1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIÊU LUẬN TRIẾT học GIÁ TRỊ và hạn CHẾ của PHÉP BIỆN CHỨNG DUY tâm của hê GHEN

17 507 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 146 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là nhà biện chứng lỗi lạc của triết học cổ điển Đức, Hêghen cho rằng “nguồn gốc của mọi sự vật hiện tượng tự nhiên và xã hội là ý niệm tuyệt đối. Từ xuất phát này ông đã xây dựng một hệ thống triết học duy tâm khách quan”. Triết học theo Hêghen là sự xem xét đối tượng một cách có suy nghĩ, “không thừa nhận bất kỳ năng lực tinh thần nào của con người, đặt biệt năng lực quan trọng nhất là lý tính”. Đối tượng của triết học theo ông là trùng với đối tượng của tôn giáo đó là khách thể tuyệt đối vô hạn Thượng đế. Còn tư duy nói chung là cái làm cho con người khác với động vật. Thành tựu quan trọng của triết học Hêghen là phương pháp biện chứng mà hạt nhân hợp lý của nó là tư tưởng về phép biện chứng

Trang 1

GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY

TÂM CỦA HÊGHEN

MỞ ĐẦU

Là nhà biện chứng lỗi lạc của triết học cổ điển Đức, Hêghen cho rằng

“nguồn gốc của mọi sự vật hiện tượng tự nhiên và xã hội là ý niệm tuyệt đối Từ xuất phát này ông đã xây dựng một hệ thống triết học duy tâm khách quan” Triết học theo Hêghen là sự xem xét đối tượng một cách có suy nghĩ, “không thừa nhận bất kỳ năng lực tinh thần nào của con người, đặt biệt năng lực quan trọng nhất là

lý tính” Đối tượng của triết học theo ông là trùng với đối tượng của tôn giáo đó là khách thể tuyệt đối vô hạn Thượng đế Còn tư duy nói chung là cái làm cho con người khác với động vật Thành tựu quan trọng của triết học Hêghen là phương pháp biện chứng mà hạt nhân hợp lý của nó là tư tưởng về phép biện chứng

Đề tài tiểu luận này mục đích để nhận thức đúng những nét đặc thù đồng thời cũng là để đánh giá chính xác hơn ý nghĩa của triết học Hêghen đối với sự phát triển của tư tưởng triết học nói chung, một khi chúng ta tính đến kinh nghiệm lịch

sử từ lúc xuất hiện triết học đó cho đến nay Đương nhiên khi xem xét các quan điểm của những nhà triết học nổi tiếng qua các thời đại trước đây, chúng ta tuyệt nhiên không được tô vẽ, không được hiện đại hóa quan điểm của họ Đồng thời chúng ta cũng không được ca ngợi, không được biện hộ một chiều các quan điểm

đã lỗi thời hoặc bị hạn chế bởi những điều kiện của lịch sử Một mặt, khi xem xét

di sản của một nhà triết học thì không bỏ qua những hạn chế lịch sử những khiếm khuyết sai lầm của nhà tư tưởng đó, phải đặt nó trong điều kiện lịch sử cụ thể để

có được những đánh giá khách quan và chính xác nhất Làm tốt được điều trên đối với hệ thống triết học Hêghen không phải dễ dàng, bởi vì triết học Hêghen không những quá đồ sộ và uyên bác về nhiều mặt mà còn chứa đựng trong chính nó không ít những mâu thuẫn, những xu hướng khác nhau, và đó là lý do em chọn đề tài này

Trang 2

NỘI DUNG

I ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY TÂM CỦA HÊGHEN

1.1 Khái lược về triết học cổ điển Đức và điều kiện ra đời của phép biện chứng duy tâm của Hêghen

1.1.1 Hoàn cảnh ra đời của triết học cổ điển Đức

Khái niệm “Triết học cổ điển Đức” dùng để chỉ sự phát triển triết học của nước Đức ở nửa cuối thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, được mở đầu từ hệ thống triết học của Cantơ (1724 - 1804) trải qua Phíchtơ (1762 - 1814), Senlinh (1775 - 1854) đến triết học duy tâm của Hêghen (1770 -1831) và triết học duy vật của Phơbach (1804 - 1872) Triết học cổ điển Đức là giai đoạn phát triển mới về chất trong lịch sử tư tưởng Tây Âu và thế giới cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX Đây là đỉnh cao của thời kì triết học cổ điển phương Tây, đồng thời có ảnh hưởng to lớn tới triết học hiện đại.

Triết học cổ điển Đức ra đời và phát triển trong những điều kiện của chế độ chuyên chế nhà nước Phổ và nó là sự bảo vệ về mặt tư tưởng cho chế độ đó Thời kì cuối thế kỉ XVIII, cuộc cách mạng tư sản Pháp (1789) ảnh hưởng mạnh đến nước Phổ,

và Hêghen là một người tán dương cuộc cách mạng đó Đồng thời xã hội Phổ lúc này với những điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt đã làm nảy sinh hệ tư tưởng có tính chất tiểu tư sản, thỏa hiệp Tất cả cái đó tạo nên nét riêng của triết học cổ điển Đức.

Do điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội hết sức đặc biệt của nước Đức cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, triết học cổ điển Đức chứa đựng một nội dung cách mạng, nhưng hình thức của nó thì cực kì “rối rắm” và có tính chất bảo thủ.

Triết học cổ điển Đức ra đời trong điều kiện lịch sử hết sức đặc biệt Nước Đức vào cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX vẫn là một nước rất lạc hậu về kinh tế và chính trị so với nhiều nước ở châu Âu như Anh và Pháp Đó còn là một quốc gia phong kiến điển hình, với 360 tiểu vương quốc tự lập trong một liên bang Đức chỉ còn là hình thức, lạc hậu về kinh tế và chính trị Thủ công nghiệp, công nghiệp, nông nghiệp bị đình đốn Triều đình vua Phổ Phriđrich Vinhem (1770 – 1840) vẫn tăng cường quyền lực duy trì chế độ quân chủ phong kiến, cản trở đất nước Đức phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa Cả đất nước bao trùm bầu không khí bất bình của đông đảo quần chúng Đây

là một trong những thời kì hèn kém nhất trong lịch sử nước Đức (Ăngghen).

Trong khi đó, chủ nghĩa tư bản đã được thiết lập ở một số nước Tây Âu như Italia, Anh, Pháp…, đem lại một nền sản xuất phát triển chưa từng có Ở nước Pháp đã tiến hành cuộc cách mạng tư sản, ở nước Anh thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp làm rung chuyển cả châu Âu, đưa châu Âu bước vào nền văn minh công nghiệp Tấm gương của các nước Tây Âu đã thức tỉnh tinh thần phản kháng cách mạng của giai cấp tư sản Đức và những bộ phận tiến bộ khác của xã hội Đức Nhưng vì giai cấp tư sản Đức và những lực lượng tiến bộ khác nằm rải rác ở những vương quốc nhỏ tách rời nhau, nhỏ

Trang 3

bé về số lượng, yếu kém về kinh tế và chính trị nên không thể tiến hành cách mạng tư sản trong thực tiễn, mà chỉ tiến hành cuộc cách mạng về phương diện tư tưởng Họ muốn thỏa hiệp với tầng lớp phong kiến quý tộc Phổ, giữ lập trường cải lương trong việc giải quyết những vấn đề phát triển đất nước.

Tuy lạc hậu về kinh tế và chính trị, nước Đức thời kì này đạt được sự phát triển chưa từng có về triết học, văn hóa và nghệ thuật Đây là quê hương của nhiều nhà tư tưởng, nhà văn, nhà thơ nổi tiếng thế giới như Hecđơ, Gớt, Sinlơ, Cantơ… Họ, một mặt, tiếp thu những di sản tư tưởng và văn hóa Đức truyền thống, kế thừa các quan niệm của Nicôlai Kudan, Lepnit…, mặt khác, được sự cổ vũ to lớn của tư tưởng Khai sáng và văn hóa Pháp thế kỉ XVIII Cách mạng tư sản Pháp (1789 -1794) là hậu thuẫn thực tiễn thức tỉnh giai cấp tư sản Đức đấu tranh vì một trật tự xã hội mới ở Đức Thể hiện nguyện vọng đó của giai cấp tư sản, các tác phẩm của Gớt, Sinlơ, Cantơ, Phíchtơ… đều toát lên một tinh thần phẫn nộ chống lại sự trì trệ và bất công của xã hội Đức thời đó.

Trước đòi hỏi của quá trình phát triển phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở các nước Tây Âu, khoa học tự nhiên đã đạt nhiều thành tựu lớn: phát hiện ra điện, phát hiện

ra ôxy và bản chất sự cháy của Lavoadie, việc phát hiện ra tế bào của Lơvenhuc, định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng của Lômônôxốp, học thuyết về dưỡng khí của Pritski và Sielo

Bối cảnh chính trị - xã hội và sự phát triển của khoa học ở Tây Âu và nước Đức lúc đó chứng tỏ sự hạn chế và bất lực của phương pháp tư duy siêu hình trong việc lý giải bản chất của các hiện tượng tự nhiên và thực tiễn xã hội đang diễn ra cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX Nó đòi hỏi cần có cách nhìn mới về bản chất các hiện tượng tự nhiên và tiến trình lịch sử nhân loại, cũng như cần có quan niệm mới về khả năng và vai trò của con người Triết học cổ điển Đức ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu đó.

1.2 Sơ lược về triết học Hêghen

Hêghen sinh ngày 27.08.1770 tại Stuttgart Ông rất được cưng chiều trong một gia đình ngoan đạo, có lẽ “bởi vì ông học giỏi” Mới 3 tuổi đã đi học trường tiếng Đức, lên 5 học trường tiếng Latin Năm 1788 Hêghen bắt đầu học tại chủng viện Tubingen, tại đây ông đã hoàn tất cao học về triết học năm 1790 và 3 năm sau đó, tốt nghiệp về thần học Năm 1793 Hêghen quyết định không đi theo nghiệp tu sĩ và trở thành gia sư tại Bern, để có nhiều thời gian hơn cho việc nghiên cứu triết học Năm 1797 Hêghen đã làm gia sư tại Frankfurt Hêghen thực

sự tìm thấy hứng khởi với cộng đồng trí thức trong “Hiệp hội các trí tuệ” và ngay trong năm đó ông đã hoàn tất tác phẩm Cương lĩnh hệ thống xưa nhất của chủ nghĩa duy tâm Đức (Das alteste Systemprogramm des Deutschen Idealismus) Năm 1801 Hêghen đã về trường Đại học Jena Những khóa giảng đầu tiên của ông rất ít người tham dự Tuy vậy Hêghen đã được phong giáo sư vào năm 1805 Khi quân đội Napoleon chiếm đóng, ông đã nhanh chóng rời Jena Năm 1807 ông

Trang 4

đảm nhận chức chủ bút tờ Bamberger Zeitung và xem như lần đầu tiên ông thoát khỏi cảnh túng thiếu tài chính kinh niên Tại đây tác phẩm nền tảng Hiện tượng học Tinh thần của ông ra đời Năm 1808 Hêghen được cử làm hiệu trưởng trường trung học Egidyen tại Nuremberg Cảm thấy nhàm chán, ông khuyến khích học sinh đặt câu hỏi giữa tiết học và dịch các bài vở của học sinh sang tiếng Hy Lạp

cổ Năm 1811 ông cưới cô Marie von Tucher chỉ vừa tròn 20 tuổi Năm 1816 Hêghen được phong giáo sư tại Đại học Heidelberg, nơi ông cộng tác trong ban biên tập của tờ Niên giám văn học Heidelber Năm 1817 ông công bố bộ Bách khoa thư các khoa học triết học Năm 1818, Bộ trưởng Văn hóa Vương quốc Phổ

là Von Altenstein đã đích thân mời ông về Đại học Berlin Cao điểm danh vọng của ông là tước vị Hiệu trưởng Đại học Berlin vào năm 1829 trước khi ông mất năm 1831

Ông là nhà triết học duy tâm khách quan, đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức, người xây dựng nên phép biện chứng duy tâm Triết học của Hêghen là đỉnh cao của chủ nghĩa duy tâm Đức cuối thế kỉ 18 - đầu thế kỉ 19 Nguyên lí xuất phát và xuyên suốt toàn bộ triết học Hêghen là sự đồng nhất giữa tư duy và tồn tại Toàn bộ thực tại khách quan (tự nhiên và lịch sử thế giới) là biểu hiện của “lí tính thế giới” hay “tinh thần thế giới” mà Hêghen gọi là “ý niệm tuyệt đối” “Ý niệm tuyệt đối” có trước tự nhiên và loài người, trải qua một quá trình phát triển lịch sử - tự nhận thức về bản thân, Thành quả lớn nhất của triết học Hêghen là phép biện chứng Ở Hêghen, phép biện chứng bị thần bí hoá Mặc dù vậy, Hêghen vẫn là “người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng” (Mac) Hêghen có những đóng góp to lớn trong địa hạt lí luận về nhận thức, trong cuộc đấu tranh chống “thuyết không thể biết” (bất khả tri luận) Bên cạnh đó, hệ thống duy tâm, bảo thủ, khép kín và giả tạo của triết học Hêghen mâu thuẫn sâu sắc với phương pháp biện chứng có tính chất cách mạng của triết học này Quan điểm chính trị của Hêghen cũng phản ánh tình trạng mâu thuẫn của giai cấp tư sản Đức, khuynh hướng thoả hiệp của nó với các thế lực phong kiến Hêghen ủng hộ chế độ quân chủ lập hiến, bênh vực nhà nước quân chủ phản động Phổ, cho đó là đỉnh cao của sự phát triển xã hội

Triết học Hêghen là một trong những nguồn gốc lí luận trực tiếp của chủ nghĩa Mac Các tác phẩm chủ yếu: “Hiện tượng học tinh thần” (1807), “Khoa học lôgic” (1812 - 16), “Bách khoa thư về khoa học triết học” (1817, 1830), “Những nguyên lí triết học của pháp luật” (1821) Những thành tựu trong sự nghiệp triết học của Hêghen gắn liền với điều kiện kinh tế xã hội cũng như những đặc điểm của nền triết học cổ điển Đức thời bấy giờ

Trang 5

1.2 Nội dung phép biện chứng duy tâm của Hêghen

1.2.1 Tiền đề ra đời phép biện chứng duy tâm của Hêghen

Một là, Phép biện chứng cổ điển của Hêraclit

Heraclit (540 - 480 tr.CN) là nhà triết học có tư tưởng biện chứng điển hình của triết học phương Tây cổ đại Mà theo đánh giá của Mác - Lênin thì Heraclit là người sáng lập ra phép biện chứng Ông cũng là người đầu tiên xây dựng phép biện chứng dựa trên lập trường duy vật Mặc dù sau Heraclit nhiều nhà triết học khác cũng đã kế thừa và phát triển tư tưởng biện chứng của ông, và Hêghen cũng

đã chịu ảnh hưởng không ít của những tư tưởng biện chứng đó (điển hình là tư tưởng của Kant - ông tổ của triết học cổ điển Đức) tuy nhiên tư tưởng biện chứng trong triết học của Heraclit vẫn được xem là tiền đề quan trọng nhất cho phép biện chứng duy tâm của Hêghen sau này

Phép biện chứng của Heraclit chưa được trình bày dưới dạng một hệ thống các luận điểm khoa học mà hầu như các luận điểm cốt lõi của phép biện chứng được đề cập dưới dạng các câu danh ngôn mang tính thi ca và triết lý Tư tưởng biện chứng của Heraclit được thể hiện như sau:

Một là: Quan niệm về sự vận động vĩnh cửu của vật chất Theo ông thì không có sự vật, hiện tượng nào của thế giới là đứng im tuyệt đối, mà trái lại, tất

cả đều trong trạng thái biến đổi và chuyển hoá Ông nói: “Chúng ta không thể tắm hai lần trên một dòng sông vì nước mới không ngừng chảy trên sông”; Ngay cả mặt trời cũng mỗi ngày một mới” Theo quan điểm của Heraclit thì lửa chính là bản nguyên của thế giới, là cơ sở duy nhất và phổ biến nhất của tất cả mọi sự vật, hiện tượng Đồng thời lửa cũng là gốc của mọi vận động, tất cả các dạng khác nhau của vật chất chỉ là trạng thái chuyển hoá của lửa mà thôi

Hai là: Heraclit nêu lên tư tưởng về sự tồn tại phổ biến của các mâu thuẫn trong mọi sự vật, hiện tượng Điều đó thể hiện trong phỏng đoán về vai trò của các mặt đối lập trong sự biến đổi phổ biến của tự nhiên về “sự trao đổi của những mặt đối lập”, về “sự tồn tại và thống nhất của các mặt đối lập” Ông nói: “cùng một cái ở trong chúng ta – sống và chết, thức và ngủ, trẻ và già Vì rằng cái này biến đổi cái kia; và ngược lại, cái kia mà biến đổi thành cái này ” Heraclit đã phỏng đoán về sự đấu tranh và thống nhất của các mặt đổi lập Lênin viết: “ Phân đôi cái thống nhất và nhận thức các bộ phận đối lập của nó là thực chất của phép biện chứng Điều này chúng ta đã thấy xuất hiện ngay từ nhà biện chứng Heraclit” Nhận định của Lê-nin đã chứng minh cho quan điểm và đóng góp của Heraclit trong tư tưởng này

Trang 6

Ba là: Theo Heraclit thì sự vận động phát triển không ngừng của thế giới do quy luật khách quan (mà ông gọi là Logos) quy định Logos khách quan là trật tự khách quan, là mọi cái đang diễn ra trong vũ trụ Logos chủ quan là từ ngữ học thuyết của con người Logos chủ quan phải phù hợp với logos khách quan Người nào càng tiếp cận được logos khách quan bao nhiêu thì càng thông thái bấy nhiêu

Lý luận nhận thức của Heraclit mang tính biện chứng và duy vật sơ khai nhưng cơ bản là đúng Chính những tư tưởng biện chứng sơ khai của Heraclit sau này đã được các nhà biện chứng cổ điển Đức mà điển hình là Hêghen kế thừa, phát triển và được các nhà sáng lập triết học Mac đánh giá cao

Hai là, Tư tưởng triết học duy tâm tại Đức - nguồn gốc lịch sử của duy tâm tuyệt đối Hêghen

Biện chứng pháp duy tâm của Hêghen là kết quả của quá trình xây dựng phương pháp biện chứng trong triết học Đức mà khởi đầu là Cantơ (Kant) Quá trình ấy phản ánh những đòi hỏi của tư tưởng cách mạng tư sản Âu châu thông qua tình hình đặc biệt của giai cấp tư sản Đức Ưu điểm lớn nhất của Kant là đã

đề cao được vai trò lao động sáng tạo ra thế giới, tuy chỉ quan niệm cái lao động

ấy là lao động tinh thần Thế giới của Kant là thế giới của tư sản, thế giới trao đổi hàng hóa Trong chế độ kinh tế phong kiến, những vật làm ra chủ yếu là để sử dụng, nếu có trao đổi cũng chỉ là trong phạm vi địa phương nhỏ hẹp, với quan niệm ban ơn Với kinh tế tư sản, quan hệ chính trong xã hội là quan hệ trao đổi hàng hóa trên cơ sở bình đẳng - thực ra bình đẳng ở đây chỉ là hình thức, chỉ để che đậy động cơ quyền lợi ở bên trong - hàng hóa là sản sinh ra trong một quá trình sản xuất của máy móc, có tổ chức, duy lý Như vậy là tính chất lao động sáng tạo đã được thực hiện với một mức cao Đã đến lúc có điều kiện để tin rằng thế giới của loài người - cái thế giới hàng hóa - là do con người tạo ra

Nhưng vật chất mà tư sản đề cao chỉ là vật chất máy móc, chưa phải là vật chất thực sự lao động tức là con người lao động Giai cấp tư sản chỉ giữ lại phần lao động trí óc, lao động tổ chức sản xuất và tính toán kỹ thuật sản xuất, gạt bỏ phần lao động thực sự tức là con người sản xuất Đây cũng là nguyên nhân tính chất hạn chế của tư tưởng Kant khi ông đề cao vai trò lao động trong quá trình hiểu biết và xây dựng thế giới, Kant hạn chế lao động đó trong phạm vi tinh thần,

do hoạt động của tinh thần mà thế giới bên ngoài được xây dựng và có được tính chất khách quan

Vì vậy, đặc điểm của tư tưởng duy tâm Đức là đã xây dựng được một khái niệm về chủ quan, nó phản ánh quá trình thực tế của lịch sử, tức là quá trình lao động xây dựng thế giới Đây chính là cái hạt nhân duy lý

Trang 7

Lao động tinh thần mà Kant quan niệm chỉ phản ánh được hình thức kỹ thuật của phương thức sản xuất máy móc Kant cho rằng thế giới mà ta nhận thức được

là do sự liên kết những cảm giác theo quy luật số lượng và nhân quả, quan niệm

đó phản ánh tính chất sản xuất hàng hóa theo quy luật số lượng và nhân quả Đấy mới chỉ là hình thức kỹ thuật sản xuất, chưa đi vào con người lao động thực sự Kant mới phản ánh phương thức sản xuất trong giai đoạn tiền cách mạng; Kant chưa tin tưởng hoàn toàn vào cái thế giới hàng hóa và cho đấy chưa phải là thực tại tuyệt đối, chưa phải là vật tự tại

Tiến lên một bước nữa, đến giai đoạn cách mạng cần phải khẳng định hoàn toàn cái thế giới mới, Fichte đã tuyệt đối hóa quan niệm duy tâm của Kant Fichte nói: nếu thế giới là do ý thức chủ quan của ta mà có, do lao động tinh thần xây dựng lên, thì đấy cũng là thế giới duy nhất, ngoài nó ra không có vật tự tại nào khác

Fichte đã đi thêm được một bước trên con đường xây dựng phương pháp biện chứng Fichte đã từng thấy mâu thuẫn giữa hoạt động sáng tạo và thế giới được sáng tạo, giữa cái “tôi” và cái “không phải là tôi” Tôi chỉ là một vật thể trong thế giới tự nhiên và thế giới đó ảnh hưởng đến tôi Nhưng mặt khác, cái chủ quan của tôi đã đặt ra: tôi là một vật thể Hai mặt đó đã được Fichte biểu diễn trong hai mệnh đề: về quan hệ lý thuyết là tôi tự đặt (tôi là do cái không phải là tôi quy định); và trên quan hệ thực tiễn là tôi đặt (cái không phải tôi là do tôi quy định)

Phương pháp mâu thuẫn này mới được sử dụng trong phạm vi chủ quan, cái khách quan ở đấy chung quy vẫn nằm trong chủ quan Mâu thuẫn giữa tôi và cái không phải tôi vẫn nằm trong tôi, vì chính tôi đặt ra cái quan hệ đó - cái tôi vẫn là tuyệt đối

Với Schelling, phương pháp biện chứng lại tiến một bước nữa Phương pháp mâu thuẫn của Schelling đã đi quá nội dung chủ quan và bao gồm cả tự nhiên Theo Schelling, mâu thuẫn giữa tinh thần và tự nhiên xuất phát là từ cùng một nguồn gốc: đó là “Tuyệt đối” Tự nhiên không phụ thuộc vào tinh thần nữa, khách quan không nằm trong chủ quan nữa, hai cái đó xuất phát từ cùng một Tuyệt đối

Tư tưởng của Schelling đã phản ánh giai đoạn hưởng thụ “lung tung” sau khi chế độ mới của giai cấp tư sản đã được thực hiện, quan hệ tư bản trước kia còn là

lý tưởng nay đã thành sự thực và phát triển một cách “lung tung”

Nhưng rồi cũng phải đến yêu cầu ổn định tình trạng hỗn độn đó, và xây dựng một chính quyền điều hòa xã hội một cách tương đối Yêu cầu mới đó được phản ánh trong triết học của Hêghen

Trang 8

Triết học của Hêghen vận dụng một cách có hệ thống phương pháp biện chứng, tức là phương pháp nêu mâu thuẫn và biểu diễn quá trình biến chuyển của mâu thuẫn Phương pháp của Hêghen phản ánh đầy đủ hơn quá trình lịch sử thực

tế, cho là trong mỗi giai đoạn có phát sinh ra mâu thuẫn nội bộ, và có phản ánh quá trình đó một cách có thứ tự, hệ thống Nhưng Hêghen lại nói rằng quá trình phát triển vật chất là do mâu thuẫn của hoạt động tinh thần Hêghen chỉ trông thấy hiện tượng ở bên trên, nên cho rằng tinh thần quy định sự tiến hóa, hoạt động tinh thần sáng tạo ra thế giới Mệnh đề chung của Hêghen phản ánh một chân lý: đó là con người sáng tạo thế giới lịch sử Nhưng con người đó chỉ được quan niệm trong phạm vi tinh thần Tuy nhiên con người tinh thần cũng chỉ là hình ảnh của con người lao động thực sự Ông cho rằng, khởi nguyên của thế giới không phải

là vật chất mà là “ý niệm tuyệt đối” hay “tinh thần thế giới” Tính phong phú, đa dạng của thế giới hiện thực là kết quả của sự vận động và sáng tạo của ý niệm tuyệt đối Ý niệm tuyệt đối tồn tại vĩnh viễn Tuy nhiên, những phạm trù về tinh thần và luận lý học của Hêghen không chỉ là những khái niệm trừu tượng như của Kant mà bao gồm cả những nội dung của thực tế khách quan Luận lý của Hêghen không phải là hình thức mà bao gồm tất cả cái gì có thể hiểu biết được và trình bày theo quá trình biện chứng của nó

1.2.2 Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy tâm của Hêghen

Một là, Phương pháp luận biện chứng

Hêghen phê phán những chủ nghĩa triết học trước bằng cách coi những hình thái ý thức không phải là lý luận triết học như ông ta quan niệm (ví dụ: cảm giác, tức là cơ sở chủ nghĩa cảm giác) Phân tích nó đúng thế nào và chứng minh rằng mỗi hình thái ấy có một quá trình biện chứng, trong đó nó mâu thuẫn với nó, bắt buộc phải chuyển lên một mức cao hơn và cứ như thế đi đến hình thái triết học của Hêghen

- Khi trình bày về “ ý niệm tuyệt đối” vận động và phát triển , Hêghen cho rằng đó là sự vận động nội tại của “ ý niệm tuyệt đối” Tự vận động tức là thay đổi hình thức phát triển khác nhau của “ý niệm tuyệt đối” Lenin cũng đã tìm thấy hạt nhân hợp lý trong phương pháp biện chứng của Hêghen là sự tự vận động Nội dung hợp lý và sâu sắc này trong quan điểm của Hêghen theo Lenin là mối liên hệ tất yếu, là nguồn gốc nội tại của những sự khác nhau Khi trình bày sự phát triển của “ý niệm tuyệt đối” Hêghen thừa nhận tồn tại, khái niệm, bản chất là ba sự quy định, ba hình thức biểu hiện chủ yếu trong quá trình phát triển Điều này phù hợp với quá trình suy nghĩ, nhận thức của con người: mới nhìn vào sự vật thấy tồn tại,

đi sâu vào sự vật tìm ra bản chất, khi nắm được bản chất ta rút ra khái niệm

Trang 9

Phương pháp tư duy này vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay ở tất cả các bộ môn khoa học khác nhau Điều này sẽ được trình bày rõ ràng hơn trong phần sau:

“Giá trị và hạn chế của phép Biện chứng Duy tâm của Hêghen”

Hêghen không phải là người đầu tiên xây dựng nên phép biện chứng song qua tư tưởng và quá trình hoạt động của mình, Hêghen đã khiến nó trở nên hoàn thiện hơn và mang lại cho phép biện chứng một vị trí quan trọng trong triết học Ông quan niệm, phép biện chứng: “ nói chung là nguyên tắc của mọi sự vận động, mọi sự sống và mọi hoạt động trong phạm vi hiện thực Ông coi biện chứng cũng

là linh hồn của mọi nhận thức khoa học chân chính” Với tư tưởng như vậy, ông

đã xem xét mọi sự vật hiện tượng, ý thức dưới cái nhìn biện chứng Và về cốt lõi, phương pháp biện chứng của ông cũng bao gồm 02 nội dung cơ bản:

+ Nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ với nhau, ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau (cái toàn thể và cái bộ phận )

+ Nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển Đây là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng

Như vậy phương pháp biện chứng của Hêghen cũng đã thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt Nó thừa nhận trong những trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái

“hoặc là hoặc là ” còn có cả cái “vừa là vừa là ” nữa; thừa nhận một chỉnh thể trong lúc vừa là nó lại vừa không phải là nó; thừa nhận cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau lại vừa gắn bó với nhau

Như vậy, mặc dù chưa đạt được tính triệt để trong phép biện chứng như chủ nghĩa Mác, chưa trình bày phương pháp biện chứng dưới một hệ thống của gồm 2 nguyên lý (nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển), 3 quy luật cơ bản (quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt ối lập, quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại, quy luật phủ định của phủ định) và 6 cặp phạm trù với tính cách là những quy luật không

cơ bản(cái chung và cái riêng; nội dung và hình thức; nguyên nhân và kết quả; bản chất và hiện tượng; tất nhien và ngẫu nhiên; khả năng và hiện thực) Song phép biện chứng của Hêghen đã đạt được những thành tựu cơ bản của nó và trở thành hạt nhân hợp lý cho phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác-xít

Phương pháp biện chứng của Hêghen là phương pháp suy ngẫm về thế giới Kết quả của phương pháp này là hình ảnh suy tư chỉnh thể về thế giới chứ không phải là bức tranh thế giới thu được nhờ kết quả của khoa học cụ thể

Trang 10

Là nhà biện chứng, đồng thời là nhà triết học duy tâm khách quan Triết học của ông đầy mâu thuẫn giống như sự mâu thuẫn của cả xã hội Đức nói chung, của nền triết học Đức lúc bấy giờ nói riêng Nếu phương pháp biện chứng của ông là hạt nhân hợp lý, chứa đựng tư tưởng thiên tài về sự phát triển, thì hệ thống triết học duy tâm của ông phủ nhận tính chất khách quan của những nguyên nhân bên trong vốn có của sự phát triển của tự nhiên và xã hội

Hai là, Hệ thống các phạm trù, quy luật

Trong khuôn khổ phép biện chứng duy tâm của mình, Hêghen không chỉ trình bày các phạm trù: như chất, lượng, phủ định, mâu thuẫn,… mà còn nói đến các quy luật “lượng đổi dẫn đến chất đổỉ và ngược lại”, “phủ định của phủ định”

và “quy luật mâu thuẫn” Các cặp phạm trù này được Hêghen đặc biệt nhắc đến ở nội dung Logic học của ông Trong Logic học ở phần tồn tại, Hêghen đã diễn đạt các phạm trù vật chất, lượng, độ và tư tưởng biện chứng về sự chuyển hoá từ lượng đến chất và ngược lại Ở phần bản chất, hiện tượng, quy luật, khả năng và thực hiện, nguyên nhân và kết quả, và phần trình bày học thuyết mâu thuẫn nguồn gốc của sự phát triển Ở phần khái niệm của học thuyết Logic, Hêghen đã diễn đạt phạm trù về cái chung và cái riêng, quy nạp và diễn dịch, phân tích và tổng hợp,

đã diễn đạt các nguyên lý sự hoạt động có mục đích của con người, sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, tổng hợp lại các quan niệm phát triển với tư cách là phủ định của phủ định Đồng thời trong khoa học logic phương pháp biện chứng của Hêghen còn được thể hiện ở chỗ: Ông đặt ra vấn đề sự thống nhất quá trình logic với quá trình lịch sử; logic học, nhận thức luận đều là sự tổng hợp của quá trình lịch sử; ông nêu lên tính hạn chế của logic hình thức và đòi hỏi một logic có nội dung thực tế, sinh động; ông nêu lên những tư tưởng thống nhất giữa phép biện chứng, logic học và lý luận nhận thức

II GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY TÂM CỦA HÊGHEN

2.1 Giá trị của phép biện chứng duy tâm của Hêghen

2.1.1 Tiến bộ hơn những tư tưởng triết học cùng thời

Có thể khẳng triết học Hêghen là đỉnh cao của triết học Tây Âu thời kỳ cận đại đúng như ông đã từng thừa nhận Và cốt lõi để tạo nên sự tiến bộ ấy chính là phép biện chứng của ông

Mặc dù phương pháp tư duy siêu hình trong thời kỳ phục hưng là một tiến bộ lớn để chống lại những tư tưởng của thần quyền Tuy nhiên, đến thời kỳ cận đại, cùng với sự phát triển của nền sản xuất tư bản và của khoa học tự nhiên, Triết học Tây Âu đã quá coi trọng tư duy siêu hình, đề cao phương pháp thực nghiệm Điều

Ngày đăng: 13/12/2016, 19:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w