Toàn cầu hoá là xu thế tất yếu của thế giới xuất hiện vào những năm cuối của thế kỷ XX. Toàn cầu hoá là quá trình diễn ra do sự thay đổi về công nghệ, tăng trưởng dài hạn liên tục về đầu tư nước ngoài và nguồn lực quốc tế và sự hình thành trên phạm vi rộng lớn với quy mô toàn cầu những hình thức về các mối liên kết quốc tế giữa các công ty và các quốc gia. Sự liên kết này làm tăng quá trình hội nhập giữa các quốc gia và thay đổi bản chất của cạnh tranh toàn cầu.
Trang 1MỞ ĐẦU
Toàn cầu hoá là xu thế tất yếu của thế giới xuất hiện vào những năm cuối của thế kỷ XX Toàn cầu hoá là quá trình diễn ra do sự thay đổi về công nghệ, tăng trưởng dài hạn liên tục về đầu tư nước ngoài và nguồn lực quốc tế và sự hình thành trên phạm vi rộng lớn với quy mô toàn cầu những hình thức về các mối liên kết quốc tế giữa các công ty và các quốc gia Sự liên kết này làm tăng quá trình hội nhập giữa các quốc gia và thay đổi bản chất của cạnh tranh toàn cầu
Về mặt khoa học kỹ thuật, công nghệ, toàn cầu hoá là kết quả phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và viễn thông toàn cầu Khoảng cách về không gian và thời gian là không còn ý nghĩa với các hoạt động của con người và các tổ chức
Ngày nay, các quốc gia đều tiến hành xây dựng chiến lược phát triển dựa trên
cơ sở huy động tối đa năng lực nội sinh, tạo được những khả năng cảm nhận (yếu tố tri thức, trí tuệ) và khả năng phản ứng thích nghi (yếu tố cơ cấu và tổ chức xã hội) với môi trường toàn cầu hoá đầy biến động Trong khi khoa học và công nghệ có những bước phát triển nhảy vọt, khối lượng tri thức nhân loại ngày càng lớn, đòi hỏi giáo dục phải thường xuyên cập nhật các thành tựu mới đồng thời phải chuyển dần từ việc học để tiếp nhận tri thức sang học để biết cách tìm kiếm và tích luỹ tri thức một cách nhanh chóng nhất, chính xác nhất và hiệu quả nhất Hiện nay nhiều nước trên thế giới đang có xu hướng chuyển dịch sang nền kinh tế tri thức - nền kinh tế mà các sản phẩm của nó đều chứa đựng một hàm lượng chất xám cao Muốn xây dựng nền kinh
tế tri thức phải dựa vào tiền đề phát triển giáo dục Vì vậy, hầu hết các nước đều ở trong cao trào đổi mới, canh tân, cải cách hoặc tiến hành những điều chỉnh cho phù hợp với xu thế phát triển chung Như vậy, tiềm lực khoa học và công nghệ và nguồn nhân lực được đào tạo có tri thức sẽ là thế mạnh không gì thay thế được, góp phần quyết định tạo dựng sức mạnh tổng hợp và năng lực cạnh tranh của quốc gia trong tiến trình hội nhập quốc tế Do đó, đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, cũng như cho giáo dục và đào tạo có ý nghĩa quyết định đối với việc bảo đảm khả năng cạnh tranh của một nước Đó cũng chính là sự biện chứng của mối quan hệ
Trang 2giữa khoa học kỹ thuật và công nghệ - giáo dục và đào tạo - kinh tế Nói về mối quan
hệ này, người Hàn quốc trong những năm 80 của thế kỷ XX cho rằng: “Cạnh tranh giữa các nước về sức mạnh kinh tế thực chất là cuộc đua tranh về giáo dục chất lượng cao trong khoa học và công nghệ” Hay R.Reagan lúc đương nhiệm Tổng thống nước Mỹ đã từng lo lắng: “Mỹ có nguy cơ trở thành cường quốc hạng hai về kinh tế nếu như Mỹ cho phép mình làm mất đi vai trò dẫn đầu về công nghệ kỹ thuật do tình trạng giáo dục yếu kém”
Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nhằm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển vào năm 2010 và trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 đòi hỏi giáo dục phải phát triển mạnh mẽ để góp phần thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ ; xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh
tế quốc tế làm nhu cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân vừa là thời cơ vừa tạo ra thách thức to lớn đối với giáo dục nước ta Nhận thức sâu sắc vấn đề này Văn kiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII chỉ rõ: “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, nhằm nâng cao dân trí , đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài”1 Nghị quyết Hội nghị lần thứ Hai BCHTƯ Đảng (khoá VIII) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá tiếp tục khẳng định: “Thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu Nhận thức sâu sắc giáo dục - đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục - đào tạo là đầu tư phát triển”2
Đảng ta đã khẳng định giáo dục có vai trò quyết định trong sự phát triển trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đồng thời trước hết bản thân giáo dục cũng phải được “Hiện đại hoá”; Giáo dục cần hiện đại hoá về mục tiêu, về chương trình giáo dục, về đội ngũ, về cơ sở vật chất - sư phạm, vì không thể có một nền giáo dục vừa là mục tiêu vừa là sức mạnh của nền kinh tế, đưa đất nước vào công nghiệp
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu to n qu à ốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, 1996, tr
107, H N à ội.
2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghi lần thứ hai BCHTƯ khoá VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, H N à ội 1997, tr.28-31
Trang 3hoá, hiện đại hoá, nếu bản thân nó không được đầu tư thích đáng, không được hiện đại hoá
Như vậy, khoa học và công nghệ với giáo dục - đào tạo có mối quan hệ khăng khít với nhau biện chứng với nhau và chế ước lẫn nhau, vừa là nội dung vừa
là hình thức của nhau trong việc góp phần thúc đẩy sự phát triển đất nước nhanh
và bền vững
VẤN ĐỀ 2 ĐẶC TRƯNG VÀ CƠ SỞ CỦA CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC
I TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, coi như khởi đầu vào giữa thế kỷ 20, đang phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy nhiều lĩnh vực có những bước tiến vượt bậc và đang mở ra những triển vọng hết sức lớn lao trong thế kỷ 21 này
Nếu như thuật ngữ “Công nghệ giáo dục”, “Công nghệ quản lý” chưa được quen dùng trước đây thì những năm 60 của thế kỷ 20 trở lại đây những thuật ngữ này đã trở nên rất quen thuộc với mọi người Khái niệm “công nghệ giáo dục” ngày càng được sử dụng rộng rãi với nhiều nội dung mới mẻ góp phần thúc đẩy sự phát triển lĩnh vực này
* Công nghệ giáo dục nghĩa hẹp và công nghệ giáo dục nghĩa rộng
Có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau về khái niệm công nghệ giáo dục Tuy nhiên chúng ta có thể hiểu công nghệ giáo dục theo hai nghĩa: “công nghệ giáo dục” theo nghĩa hẹp và “công nghệ giáo dục” theo nghĩa rộng
- Công nghệ giáo dục theo nghĩa hẹp
Những định nghĩa thuộc nhóm này chứa đựng một yếu tố cơ bản là đồng nhất công nghệ giáo dục với việc sử dụng trong giáo dục những phát minh, những sản phẩm công nghiệp hiện đại về thông tin và các phương tiện nghe - nhìn Hiệu quả giáo dục được nâng cao thông qua việc sử dụng tổ hợp trong dạy học, phương tiện giao lưu đa dạng (multimedia)
Có thể kể đến một vài đại diện cho nhóm định nghĩa này:
+ Collier (1971) và nhiều cộng tác viên: “Công nghệ giáo dục với nghĩa là áp
dụng các hệ thống kỹ thuật và phương tiện hỗ trợ để cải tiến quá trình học nghề của con người”
Trang 4- Công nghệ giáo dục nghĩa rộng
Từ những năm 1967 trở về đây, các nhà khoa học nghiên cứu vấn đề này đã lần lượt đưa ra nhiều định nghĩa (hoặc quan điểm) với những thuộc tính bản chất của khái niệm không chỉ đơn thuần là yếu tố phương tiện kỹ thuật mà được mở rộng hơn
nhiều và cũng rất đa dạng - Với lẽ đó đã xuất hiện khái niệm công nghệ giáo dục
nghĩa rộng Một số đại diện của nhóm này là:
+ Hội thảo ở Genève (10-16/5/1970), của tổ chức giáo dục UNESCO định
nghĩa: “Công nghệ giáo dục là khoa học về giáo dục xác lập các nguyên tắc hợp lý của công tác dạy học và những điều kiện thuận lợi nhất để tiến hành quá trình giáo dục cũng như các phương pháp và phương tiện có kết quả nhất để đạt được mục đích đào tạo đề ra, với sự tiết kiệm sức lực của thầy và trò”
- Một số thuộc tính bản chất điển hình của khái niệm công nghệ giáo dục
Theo nghĩa hẹp ( 1960 - 1970) :
Sử dụng trong lĩnh vực, quá trình giáo dục các phát minh, các sản phẩm công nghiệp hiện đại của kỹ thuật thông tin và các phương tiện nghe - nhìn
Theo nghĩa rộng (1970 - 1987) :
Sử dụng trong lĩnh vực, quá trình giáo dục các phát minh, các sản phẩm công nghiệp hiện đại của kỹ thuật thông tin và các phương tiện nghe - nhìn
Sử dụng tích hợp - tổ hợp các hoạt động làm xích lại gần nhau giữa thầy trò - phương tiện:
+ Cá biệt hoá học sinh, tăng cường bình đẳng trong giáo dục, tăng cường hiệu quả giáo dục
+ Hiện đại và tối ưu hoá nội dung, áp dụng phương tiện kỹ thuật, đánh giá kết quả
+ Lặp lại kết quả đào tạo, chi phí tối ưu
Một cách tổng quan khác về công nghệ giáo dục là xem xét những quan niệm khung và sự phát triển có tính lịch sử như trong “Từ điển bách khoa quốc tế về giáo dục” là: Coi công nghệ giáo dục như một khái niệm công cụ của giáo viên; công nghệ
Trang 5giáo dục như một khái niệm hệ thống; công nghệ giáo dục như một khái niệm về truyền thông đại chúng
* Quan niệm về công nghệ giáo dục của một số nhà khoa học, quản lý giáo dục ở Việt Nam
Phó giáo sư Lê Khánh Bằng đã phát biểu về bản chất của công nghệ đào tạo: Công nghệ giáo dục là một khoa học giáo dục về con người Dựa trên cơ sở tổng hợp những thành tựu của nhân loại từ trước tới nay, đặc biệt những thành tựu hiện đại của các khoa học giáo dục và các khoa học liên quan như sinh học, tâm lý học, điều khiển học, lý thuyết tổ chức, logic học, kinh tế giáo dục học Công nghệ giáo dục tổ chức một cách khoa học quá trình đào tạo con người bằng cách xác định một cách chính xác và sử dụng một cách tối ưu đầu ra (mục tiêu giáo dục), đầu vào (học sinh), nội dung dạy học, các điều kiện và phương tiện kỹ thuật dạy học, các tiêu chuẩn đánh giá, hệ phương pháp tích cực hóa, chương trình hóa, qui trình hóa và cá thể hóa quá trình dạy học, nhằm đạt được mục đích giáo dục với sự chi phí tối ưu thời gian, sức lực, tiền của của giáo viên, học sinh, nhân dân và Nhà nước, nhằm đáp ứng kịp thời những yêu cầu của thời đại
Tác giả Nguyễn Đức viết: Khảo sát hiện trạng, nguồn gốc hình thành, qui luật vận động và xu thế phát triển của công nghệ giáo dục, cho phép đi đến nhận thức bản chất của nó như sau: công nghệ giáo dục xuất hiện và hình thành trên cơ sở tích hợp những thành quả tiên tiến của các khoa học giáo dục với những khoa học khác như:
thông tin, tâm lý, ngôn ngữ học xác lập nên các nguyên tắc hợp lý cho việc tổ chức
khoa học quá trình đào tạo, trong đó sử dụng rộng rãi các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại, tích hợp tối ưu và hiện đại hóa nội dung đào tạo, thay đổi hệ phương pháp chuyển từ hệ thông tin sang hệ phương pháp luận và tạo nên những định chuẩn đánh giá chính xác kết quả đào tạo (từng phần và toàn bộ), điều chỉnh, điều khiển kịp
thời, lặp lại kết quả trong đào tạo, theo mục tiêu đã định.
Giáo sư Hồ Ngọc Đại nghiên cứu và thực nghiệm nhiều năm về giáo dục bậc tiểu học, đã quan niệm về công nghệ giáo dục (được viết là CGD) theo một số ý sau, có thể là quan trọng nhất, trong khi tác giả chưa đưa ra một định nghĩa về công nghệ giáo dục:
Trang 6- Tâm lý học hiện đại coi hoạt động tinh thần và hoạt động vật chất là giống
nhau về nguyên tắc; đó là gốc lý luận của CGD.
- Sản phẩm của CGD trước hết là khái niệm CGD trước hết phải kiểm soát được quá trình hình thành khái niệm.
- Lõi của CGD, cốt “vật chất” của nhân cách, cái khung thép của toà nhà cuộc
đời cá nhân, là hệ thống khái niệm khoa học hiện đại CGD sẽ dựng lên cái lõi, cái cốt vật chất cái khung ấy CGD cũng như công nghệ sản xuất đều có lõi là một chuỗi
thao tác sắp xếp tuyến tính trong thời gian.
Giáo sư Trần Hồng Quân, cho rằng trong bất cứ lao động nào của con người, cũng có một công nghệ, dù tự giác hay không thự giác Không có công nghệ thì không tác động vào đối tượng được Chỉ có đơn giản hoặc phức tạp, khoa học hoặc không khoa học, chứ không thể không có công nghệ Tương tự như vậy đối với giáo dục, cũng có công nghệ giáo dục Công nghệ giáo dục là một phương tiện hoạt động
có công cụ và đối tượng lao động Theo quan niệm mới các em học sinh vừa là đối tượng lao động vừa là người lao động, nghĩa là người tự đào tạo Các em đóng hai khâu trong qui trình lao động: vừa là đối tượng lao động, vừa là khâu chiếm lĩnh của từng người trong quá trình lao động Nói công nghệ giáo dục không phải phủ nhận
vai trò của các em Tinh thần của công nghệ giáo dục mới là đề cao vai trò của học
sinh, là việc đi tìm phương pháp thích hợp để học sinh là trung tâm trong quá trình
đào tạo Cái sáng tạo của người làm giáo dục là sáng tạo về phương pháp, sáng tạo
về công nghệ Còn sự sáng tạo trong nội dung, là sự biết lựa chọn, biết kế thừa những
tri thức về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, các giá trị về đạo đức Xét cho cùng việc lựa chọn nội dung cũng nằm trong phạm trù phương pháp
Từ những cách tiếp cận trên chúng ta có thể quan niệm: Công nghệ giáo dục là tập hợp những quá trình ổn định bao gồm các hoạt động, các thao tác có thể kiểm soát được để đưa quá trình giáo dục đạt tới mục tiêu Có nghĩa là sử dụng các thiết bị kỹ thuật và các qui trình chặt chẽ về nội dung, về phương pháp đảm bảo cho quá trình giáo dục đạt tới độ tin cậy khách quan
Trang 7Cấu trúc của công nghệ giáo dục vẫn gồm hai phần: phần cứng là phần kỹ
thuật (phương tiện, thiết bị dạy học…); Phần phương pháp là phần mềm (thông tin, con người, quản lý…)
Mục đích công nghệ giáo dục là nghiên cứu chuyển hoá vào thực tiễn giáo
dục những thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật và khoa học giáo dục nhằm thiết
kế được những hệ dạy học và giáo dục tối ưu vận hành theo nguyên lý mới đó là hướng vào việc phân hoá, cá thể hoá theo nhịp độ riêng của từng đối tượng giáo dục
* Đặc trưng của công nghệ giáo dục:
Thứ nhất, công nghệ giáo dục phải định lượng hoá được mục tiêu giáo dục, biến
mục tiêu giáo dục thành đối tượng có thể đo lường được Mục tiêu giáo dục nào được
xác định đủ rõ để chỉ đạo được việc tổ chức quá trình đào tạo thành qui trình ổn định và
để làm chuẩn đo được kết quả đào tạo, qua đó đánh giá được hiệu quả đào tạo, thì mục
tiêu đó thường là lượng hoá được, đo đạc được, quan sát được, và do đó có khả năng
xây dựng được công nghệ giáo dục
Những mục tiêu có thể lượng hoá được, đo đạc được, quan sát được, thường là những mục tiêu thể hiện yêu cầu về kiến thức, về kỹ năng, về thái độ; cũng nên chú ý
là không phải mọi yêu cầu về những mặt này đều đo đạc được, quan sát được
Để hình thành công nghệ giáo dục ổn định, có thể kiểm soát được, chuyển giao được, đảm bảo thực hiện mục tiêu, cần có ba điều kiện tối thiểu là:
- Mục tiêu được xác định rõ, tức là làm được hai chức năng: chỉ đạo tổ chức
quá trình đào tạo và làm chuẩn đo kết quả đào tạo (tức là lượng hoá được, đo đạc được, quan sát được) Mục tiêu này là yêu cầu đối với từng người học (với cá nhân)
- Quá trình đào tạo, nhằm vào mục tiêu, phải được tổ chức thành những qui trình cụ thể, bao gồm những thao tác, bố trí thành những hành động, hợp thành những
công đoạn…có thể có sự hỗ trợ của những phương tiện kỹ thuật, sắp xếp thành trật tự trước sau theo thời gian; quá trình này là sự kết hợp của các nhân tố: nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức… giáo dục nhằm vào mục tiêu đào tạo Những qui trình này là những qui trình dạy và những qui trình học, phải hướng vào người học, và giúp cho người học tự giác thực hiện; người học bằng chính hoạt động của
Trang 8mình mà chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, thái độ và có năng lực lựa chọn, quyết định,
có cơ sở (tư tưởng về “học sinh là trung tâm của giáo dục”)
- Quá trình đánh giá, phải được tổ chức thành qui trình đánh giá Mỗi qui
trình gồm những yếu tố: chuẩn, tiêu chí đáng giá (suy từ mục tiêu đào tạo), nội dung đánh giá (suy từ nội dung đào tạo), phương pháp đánh giá (suy từ phương pháp đào tạo), phương tiện đánh giá Qui trình đánh giá phải bám sát qui trình dạy - học ( tránh tình trạng dạy theo một kiểu, lại đánh giá theo một kiểu khác) Có những đánh giá mang tính kiểm tra để uốn nắn cách dạy học; có những đánh giá mang tính tổng kết về mức độ đạt yêu cầu để xác nhận trình độ, cấp văn bằng, chứng chỉ Trong qui trình đánh giá, về mặt xã hội (tránh tiêu cực) Có thể xây dựng qui trình tự đánh giá
Nếu mục tiêu mang tính định tính thì phải xây dựng các chỉ số, các tiêu chí để chuyển thành định lượng được
Thứ hai, những qui trình giáo dục có thể kiểm soát được, chuyển giao được Phải
thực hiện đúng qui trình thì mới chuyển giao được và ai cũng làm được
Thứ ba, nội dung giáo dục có thể lắp ghép được Nội dung giáo dục được phân
chia thành những bộ phận vừa tuân theo hệ thống logic vừa có tính độc lập tương đối,
có thể lắp ghép cơ động dọc hoặc ngang theo tình huống cụ thể
Thứ tư, sử dụng các phương pháp, hình thức giáo dục tiên tiến theo hướng
phân hoá, cá thể hoá phát triển năng lực sáng tạo của người học
Từ những vấn đề cơ bản của “Công nghệ giáo dục” cho chúng ta thấy công nghệ giáo dục là một hướng cơ bản nâng cao hiệu quả giáo dục trên những quan niệm
cơ bản là: Tổ chức khoa học quá trình giáo dục; sử dụng hợp lý các phương tiện kỹ
thuật trong quá trình giáo dục; Coi người học là chủ thể, tích cực chủ động và sáng
tạo thực hiện qui trình giáo dục dưới sự hướng dẫn, cố vấn, trọng tài của người
thầy…
Công nghệ giáo dục còn đang là một hướng mới còn nhiều vấn đề về lý luận
và thực tiễn chưa được giải quyết, cần được khai phá, nhưng dù sao cũng là hướng tích cực trong cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang xâm nhập vào mọi lĩnh vực, cần được khuyến khích ở ước ta, trong phạm trù “cải cách mục tiêu, nội
dung, phương pháp giáo dục” Đó là một phạm trù hiện đại của giáo dục.
Trang 9Cơ sở của “công nghệ giáo dục (xem bản FOTOCOPY).
VẤN ĐỀ 4
II PHƯƠNG HƯỚNG VẬN DỤNG CÔNG NGHỆ DẠY HỌC
Ở ĐẠI HỌC QUÂN SỰ HIỆN NAY
1 Tính tất yếu của việc vận dụng công nghệ dạy học ở đại học quân sự
Việc vận dụng vấn đề công nghệ dạy học vào thực tiễn dạy học ở đại học quân sự hiện nay là vấn đề cần thiết và có tính khả thi, điều này được bắt nguồn từ một số lý
do cơ bản sau:
Một là, từ những quan điểm cuả Đảng cộng sản Việt Nam về định hướng phát
triển giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ của đất nước, cũng như từ Nghị quyết của Đảng uỷ quân sự Trung ương về vấn đề đổi mới công tác đào tạo xây dựng nhà trường chính quy.
Hai là, từ yêu cầu trực tiếp của việc nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo ở các
trường đại học quân sự hiện nay
Trang 10Ba là, từ thực tiễn đào tạo ở đại học quân sự hiện nay đã và đang đòi hỏi, cũng
như có điều kiện cho phép khả năng vận dụng tư tưởng công nghệ hóa vào quá trình đào tạo.
Một là, từ những quan điểm cuả Đảng cộng sản Việt Nam về định hướng phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ của đất nước, cũng như từ Nghị quyết của Đảng uỷ quân sự Trung ương về vấn đề đổi mới công tác đào tạo xây dựng nhà trường chính quy.
Nghị quyết Trung ương 2 Khoá VIII của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam về “Định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời
kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ” đã chỉ ra phương hướng : “Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ trong tất cả các ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, quản lý, quốc phòng, an ninh, nhanh chóng nâng cao trình độ công nghệ của đất nước”
Nghị quyết 93/ĐUQSTƯ “Tiếp tục đổi mới công tác đào tạo, xây dựng nhà trường chính quy” cũng đã nêu lên một số tư tưởng chủ đạo cần chú ý sau:
- Xây dựng nhà trường từng bước hiện đại, phù hợp với yêu cầu của khoa học giáo dục và sự phát triển của các lực lượng vũ trang
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải đón trước và phục vụ đắc lắc lực cho các yêu cầu, nhiệm vụ phát triển của quân đội, gắn chặt với tổ chức biên chế, trang bị, phương thức tác chiến và phù hợp với xu thế tiến bộ, tiếp cận với khoa học và công nghệ hiện đại
- Hoàn thiện quy trình đào tạo, sử dụng cán bộ và nhân viên chuyên môn kỹ thuật
Những tư tưởng nói trên là những định hướng cơ bản cho việc xây dựng và phát triển giáo dục của đất nước, của nhà trường quân đội và của các trường đại học quân
sự hiện nay Những tư tưởng đó phù hợp với xu thế công nghệ hoá quá trình đào tạo, cho thấy sự cần thiết phải vận dụng quan điểm, thành tựu của công nghệ dạy học để đổi mới, nâng cao hiệu quả dạy học ở đại học quân sự
Hai là, từ yêu cầu trực tiếp của việc nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo ở các trường đại học quân sự hiện nay