, chủ yếu là sản xuất tự nhiên, tự cấp, tự túc, khép kín Giai cấp địa chủnắm quyền tổ chức, quản lý sản xuất và phân phối sản phẩm Đạo cơ đốcđóng vai trò là hệ tư tưởng của xã hôi Giáo lý của nó được coi như nguyên lýchính trị của xã hội phong kiến, trong đó kinh thánh được xem là luật lệ, nhà

Trang 8

trương trong tay thầy tu, giáo hội độc quyền chi phối văn hoá Thời kỳ này,triết học phát triển yếu ớt và có sự thụt lùi so với thời kỳ cổ đại Triết học chủyếu phục vụ tôn giáo và chịu sự kìm kẹp của tư tưởng thần học Từ đó triếthọc kinh viện ra đời và trở thành “đầy tớ của thần học” Do vậy, tư tưởng vềcon người có nhiều điểm hạn chế, chủ yếu là nằm dưới cái vỏ bộc của thầnthánh.Con người vừa chịu sự bóc lột của các lãnh chúa và chịu sự mê muộicủa tôn giáo Họ coi con người như là một sinh vật thụ động, chỉ biết thờphụng chúa, khát khao hạnh phúc mơ hồ, viển vông trong tuyệt vọng.Ôguýxtanh cho rằng, trên tràn thế – nơi con người và loài người đang sống,vương quốc của điều ác là nhà nước, vương quốc của Thượng đế là nhà thờ.Ông là người luôn bảo vệ sự bất bình đẳng xã hội và cho rằng Thượng đế cóquyền ban thưởng cho người này được sướng và bắt người kia phải khổ Dovậy, ông khuyên người nghèo chỉ nên yêu cái không lấy được, không nên yêucủa cải, chỉ nên yêu Thượng đế, vì cuộc sống những năm tháng ở trần gian làtạm bợ, là quỷ sứ, còn “thiên đàng” mới là hạnh phúc Tômát Đacanh lại cangợi chế độ bất bình đẳng và trật tự đẳng cấp trong xã hội Ông cho rằngchính quyền của vua chúa là do Thượng đế sáng tạo ra Dân phải phục tùngvua, vua phải phục tùng Giáo hoàng La Mã Như vậy cao hơn hết là quyềnlực của Thượng đế Bêcơn là người dũng cảm lên án những tội lỗi của bọngiáo sĩ và bọn phong kiến áp bức, chống lại Giáo hoàng, bênh vực quyền lợicủa nhân dân lao động Vì những tư tưởng tiến bộ ấy, ông ta đã bị nhà nướcphong kiến và Giáo hội truy nã, bị cầm tù trong nhà tù của tu viện.

Về phương diện đạo đức, trên cơ sở xem xét con người một cách duytâm thần bí, nên các nhà triết học lúc bấy giờ coi đạo đức như là phương tiện

để thực hiện những mệnh lệnh của tôn giáo, đạo đức học gắn với thần học.Tuy nhiên, tư tưởng về đạo đức của các nhà triết học thời trung cổ cũng cónhững nhân tố hợp lý của nó, đó là có thiên hướng bàn về lý tính, tiến lên phía

Trang 9

trước trong thái độ thừa nhận những tiêu chuẩn ở bên ngoài cá nhân, phân biệtcái thiện và cái ác Mặt khác, nhân tố hợp lý còn được thể hiện ở chỗ có xuhướng nghiện cứu đạo đức như là một hệ thống nguyên tắc khách quan, ướcđịnh trước và có ý nghĩa chung Song, do đạo đức gắn với thần học nên nó savào chủ nghĩa duy tâm khách quan, đồng nhất tính khách quan đạo đức vớitính thần thánh Thượng đế là nguyên tắc tối cao của đạo đức Ý chí củaThượng đế là hiện thân của sự tốt lành, của cái thiện và là cội nguồn của hạnhphúc.

Đến thời kỳ phục hưng và cận đại, là thời kỳ phương thức sản xuất tưbản chủ nghĩa được hình thành, xác lập và trở thành phương thức sản xuấtthống trị Sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thúc đẩykhoa học, kỹ thuật phát triển và tạo ra thị trường hàng hoá rộng lớn, phá vởtoàn bộ nền kinh tế phong kiến có tính chất tự nhiên, tự cấp, tự túc, khép kín.Chủ nghĩa kinh viện và thần học bị đánh đổ; các giá trị về con người và nềnvăn hoá Hy Lạp cổ đại được khôi phục và phát triển; con người được giảiphóng khỏi sự mê muội của tôn giáo, có điều kiện phát triển mạnh mẽ cánhân Đây là thời kỳ mà các nhà sử học gọi là thời kỳ phát hiện ra con ngườitrong thế giới và cả thế giới trong con người Cùng với sự xuất hiện chế độ tưhữu về tư liệu sản xuất, chủ nghĩa cá nhân được hình thành và phát triển, từngbước đóng vai trò tích cực trong cuộc đấu tranh cho việc giải phóng conngười khỏi những xiềng xích của chủ nghĩa phong kiến và giáo hội Đặc biệtbước sang thời kỳ cận đại, khi khuynh hướng lý tính được coi là cơ sở để cảitạo cuộc sống hiện đại, các nhà triết học khai sáng lấy việc truyền bá tri thứctốt đẹp một cách rộng rãi cho mọi người làm nhiệm vụ chính của mình Họcho rằng, vũ trụ là vật chất, vũ trụ là vô tận, vĩnh hằng, luôn vận động Conngười là một bộ phận của giới tự nhiên, là một động vật suy nghĩ nhờ các giácquan Tư tưởng con người chịu sự quy định của cấu trúc cơ thể trong sự tác

Trang 10

động qua lại với môi trường và điều kiện sống (Lamêtri) Con người là mộtthực thể thống nhất hữu cơ của hai mặt thể xác và linh hồn Cơ thể của conngười có khả năng cảm giác và ghi nhớ Linh hồn của con người là tổng thểcác hiện tượng tâm lý, có đặc tính vật chất, không có cơ thể thì linh hồnkhông là cái gì cả (Điđrô) Con người là sản phẩm của hoàn cảnh, của xã hộinên cần thay đổi hoàn cảnh xã hội, quan hệ phong kiến (Henvêtiúyt) Bêncạnh đó,các nhà triết học khai sáng còn cho rằng bản tính của con người vốnkhông ác Sở dĩ xã hội có cái ác là do sự khiếm khuyết của các quan hệ xã hội

và nền giáo dục không đúng đắn Con người được giáo dục đúng đắn tức là sựkhai sáng Những tư tưởng duy vật và tiến bộ của các nhà triết học khai sáng

đã phủ định hoàn toàn quan điểm duy tâm, tôn giáo, quan điểm siêu hình vềcon người Họ coi “ánh sáng tự nhiên của trí tuệ” là phương pháp cơ bản vàđộc lập với cuồng tín tôn giáo để nhận thức thế giới, để hoàn thiện xã hội vàđời sống xã hội Các nhà triết học khai sáng coi đấu tranh vì những quyền lợi

mà thiên nhiên ban tặng cho mình là “con người tự nhiên” Việc tuyên truyềncho con người tự nhiên đã dẫn đến khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái” Đâythực sự là tư tưởng đột phá, cởi trói con người khỏi xiềng xích gông cùm củatầng lớp địa chủ phong kiến và sức mạnh thần quyền tôn giáo; là một nấcthang trong tiến trình lịch sử phát triển của nhân loại, nó có ý nghĩa cáchmạng lịch sử khá sâu sắc Tuy nhiên, tư tưởng này không triệt để, không thoátkhỏi những mâu thuẫn cơ bản vốn có trong lòng xã hội tư bản, càng về sau tưtưởng này càng bộc lộ bản chất phản động của nó Bởi vì, do chế định củanhững điều kiện kinh tế, chính trị ,xã hội ràng buộc họ; hơn nữa còn do hạnchế của chính bản thân các nhà triết học Do vậy, mặc dù thừa nhận tự nhiên,nhưng họ lại diễn đạt bằng thần “tự nhiên thần luận”, tư tưởng của họ thoảhiệp với thần quyền tôn giáo

Trang 11

Kế thừa tư tưởng về con người trong lịch sử triết học nhân loại từ cổđại đến cận đại thế kỷ XVII – XVIII, triết học cổ điển Đức thừa nhận conngười là một chủ thể, đồng thời lại là kết quả của quá trình hoạt động củamình Mặt khác, Cantơ và sau này Hêghen đều khẳng định mỗi con người làsản phẩm của một thời đại lịch sử nhất định, do vậy con người mang bản chất

xã hội Cantơ cho rằng, với tư cách là chủ thể của thế giới, con người luôntích cực hoạt động cải tạo thế giới Tuy nhiên hoạt động thực tiễn ở đây đượcông hiểu trong giới hạn chính trị – xã hội nhất định, chứ không phải là hoạtđộng sản xuất vật chất

Với xuất phát điểm là tinh thần, là ý niệm tuyệt đối, Hêghen coi thếgiới vật chất là con người vô cơ, con người ở giai đoạn chưa hình thành Còncon người bằng xương, bằng thịt theo Hêghen là con người đã phát triển đầy

đủ, là con người trở về chính bản thân nó với tất cả những đặc tính vốn có của

nó Như vậy, từ điểm xuất phát của triết học đã xác định, Hêghen đã quy mọiquá trình của hiện thực về quá trình tư duy, quy lịch sử hiện thực về lịch sử tưduy, quy hoạt động thực tiễn của con người về quá trình tự ý thức, tự nhậnthức Mặt khác, trong hiện tượng tinh thần, Hêghen không chỉ coi con người

là chủ thể như Cantơ, mà ông còn cho rằng con người là kết quả của chínhquá trình hoạt động của mình; tư duy và trí tuệ của con người hình thành vàphát triển trong chừng mực con người nhận thức thế giới; ý thức con người làsản phẩm của lịch sử xã hội, hoạt động của con người càng phát triển thì ýthức của nó càng mạng bản chất xã hội Đây là những tư tưởng khá tiến bộcủa Hêghen, tiếc rằng nó được đặt trên nền tảng duy tâm

Đối lập với Hêghen, Phoiơbắc coi con người là sản phẩm cao nhất củagiới tự nhiên, chứ không phải là nô lệ của Thượng đế hay nô lệ của tinh thầntuyệt đối Với quan điểm duy vật này ông đã chống lại quan điểm duy tâm vềcon người và chống sự tách rời có tính chất nhị nguyên luận về linh hồn và

Trang 12

thể xác Ông khẳng định, chính con người sáng tạo ra thượng đế, chứ khôngphải thượng đế sáng tạo ra con người như quan niệm của tôn giáo và thần học

đã từng đề cập Bản chất thần thánh không là cái gì khác mà chính là bản chấtcon người được tinh chế, khách quan hoá, bởi tôn giáo là sự tha hoá của conngười về mặt tinh thần Theo Phoiơbắc, bản chất tự nhiên của con người làluôn hướng tới cái chân, cái thiện, cái mỹ, nhưng trên thực tế những cái đócon người không đạt được nên họ đã gửi gắm tất cả những ước muốn cao đẹpcủa mình vào hình tượng Thượng đế Tuy nhiên, do thế giới quan không triệt

để, nên con người trong quan niệm của Phoiơbắc là con người chung chung,trừu tượng, con người phi lịch sử, phi giai cấp, mang những thuộc tính sinhhọc, bẩm sinh Ông chỉ thấy con người tự nhiên, chứ không thấy con người xãhội, và càng không thấy vai trò hoạt động thực tiễn trong nhận thức và cải tạothế giới của con người

Như vậy, trước những thành tựu của phương thức sản xuất tư bản, cácnhà triết học cổ điển Đức đã đề cao sức mạnh trí tuệ của con người, song doảnh hưởng của phương pháp siêu hình, sự đề cao ấy tới mức cực đoan Cantơ

và Hêghen đã thần thánh hoá năng lực của con người dẫn đến duy tâm, khẳngđịnh mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội là kết quả hoạt động củacon người Phoiơbắc tuy không đề cao như vậy, nhưng lại hiểu con người chỉtheo nghĩa trần tục, bằng xương, bằng thịt, nên dẫn đến tư duy máy móc, siêuhình Tuy nhiên, giá trị tư tưởng về con người trong triết học cổ điển Đức là ởchỗ nó khẳng định tư duy, ý thức chỉ phát triển trong chừng mực con ngườinhận thức và cải tạo thế giới; con người vừa là chủ thể, đồng thời là kết quảhoạt động của một thời đại lịch sử nhất định

Như vậy, trải qua gần hai nghìn năm, với nhiều trào lưu lịch sử triết họckhác nhau, nhưng chưa có nhà triết học nào hay trường phái triết học nào luậngiải một cách đầy đủ và khoa học về vấn đề con người

Trang 13

Các nhà triết học thời cổ đại coi con người như là một tiểu vũ trụ Quátrình hình thành và phát triển của mỗi con người được gắn liền với định mệnh

và số phận Số phận đó bị quy định bởi ý chí của tạo hoá Còn trong hệ thốngthế giới quan tôn giáo, con người được coi như một thực thể nhị nguyên, là sựkết hợp giữa tinh thần và thể xác, trong đó thể xác là cái nhất thời, tinh thầnmới là cái vĩnh viễn Các học thuyết triết học duy tâm lại tuyệt đối hoá hoạtđộng của đời sống tinh thần, coi toàn bộ thế giới tinh thần như một thực thểhoàn chỉnh Chẳng hạn, Hêghen cho rằng, con người là hiện thân của “ý niệmtuyệt đối”, còn Phoiơbắc lại tuyệt đối hoá mặt sinh học của con người, chiacắt con người khỏi các quan hệ xã hội hiện thực, con người chỉ là sản phẩmcủa giới tự nhiên

Các quan điểm trên đây, dù là đứng trên nền tảng thế giới quan duytâm, nhị nguyên luận hoặc duy vật siêu hình, đều không phản ánh đúng bảnchất con người Nhìn chung các quan điểm trên đều xem xét con người mộtcách trừu tượng, tuyệt đối hoá mặt tinh thần hoặc thể xác con người, tuyệt đốihoá mặt tự nhiên – sinh học mà không thấy mặt xã hội trong đời sống conngười

Khác với tất cả các quan điểm trên, C Mác và Ăngghen tiếp cận conngười từ hiện, đang sống và hoạt động với bàn tay, khối óc của chính họ Đó

là con người gắn liền với sản xuất vật chất và các quan hệ xã hội Chính từviệc xác định đúng đắn tiền đề của mọi thời đại, lịch sử các ông đã làm nêncuộc cách mạng về vấn đề con người trong triết học Theo C Mác vàĂngghen, khi nghiên cứu vấn đề con người phải xuất phát từ những conngười cụ thể, cảm tính, đang tồn tại trong một xã hội nhất định, một thời đạinhất định, một môi trường xã hội với các điều kiện tự nhiên và các mối quan

hệ xã hội phức tạ của nó

Trang 14

Theo quan điểm triết học Mác, con người là một thực thể sinh vật - xãhội, là sản phẩm cao nhất trong quá trình tiến hoá của tự nhiên và lịch sử – xãhội Điều đó được thể hiện trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức của C Mác vàĂngghen: “Như vậy, là sự sản xuất ra đời sống – ra đời sống của bản thânmình bằng lao động, cũng như ra đời sống người khác bằng việc sinh con, đẻcái – biểu hiện ngay ra là một quan hệ song trùng: một mặt là quan hệ tựnhiên, mặt khác là quan hệ xã hội” [26 – tr 42] Như vây, theo C.Mác, conngười trước hết là một động vật, là sản phẩm của sự tiến hoá lâu dài của giớisinh vật như thuyết tiến hoá của Đácuyn đã khẳng định Nhưng, khác con vật,con người là một động vật có ý thức, có tính sáng tạo, có lao động, biết sángtạo và hưởng thụ cái đẹp Con người, theo quan điểm triết học Mác là sựthống nhất giữa hai mặt: mặt sinh học và mặt xã hội Mặt sinh học đó là mặt

tự nhiên,vật chất, nhục thể sinh vật Con người là sản phẩm của quá trình tiếnhoá lâu dài của tự nhiên và cũng chịu sự chi phối của các quy luật sinh học,như: di truyền, biến dị, sống chết của cơ thể…Mặt sinh học của con người cónhững nét chung với động vật cao cấp nhưng đã được cải tạo nhờ mặt xã hội.Còn mặt xã hội, đó là thế giới tinh thần, ý thức, các hoạt động, lao động, sángtạo…mà ở con vật không thể có Con người chỉ tồn tại với tư cách người khisống trong xã hội, có quan hệ với nhau, có hoạt động xã hội cho mình vàđồng loại, chịu sự tác động của quy luật xã hội Mỗi con người sinh ra đềusống và được nuôi dưỡng trong một xã hội nhất định, nên con người bị quyđịnh bởi thời đại, xã hội mà mình đang sống Vì vậy, “bản thân xã hội sảnxuất ra con người với tính cách là con người như thế nào thì nó cũng sản xuất

ra xã hôi như thế” [27 – tr 169] và “chỉ có trong cộng đồng cá nhân mới cóđược những phương tiện để có thể phát triển toàn diện những năng khiếu củamình” [28 – tr 108] Xã hội là xã hội của con người, do con người và vì conngười Điều đó có nghĩa, thông qua các quan hệ xã hội, như: quan hệ sản

Trang 15

xuất, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc, quan hệ gia đình…, con người mớitồn tại, phát triển, hoàn thiện và thể hiện được chính mình.

Không có con người thì không có bất kỳ một sự phát triển nào và xãhội phát triển đến đâu thì con người cũng phát triển đến đó Sự phát triển củacon người là thước đo sự phát triển của xã hội Con người vừa là mục tiêu,vừa là động lực của sự phát triển xã hội Do đó, để phát triển con người cầnphải phát triển xã hội và ngược lại, để phát triển xã hội cần phải phát triển conngười, đó là mối quan hệ biện chứng của quá trình phát triển lịch sử – xã hội

Khẳng định con người trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội, nhưng

C Mác và Ăngghen đã nhấn mạnh quan hệ xã hội của con người là quan hệbản chất Trong Luận cương về Phoiơbắc C.Mác viết: “Bản chất con ngườikhông phải là một cái gì trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tínhhiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội” [29 –

tr 11] Qua luận đề này Mác muốn nói rằng, không có con người trừu tượng,thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội Con người luôn luôn cụ thể,xác định, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhấtđịnh Bản chất con người không phải cái trừu tượng, mà là hiện thực, khôngphải là cái vốn có, có sẵn trong mỗi cá thể riêng biệt mà là tổng hoà toàn bộcác quan hệ xã hội hiện thực của nó; không phải là cái tự nhiên - sinh học mà

là lịch sử - xã hội

Bản chất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội Do vậy, nếu táchkhỏi đời sống xã hội, khỏi môi trường văn hoá xã hội, con người không thểhình thành và phát triển bản chất của mình được Con người chỉ tồn tại thực

sự, với tư cách người khi đặt trong các mối quan hệ xã hội và tham gia cácquan hệ xã hội Hệ thống các quan hệ tham gia quy định bản chất xã hội củacon người bao gồm: Quan hệ kinh tế, chính trị, pháp luật, đạo đức, thẩm mỹ,tôn giáo, khoa học; quan hệ cá nhân, nhóm, giai cấp, cộng đồng; quan hệ gia

Ngày đăng: 13/12/2016, 20:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1986
2. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1991
3. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1991
6. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1996
7. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1996
8. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
10. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
13. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
20. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
21. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2006
23. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2006
26. C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 1995, tập 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác, Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1995
28. C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 1995, tập 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác, Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1995
29. C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 1995, tập 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác, Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1995
30. C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 1995, tập 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác, Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1995
31. C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 1995, tập 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác, Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1995
4. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 1996 Khác
5. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 1996 Khác
9. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2001 Khác
11. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2001 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w