đề tài “ Đánh giá tính hấp dẫn của thị trường bia rượu, nước giải khát Việt Nam. Nêu rõ các cơ hội của thị trường? Các cơ hội của ngành và phân tích rủi ro quốc gia? Từ đó lựa chọn chiến lược xâm nhập thị trường bia rượu, nước giải khát Việt Nam nếu bạn là CEO của một công ty nước ngoài”đề tài “ Đánh giá tính hấp dẫn của thị trường bia rượu, nước giải khát Việt Nam. Nêu rõ các cơ hội của thị trường? Các cơ hội của ngành và phân tích rủi ro quốc gia? Từ đó lựa chọn chiến lược xâm nhập thị trường bia rượu, nước giải khát Việt Nam nếu bạn là CEO của một công ty nước ngoài”đề tài “ Đánh giá tính hấp dẫn của thị trường bia rượu, nước giải khát Việt Nam. Nêu rõ các cơ hội của thị trường? Các cơ hội của ngành và phân tích rủi ro quốc gia? Từ đó lựa chọn chiến lược xâm nhập thị trường bia rượu, nước giải khát Việt Nam nếu bạn là CEO của một công ty nước ngoài”đề tài “ Đánh giá tính hấp dẫn của thị trường bia rượu, nước giải khát Việt Nam. Nêu rõ các cơ hội của thị trường? Các cơ hội của ngành và phân tích rủi ro quốc gia? Từ đó lựa chọn chiến lược xâm nhập thị trường bia rượu, nước giải khát Việt Nam nếu bạn là CEO của một công ty nước ngoài”đề tài “ Đánh giá tính hấp dẫn của thị trường bia rượu, nước giải khát Việt Nam. Nêu rõ các cơ hội của thị trường? Các cơ hội của ngành và phân tích rủi ro quốc gia? Từ đó lựa chọn chiến lược xâm nhập thị trường bia rượu, nước giải khát Việt Nam nếu bạn là CEO của một công ty nước ngoài”đề tài “ Đánh giá tính hấp dẫn của thị trường bia rượu, nước giải khát Việt Nam. Nêu rõ các cơ hội của thị trường? Các cơ hội của ngành và phân tích rủi ro quốc gia? Từ đó lựa chọn chiến lược xâm nhập thị trường bia rượu, nước giải khát Việt Nam nếu bạn là CEO của một công ty nước ngoài”đề tài “ Đánh giá tính hấp dẫn của thị trường bia rượu, nước giải khát Việt Nam. Nêu rõ các cơ hội của thị trường? Các cơ hội của ngành và phân tích rủi ro quốc gia? Từ đó lựa chọn chiến lược xâm nhập thị trường bia rượu, nước giải khát Việt Nam nếu bạn là CEO cđề tài “ Đánh giá tính hấp dẫn của thị trường bia rượu, nước giải khát Việt Nam. Nêu rõ các cơ hội của thị trường? Các cơ hội của ngành và phân tích rủi ro quốc gia? Từ đó lựa chọn chiến lược xâm nhập thị trường bia rượu, nước giải khát Việt Nam nếu bạn là CEO của một công ty nước ngoài”ủa một công ty nước ngoài”
Trang 1Lời mở đầu
Thị trường bia Việt Nam được xem là một trong những thị trường hấp dẫn vì có sức tăng trưởng mạnh mẽ Với sự hiện diện của thương hiệu bia Anheuser-Busch InBev (sở hữu thương hiệu Budweiser, sẽ ra bia vào năm 2014), thị trường bia Việt Nam đã hiện diện gần đủ các hãng bia hàng đầu thế giới và khu vực Theo báo cáo của Bộ Công thương, tiêu thụ bia tại Việt Nam tăng trung bình 12% giai đoạn 2006-2010 và dự báo tăng 13% giai đoạn 2011-2015 Không những thế, Việc giảm thuế nhập khẩu từ 45% đối với bia, 30% đối với nước giải khát có gas xuống 0% khi Việt Nam gia nhập TPP đang đặt ngành bia, nước giải khát trong nước trước cuộc cạnh tranh cực kỳ khốc liệt.Trong khi các thương hiệu bia trong nước, cùng với một số hãng bia ngoại đang
ồ ạt chạy đua xây dựng nhà máy tại Việt Nam thì các loại bia ngoại nhập với giá cao gấp nhiều lần bia sản xuất trong nước vẫn đang ồ ạt nhập khẩu Bia nội chiếm lĩnh phân khúc giá trung bình, trong khi bia ngoại đã gần như chiếm trọn thị trường cao cấp Xuất hiện lần đầu tiên tại Amsterdam năm 1870 Heineken được xem là thương hiệu bia thành công nhất và là một biểu tượng trong ngành công nghiệp bia trên thế giới.Theo bảng xếp hạng và đánh giá của Interbrand/Business Week hàng năm về 100 thương hiệu mạnh nhất thế giới, thương hiệu Heineken trị giá 2.4 tỉ USD Heineken đã có mặt khắp mọi nơi và rất được ưa chuộng không chỉ ở chất lượng mà còn bởi những nét đặc trưng của sản
phẩm này
Heineken bước vào thị trường Việt Nam từ năm 1992 dưới hình thức liên doanh với
công ty beer Việt Nam Tại đây, Heineken đã có những bước đi thành công khi Việt Nam được đánh là một trong những quốc gia tiềm năng với mức tiêu thụ bia Heineken đứng thứ ba thế giới
Để hiểu thêm về Heineken đã mở rộng thị trường tại Việt Nam như thế nào nhóm
chúng tôi xin trình bày đề tài “ Đánh giá tính hấp dẫn của thị trường bia rượu, nước giải khát Việt Nam Nêu rõ các cơ hội của thị trường? Các cơ hội của ngành và phân tích rủi ro quốc gia?
Từ đó lựa chọn chiến lược xâm nhập thị trường bia rượu, nước giải khát Việt Nam nếu bạn là CEO của một công ty nước ngoài”
Trang 2Quy mô và sự tăng trưởng:
Một đoạn thị trường gọi là có hiệu quả khi nó phải đủ quy mô để bù đắp lại những nỗ lực
marketing không chỉ trong hiện tại mà cả trong tương lai của công ty Vì vậy, việc xác định đúngđắn quy mô và khả năng tăng trưởng là một vấn đề quan trọng đối với việc lựa chọn thị trường mục tiêu của công ty Các công ty lớn thường hướng đến các đoạn thị trường có quy mô lớn, bỏ qua các đoạn thị trường nhỏ Ngược lại các công ty nhỏ bước đầu thường tiếp cận với các đoạn thị trường nhỏ còn bị bỏ ngỏ và không đòi hỏi quá nhiều tài lực của họ Để đánh giá quy mô và
sự tăng trưởng, các công ty phải thu thập và phân tích các chỉ tiêu cần thiết bao gồm: Doanh số bán; sự thay đổi của doanh số bán; mức lãi và tỷ lệ thay đổi của mức lãi; các tác nhân tác động đến nhu cầu
d Khuyến khích đầu tư
Đối với doanh nghiệp , một thị trường được coi là hấp dẫn trong khuyến khích đầu tư khi các cơ hội mà chính quyền địa phương cho phép các hoạt động của doanh nghiệp được hoạt động trơn
Trang 3chu không ảnh hưởng gì đến doanh nghiệp về mặt pháp lý Đồng thời có sự ủng hộ của khách hàng đối với sản phẩm mà doanh nghiệp có ý định cung ứng cho thị trường
e chất lượng đoạn thị trường
Đoạn thị trường có chất lượng là nhóm các khách hàng mà doanh nghiệp có khả năng đáp ứng được nhu cầu và ước muốn của họ, đồng thời có số lượng đủ lớn để tạo ra dòng tiền thu lớn hơn dòng tiền chi cho những nỗ lực kinh doanh doanh nghiệp
2 Đánh giá cơ hội ngành
a Đe dọa gia nhập mới
Khái niệm: Đối thủ cạnh tranh tiềm năng là những doanh nghiệp hiện không cạnh tranh
trong ngành nhưng có khả năng gia nhập thi trường
Nhận diện các đối thủ tiềm năng có thể thâm nhập vào ngành là một điều quan trọng bởi
họ có thể đe dọa đến thị phần của các công ty hiện có trong ngành Một trong những nguyên nhân để có thể coi các đối thủ muốn nhập ngành như một đe dọa, đó là, họ sẽ đem vào cho ngànhcác năng lực sản xuất mới Thông thường, các đối thủ mới thâm nhập ngành có một mối quan tâm mãnh liệt đến việc giành được thị phần lớn Kết quả là, các đối thủ cạnh tranh mới có thể thúc ép các công ty hiện có trong ngành phải trở nên hữu hiệu hơn, hiệu quả hơn và phải biết cách cạnh tranh với các thuộc tính mới
Sức mạnh của lực lượng cạnh tranh do những đối thủ cạnh tranh tiềm năng là một hàm sốvới chiều cao của các rào cản gia nhập Rào cản gia nhập là các nhân tố sẽ gây khó khăn tốn kém
Trang 4cho các đối thủ muốn thâm nhập ngành, và thậm chí khi họ có thể thâm nhập, họ sẽ bị đặt vào thế bất lợi Rào cản gia nhập cao sẽ giữ các đối thủ tiềm năng ở bên ngoài ngay cả khi thu nhập trong ngành cao.
Các rào cản gia nhập
Tính kinh tế của quy mô
Chuyên biệt hoá sản phẩm
Nhu cầu vốn đầu tư ban đầu
Chi phí chuyển đổi
Gia nhập vào các hệ thống phân phối
Chính sách của chính phủ.
b Đe dọa từ phía sản phẩm thay thế
Khái niệm: Sản phẩm thay thế là những sản phẩm từ ngành/lĩnh vực kinh doanh khác
nhưng có khả năng cùng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng tương tự như ngành đang phân tích Một ngành có sản phẩm thay thế càng nhiều thì đe doạ từ cạnh tranh càng lớn, làm giới hạn khả năng đặt giá cao và do đó cũng hạn chế khả năng sinh lợi
Các nguy cơ thay thế quyết định mối đe dọa của các sản phẩm thay thế đó là:
Các chi phí chuyển đổi trong sử dụng sản phẩm: Chi phí chuyển đổi là chi phí xuất hiện một
lần khi khách hàng muốn chuyển đổi việc mua sắm của mình sang nhà cung cấp khác Nếu chi phí chuyển đổi cao, khách hàng bị kìm giữ vào những sản phẩm của công ty hiện tại ngay cả khi sản phẩm của người mới gia nhập tốt hơn
Xu hướng sử dụng hàng thay thế của khách hàng: Khách hàng rất không thích thay đổi thói
quen vì sợ mất thời gian và công sức Nếu khách hàng quen thuộc với hình ảnh một sản phẩm sẽ khó thay đổi việc sử dụng sản phẩm đó thay cho sản phẩm thay thế
Tương quan giữa giá cả và chất lượng của các mặt hàng thay thế: nếu các sản phẩm thay thế
mà sẵn có và công dụng tương đương ở cùng một mức giá thì mối đe dọa của các sản phẩm thay thế là rất mạnh
Dự đoán đe dọa từ sản phẩm/dịch vụ thay thế:
Nghiên cứu chức năng sử dụng của mỗi sản phẩm/dịch vụ ở mức độ rộng nhất có thể
Kiểm soát sự ra đời của công nghệ mới
` c Quyền lực thương lượng của nhà cung ứng, của khách hàng
Trang 5Nhà cung ứng là lực lượng có ảnh hưởng tới doanh nghiệp và được coi là một áp lực đe dọa khi họ có khả năng tăng giá bán hoặc thay đổi chất lượng các sản phẩm đầu vào mà họ cung cấp cho doanh nghiệp
Khách hàng của doanh nghiệp là những người có cầu về sản phẩm (dịch vụ) do doanh nghiệpcung cấp Khách hàng đối với một doanh nghiệp không chỉ là khách hàng hiện tại mà cả những khách hàng tiềm ẩn Khách hàng có thể được xem như là một sự đe dọa cạnh tranh khi họ buộc doanh nghiệp phải giảm giá hoặc đòi hỏi mức chất lượng cao và dịch vụ tốt hơn Ngược lại khi người mua yếu sẽ mang đến cho doanh nghiệp một cơ hội để tăng giá kiếm được lợi nhuận nhiềuhơn
Các yếu tố ảnh hưởng:
Mức độ tập trung ngành: Tỷ lệ tập trung thấp cho thấy ngành có rất nhiều đối
thủ, trong đó không có đối thủ nào chiếm thị phần đáng kể Các thị trường gồm
nhiều “mảnh ghép” này được cho là có tính cạnh tranh
Đặc điểm hàng hoá/dịch vụ: Nếu vật tư của nhà cung cấp chiếm giữ vai trò quan
trọng với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì áp lực từ phía nhà cung cấp là đáng kể, ngược lại thì nó sẽ trở lên thông thường nếu doanh nghiệp thay thế bằng mặt hàng khác được
Chuyên biệt hoá sản phẩm/dịch vụ : Có thể khẳng định rằng chuyên biệt hóa là
điều bắt buộc đối với những công ty nhỏ
Chi phí chuyển đổi nhà cung ứng: nếu chi phí này cao thì người cung ứng có thể
tương đối mạnh vì doanh nghiệp phải chịu chi phí cao khi chuyển sang người cung ứng khác
Khả năng tích hợp về phía sau (trước): Khi doanh nghiệp trong ngành cung ứng
có quyền lực trong các điều khoản giao dịch, họ sẽ kiếm được lợi nhuận lớn hơn
Trong những ngành CN có nhiều nhà cung cấp và ít khách hàng, khách hàng thường có lợi hơn
3 Cạnh tranh giữa các đối thủ cạnh tranh hiện tại
Các đối thủ cạnh tranh hiện tại là các công ty đang hoạt động trong cùng một ngành với doanh nghiệp Nếu các đối thủ cạnh tranh là yếu thì doanh nghiêp sẽ có cơ hội tăng giá và kiếm được nhiều lợi nhuận hơn và doanh nghiệp có thể thực hiện chiến lược bành trướng thế lực Ngược lại, khi các đối thủ cạnh tranh càng mạnh thì sự cạnh tranh về giá là đáng kể và tốt nhất làduy trì sự ổn định tránh xảy ra chiến tranh giá cả
Mức độ cạnh tranh giữa các công ty hiện tại trong ngành thể hiện ở:
- Các rào cản rút lui khỏi ngành
- Mức độ tập trung của ngành
Trang 6- Mức độ tăng trưởng của ngành
- Tình trạng dư thừa công suất
- Đặc điểm của sản phẩm/dịch vụ
- Các chi phí chuyển đổi
- Tính đa dạng của các đối thủ cạnh tranh
- Tình trạng sàng lọc trong ngành
4 Quyền lực tương ứng của các bên liên quan
-Lợi tức cổ phần
Công đoàn
-Tiền lương thục tế-Cơ hội thăng tiến-Điều kiện làm việc
Chính phủ -Hỗ trợ các chương trình của Chính phủ
-Củng cố các Quy định và Luật
Các tổ chức tín dụng
-Độ tin cậy-Trung thành với các điều khách hàng oản giao ước
Các hiệp hội thương mại Tham gia vào các chương trình của Hội
Dân chúng
-Việc làm cho dân địa phương-Đóng góp vào sự phát triển của xã hội-Tối thiểu hóa các ảnh hưởng tiêu cực
Trang 71 Rủi ro chính trị
Rủi ro cho các nhà đầu tư
• Giảm giá trị tài sản (chiến tranh, bạo động)
• Mất tài sản (sung công quỹ)
• Tài sản khó chuyển giao (chuyển giao, đóng băng)Rủi ro cho nhân viên
• Chi phí đầu vào
• Tỷ giá hối đoái
3 Rủi ro cạnh tranh
O
perati on a l exp o sure
• Rối loạn thị trường
Trang 8I Đánh giá tính hấp dẫn của thị trường bia rượu Việt Nam
1 Nhu cầu thị trường
Việt Nam hiện là quốc gia có ân số trẻ với khoảng 33 triệu người trong độ tuổi 20 đến 40 tuổi, độtuổi có tỷ lệ tiêu thụ các sản phẩm bia cao nhất.Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giaiđoạn 2008-2010 đạt trên 8% Theo đó, GDP bình quân đầu người sẽ đạt mục tiêu 1000$ vào năm2010,thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm bia, đặc biệt là bia cao cấp và trung cấp,đảm bảo cho tăng trưởng theo chiều sâu của thị trường bia Việt Nam trong tương lai
Sản lượng tiêu thụ bia của Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục tăng trưởng khoảng 13%-14%/năm trong những năm tới Trong đó thị trường bia Trung cấp được dự báo sẽ đạt tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, do có sự chuyển dịch của nhóm khách hàng thuộc thị trường bia Bình dân sang thị trường Trung cấp khi mức thu nhập tăng lên
Cùng với tốc độ gia tăng dân số nhanh và vững, sản lượng bia ở Việt Nam cũng đã tăng theo, từ mức 1,29 tỷ lít năm 2003 lên 1,37 tỷ lít năm 2004; 1,5 tỷ lít năm 2005; 1,7 tỷ lít năm 2006 ; 1,9
tỷ lít năm 2007 và trên 2 tỷ lít năm 2008 Dự báo đến cuối năm 2010, tổng sản lượng bia trong nước ước đạt 2,7 tỷ lít, tăng 45% so với năm 2007 và tăng hơn con số 2,5 tỷ lít do Bộ Công Thương ước tínhvào thời điểm năm 2004 tại Quy hoạch tổng thể phát triển ngành bia đến năm 2010
Hiện nay, Việt Nam có khoảng 350 cơ sở sản xuất bia có trụ sở ở hầu khắp các tỉnh thành trên cảnước và tiếp tục tăng về số lượng Trong số này, có hơn 29 nhà máy đạt công suất trên 20 triệu lít/năm; 15 nhà máy có công suất lớn hơn 15 triệu lít/năm và có tới 268 cơ sở có năng lực sản suất dưới 1 triệu lít/năm Kể từ năm 2001 đến 2006, tốc độ tăng trưởng của khối lượng bia được tiêu thụ hằng năm trung bình (CARG) là 8%, trong đó, bia hơi và bia thường vẫn là hai dòng sản phẩm chủ đạo với CARG lần lượt là 13% và 16% Tuy nhiên,dòng sản phẩm bia cao cấp với các nhãn hiệu như Tiger,Heiniken, Carlsberg mặc dù chỉ chiếm tỷ trọng 12% nhưng lại có mức giá trị đóng góp là 20%
Mức tiêu thụ bia của người dân Việt Nam
Trang 9Với khoảng 58 triệu người trong độ tuổi lao động thực tế tại Việt Nam chiếm khoảng 70% trong tổng dân số và lực lượng thuộc độ tuổi lao động dồi dào này có nhu cầu tiêu thụ bia rất cao với nhiều lý do ngoài tiêu thụ cho nhu cầu căn bản, có thể vì mục đích kinh doanh, tôn trọng đối tác, thể hiện đẳng cấp, đây là một trong những điểm thu hút đặc biệt với bất kì nhà sản xuất bia trong và ngoài nước Dự báo trong những năm sắp tới con số này sẽ tăng khoảng 71% do đó về lấu dài vẫn có thể đảm bảo đem lại nguồn lợi nhuận tăng trưởng ổn định.
Cũng theo một con số thống kê chính xác hơn, Việt Nam hiện đang có khoảng 30 triệu người trong độ tuổi lao động và thường xuyên uống rượu bia, nếu lấy sản lượng tiêu thụ bia năm 2010 2,7 tỷ lít chia ra thì trung bình, một người uống hết khoảng 85 lít/năm Độ tuổi nghiện rượu bia
lý tưởng từ 24-54, chiếm khoảng 10 triệu đàn ông Việt Nam Tình hình trẻ hóa độ tuổi uống rượubia cũng ngày càng tăng Người Việt Nam chúng ta hiện nay cũng phải bỏ ra từ 6000-7000 tỷ đồng (tức gần 500 triệu đô la) cho việc dùng bia rượu Đa số nam giới đều thừa nhận mình thường xuyên sử dụng rượu bia, tỷ lệ xấp xỉ 70% nữa trên 50%, tương đương với các nước phát triển trong khi đó kinh tế vẫn đang là nước phát triển
Một số nhãn hiệu bia Việt Nam và quốc tế có mặt tại Việt Nam vừa công bố cho thấy lượng bia tiêu thụ ở Việt Nam đang gia tăng chóng mặt Trong đó, có những thương hiệu đạt con số tỷ lít/năm Sức uống “khủng khiếp” của người tiêu dùng Việt Nam khiến các nhà máy bia thi nhau
mở ra Ngày càng nhiều các doanh nghiệp nhập khẩu và phân phối các loại bia trên thị trường
Có thể thấy, xu hướng thích uống bia ngoại nhập của người tiêu dùng Việt Nam khiến ngay cả nhà sản xuất cũng bổ sung lĩnh vực kinh doanh là nhập khẩu và phân phối bia Và trong đợt tiêu thụ dịp tết đầu năm 2011, một thương hiệu bia nổi tiếng đã xin giấy phép nhập khẩu tới 400.000 thùng
Trong khi đó, doanh nghiệp đang làm chủ một loạt thương hiệu bia nổi tiếng hiện là Tổng công
ty Bia rượu nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) với các nhãn hàng “333”, “Sài Gòn xanh”, “Sài Gòn đỏ” còn tỏ ra “vượt trội” hơn cả VBL, bởi vào gần đây cuối năm 2010 Sabeco đã đánh dấucột mốc tiêu thụ 1 tỉ lít bia các loại
Và “ kết sổ” năm 2010 doanh nghiệp tiêu thụ tổng cộng 1,088 tỉ lít bia các loại, bằng 109% kế hoạch và tăng 21% so với cùng kỳ năm 2009 Năm 2011, doanh nghiệp này cũng không ngại ngần đặt mục tiêu tiêu thụ 1,3 tỉ lít bia và dự kiến đạt mốc 2 tỉ lít bia trong năm 2015 vì tốc độ tiêu thụ bia tại thị trường Việt Nam “ chỉ thấy tăng chứ không bao giờ thấy giảm, bất kể tình hìnhkinh tế có khó khăn cỡ nào”
Theo số liệu thống kê, sản xuất trong tháng 7/2011 của ngành bia ước tính đạt 279,1 triệu lít, tăng 14% so với tháng 7/2010; tính chung 7 tháng, sản lượng bia các loại đạt gần 1,5 tỉ lít tăng 8,7% so với cùng kỳ năm ngoái Hai Tổng công ty lớn trong ngành là Tổng công ty cổ phần Bia- Rượu-Nước giải khát Hà Nội và Tổng công ty cổ phần Bia-Rượu-Nước giải khát Sài Gòn vẫn sản xuất ổn định và tăng trưởng với tỷ trọng trên 65% sản lượng bia của toàn ngành
Trang 10Có thể nói mức tiêu thụ bia hiện nay tại thị trường Việt Nam là rất lớn và tiềm năng Mặc dù không có số liệu đo lường chính thức về doanh số bán hàng nước giải khát tại Việt Nam, các chuyên gia kinh tế vẫn nhận định trong thời gian sắp tới, xu hướng phát triển của thị trường nướcgiải khát nói chung vẫn sẽ chứng kiến hướng gia tăng tích cực của loại đồ uống có cồn nói riêng, đặc biệt là tiêu thụ bia các loại.
- Bộ Công thương thúc đẩy nâng cao sản lượng, quản lý chất lượng làm cho các doanh nghiệp trong nước cấp bách phải nâng cấp máy móc thiết bị sản xuất, đầu tư cải thiện quản lý và sản phẩm Chính điều này tạo cơ hội cho sự hợp tác và nhà đầu tư nước ngoài ra nhập thị trường dưới các hình thức được khuyến khích như liên doanh, liên kết
- Những tỉnh, thành phố tập trung nhiều năng lực sản xuất bia: TP.HCM chiếm 23.2% năng lực sản xuất bia cả nước, Hà Nội 13.44%, Hải Phòng 7.47%, Tiền Giang 3.79%, Huế 3.05%, Đà Nẵng 2.83%
- Malt nhập khẩu có thể thay thế bằng malt chế biến từ đại mạch trồng trong nước, tuy nhiên việc trồng đại mạch chỉ mới được đưa vào thử nghiệm và giải pháp này chưa thể hiện tính khả thi
Trang 11- Các cơ sở sản xuất bia địa phương gặp nhiều khó khăn do trang thiết bị lạc hậu và chưa đảm bảo được an toàn vệ sinh thực phẩm và nhiều khả năng phải ngừng hoạt động trong thời gian tới khi mức thuế không còn ưu đãi.
* Sự hiệu quả trong hoạt đông của các liên doanh:
Vốn đầu tư, kinh nghiệm quản lý và công nghệ của các đối tác nước ngoài kết hợp hệ thống phân phối của các đối tác trong nước được tận dụng hiệu quả tại các công ty liên doanh, liên kết
3 Khuyến khích đầu tư
Quy định của chính phủ
Tổng cục Thuế vừa có công văn gửi cục thuế các tỉnh, thành phố hướng dẫn việc triển khai Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt mới.Theo đó, các mặt hàng rượu, bia sẽ ấn định các mức thuế tiêu thụ đặc biệt mới theo 2 giai đoạn
Đối với mặt hàng bia, từ ngày 1/1/2010 đến hết ngày 31/12/2012, áp dụng thuế suất 45% Sau đó, từ ngày 1/1/2013, mức thuế này cũng được nâng lên 50% Mứcthuế cũ áp dụng trong năm 2008-2009 đối với mặt hàng bia phổ biến ở mức 40%-75%, tùy loại
Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu, bia là giá chưa có thuế VAT không loại trừ giá trị vỏ bao bì Cũng theo quy định này, mặt hàng bia lon sẽ không đượctrừ giá trị vỏ hộp theo mức 3.800 đồng một lít như trước đây nữa
Đối với mặt hàng bia chai, nếu cơ sở sản xuất có đặt tiền cược vỏ, định kỳ quý doanh nghiệp và khách hàng phải thực hiện quyết toán số tiền đặt cược vỏ chai
Số tiền đặt cược tương ứng giá trị số vỏ chai không thu hồi được phải đưa vào doanh thu tính thuế thuế tiêu thụ đặc biệt
4 Đối thủ cạnh tranh hiện tại
Có thể điểm qua một vài gương mặt điển hình làm nên bức tranh ngành bia Việt Nam như sau Lâu đời và danh tiếng phải kể đến Sabeco, tổng công ty bia-rượu-nước giải khát Sài Gòn, với các thương hiệu Bia Sài Gòn, Saigon special,333, bia hơi, có nhà máy ở khắp 3 miền, Sài Gòn, Sóc Trăng, Cần Thơ, Phú Yên, Quy Nhơn, Daklak, Hà Tĩnh, Hà Nam, Hà Nội.Sabeco chiếm lĩnh phân khúc bia phổ thông, đặc biệt mạnh ở khu vực phía Nam và đang phát triển ra Trung Bộ
Kể đến là Habeco, một tổng công ty bia rượu nữa ở phía Bắc, tiền thân là nhà máybia Hommel có từ thời Pháp Habeco đang phát triển mạnh thị trường phía Bắc vàcác tỉnh Bắc Trung Bộ Habeco cũng có nhà máy tại Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Thanh Hóa, Quảng Bình Habeco cũng chiếm lĩnh thị trường bia phân khúc phổ thông, nổi tiếng với các thương hiệu bia Hà Nội chai, lon, bia