1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN TRIẾT học cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong lịch sử tư tưởng mỹ học trước mác

26 879 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 124 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình phát triển của xã hội về mặt lịch sử, nhiều hình thái ý thức xã hội, nhiều lĩnh vực của cuộc sống tâm hồn và nhiều lĩnh vực hoạt động của con người đã được xây dựng nên. Trong số những hình thái ý thức và lĩnh vực đó, ngay từ những bước chập chững đầu tiên của lịch sử nhân loại, chúng ta không khỏi không tìm thấy những cảm giác, những xúc động và những quan niệm thẩm mỹ. Thế giới tự nhiên, con người và những thành tựu văn hóa – nghệ thuật mà con người đã sáng tạo ra với vẻ đẹp hoàn mỹ của nó đã khiến con người rung cảm, qua đó làm xuất hiện tư tưởng mỹ học

Trang 1

I MỞ ĐẦU

Trong quá trình phát triển của xã hội về mặt lịch sử, nhiềuhình thái ý thức xã hội, nhiều lĩnh vực của cuộc sống tâm hồn vànhiều lĩnh vực hoạt động của con người đã được xây dựng nên.Trong số những hình thái ý thức và lĩnh vực đó, ngay từ nhữngbước chập chững đầu tiên của lịch sử nhân loại, chúng ta khôngkhỏi không tìm thấy những cảm giác, những xúc động và nhữngquan niệm thẩm mỹ Thế giới tự nhiên, con người và những thànhtựu văn hóa – nghệ thuật mà con người đã sáng tạo ra với vẻ đẹphoàn mỹ của nó đã khiến con người rung cảm, qua đó làm xuất hiện

tư tưởng mỹ học Tuy nhiên, sự hình thành những tư tưởng mỹ họcgắn chặt với việc hình thành tư tưởng triết học Mỹ học từ thời cổđãi đã có quan hệ chặt chẽ với triết học, những quan điểm, tư tưởngcủa triết học đã ảnh hưởng sâu sắc đến những quan điểm, tư tưởng

mỹ học Vì vậy, trong hành trình nhận thức, nắm bắt cái đẹp, cũngnhư triết học, mỹ học có những khuynh hướng khác nhau, thể hiệnbằng cuộc đấu tranh gay gắt giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩaduy vật

Những nhà mỹ học duy vật, nhìn nhận cái thẩm mỹ từ chínhthế giới vật chất, ngọn nguồn của cái đẹp là thế giới hiện thực, còncác nhà mỹ học duy tâm thì truy tìm cái thẩm mỹ từ ý thức chủ quancủa con người hay từ ý thức siêu tự nhiên nào đó Cuộc đấu tranhgiữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong lịch sử tư tưởng

mỹ học diễn ra từ thời kỳ cổ đại và kéo dài cho đến nay, có nhiềuphạm trù thẩm mỹ luôn tạo ra sự tranh cãi, mâu thuẫn Song cuộc

Trang 2

đấu tranh này không làm cho mỹ học suy yếu đi mà càng làm chocác phạm trù thẩm mỹ thêm phong phú, sâu sắc

Tìm hiểu lịch sử mỹ học, đó là tìm hiểu những tư tưởng thẩm

mỹ đã có qua các thời kỳ, song, để hiểu một cách cặn kẽ cần thiếtphải đặt những tư tưởng thẩm mỹ đó trong chính hoàn cảnh, điềukiện ra đời của nó, trong sự tương tác, đấu tranh qua lại giữa cácquan điểm theo lập trường khác nhau, thể hiện sinh động nhất làcuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật

Xuất phát từ những lý do trên, trong quá trình nghiên cứuchuyên đề “Lịch sử tư tưởng Mỹ học”, được sự hướng dẫn của TS

Lê Đình Lục, tác giả đã chọn đề tài “Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong lịch sử tư tưởng mỹ học trước Mác” để làm tiểu luận kết thúc môn học.

Quá trình phát triển của tư tưởng nhân loại nói chung, tưtưởng mỹ học nói riêng, nói một cách hình tượng như một dòngsông cuộn chảy nhưng được tách ra thành hai hướng khác nhau làphương Đông và phương Tây Mỹ học phương Tây cố gắng lý giảicác phạm trù thẩm mỹ bằng tư duy logic, còn mỹ học phương Đôngnhấn mạnh thế giới nội tâm con người, gắn thẩm mỹ vào các vấn đềtinh thần, đạo đức Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủnghĩa duy tâm trong mỹ học phương Đông cũng diễn ra nhưngkhông biểu hiện rõ nét như mỹ học phương Tây Vì vậy, trong phạm

vi tiểu luận này, tác giả chỉ tập trung lý giải khuynh hướng duy vật

và duy tâm của mỹ học phương Tây Mặt khác, như đã nói ở trên,chỉ có thể tìm hiểu lịch sử mỹ học một cách chính xác khi đặt vàohoàn cảnh mà nó hình thành và phát triển Với cách tiếp cận đó, tiểu

Trang 3

luận giải quyết cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩaduy tâm trong lịch sử tư tưởng mỹ học ở những thời kỳ chủ yếu sau:

1 Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong tư tưởng mỹ học thời kỳ Hy Lạp – La Mã cổ đại

2 Sự thống trị của chủ nghĩa duy tâm trong tư tưởng mỹ học thời kỳ Trung cổ

3 Tư tưởng mỹ học thời kỳ Phục hưng, Khai sáng và sự phục hồi của chủ nghĩa duy vật

4 Tư tưởng mỹ học của chủ nghĩa duy tâm cổ điển Đức

Trang 4

II NỘI DUNG

1 Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong tư tưởng mỹ học thời kỳ Hy Lạp – La Mã cổ đại

Tư tưởng mỹ học Hy Lạp – La mã cổ đại được hình thành vàokhoảng thế kỷ IX (TCN), phát triển rực rỡ vào cuối thế kỷ VI(TCN), đạt đến độ cực thịnh vào thế kỷ IV trước công nguyên, sau

đó thoái trào và kết thúc vào đầu thế kỷ thứ VI sau công nguyên.Người Hy Lạp đã lập nên hệ thống mỹ học của mình nhờ việc tiếpcận các tri thức phương Đông (của người Ai Cập và của người vùngLưỡng Hà) thông qua tộc người Phênixi ở phía nam dải đất Iôni

Đời sống văn hóa nghệ thuật Hy Lạp cổ đại cũng có sự pháttriển rực rỡ, với các tác phẩm bất hủ như Iliát và Ôđixê (Hôme), các

vở kịch Ôrexti, Prômêtê bị xiềng (Étsin)…; các công trình kiến trúcnổi như đền thờ thần Áctemít (ở thành phố Êphez), đền Páctenông(Phiđi và Ictinus)…; các tác phẩm điêu khắc mẫu mực như tượngkhổng lồ Atena cao 10 mét, tượng Đêtêmê, tượng thần Zớt, Vệ nữCnidơ, Vệ nữ Ácli, các tượng Apôlông (Praxichen) … với nhữngtác phẩm hoàn mỹ như vậy, nghệ thuật của người Hy Lạp cổ đại đếnngày nay vẫn được giữ nguyên giá trị mẫu mực của nó Vì vậy nóbuộc các nhà tư tưởng thời bấy giờ phải lưu tâm nghiên cứu, đánhgiá, nhận xét về chúng, tư tưởng mỹ học Hy Lạp cổ đại hình thành

từ đó

Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong mỹ học Hy Lạp – La Mã cổ đại xoay quanh tư tưởng của các nhà triết học nổi tiếng như Hêraclit, Đêmôcrit (đại diện cho khuynh hướng duy vật); Pithagore, Sôcrat, Platon (đại diện cho khuynh

Trang 5

hướng duy tâm) và Arixtốt người dao động giữa chủ nghĩa duy vật

và chủ nghĩa duy tâm.

1.1 Khuynh hướng duy vật của Hêraclit và Đêmôcrit

Hêraclít (530 – 470 TCN) – nhà thơ và triết gia vĩ đại theo xuhướng duy vật, xem xét sự vật theo quan điểm biện chứng sơ khai.Ông cho rằng, lửa là khởi nguyên của vũ trụ, thế giới tồn tại là dongọn lửa vận động vĩnh cửu Hêraclít biện giải hài hòa là sự thốngnhất giữa những mâu thuẫn và nó đạt được thông qua con đườngđấu tranh giữa chúng, như độ tương phản giữa các màu sắc, các âmthanh cao thấp, dài ngắn … Hêraclít phát hiện tính chất tương đốicủa vẻ đẹp khi ông nhận định con khỉ đẹp nhất cũng xấu nếu đem sosánh với con người Như vậy, Hêraclít được coi là một trong nhữngđại biểu sớm nhất giải thích các khái niệm thẩm mỹ theo xu hướngduy vật và có tính chất biện chứng sơ khai

Đêmôcrít (460 – 370 TCN) là nhà triết học duy vật vĩ đạitrong thế giới cổ đại Theo Đêmôcrít, cái đẹp là sự kết hợp của cácnguyên tử Do đó, cái đẹp có nguồn gốc từ vật chất Một sự vậtđược coi là đẹp khi nó nằm trong trật tự, có mức độ phù hợp nhấtđịnh Đêmôcrít nêu lên tính chất về mức độ của vẻ đẹp – là sự trungbình, vừa phải, không thừa, không thiếu, “nếu vượt quá mức độ, cái

dễ chịu nhất cũng trở thành cái khó chịu” Ông lý giải sự hình thànhcủa nghệ thuật cũng bằng các nguyên nhân vật chất: đó là sự bắtchước tự nhiên và các loài vật Thí dụ, kiến trúc là bắt chước sự làm

tổ của con nhện, con én; ca hát là bắt chước chim sơn ca, họa mi;múa là bắt chước thiên nga…

1.2 Khuynh hướng duy tâm của Pithagore, Sôcrat và Platon

Trang 6

Theo Pithagore (580 – 500 TCN) con số lập nên bản chất mọi

sự vật, từ đó cho rằng cái đẹp là do sự hài hòa giữa các con số haynói cách khác “cái đẹp là sự hài hòa trong quan hệ số lượng” Ôngchứng minh bằng hiện tượng chất lượng âm thanh phụ thuộc vàochiều dài dây đàn và tìm ra quan hệ số lượng trong âm nhạc nhưquãng tám: 1:2 ; quãng năm: 2:3 ; quãng bốn: 3:4 Ông đồng nhấthài hòa với hoàn thiện và vẻ đẹp bằng một hình thức chất phát, ôngphát hiện sức mạnh của nghệ thuật khi cho rằng, có thể dùng âmnhạc để chữa bệnh và giáo dục đạo đức công dân

Sôcrát (469 – 399 TCN) – một nhà hiền triết, xuất thân từ tầnglớp bình dân, triết học của ông có tính mục đích luận, và trọng tâm

sự chú ý của hệ thống triết học Sôcrát là con người xem xét ở cácgóc độ hoạt động thực tiễn, hành vi, phẩm hạnh Ông khẳng định sựvật nào cũng có thể là đẹp và cũng có thể không đẹp trong nhữngtình huống khác nhau Sôcrát không phân biệt nghệ thuật với thủcông, bởi vì nghệ thuật theo ông, chỉ là sự tái hiện thực chất bằngbằng cách bắt chước, có điều nó không bắt chước, mô phỏng mộtcách đơn giản các đồ vật và hiện tượng mà thường liên kết các nét

đã được chọn lọc ở các sự vật hiện tượng khác nhau vào một tácphẩm; sự vật được tái hiện như thế trong tác phẩm sẽ vươn lên tầm

lý tưởng về sự hoàn mỹ của nó Theo Sôcrát nghệ thuật khôngnhững tái hiện thiên nhiên ở cái có đường nét, màu sắc, hình khối

mà nó còn có khả năng diễn tả các trạng thái tinh thần con người.Sôcrát còn đưa ra tiêu chí lựa chọn đối tượng để thể hiện trong tácphẩm nghệ thuật, đó là những con người có tính cách đẹp, nhân hậu,

có phẩm hạnh cao Lý tưởng đạo đức cần phải được kết tinh trong

Trang 7

tác phẩm nghệ thuật Vì thế, tiêu chí nghệ thuật là tính đúng đắn vàsinh động của việc tái hiện các nguyên mẫu trong hiện thực

Sôcrát nhấn mạnh sự liên hệ hữu cơ giữa cái đạo đức và cáithẩm mỹ, cái thiện và cái đẹp Con người lý tưởng đối với Sôcrát là

vẻ đẹp tinh thần lẫn thể chất, trong đó con người tinh thần, theocách hiểu của ông là con người đạo đức, con người trí tuệ Đónggóp lớn của Sôcrát là đưa con người vào đối tượng chủ yếu củanghệ thuật, chỉ ra sự liên hệ vững bền giữa cái đẹp với cái có ích,cái có mục đích có thật với cái tốt Ông coi nghệ thuật như mộtphương diện quan trọng của đời sống xã hội

Platôn (427 – 347 TCN) thuộc dòng dõi vương hầu, sốngtrong giai đoạn nặng nề của lịch sử Hy Lạp, đó là giai đoạn sụp đổcủa nền dân chủ Aten, giai đoạn hoành hành của 30 bạo chúa, khi ấyPlatôn đứng về phía giới chủ nô quý tộc, chống lại chủ nô dân chủ

Platôn cho rằng, các vật thụ cảm thay đổi, thoáng qua, nó xuấthiện rồi tiêu biến, vì thế nó không phải là tồn tại đích thực Tồn tạiđích thực, chân chính chỉ lấy niệm, một lực lượng tinh thần tồn tạibên ngoài con người, có trước con người Platôn không tìm cái đẹptrong các sự vật cảm thụ đơn nhất, trong quan hệ giữa chúng đối vớihoạt động của con người mà tìm cái gì là đẹp đối với tất cả, đẹpvĩnh hằng và ông cho rằng chỉ có ý niệm, nguyên mẫu của các đồvật, làm các đồ vật trở nên đẹp là tuyệt đối đẹp mà thôi

Platôn tiếp tục truyền thống của những nhà tư tưởng trước đónhư Đêmôcrít, Xôcrát coi nghệ thuật là sự mô phỏng, tái hiện hiệnthực, vật thể, chỉ có điều trong hệ thống triết học của ông các đồ vậtchỉ là hình bóng của các ý niệm Như vậy, khi tái hiện các vật thể,

Trang 8

người nghệ sĩ không tiếp cận tới cái hiện thực chân chính và cáiđẹp, mà chỉ tái hiện lại cái bóng của nó Platôn vạch ra những hạnchế và khiếm khuyết của nghệ thuật: thứ nhất, nó không có giá trịnhận thức thế giới chân chính; thứ hai, nó không chỉ tái hiện nhữngcái đẹp đơn lẻ mà tái hiện cả cái không xứng đáng, cái xấu, cái tồi

tệ, cái ngu xuẩn, hèn nhát, bi lụy … vì thế, chừng nào nghệ thuậtcòn thuộc lĩnh vực họat động cảm tính, chừng đó nó không đánghiện diện trong Nhà nứơc lý tưởng

Những quan niệm mỹ học của Platon tiếp tục được kế thừa bởichủ nghĩa Platon mới mà đại diện là Plotinus (204 - 270) cho rằngnhững vật nào đó đẹp là nhờ kinh qua sự nối liền với ý niệm, linhhồn càng thoát khỏi phần thể chất được nhiều bao nhiêu thì càngđẹp bấy nhiêu Những cơ thể đẹp chỉ là cái bóng, những hồi quangcủa cái đẹp nhất…

1.3 Arixtốt - người giao động giữa khuynh hướng duy tâm

và khuynh hướng duy vật

Đại biểu lớn nhất trong số các nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại làArixtốt (384 – 322 TCN), người phê phán kịch liệt Platôn Ông giaođộng giữa 2 dòng duy tâm và duy vật, nhưng do không nghi ngờ gì

về tính hiện thực của thế giới xung quanh nên những tư tưởng mỹhọc của ông mang xu hướng duy vật Arixtốt thừa nhận các tiêu chí

cơ bản của vẻ đẹp mà những người đi trước đã đưa ra như tính quy

mô có trật tự, hài hòa Dấu hiệu tối quan trọng của cái đẹp màArixtốt nhấn mạnh là sự chỉnh thể: phải có đầu, có giữa, có cuối,phải liên kết giữa các bộ phận trong chỉnh thể một cách hữu cơ.Arixtốt không thừa nhận sự đồng nhất cái đẹp với cái có ích; cái có

Trang 9

ích chỉ ở hành vi, hành động, trong khi đó cái đẹp có cả trong sựtĩnh tại

Arixtốt quan niệm nghệ thuật là sự tái tạo hiện thực, mô phỏnglại hiện thực Sự mô phỏng tiến hành thông qua nhịp điệu, ngôn từ,giai điệu – và nó có mặt trong tất cả các loại nghệ thuật từ tạo hìnhđến ngôn từ, trong cả thi ca lẫn âm nhạc Ông cho các loại hìnhnghệ thuật được phân biệt bởi các phương thức mô phỏng: âm thanhcho ca hát, âm nhạc; màu sắc và hình thức cho hội họa và điêu khắc;nhịp điệu chuyển động cho các nghệ thuật múa; ngôn từ và âm lựcthi ca; các loại hình còn được chia theo nghệ thuật vận động (thi ca,

âm nhạc, múa) và nghệ thuật tĩnh tại (hội họa, điêu khắc) Nghệthuật không có giá trị độc lập, nó gắn bó với đời sống đạo đức củacon người, nó gột rửa con người khỏi vẩn đục Tác dụng gột rửa củanghệ thuật sẽ giúp con người vượt qua cơn xúc động, nỗi sợ hãi và

có khả năng chống đỡ lại hoàn cảnh bất hạnh

2 Sự thống trị của chủ nghĩa duy tâm trong tư tưởng mỹ học thời kỳ Trung cổ

Thời kỳ Trung cổ bắt đầu vào khoảng thế kỷ IV và kết thúcvào thế kỷ XV, đây là thời kỳ quá độ từ chế độ chiếm hữu nô lệsang chế độ phong kiến Thời kỳ này, tôn giáo mà cụ thể là ThiênChúa giáo giữ vai trò thống trị trong đời sống tinh thần của xã hộiTây Âu Giáo hội Thiên Chúa giáo là đại diện của pháp luật vàchính trị, là công cụ cai trị quần chúng về mặt tinh thần Trong hoàncảnh đó, chỉ những gì cần thiết đối với tôn giáo mới có điều kiệnphát triển, còn những gì không có lợi cho tôn giáo đều bị kiềm chế

Vì vậy, thành tựu văn hóa cao nhất thời kỳ này có thể coi là sự hoàn

Trang 10

chỉnh các bộ kinh Kitô giáo và các phong cách kiến trúc chính:phong cách Bigiăngxtanh (pha trộn nhà thờ và lâu đài như nhà thờXan Sôphi, Xan Vuzal), phong cách Rômanh (pha trộn nhà thờ vàpháo đài như nhà thờ Voócmơ, thành phố Cátxatson), phong cáchgôtích (nhà thờ Rôma) Ra đời trong một xã hội mà tôn giáo giữ vaitrò thống trị, tư tưởng mỹ học không thể không phục vụ cho tưtưởng tôn giáo Cũng chính bởi vậy, những quan điểm duy vật trong

tư tưởng mỹ học bị đẩy lùi, thay thế vào đó là những quan điểm duytâm gần gũi với nhà thờ, chứng minh cho tính đúng đắn và vẻ đẹp

vĩnh hằng của kinh thánh, của thiên đàng… Cuộc đấu tranh giữa

chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong mỹ học thời kỳ Trung

cổ là cuộc đấu tranh không cân sức mà phần thắng là những tư tưởng mỹ học duy tâm theo quan điểm của Thiên Chúa giáo Quan

điểm duy tâm trong tư tưởng mỹ học thời kỳ Trung cổ ở Tây Âu thểhiện qua những đại biểu lớn như Ôguýttanh, Tômat Đacanh

2.1 Tư tưởng mỹ học của Ôguýtxtanh

Ôguýtxtanh (354 – 430) là một trong những nhà lý luận xuấtsắc về nghệ thuật chính thống thời Trung cổ Ông cho rằng toàn bộthế giới là do Chúa trời sáng tạo ra và được nhận thức cũng bởiChúa Mặc dù, Ôguýtxtanh thấy được các vẻ đẹp đơn lẻ như thânthể con người, sự rực rỡ của ánh sáng, vẻ đẹp của âm điệu, mùithơm của cỏ cây hoa lá… song tất cả những thứ đó đều là sản phẩmcủa Chúa Từ đó, ông đi đến kết luận rằng chỉ có thượng đế là vĩnhviễn, là vẻ đẹp tối cao, vẻ đẹp tuyệt đối mà thôi Ôguýtxtanh khẳngđịnh nguồn gốc khoái cảm nghệ thuật không xuất phát từ bản thânnghệ thuật, không phải do nghệ thuật mà trong ý niệm về Chúa của

Trang 11

con người Ôguýtxtanh cho rằng chức năng cơ bản của nghệ thuậtphải là giáo dục lòng kính Chúa cho các tín đồ.

2.2 Tư tưởng mỹ học của Tômát Đacanh

Tômát Đacanh (1225 – 1274) là nhà thần học vĩ đại có vai tròhết sức to lớn vào cuối thời kỳ Trung cổ Trên cơ sở thần học,Tômát Đacanh đưa ra quan niệm về cái đẹp Cái đẹp của thế giới chỉđược nhận thức bằng cảm tính, cái đẹp cao nhất là cái đẹp của Chúa,

mà muốn nhận thức nó chỉ có hòa mình vào Chúa Nhưng ông đồngthời cũng vạch ra rằng cái đẹp có vị trí của nó trong những vật thuộcphạm vi giác quan vì cái đẹp chính là sự nhận thức những gì đem lạiniềm thích thú “mọi sinh vật đều làm Chúa vui sướng, vì thứ đềutồn tại theo ý Chúa” Ông cho cái đẹp đòi hỏi ba điều kiện: thứ nhất– giá trị hay là sự hoàn thiện; thứ hai – một sự cân đối cần thiết hayđiều hòa; và cuối cùng – sự rõ ràng Tômát Đacanh coi nghệ thuật là

sự mô phỏng, sứ mệnh cơ bản của nghệ thuật là khả năng giúp conngười nhận thức được sự vật Cái đẹp chính là hình tượng phản ánhmột cách đầy đủ, trọn vẹn nhất của một sự vật, thậm chí trongtrường hợp chính bản thân sự vật ấy không đẹp

3 Tư tưởng mỹ học thời kỳ Phục hưng, Khai sáng và sự phục hồi của chủ nghĩa duy vật

3.1 Tư tưởng mỹ học thời kỳ Phục hưng

Thời kỳ Phục hưng ở các nước Tây Âu là từ thế kỷ XV đếnthế kỷ XVI Phục hưng có nghĩa là khôi phục, làm sống lại nhữnggiá trị văn hoá cổ đại từng bị lãng quên dưới thời Trung cổ.Ăngghen từng viết: “Trong những cuốn sách viết tay còn cứu vớtđược sau khi nền văn hoá Bi–dăng-xơ sụp đổ, trong những pho

Trang 12

tượng cổ khai quật được, trong những đống hoang tàn La Mã, người

ta thấy cả một thế giới mới lạ hiện ra trước mắt phương Tây kinhngạc: Đó là thời Cổ đại Hy Lạp; những hình thức chói loà của nóđánh tan những bóng ma của thời Trung cổ”1 Đó là nền văn minhrực rỡ, chưa hề biết đến chế độ phong kiến là gì, chưa phải chịu

đựng sự thống trị tinh thần của Giáo hội Thiên Chúa

Đặc điểm quan trọng nhất của tư tưởng mỹ học Phục hưng là

sự gắn bó chặt chẽ với thực tiễn nghệ thuật Nó không phải là thứ tưtưởng mỹ học trừu tượng mà là tư tưởng mỹ học cảm tính, thực tiễn

Nó xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn và có sứ mệnh giải quyết

những nhiệm vụ thực tiễn Tư tưởng mỹ học Phục hưng thể hiện

quan điểm duy vật và tinh thần nhân đạo cao cả, chống lại những quan điểm duy tâm của mỹ học Trung cổ, từng bước trả lại cho con người những giá trị thiêng liêng nhất, thay chủ nghĩa khổ hạnh, lối sống ép xác, tư tưởng giáo điều bằng sự đề cao năng lực tự do lựa chọn, chứng minh cho những khát vọng trần tục của con người.

Những đại biểu của mỹ học thời kỳ Phục hưng có thể kể đến nhưAnbécti, Lêôna đơ Vanhxi, Sêcxpia…Mỗi người bộc lộ thiên tàimột cách khác nhau, song đều tạo những nét chính yếu của thời đạiđang chuyển mình

Tư tưởng mỹ học của Anbécti

Anbécti (1404 – 1472) quan niệm con người không phải là

“chiếc thuyền mong manh”, cũng không phải là “ngọn đèn hắt hiutrong gió” như giáo hội thường thuyết giáo mà là một đấng anhhùng vào đời để lập những chiến công, để có những hành động vĩ

Trang 13

đại Hạnh phúc không lệ thuộc vào số mệnh mà phụ thuộc vào bảnthân con người, thói xấu của con người là sự dốt nát

Dựa vào năng lực cảm tính bẩm sinh, ông chỉ ra cơ sở kháchquan của cái Đẹp hoàn toàn không phải là sự phản ánh của thần linh

mà là “một cái gì đó gắn bó với và sinh ra với cơ thể, chan hòa vớitoàn bộ cơ thể với chừng mực cần thiết cho cơ thể trở nên đẹp đẽ”.Cái đẹp Anbécti quan niệm là sự hòa hợp và sự đồng điệu nhất địnhgiữa những bộ phận của một vật đáp ứng cho một tỷ lệ nghiêm ngặtmang tính tuyệt đối như sự đòi hỏi của tự nhiên Bản chất sâu sắccủa cái Đẹp ở trong quy luật của thế giới Nghệ thuật phải phát hiện

ra những quy luật khách quan đó và chịu sự điều khiển của chúng

Có thể thấy, tư tưởng mỹ học của Anbécti thể hiện quan điểm duy vật, chống lại quan điểm duy tâm tôn giáo của nhà thờ, khẳng định lại vị trí con người, và nguồn gốc của cái đẹp bắt nguồn từ quy luật khách quan, từ tự nhiên.

Tư tưởng mỹ học của Lêôna đơ Vanhxi

Lêôna đơ Vanhxi (1452 – 1529) là tác giả của nhiều kiệt táchội họa La Giôcông, Bữa tiệc ly biệt, Đức mẹ cầm hoa… Ông chủyếu bàn về hội họa, cho nó là loại hình nghệ thuật cao nhất, vì nóchứa đựng tất cả mọi hình thức của cái đang tồn tại cũng như cáikhông tồn tại trong tự nhiên

Trong nghệ thuật hội họa của Lêôna đơ Vanhxi, con người và

tự nhiên được đặt vào vị trí trung tâm Lêôna đơ Vanhxi say sưa tìmkiếm những phương pháp, phương tiện thể hiện mới để diễn tả sựphong phú, phức tạp của thế giới cảm tính Các họa sĩ Phục hưng(trong đó có Lêôna đơ Vanhxi) đã quan tâm nhiều đến các khoa học

Ngày đăng: 13/12/2016, 18:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w