Trong thời đại ngày nay, lao động, vật tư, công nghệ, khoa học, và quản lý là một trong năm nhân tố cơ bản chứa đựng những sức mạnh tiềm tàng to lớn cần phải tìm mọi cách để phát huy đầy đủ trong quá trình thực hiện bất cứ nhiệm vụ quan trọng nào của cách mạng. Các thành tựu nghiên cứu giáo dục đã thừa nhận quản lý giáo dục (QLGD) là nhân tố then chốt bảo đảm sự thành công của phát triển giáo dục. Vì thông qua QLGD mà việc thực hiện mục tiêu đào tạo, các chủ trương chính sách giáo dục quốc gia, nâng cao hiệu quả đầu tư cho giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục...mới được triển khai và thực hiện có hiệu quả.
Trang 1THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
ĐẠI HỌC Ở NƯỚC TA HIÊN NAY.
MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay, lao động, vật tư, công nghệ, khoa học, và quản
lý là một trong năm nhân tố cơ bản chứa đựng những sức mạnh tiềm tàng tolớn cần phải tìm mọi cách để phát huy đầy đủ trong quá trình thực hiện bất cứnhiệm vụ quan trọng nào của cách mạng Các thành tựu nghiên cứu giáo dục
đã thừa nhận quản lý giáo dục (QLGD) là nhân tố then chốt bảo đảm sự thànhcông của phát triển giáo dục Vì thông qua QLGD mà việc thực hiện mục tiêuđào tạo, các chủ trương chính sách giáo dục quốc gia, nâng cao hiệu quả đầu
tư cho giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục mới được triển khai và thựchiện có hiệu quả Chính vì thế, để xây dựng một hệ thống giáo dục quốc dânmới, đáp ứng được những đòi hỏi của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa(XHCN) ở nước ta trong vòng 15 - 20 năm tới, Nghị quyết (NQ) của Bộ chínhtrị (BCT) về cải tạo giáo dục đã nêu lên các biện pháp lớn cần phải tiến hànhlà: Xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên XHCN; tăng cường cơ sở vậtchất - kỹ thật của các trường học; cải tiến chương trình học, sách giáo khoa;đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học giáo dục; kiện toàn tổ chức quản lý
và cải tiến công tác quản lý của ngành giáo dục, xây dựng và phát triển độingũ cán bộ quản lý giáo dục (CBQLGD) XHCN Báo cáo của Chính phủ vềtình hình giáo dục (10/2004) đặt ra nhiệm vụ “Cải tiến công tác quản lý,điều hành,tập trung vào chức năng quản lý nhà nước, lấy việc quản lý chất lượng làm nhiệm
vụ trọng tâm”
Những tầm nhìn mới, hiện đại về giáo dục và QLGD đang phát triển mạnh
mẽ và tạo nên những thay đổi đáng kể cho diện mạo giáo dục thế giới, tạo thời cơcho giáo dục nói chung và QLGD nói riêng ở nước ta tiếp thu thành tựu và kinh
Trang 2nghiệm tiên tiến của thế giới trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ QLGD cũng nhưnghiên cứu khoa học QLGD; Giáo dục Việt Nam một mặt khác phải khắc phụcnhững điểm yếu kém bất cập, khắc phục sự mất cân đối giữa phát triển quy mô vàbảo đảm chất lượng, giữa phát triển quy mô và điều kiện còn hạn chế giữa yêu cầutạo chuyển biến cơ bản với giữ vững ổn định tương đối của hệ thống giáo dục đểthu hẹp dần khoảng cách với những nền giáo dục tiên tiến cũng đang phát triển.Chính vì vậy, đổi mới GD - ĐT ở nước ta hiện nay vừa là một nhiệm vụ chiếnlược, lâu dài nhưng cũng là nhiệm vụ trọng tâm cấp bách trong đó đổi mới, nâng caohiệu quả công tác QLGD đóng vai trò then chốt bảo đảm sự thành công của phát triểngiáo dục.
Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đại học (QLGDĐH) ở nước
ta hiện nay phải xuất phát từ cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn QLGD nước nhàtrong giai đoạn mới, đó là: Phải xuất phát từ lý luận khoa học QLGD và thực trạngcông tác QLGD, thì mới đề r a được những giải pháp sát, đúng đạt hiệu quả cao Trong khuôn khổ tiểu luận, tác giả sẽ khái quát lý luận khoa học QLGD,nêu lên thực trạng công tác QLGD, đồng thời mạnh dạn đề ra một số biệnpháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả công tác QLGD ở nước ta hiện nay
NỘI DUNG
1 Khái lược về Quản lý, Khoa học quản lý giáo dục và Quản lý giáo dục.
Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạtđộng của con người Khi xã hội loài người xuất hiện, một loạt các quan hệ: quan hệgiữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với
xã hội và cả quan hệ giữa con người với chính bản thân mình xuất hiện theo Điềunày nảy sinh nhu cầu về quản lý Lịch sử phát triển của xã hội loài người từ xã hộilạc hậu đến xã hội văn minh, trình độ sản xuất, tổ chức, điều hành xã hội cũng pháttriển theo Ngày nay, thực tiễn chứng minh rằng quản lý trở thành nhân tố của sựphát triển xã hội Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh
Trang 3vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến mọi người C.Mác coi quản lý là một đặc điểmvốn có, bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội Ông viết: “bất cứ lao động xãhội trực tiếp hay lao động xã hội chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớnđều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân sự chỉđạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ sựkhác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất với những vận động cá nhâncủa những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó Một nhạc sỹ độc tấu thì
tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng”1
* Khái niệm “quản lý” là khái niệm rất chung, tổng quát tuy nhiên, từnhững ý nghĩa chung nhất và xét quản lý với tư cách là một hành động, có thể
định nghĩa: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể
quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra Định nghĩa này chỉ rõ:
- Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định
- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận chủ thể quản lý và đối tượngquản lý, đây là quan hệ ra lệnh - phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc
- Quản lý bao giờ cũng là quản lý con người
- Quản lý là sự tác động, mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp vớiquy luật khách quan
- Quản lý xét về mặt công nghệ là sự vận động của thông tin
- Quản lý có khả năng thích nghi giữa chủ thể với đối tượng quản lý và ngượclại
* Mục tiêu của quản lý: là cần tạo dựng một môi trường mà trong đó mỗingười có thể hoàn thành được mục đích của mình, của nhóm với thời gian,tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất
* Đối tượng của quản lý: là các quan hệ quản lý, tức là quan hệ giữangười và người trong quản lý, quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lý
1 Theo Macco – Maccop: Chủ nghĩa xã hội v qu à qu ản lý, NXB Khoa học xã hội, H N à qu ội, 1978, tr.24.
Trang 4Quản lý nghiên cứu các quan hệ phát sinh trong quá trình hoạt động của conngười, của tổ chức; Quản lý nghiên cứu các mối quan hệ này nhằm tìm raquy luật và cơ chế vận dụng quy luật đó trong quá trình tác động lên conngười, thông qua đó tác động lên các yếu tố vật chất và phi vật chất khác nhưvốn, vật tư, trang thiết bị, công nghệ, thông tin một cách có hiệu quả Khoahọc quản lý sẽ cung cấp những kiến thức cơ bản làm nền tảng cho nghiên cứusâu về các môn học về quản lý tổ chức theo lĩnh vực hoặc theo ngành chuyênmôn từ quản lý nhà nước, quản lý xã hội, quản lý nhân lực, quản lý tàichính Quản lý có nhiệm vụ tìm ra quy luật và tính quy luật của hoạt độngquản lý, từ đó xác định các nguyên tắc, chính sách, công cụ, phương pháp vàcác hình thức tổ chức quản lý để không ngừng hoàn thiện và nâng cao chấtlượng quản lý.
* Khoa học quản lý ngày càng phát triển và được khẳng định là một mônkhoa học độc lập vì nó có cơ sở lý luận là những khái niệm, phạm trù, tính quyluật và quy luật khách quan để từ đó những người nghiên cứu và các nhà thực tiễnnắm lấy, vận dụng nhằm đưa ra các quyết định phù hợp với điều kiện khách quan.Quản lý là một khoa học nhưng mang tính nghệ thuật Kiến thức làm cơ sở choquản lý là một khoa học, còn vận dụng kiến thức đó để quản lý lại là nghệ thuật
* Quản lý có hai thuộc tính cơ bản: Thuộc tính tổ chức - kỹ thuật vàthuộc tính kinh tế xã hội; Quản lý cũng có những quy luật khách quan riêngcủa nó, muốn quản lý tốt thì người quản lý phải hiểu và vận dụng được quyluật của quản lý; ngày nay nhiều nước trên thế giới đã mở các trường đại học
và các bậc cao hơn chuyên đào tạo nghề quản lý, như vậy quản lý đã trở thànhmột nghề, một nghề quan trọng trong xã hội
Nếu chúng ta xem quản lý là một thuộc tính bất biến, nội tại của mọi
hoạt động xã hội, thì quản lý giáo dục (QLGD)cùng là một thuộc tính tất yếucủa mọi hoạt động giáo dục có mục đích
Trang 5Có nhiều quan niệm khác nhau về QLGD, song thường người ta đưa raquan niệm QLGD theo hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và vi mô Quản lý vĩ mô sẽtương ứng với khái niệm về quản lý một nền giáo dục (hệ thống giáo dục) và quản
lý vi mô sẽ tương ứng với khái niệm về quản lý một nhà trường
Ở cấp vĩ mô: QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có
mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất
cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhàtrường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáodục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục
Ở cấp vi mô: QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có
ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản
lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh vàcác lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng
và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường
Từ những khái niệm nêu trên, dù ở cấp vĩ mô hay vi mô, chúng ta có thể
thấy QLGD gồm 4 yếu tố, đó là: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, khách thể
quản lý và mục tiêu quản lý Bốn yếu tố này có mối quan hệ tương tác gắn bó
chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau Chủ thể quản lý tạo ra những tác nhântác động lên đối tượng quản lý, nơi tiếp nhận tác động lên đối tượng quản lý,nơi tiếp nhận tác động của chủ thể quản lý và cùng với chủ thể quản lý hoạtđộng theo một quỹ đạo nhằm cùng thực hiện mục tiêu của tổ chức Khách thểquản lý nằm ngoài hệ thống hệ QLGD Nó là hệ thống khác hoặc các ràng buộccủa môi trường Nó có thể chịu sự tác động hoặc tác động trở lại đến hệ thốnggiáo dục và hệ QLGD Vấn đề đặt ra đối với chủ thể quản lý là làm như thế nào
để cho những tác động từ phía khách thể quản lý đến giáo dục là tích cực, cùngnhằm thực hiện mục tiêu chung
* Đặc điểm quản lý giáo dục:
Trang 6Từ những khái niệm nêu trên, dù ở cấp độ vĩ mô hay vi mô, ta có thểnhận thấy một số đặc điểm chung của QLGD:
Một là, quản lý giáo dục bao giờ cũng có chủ thể và đối tượng bị quản
lý Chủ thể ở đây có thể là một cá nhân (như hiệu trưởng, giám đốc nhà
trường, học viện ) cũng có thể là một tổ chức hay tập thể ( Bộ, Sở, Phònggiáo dục - đào tạo ) Còn đối tượng quản lý ở đây những nhân tố mà chủ thểquản lý tác động đến - đó là những nhân tố trong quá trình giáo dục - đàotạo(GD - ĐT), là những ai thực hiện hoặc nhận sự GD - ĐT
Hai là, quản lý giáo dục là một quá trình truyền đạt thu nhận và xử lýthông tin một cách tích cực Chủ thể quản lý muốn tác động lên đối tượngphải đưa ra các thông tin (nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh, kế hoạch, chươngtrình )đó chính là các thông tin điều khiển Sau đó chủ thể quản lý phảithường xuyên theo dõi, thu nhận các thông tin phản hồi về kết quả thực hiệncác nhiệm vụ GD - ĐT của đối tượng quản lý Còn đối tượng quản lý tiếpnhận các thông tin điều khiển của chủ thể để định hướng hoạt động, xác định
kế hoạch hoạt động và tự điều khiển mình nhằm thực thi các chỉ thị, mệnhlệnh yêu cầu chủ thể quản lý
Ba là , quản lý giáo dục vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật Để có những
tác động quản lý hợp quy luật, phát huy được hiệu quả và chất lượng của cácnguồn lực giáo dục, đòi hỏi nhà quản lý phải có tri thức quản lý, có những quanđiểm tiếp cận thực tiễn quản lý đúng đắn, có những phương pháp quản lý cụ thểphù hợp với thực tiễn Nói cách khác, hoạt động quản lý là một khoa học, cầnđược đối xử một cách khoa học, nhà quản lý không thể mang tác phong tuỳ tiện,đơn giản, chủ quan QLGD đồng thời còn là một nghệ thuật, vì QLGD là quản lýquá trình đào tạo, hình thành và hoàn thiện nhân cách, nó đòi hỏi nhà quản lýmuốn đạt được chất lượng và hiệu quả quản lý cao luôn luôn phải trau dồi tài
Trang 7nghệ, bản lĩnh, nhân cách, trí tuệ và phong cách công tác chuẩn mực cùng vớiphong cách ứng xử linh hoạt, mềm dẻo với con người.
* Đối tượng của Khoa học quản lý giáo dục và Quản lý giáo dục
Cần phân biệt sự khác nhau giữa đối tượng của Khoa học quản lý giáo dục(KHQLGD) và đối tượng của QLGD với tư cách là một hoạt động của chủ thểquản lý (mặc dù có điểm trùng khớp nhau) Trong giáo dục, đối tượng quản lýbao gồm: Hệ thống giáo dục quốc dân, hệ thống QLGD, các quan hệ quản lý,các chủ thể quản lý cấp dưới, tập thể và cá nhân giáo viên và học sinh,
Nhưng đối tượng của KHQLGD thì lại khác Đó là các quan hệ quản lý
giáo dục Tại sao nói quan hệ QLGD là đối tượng của KHQLGD.
Giáo dục là một hệ thống hoạt động phức tạp với những hành vi có mụcđích Sự phát triển của hệ thống giáo dục là kết quả của sự tác động qua lại giữanhững con người (người giáo dục và người được giáo dục, người quản lý vàngười bị quản lý) được kết hợp thành những nhóm, những tổ chức riêng biệt.Song những cá nhân và những nhóm xã hội riêng lẻ không có vai trò như nhau
và đồng đều trong hệ thống giáo dục Đó là lý do xuất hiện cơ chế điều khiển vàcác cơ quan đặc thù để tổ chức, hướng dẫn, giám sát, kiểm tra các hoạt độnggiáo dục Những mối quan hệ giữa các cơ quan đó là tất yếu khách quan vàthuộc phạm vi những quan hệ quản lý
* Phương pháp luận nghiên cứu khoa học quản lý giáo dục Với tư cách làmột ngành khoa học, KHQLGD có phương pháp luận nghiên cứu của nó đó là Chủnghĩa Mác - Lênin Chủ nghĩa Mác - Lênin đóng vai trò phương pháp luận quantrọng đối với khoa học nói chung và KHQLGD nói riêng KHQLGD nghiên cứunhững quy luật riêng, có tính đặc thù của nó và những quy luật này cũng thuộcphạm trù của những quy luật của khoa học xã hội, thì chức năng phương pháp luậncủa Chủ nghĩa Mác - Lênin đối với KHQLGD là điều tất yếu khách quan
Trang 8Tinh thần của Chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa những quy luật
xã hội khách quan và hoạt động tự giác của con người có ý nghĩa lớn lao đối với
lý luận và thực tiễn quản lý trong đó có QLGD; Phép biện chứng mác xít của cáikhách quan và cái chủ quan, các quy luật triết học duy vật biện chứng là cơ sởphương pháp luận quan trọng của lý luận về quản lý; KHQLGD còn có cơ sởphương pháp luận quan trọng là đường lối phát triển kinh tế - xã hội, đường lốiquản lý xã hội nói chung, nhất là đường lối quan điểm về giáo dục của Đảng,Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh và các tính quy luật của giáo dục, phản ánhlĩnh vực hiện thực, cần cho hoạt động quản lý và lý luận quản lý
* Phương pháp nghiên cứu Khoa học quản lý giáo dục Cũng như cácngành khoa học khác KHQLGD cũng có phương pháp nghiên cứu đặc trưngriêng Phương pháp nghiên cứu KHQLGD có thể nêu bốn nhóm phương phápsau: phương pháp logic, phương pháp hệ thống, phương pháp mô hình hoá vàphương pháp thực nghiệm Mỗi phương pháp có ví trí vai trò riêng nhưng làmột thể thống nhất có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại với nhau, khinghiên cứu KHQLGD cần phối hợp, vận dụng các phương pháp một cách linhhoạt, sáng tạo tuỳ theo từng điều kiện cụ thể để phát hiện ra những quy luậthoặc tính quy luật của sự hình thành và phát triển của các tổ chức giáo dụctrong những điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể cùng những phương pháp, kể cảnghệ thuật của những người tham gia QLGD phù hợp với các quy luật đó,nhằm đạt được những mục tiêu quản lý một cách có hiệu quả
Quản lý giáo dục là một quá trình vì quản lý là một hoạt động mang tínhhướng đích, là sự vận động, sự nối tiếp các trạng thái, có độ dài về thời gian, chịutác động của nhân tố bên trong và bên ngoài, tuân theo những quy luật kháchquan, biểu hiện thông qua hoạt động của con người Quá trình QLGD là hoạtđộng của các chủ thể và đối tượng quản lý thống nhất với nhau trong một cơ cấu
Trang 9nhất định nhằm đạt mục đích đề ra của quản lý bằng cách thực hiện các chức năngnhất định và vận dụng các biện pháp, nguyên tắc, công cụ quản lý thích hợp.Quá trình quản lý được bắt đầu từ việc phân tích thông tin về trạng tháicủa hệ thống bị quản lý Thông tin này có thể biểu hiện dưới hình thức lànhững chỉ tiêu chất lượng và số lượng đặc trưng cho trạng thái của hệ thống bịquản lý tại thời điểm trước khi ra quyết định Thông tin phải được nêu lên dựtrên cơ sở những mục tiêu cụ thể đặt ra cho hệ thống bị quản lý Giai đoạn tiếptheo là chủ thể quản lý xây dựng quyết định quản lý dựa trên những thông tinthu nhận được Quyết định quản lý là phương tiện chủ yếu để chủ thể quản lýtác động vào hệ thống bị quản lý, hướng các tổ chức vào việc phấn đấu đạt mụctiêu giáo dục, đáp ứng yêu cầu của xã hội Quyết định quản lý phải bảo đảmtính tối ưu Những yếu tố cấu thành quyết định quản lý là: Vạch ra kế hoạchchiến lược; xác định mục tiêu, chỉ tiêu và kết quả của quyết định; giải pháp vàbiện pháp cụ thể; thu thập thông tin cần thiết về diễn tiến của đội tượng quảnlý;
Giai đoạn thứ ba là dựa trên cơ sở quyết định đã chọn, chủ thể quản lýdùng những biện pháp tác động đến đối tượng bị quản lý, làm cho nó chuyển từtrạng thái này sang trạng thái khác bảo đảm việc thực hiện mục tiêu đã đề ra.Giai đoạn cuối cùng, Chủ thể quản lý thu thập thông tin về trạng thái củađối tượng bị quản lý sau tác động Từ đó có quyết định điều chỉnh hoặcchuyển sang quá trình kế tiếp Các giai đoạn của quá trình QLGD là một chutrình từng mắt, khâu trong từng giai đoạn, giữa các giai đoạn với nhau cóquan hệ chặt chẽ tác động biện chứng với nhau thành một quá trình vận động
và phát triển theo quy luật, theo định hướng nhất định của nhà quản lý nhằmđạt mục tiêu đề ra
2 Thực trạng công tác quản lý giáo dục đại học ở nước ta hiện nay.
Trang 10Cũng như các nước trên thế giới, chất lượng GD - ĐT, QLGD là một trongnhững mối quan tâm của toàn xã hội và là vấn đề trọng yếu trong chính sách giáodục được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Nghị quyết Đại hội Đảng toànquốc lần thứ IX đã xác định rõ: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách và pháp luật để bảođảm sự nghiệp giáo dục phát triển ổn định, chất lượng, hiệu quả đáp ứng nhu cầu vềcon người và nguồn nhân lực cho đất nước phát triển nhanh và bền vững” Chiếnlược phát triển giáo dục Việt Nam 2001 - 2010 cũng khẳng định yêu cầu các cơquan quản lý nhà nước về giáo dục cần: “Tập trung làm tốt ba nhiệm vụ chủ yếu:Xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển giáo dục; xây dựng cơ chếchính sách và quy chế quản lý nội dung và chất lượng đào tạo; tổ chức kiểm tra vàthanh tra, Đặc biệt chú trọng công tác thanh tra giáo dục và bảo đảm chất lượnggiáo dục thông qua việc tổ chức và chỉ đạo hệ thống kiểm định chất lượng Báo cáocủa Chính phủ về tình hình giáo dục (10/2004) đặt ra nhiệm vụ “Cải tiến công tácquản lý, điều hành, tập trung vào chức năng quản lý nhà nước, lấy việc quản lý chấtlượng làm nhiệm vụ trọng tâm”.
Chính vì vậy, đổi mới GD - ĐT ở nước ta hiện nay vừa là một nhiệm
vụ chiến lược, lâu dài nhưng cũng là nhiệm vụ trọng tâm cấp bách trong đóđổi mới, nâng cao chất lượng công tác QLGD đóng vai trò then chốt bảo đảm
sự thành công của phát triển giáo dục
Nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự chỉ đạo sâu sát quyết liệt của Chínhphủ, sự quan tâm hợp tác tích cực của các Bộ, Ngành từ Trung ương đến chínhquyền các cấp và quyết tâm của ngành giáo dục trong những năm qua công tác đổimới nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả GD - ĐT, công tác QLGD đã thu đượcnhững thành tựu đáng khích lệ như:
- Về pháp lý, để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý nhànước, ngày 17/9/2001 Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam đã ra quyết địnhphê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001 – 2010
Trang 11với mục tiêu chung sau : “Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch,vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theonguyên tắc của Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng; xâydựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầucủa công cuộc xây dựng, phát triển đất nước” Đồng thời đề ra các mục tiêu
cụ thể như: hoàn thiện hệ thống thể chế hành chính, cơ chế, chính sách, phùhợp với thời kỳ CNH,HĐH đất nước, cơ cấu gọn nhẹ, thủ tục hành chínhcông khai, đơn giản, nền hành chính hiện đại hoá từng bước rõ rệt Chính phủcũng đề ra 5 giải pháp; chương trình hành động gồm 7 nội dung Chính phủnhấn mạnh trong lĩnh vực giáo dục, các mục tiêu, yêu cầu, nội dung cải cáchhành chính có mối quan hệ gắn bó với nhiệm vụ, nội dung đổi mới quản lýnhà nước về giáo dục, đặc biệt là trong các lĩnh vực hoàn thiện thể chế, chínhsách, tổ chức bộ máy giáo dục các cấp, các quy trình, thủ tục hành chính tronggiáo dục, kết quả của cải cách hành chính là một trong những yếu tố quantrọng ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả đổi mới quản lý giáo dục từ QLGD ởtầm vĩ mô đến QLGD ở cấp vi mô Bổ sung, hoàn thiện Luật giáo dục; khẩntrương triển khai thực hiện nghị định 166/2004/NĐ - CP ngày 16/9/2004 vềquy định trách nhiệm QLNN về giáo dục, từ trung ương đến địa phương và cơ
sở, nâng cao chất lượng công tác pháp chế và thanh tra trong ngành giáo dục
và đào tạo, tập trung chỉ đạo xây dựng chiến lược, chính sách, quy hoạch, kếhoạch phát triển giáo dục Đặc biệt là triển khai đề án đào tạo, bồi dưỡng có
hệ thống đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục các cấp nhằm nâng cao chất lượngQLGD - Thành lập Học viện QLGD Quốc gia
- Đã khẳng định được vị trí, vai trò giáo dục, hoạch định được các chínhsách hữu hiệu trong thời kỳ đổi mới đất nước, tiếp tục đổi mới chính sáchgiáo dục trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
- Hoàn thiện cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, đổi mới hệ thống giáo dục
Trang 12- Đổi mới công tác kế hoạch hoá giáo dục; lập kế hoạch chiến lược củagiáo dục và QLGD.
- Đổi mới công tác quản lý cán bộ quản lý và giáo viên trong giáo dục
- Tiếp tục tăng cường đầu tư cho giáo dục
- Tăng cường kiểm định, kiểm tra và thanh tra chất lượng, bước đầu đãthông qua và xây dựng được các bộ tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục chotừng cấp học, bậc học, từng ngành nghề (tuy chưa hoàn chỉnh) nhưng bướcđầu ở nhiều cơ sở GD - ĐT đã khẳng định chất lượng giáo dục với xã hội,được xã hội và thị trường chấp nhận
- Với chính sách đổi mới và mở cửa của Đảng và Chính phủ đã tạo điềukiện cho việc tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về giáo dục đào tạohiệu quả nếu thực hiện theo các hướng như: Tăng cường tính tự chủ và tínhtrách nhiệm xã hội cho nhà trường trong hợp tác giáo dục đào tạo (GD -ĐT) Mở dịch vụ đào tạo thu hút học sinh sinh viên đến Việt Nam họctập Hiện đại hoá GD - ĐT tiếp cận với các nền GD - ĐT tiên tiến trên thế giới.Đảm bảo chủ quyền và bản sắc văn hoá dân tộc trong hợp tác đối ngoại và thunạp những kinh nghiệm giáo dục quốc tế đã thu được những kết quả khả quan
- Ngành GD - ĐT đã đẩy mạnh công tác đổi mới quản lý, tăng cường trật tự,
kỷ cương, xây dựng, củng cố nền nếp dạy và học trong các cơ sở giáo dục tậptrung vào công tác kiểm tra, thanh tra giải quyết các vấn đề nổi cộm, lập lại trật
tự kỷ cương, đẩy lùi tiêu cực, chấn chỉnh tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan;Các cơ quan thanh tra giáo dục đã có một số biện pháp tích cực trong việc đấutranh nhằm chấn chỉnh tệ nạn sử dụng văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp vàcấp phát văn bằng, chứng chỉ sai quy định (9/1999 đã phát hiện 5.742 trườnghợp sử dụng văn bằng không hợp pháp; xử lý buộc thôi việc 275 cán bộ, côngchức) Thực hiện tương đối có hiệu quả cuộc vận động “hai không” trong giáodục
Trang 13Tuy nhiên, công tác GD - ĐT, QLGD ở nước ta trong những năm qua vẫncòn một số hạn chế, bất cập nhất là trong công tác QLGD.
Đánh giá về vấn đề này các NQ của Đảng, Nhà nước cũng nhắc tớinhững yếu kém của giáo dục nói chung, nhất là QLGD Có thể tóm tắt:QLGD kém hiệu quả, một số hiện tượng tiêu cực chưa được ngăn chặn kịpthời, chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan quản lý chưa rõ, còn hiệntượng chồng chéo, trình độ quản lý chưa theo kịp với thực tiễn với sự nghiệpđổi mới đất nước theo định hướng XHCN, chậm đổi mới cả tư duy và phươngthức quản lý, chậm đề ra các định hướng chiến lược và các chính sách vĩ môđúng đắn để xử lý quan hệ giữa quy mô, chất lượng và hiệu quả giáo dục, tổchức giáo dục còn “khép kín” không tạo sự liên thông giữa các cấp, các ngànhhọc, chưa quan tâm đến những vấn đề lý luận phát triển giáo dục trong giaiđoạn mới, năng lực cán bộ quản lý còn thấp Những yếu kém bất cập nàybiểu hiện cụ thể trên các mặt như:
- Về quản lý vĩ mô, tính kế hoạch chiến lược chưa hoàn thiện, chưa đồng
bộ còn mang tính chất “ăn đong”, “thời vụ”, dẫn đến mỗi nơi làm một kiểu,chưa đề ra qui chế về quản lý phù hợp với điều kiện nước ta, mà tiếp thu cáckinh nghiệm, mô hình quản lý khi thì của phương Đông, lúc lại của phươngTây một cách máy móc; có những chính sách về giáo dục chưa được xã hộiđồng tình như đề ra mục tiêu phải đào tạo hai vạn tiến sỹ trong khi qua đánhgiá khi so sánh với Thái Lan thì kết quả là số lượng tiến sỹ ở nước ta nhiều hơnnhưng số công trình khoa học được công bố trên thế giới lại ít hơn của TháiLan, như vậy chất lượng đào tạo tiến sỹ của ta còn thấp , còn chạy theo sốlượng
- Cơ chế tổ chức quản lý còn bất cập chưa đồng bộ và thống nhất, sự liênkết còn lỏng lẻo theo ngành dọc từ bộ GD - ĐT đến các cơ sở đào tạo, mối kếthợp ngang giữa các Sở, Ban; giữa các cơ sở đào tạo với nhau gây ra tình trạng