Mỗi sự vật hiện tượng ra đời, đều có quá trình phát sinh phát triển và gắn liền với các sự vật hiện tượng khác. Trong lịch sử phát triển của mình, triết học duy vật luôn gắn liền với sự phát triển của khoa học tự nhiên. Tuy nhiên ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, có các quan điểm khác nhau về vấn đề này. Ngay từ thời kỳ cổ đại, khi khoa học chưa phát triển, triết học được coi là khoa học của mọi khoa học, vì vậy các nhà triết học đồng thời cũng là nhà khoa học tự nhiên. Dần dần do nhu cầu thực tiễn cuộc sống đòi hỏi, con người phải khái quát và hiểu thực chất trong từng lĩnh vực, của cuộc sống đặt ra. Các khoa học tự nhiên trong quá trình phát triển đã dần dần tách khỏi triết học và trở thành khoa học độc lập. Mặc dù vậy, giữa chúng lại luôn có mối liên hệ mật thiết với nhau. Bởi vì, mỗi bước phát triển và mỗi thành tựu của khoa học tự nhiên đều là cơ sở, là tiền đề cho những khái quát của triết học duy vật, triết học nó là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận đúng đắn cho sự giải thích sự phát triển của khoa học tự nhiên.
Trang 1MỞ ĐẦU
Mỗi sự vật hiện tượng ra đời, đều có quá trình phát sinh phát triển và gắn liền với các sự vật hiện tượng khác Trong lịch sử phát triển của mình, triết học duy vật luôn gắn liền với sự phát triển của khoa học tự nhiên Tuy nhiên ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, có các quan điểm khác nhau về vấn đề này Ngay từ thời kỳ cổ đại, khi khoa học chưa phát triển, triết học được coi là khoa học của mọi khoa học, vì vậy các nhà triết học đồng thời cũng là nhà khoa học tự nhiên Dần dần do nhu cầu thực tiễn cuộc sống đòi hỏi, con người phải khái quát và hiểu thực chất trong từng lĩnh vực, của cuộc sống đặt ra Các khoa học tự nhiên trong quá trình phát triển đã dần dần tách khỏi triết học
và trở thành khoa học độc lập Mặc dù vậy, giữa chúng lại luôn có mối liên hệ mật thiết với nhau Bởi vì, mỗi bước phát triển và mỗi thành tựu của khoa học
tự nhiên đều là cơ sở, là tiền đề cho những khái quát của triết học duy vật, triết học nó là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận đúng đắn cho sự giải thích sự phát triển của khoa học tự nhiên Mặt khác sự phát triển của khoa học
tự nhiên giúp cho con người hiểu thực chất sự vật, và hiểu bản chất và sâu sắc
về chúng Đồng thời là cơ sở chứng minh tính đúng đắn và bác bỏ những sai lầm của các quan điểm sai trái trong triết học đem lại, bởi chính sự phát triển của khoa học tự nhiên đưa lại những cuộc khủng hoảng trong triết học duy vật, đó là cơ sở để chủ nghĩa duy tâm lợi dụng tiến công chống lại triết học duy vật và bảo vệ củng cố lý thuyết sai lầm của mình
Chính vì vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự hiên có ý nghĩa rất to lớn đối với sự phát triển của cả triết học và khoa học tự nhiên Trong mối liên hệ đó đã đề cập đến nhiều vấn đề, tuy nhiên, dưới góc
độ một bài thu hoạch, em chỉ tập trung đi sâu làm rõ “Tính tất yếu quan hệ biện chứng giữa sự phát triển của khoa học tự nhiên với sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng - ý nghĩa của vấn đề trong tình hình hiện nay”.
Trang 2NỘI DUNG
1 Quan hệ biện chứng giữa sự phát triển của khoa học tự nhiên với chủ nghĩa duy vật biện chứng
Trước khi triết học và khoa học xuất hiện, thế giới xung quanh được phản ánh trong ý thức nguyên thủy của loài người dưới hình thức thần thoại Trong thần thoại bên cạnh niềm tin vào các lực lượng thần thánh, siêu tự nhiên, thì các vấn đề về nguồn gốc, bản chất của thế giới có một vị trí đáng kể Triết học và thần thoại ra đời như một nỗ lực nhằm giải thích thế giới Thực chất triết học cũng tìm cách trả lời cho các vấn đề mà trước đó đã được đặt ra trong thần thoại, nhưng bằng một phương thức khác Triết học là sự phân tích lý luận các vấn đề
ấy dựa trên lôgíc, các tri thức khoa học và kinh nghiệm thực tiễn Về mặt lịch sử,
sự ra đời của triết học trùng hợp với sự xuất hiện những mầm mống đầu tiên của tri thức khoa học, với sự hình thành nhu cầu nghiên cứu lý luận
Ở thời kỳ cổ đại, Các nhà triết học đầu tiên ở Hy Lạp đồng thời cũng là các nhà khoa học, như Thalets, Pithagore, Triết học đặt nhiệm vụ tìm hiểu
và giải thích tự nhiên, xem xét thế giới như một chỉnh thể Trong nền triết học
tự nhiên, các khoa học nói chung bị đẩy xuống vị trí thứ yếu và bị chi phối bởi triết học Triết học tự nhiên thịnh hành ở phương Tây vào lúc khoa học thực nghiệm chưa phát triển, không đủ để tìm ra quy luật của các hiện tượng
tự nhiên Chính vì vậy mà trên thực tế, triết học tự nhiên là dòng triết học mang tính tư biện (speculation): Những giải thích của nó về thế giới chủ yếu
là dựa trên những phỏng đoán và giả định
Thời Phục hưng và đặc biệt là trong các thế kỷ XVII - XVIII, sự phát triển của khoa học, nhất là các khoa học tự nhiên ngày càng diễn ra nhanh chóng Mối quan hệ triết học - khoa học có sự đổi chiều Khoa học tự nhiên từ chỗ phụ thuộc, bị dẫn dắt bởi triết học, thì giờ đây, nó độc lập trong lĩnh vực nghiên cứu của mình, hơn nữa còn tác động quyết định đến khuynh hướng phát triển của triết học và phương pháp tư duy Chính sự thay đổi này đã tạo
Trang 3ra tiền đề cho sự ra đời của chủ nghĩa thực chứng Chủ nghĩa thực chứng (posistivism) tuyên bố rằng, chỉ có các khoa học cụ thể mới cần thiết, đem lại các tri thức tích cực (positive), còn triết học thì không Chính xác hơn, chủ nghĩa thực chứng thừa nhận trong quá khứ, khi mà các khoa học còn chưa phát triển đầy đủ, thì triết học từng đóng vai trò tích cực là khoa học bao trùm, tổng hợp mọi tri thức, thậm chí là “khoa học của các khoa học” Nhưng khi các khoa học lần lượt xuất hiện và trưởng thành, đem lại một khối lượng tri thức khổng lồ thì triết học dần đánh mất vai trò lịch sử của mình Số phận của triết học thật trớ trêu, chẳng khác gì King Lear - nhân vật văn học của Shakespeare, người chia toàn bộ vương quốc và tài sản to lớn của mình cho các con đã trưởng thành để rồi trở thành trắng tay và bị đuổi ra đường
Từ thời kỳ Phục hưng trở đi, ảnh hưởng của khoa học đến triết học càng ngày càng rõ rệt Theo dõi sự phát triển của khoa học trong thời kỳ này, chúng ta thấy rằng quá trình phân ngành diễn ra nhanh chóng: Cơ học, vật lý học, hóa học, sinh vật học, địa lý, thiên văn học, lần lượt trở thành các khoa học độc lập Mỗi một khoa học tự xác định cho mình đối tượng nghiên cứu riêng Giới tự nhiên được chia thành nhiều lĩnh vực khác nhau và trở thành đối tượng của những nghiên cứu độc lập Việc này là cần thiết, đặc biệt trong giai đoạn phát triển đầu tiên của khoa học, khi mà nhiệm vụ chủ yếu là phải sưu tập, tích lũy các tài liệu Nhưng phương pháp được coi là cần thiết và chính đáng ấy của khoa học tự nhiên cũng đã ảnh hưởng đến và in dấu lên tư duy triết học đương thời - phương pháp tư duy siêu hình Mặt khác, trong các khoa học tự nhiên thời bấy giờ, chỉ có cơ học là môn khoa học được coi là đạt đến mức độ hoàn thiện nhất định và vì thế, tư duy cơ học máy móc cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến triết học Chúng ta có thể nói rằng, trong thời kỳ Phục hưng và cận đại, khoa học tự nhiên đã có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của triết học Mỗi bước tiến mới của khoa học đều bằng cách này hay cách khác tác động lên xu hướng phát triển và tư duy của triết học
Trang 4Chủ nghĩa Mác ra đời dựa trên một trong những tiền đề là trạng thái và các thành tựu của khoa học tự nhiên thế kỷ XIX Khác với các thế kỷ trước
đó, khoa học tự nhiên trong thế kỷ XIX đã không còn là khoa học sưu tập nữa Những gì nó tích lũy được trong thời kỳ trước đã cho phép nó có thể sắp xếp, tổng hợp lại Và nhiệm vụ này đến lượt nó, khiến người ta phải chú ý nhiều hơn tới những mối liên hệ vốn có của bản thân giới tự nhiên: Sự thống nhất của thế giới tự nhiên, sự vận động và phát triển nội tại của nó Các phát minh vĩ đại của khoa học tự nhiên thế kỷ XIX trong các lĩnh vực vật lý và sinh vật, như định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, thuyết cấu tạo tế bào và thuyết tiến hóa của các loài, đã chứng minh trên những nét cơ bản và đem lại một cái nhìn duy vật biện chứng về thế giới tự nhiên Chính vì vậy chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng chỉ ra đời vào những năm
40 của thế kỷ XIX, khi có sự chín muồi của những tiền đề về kinh tế xã hội, của những tiền đề về lý luận và khoa học tự nhiên Tuy nhiên sự chín muồi đó không phải cứ tự nhiên nó có, mà đòi hỏi có một quá trình vận động phát triển tương đối lâu dài, qua nhiều bước trung gian quá độ Khoa học tự nhiên cũng vậy, để cho sự ra đời của những phát minh có tính chất vạch thời đại đòi hỏi phải tạo tiền đề khoa học, cho Mác và Ph.Ăngghen có sự khái quát mới về mặt triết học, thì khoa học tự nhiên ẩtước đó đã có những bước tiến quan trọng, một mặt nó thiết thực phục vụ cho sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhưng mặt khác nó trực tiếp góp phần làm cho từng bước đẩy lùi những quan niệm siêu hình, máy móc về tự nhiên và chuẩn bị cho sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Qua nghiên cứu, thấy rằng ngay từ thế kỷ XVII, đã xuất hiện đường lối chống quan điểm siêu hình, máy móc trong khoa học tự nhiên gắn với những phát minh, những thành tựu khoa học mới trên hầu hết trên các lĩnh vực khoa học tự nhiên thời kỳ đó Trên lĩnh vực vật lý học, trước hết đó là những cống hiến của Lômônôxốp Ông là người mở đầu truyền thống duy vật chủ nghĩa
Trang 5trong khoa học và trong triết học tiên tiến ở Nga Những cống hiến của Ông hầu hết mọi người đều biết, đặc biệt là những thành quả về vật lý học Sự cống hiến quan trọng nhất vào khoa học là đã phát hiện định luật bảo tồn vật chất và vận động, coi như định luật tự nhiên, có tính phổ biến và định luật đó
đã được chứng minh bằng lý luận và bằng thực nghiệm Ông đã kiên quyết chống lại thuyết nhiên tốvà đưa ra thuyết phân tử động học về các chất khí mà trước kia người ta coi đó là những chất không có trọng lượng cả trong các hiện tượng điện, ánh sáng và phát triển những quan niệm mới tiến bộ về các hiện tượng ấy
Có thể thấy rằng, ngay từ giữa thế kỷ XVIII với những phát minh và cống hiến quan trọng của mình chỉ riêng trong lĩnh vực vật lý, Lômônôxốp đã tạo nên những đòn đầu tiên quan trọng vào quan điểm siêu hình, máy móc về
tự nhiên của các nhà triết học và khoa học thế kỷ XVII- XVIII Với những quan điểm khoa học của ông, thế giới không còn là cái gì đó bao gồm những
sự vật, những hiện tượng cô lập, tách biệt nằm im bên cạnh cái kia, mà giữa chúng có mối liên hệ Theo quan điểm của ông vật chất và vận động không bao giờ tiêu diệt được và không bao giờ được tạo ra Ông khẳng định rằng, vật chất và vận động không tách rời nhau, chính vì vậy nó đã làm cho quan điểm máy móc, siêu hình trở nên không hợp thời, và lộ rõ chân tướng là một
sự đóng kín, và vị trí của “cái hích đầu tiên” của “chúa”, đã bắt đầu lung lay trong khoa học Trong nửa đầu thế kỷ XVIII, vật lý học đã thu được những thành tựu to lớn, và có tính chất đột phá trong việc nghiên cứu các hiện tượng nhiệt, điện và từ… Trong giai đoạn trước, các ngành này mới ở trình độ sơ khai ban đầu Sau đó, chúng được phát triển một cách rộng rãi và có một cơ
sở khoa học vững chắc Quá trình phát triển của công cụ lao động đã làm cho năng xuất lao động ngày càng tăng, biểu hiện như sự phát triển của máy hơi nước, và việc vận dụng rộng rãi hơi nước trong công nghiệp, trong vận tải, và trong cả những triển vọng phong phú của việc áp dụng các hiện tượng điện và
Trang 6từ trong kỹ thuật, do sự phát hiện ra các quá trình điện, từ và nhiệt…đã làm cho người ta rất chú ý đến các hiện tượng ấy và tạo ra những tiền đề vật chất
kỹ thuật cho những phát minh quan trọng nhất Các thực nghiệm khoa học được tiến hành chu đáo và rộng rãi đã cung cấp những dẫn chứng không thể chối cãi về sự chuyển hoá định tính giữa công nhiệt và công cơ và về sự bảo toàn của chúng Ph.Ăngghen cho rằng, sự xác định đương lượng cơ học của nhiệt đã chấm dứt mọi hoài nghi về kết quả ấy Điều đó chứng minh rằng không thể xem xét các hiện tượng như nhiệt, điện, từ, ánh sáng… như đặc tính của các chất “không có trọng lượng” mà phải giải thích các hiện tượng ấy theo một quan điểm khoa học mới đó là có sự chuyển hoá giữa năng lượng cơ
- nhiệt - điện - và từ…thực nghiệm và công nghiệp đã chứng minh nhiệt năng
có thể biến thành cơ năng, thành điện năng, điện năng có thể chuyển hoá thành quang năng, thành năng lượng từ… và người ta còn phát minh ra hiện tượng nhiệt hoá và điện hoá
Từ những phát minh khoa học đem lại ý nghĩa rất quan trọng, và khả năng to lớn để bác bỏ những quan điểm siêu hình về tự nhiên, làm phá sản hoàn toàn quan niệm về chất “không có trọng lượng” Một quan niệm cho rằng các hiện tượng như: nhiệt, điện, từ, ánh sáng, là đặc tính của các chất
“không có trọng lượng”, và chuẩn bị cho sự thừa nhận những mối tương quan, liên hệ và sự chuyển hoá giữa các lĩnh vực tự nhiên, tức quan điểm biện chứng về tự nhiên Những phát minh đó, đã trực tiếp chuẩn bị cho việc nêu ra,
và xây dựng nên một học thuyết chung, về năng lượng và cuối cùng đặt những cơ sở vững chắc cho định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng, một phát minh có tính chất vạch thờ đại ở những năm 40 của thế kỷ XIX, và nó đã chứng minh một cách hết sức rõ ràng tính chất nghèo nàn, hạn hẹp và thậm chí phản khoa học của các quan niệm siêu hình về tự nhiên, đồng thời những phát minh ấy đã vạch ra phép biện chứng khách quan có sẵn trong các hiện tượng tự nhiên
Trang 7Trên lĩnh vực thiên văn học, thời kỳ này cũng đã đạt được những thành tựu rất đáng kể Can tơ (1724-1804) và Lapơlaxơ đã giáng cho quan điểm siêu hình một đòn chí mạng Học thuyết của Can tơ đưa ra quan niệm mới tiến bộ
và cách mạng đối với thời đại của ông, với lý thuyết về bầu trời, ông cho rằng trái đất và toàn bộ hệ thống mặt trời được cấu tạo một cách tự nhiên từ những tinh vân, do tác dụng của lực hút và lực đẩy, tạo nên những chuyển động xảy
ra trong vũ trụ,và kết quả là đã tạo ra trái đất và hệ mặt trời Với quan niệm như vậy ông đã tránh được quan niệm siêu hình và về “cái hích” đầu tiên của Niu tơn Theo Ph.Ăng ghen thì ý nghĩa khoa học khách quan giả thuyết của Can tơ cũng còn ở chỗ là nếu cho rằng trái đất được hình thành bởi cái gì đó trong thời gian, thì trạng thái địa chất và các trạng thái khác của trái đất, động vật và thực vật của nó cũng được hình thành từ một cái gì đó trong thời gian Như vậy theo Can tơ, thế giới này là vật chất và nó tồn tại trong sự vận động, trong quá trình tự thân phát triển chứ không phải do bàn tay sáng tạo của chúa, quan điểm ấy vừa duy vật vừa biện chứng
Trên lĩnh vực địa chất học, khoa học cũng thu được những thành tựu quan trọng và có giá trị to lớn trong việc bác bỏ quan điểm siêu hình Ở đây phải nói đến những cống hiến của Laien (1797-1875), nhà địa chất học người Anh, người sáng lập ra thuyết về sự phát triển trong địa chất học Theo Laien thì những biến đổi của trái đất không phải là do những tai hoạ ngẫu nhiênmà
là kết quả của những tác động dần dần liên tục của những yếu tố tự nhiên Ph.Ăngghen chi ra thuyết của Laien bên cạnh những thiếu sót của nó, nó có ý nghĩa to lớn đó là: Thứ nhất, nó đã làm thay đổi quan niệm cho rằng trái đất
và những biến đổi của nó là do “tính bất thường” của “đấng tạo hoá” và làm cho quan điểm đó mất hết cơ sở Thứ hai, quan niệm về sự biến hoá không ngừng của vỏ trái đất đã đưa đến học thuyết về sự biến hoá dần dần của các
cơ thể và sự thích nghi của các cơ thể với môi trường đang biến đổi Quan niệm mới về sự phát triển, của giới tự nhiên hữu cơ đã được phát triển trong
Trang 8các tác phẩm của G.Buyphông, Đi đrô, E.Đácuyn, G.S.ILêra…và của nhiều nhà sinh vật học cũng như các nhà triết học cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX Trong đó những học thuyết của Lamác, của Đác uyn là những đóng góp
to lớn vào cuộc đấu tranh những quan điểm siêu hình về tự nhiên
Trong những năm 30 của thế kỷ XIX, thuyết tế bào được xây dựng nên trong các công trình của I.Đuốckin, Gôrianhinốp, S.Lâyđen, và Svan Những thuyết này đặt cơ sở vững vàng hơn cho sự nghiên cứu các vật chất sống trong
tự nhiên Nó khẳng định tính thống nhất trong cấu tạo cơ thể động vật và thực vật, bởi vì trước đó người ta quan niệm động vật và thực vật đối lập nhau và không quan hệ gì với nhau Điều đó làm cho vai trò sáng tạo của chúa đối với giới tự nhiên trở nên lạc lõngvà kệch kỡm đồng thời cung cấp thêm một bằng chứng không thể chối cãi được tự nhiên vốn tồn tại trong trạng thái biện chứng Như vậy, có thể khẳng định rằng, sự phát triển của khoa học từ cuối thế
kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX đã làm cho khoa học đạt được những thành tựu rực rỡ, nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng thúc đẩy sự tiến bộ của sản xuất, của đời sống xã hội và tạo tiền đề cho sự phát triển của khoa học sau này, đồng thời nó có nghĩa về mặt triết học rất to lớn Những thành tựu ấy nó đã phá vỡ quan niệm siêu hình và mở ra tiền đề cần thiết trong xây dựng một quan niệm mới có tính chất cách mạng trong tự nhiên đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng Trong những thành tựu khoa học đó, được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đặc biệt quan tâm đó là ba phát minh quan trọng, có ý nghĩa vạch thời đại đó là:
Thứ nhất, định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng của Maye người Đức, một thành tựu khoa học hiện đại được kết tinh từ toàn bộ những thành tựu của vật lý học, của hoá học, sự phát triển của khoa học kỹ thuật Nó đã phá tan khuôn khổ trật hẹp của chủ nghĩa duy vật siêu hình và mở ra một hướng phát triển mới trong triết học và khoa học Định luật đó đã có đầy đủ, những cơ sở lý luận, và thực nghiệm chứng minh cho tính đúng đắn của nó,
Trang 9đã vạch ra một cách rõ ràng phép biện chứng khách quan của tự nhiên, nó đã chỉ ra vận động gắn liền với vật chất, vận động không do ai sáng tạo ra và cũng không thể bị tiêu diệt được, hình thức vận động trong vũ trụ vô cùng phong phú và đa dạng, giữa các hình thức vận động đều có sự liên hệ, có sự chuyển hoá lẫn nhau, thế giới là một chu trình bất tận của sự vận động chuyển hoá lẫn nhau của các sự vật hiện tượng, các quá trình vì vậy định ấy như đột phá đối với quan điểm siêu hình và là một bằng chứng khoa học hùng hồn không thể bác bỏ phép biện chứng khách quan của giới tự nhiên
Thứ hai: Học thuyết tế bào của S.Lâyđen và Svan, một trong những thành tựu lớn nhất trên lĩnh vực sinh học cũng là hòn đá thử vàng phép biện chứng của tự nhiên Nó đã chứng minh tất cả các cơ thể động vật và thực vật đều được cấu tạo nên từ tế bào, các tế bào phát triển bằng hình thức nhân đôi Chính từ phát hiện này đưa tới việc thừa nhận sự thống nhất của toàn bộ thế giới tự nhiên, từ vô cơ đến hữu cơ, sự thống nhất của toàn bộ quá trình lịch sử của sự sống từ hình thức đơn giản nhất, đến những cơ thể có cấu trúc phức tạp nhất Phát hiện đó cho phép nhìn vào bản chất sự sống theo quan điểm về mối liên hệ, về sự thống nhất các hình thức của nó và về sự phát triển của các hình thức ấy, và về sự nhảy vọt
Thứ ba: Đến năm 1859, với học thuyết tiến hóa của Đácuyn ông đã làm cho thuyết tiến hoá trở thành khoa học (thuyết tiến hoá do Vôn phơ công bố năm 1759) như vậy sau 100năm đã được hoàn thiện với thuyết tiến hoá của Đác uyn Thuyết tiến hoá đã vạch ra những chứng cứ không thể nào chối cãi
để luận chứng cho sự phát triển của các loài sinh vật, nó là cơ sở luận giải tính phong phú đa dạng của giới sinh vật, nó chứng minh rằng các loài sinh vật , động vật kể cả loài người sống trong trái đất đều là sản phẩm tiến hoá của tự nhiên Sự tiến hoá đó diễn ra theo con đường biến dị và di truyền do tác động của môi trường Từ những phát minh đó đã giáng một đòn chí mạng vào các quan điểm siêu hình và quan điểm duy tâm về tự nhiên và xã hội
Trang 10Tóm lại, với sự phát triển lâu dài bền bỉ của khoa học, với những phát minh khoa học, nhất là những phát minh có tính chất vạch thời đại, quan niệm siêu hình về tự nhiên hoàn toàn mất chỗ đứng trong khoa học và quan niệm mới về tự nhiên đã được hoàn thành trên những nét cơ bản Như Ph.Ăng ghen viết: Tất cả cái gì cứng nhắc đều bị tan ra, tất cả cái gì cố định đều biến thành mây khói, tất cả cái gì đặc biệt mà người ta cho là tồn tại vĩnh cửu thì đã trở nên nhất thời, và người ta chứng minh rằng toàn bộ giới tự nhiên đều vận động theo một dòng và một tuần hoàn vĩnh cửu Như thế là chúng ta đã trở về với quan niệm của những người sáng vĩ đại ra triết học Hy Lạp, cho rằng toàn
bộ giới tự nhiên, từ cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất, từ hạt cát cho đến mặt trời,
tự những sinh vật nguyên thuỷ cho đến con người nằm trong tình trạng không ngừng sinh ra và diệt vong, lưu động không ngừng vận động và biến hoá bất tận Như vậy có thể khẳng định rằng , khoa học tự nhiên đến những năm 40 của thế kỷ XIX đã chuẩn bị xong xuôi những tiền đề cần thiết cho sự ra đời của một triết học mới, đó là triết học duy vật biện chứng
Từ những sự phát triển của khoa học tự nhiên, các điều kiện về lý luận,
về điều kinh tế xã hội, cùng với thiên tài và tình bạn chí nghĩa chí tình của C.Mác và Ph.Ăngghen Hai ông đã nhận trách nhiệm lớn lao mà lịch sử giao cho, các ông đã kế thừa những tinh hoa của nhân loại, tuy nhiên không phải
kế thừa một cách máy móc, nguyên xy mà kế thừa có sự chọn lọc đồng thời phê phán những hạn chế của triết học nhân loại đặc biệt triết học cổ điển Đức, chủ nghiã xã hội không tưởng ở Pháp, kinh tế chính trị học của Anh Các ông
đã kháiquát những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên, giải phóng phép biện chứng khỏi chủ nghĩa duy tâm, giải phóng chủ nghĩa duy vật khỏi phép siêu hình xây dựng thành chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật, đồng thời vận dụng chúng vào nghiên cứu đời sống và xã hội hình thành nên chủ nghĩa duy vật lịch sử Vì vậy triết học đó mang tính cách mạng,
và là học thuyết phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng giai cấp của giai cấp công nhân và giải phóng toàn thể nhân loại