Và đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo – Thạc sĩ Lê Xuân Tiến, người đã sát cánh cùng em và có ý kiến đóng góp sáng tạo thiết thực, tạo những điều kiện thuận lợi nhất để
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC -
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo, bạn bè trong khoa Giáo dục Tiểu học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo trong bộ môn Tâm lí- Giáo dục, các thầy cô giáo trường Tiểu học Tích Sơn- Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc, cùng toàn thể các em học sinh lớp 4A3 và 4A4 Và đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo – Thạc sĩ Lê Xuân Tiến, người đã sát cánh cùng em và có ý kiến đóng góp sáng tạo thiết thực, tạo những điều kiện
thuận lợi nhất để em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Thực
trạng kĩ năng giải các bài tập đạo đức của học sinh lớp 4”
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Nông Thị Hoài
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đề tài “Thực trạng kĩ năng giải các bài tập đạo đức của học sinh lớp
4” được hoàn thành qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và tham khảo các tài
liệu có liên quan Tôi xin cam đoan đây là đề tài do bản thân tôi tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo- Thạc sĩ Lê Xuân Tiến- Giảng viên
bộ môn Tâm lí – Giáo dục trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Đề tài không sao chép từ bất kì tài liệu có sẵn nào
Kết quả nghiên cứu không trùng với tác giả khác
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Nông Thị Hoài
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích 2
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Phạm vi nghiên cứu 3
8 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
9 Cấu trúc khóa luận 4
NỘI DUNG 5
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 5
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài khóa luận 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Ở Việt Nam 5
1.2 Những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài 6
1.2.1 Khái niệm bài tập 6
1.2.2 Khái niệm kĩ năng 6
1.2.3 Kĩ năng học tập 8
1.2.4 Hoạt động học và sự hình thành kĩ năng học tập ở học sinh tiểu học 10
1.2.5 Kĩ năng học môn Đạo Đức 12
Chương 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KĨ NĂNG GIẢI CÁC BÀI TẬP ĐẠO ĐỨCCỦA HỌC SINH LỚP 4 13
2.1 Khái quát về môn Đạo Đức lớp 4 13
Trang 52.2 Khái quát về khách thể nghiên cứu 14
2.3 Thực trang kĩ năng bày tỏ ý kiến thái độ đối với hành vi của bản thân và những người xung quanh 15
2.4 Thực trạng kĩ năng lựa chọn cách ứng xử phù hợp với chuẩn mực trong các tình huống 23
2.5 Thực trạng kĩ năng thực hiện các chuẩn mực trong cuộc sống hàng ngày 26
2.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng giải bài tập Đạo Đức của học sinh lớp 4 28 2.6.1 Nội dung và phương pháp dạy học môn Đạo Đức lớp 4 28
2.6.2 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 32
2.6.3.Giáo dục gia đình và các tổ chức xã hội 36
2.7 Các giải pháp hình thành và phát triển các kĩ năng giải bài tập đạo đức cho học sinh lớp 4 36
Chương 3 THỬ NGHIỆM GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO KĨ NĂNG GIẢI CÁC BÀI TẬP MÔN ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH LỚP 4 38
3.1 Mục tiêu thử nghiệm 38
3.2 Nội dung và phương pháp thử nghiệm 38
3.2.1 Nội dung thử nghiệm 38
3.2.2 Phương pháp thực nghiệm 38
3.3 Khách thể thử nghiệm và đối chứng 44
3.4 Kết quả nghiên cứu 44
3.4.1 Kĩ năng lựa chọn cách ứng xử phù hợp với chuẩn mực trong cuộc sống hàng ngày 44
3.4.2 Kĩ năng thực hiện các chuẩn mực trong cuộc sống hàng ngày 46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC 51
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong hệ thống giáo dục Việt Nam, Giáo dục Tiểu học là bậc học đầu tiên của giáo dục bắt buộc, giữ vị trí quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh, cung cấp cho học sinh những kiến thức và kĩ năng
cơ bản trong học tập cũng như trong cuộc sống Đây là bậc học giúp học sinh
có những sở ban đầu trong việc phát triển toàn diện con người về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng sống cơ bản
Ở tiểu học, mỗi môn học đều có những vai trò nhất định trong việc giáo dục học sinh như: Toán, tiếng Việt, Tự nhiên và Xã hội… Đạo đức cũng vậy, đây là môn học có ví trí đặc biệt quan trọng mà không môn nào có thể thay thế được Bởi lẽ, Đạo đức là môn học hình thành cho học sinh ý thức về những chuẩn mực hành vi đạo đức Giáo dục cho trẻ những cảm xúc, tình cảm, thái độ đạo đức đúng đắn và giúp trẻ có những kĩ năng hành vi phù hợp với các chuẩn mực, từ đó rèn luyện thói quen đạo đức tích cực
Ở học sinh tiểu học, kinh nghiệm sống ngày càng phong phú, khả năng nhận thức ngày càng nâng cao theo độ tuổi, các chuẩn mực hành vi trong chương trình cũng được nâng cao tương ứng So với lớp 1,2,3 thì lớp 4,5 những chuẩn mực hành vi đã có tính khái quát cao hơn, những tình huống đạo đức phức tạp hơn Để học tốt môn Đạo đức và có những chuẩn mực hành vi phù hợp, giải quyết được những tình huống, bài tập đạo đức gắn với nội dung bài học cũng như trong thực tế cuộc sống thì việc hình thành các kĩ năng học tập, đặc biệt là kĩ năng giải các bài tập đạo đức là rất cần thiết Điều này sẽ giúp học sinh lĩnh hội được kiến thức một cách đầy đủ và chính xác Bằng những kiến thức học tập của mình, trẻ sẽ biết vận dụng vốn hiểu biết của bản
Trang 7Đối với học sinh lớp 4, để giúp các em hiểu và có những kĩ năng giải các bài tập đạo đức tốt, giúp học sinh phát triển được tư duy trừu tường cũng như khả năng phát hiện và giải quyết các vấn đề, tình huống một cách chính xác và phù hợp với các chuẩn mực hành vi đạo đức thì đề tài “Thực trạng kĩ năng giải các bài tập đạo đức của học sinh lớp 4” của chúng tôi sẽ làm rõ hơn
về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng giải bài tập Đồng thời đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kĩ năng giải các bài tập đạo đức cho học sinh lớp 4
2 Mục đích
Đề tài nghiên cứu nhằm phát hiện thực trạng kĩ năng giải các bài tập đạo đức của học sinh lớp 4.Từ đó, đưa ra những đề xuất và biện pháp hình thành và phát triển kĩ năng giải bài tập đạo đức cho học sinh lớp 4
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Kĩ năng giải các bài tập Đạo đức cho học sinh lớp 4
3.2 Khách thể nghiên cứu
77 học sinh lớp 4A3 và 4A4 trường tiểu học Tích Sơn, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc
4 Giả thuyết khoa học
Các kĩ năng giải bài tập đạo đức của học sinh lớp 4 Trường Tiểu học Tích Sơn, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc không đồng đều Nguyên nhân là môn học Đạo đức vẫn chưa được chú ý nhiều như Toán, tiếng Việt… giáo viên chưa chủ động trong việc hình thành ở học sinh các kĩ năng để giải các bài tập Đạo đức
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài
Trang 85.2 Xây dựng hệ thống bài tập nhằm tìm hiểu thực trạng kĩ năng giải các bài tập Đạo đức của học sinh lớp 4, đưa những đề xuất và biện pháp hình thành và phát triển kĩ năng kĩ năng giải bài tập Đạo đức của học sinh lớp 4
5.3 Thử nghiệm giải pháp nhằm nâng cao kĩ năng học môn Đạo đức cho học sinh lớp 4
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Tìm hiểu các khái niệm: Bài tập, kĩ năng, kĩ năng học tập, kĩ năng học môn Đạo đức
6.2 Phương pháp quan sát
Quan sát quá trình học tập của học sinh ở môn Đạo đức
6.3 Phương pháp thực nghiệm
Biên soạn hệ thống bài tập để đo kĩ năng giải bài tập của học sinh
6.4 Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động
Phân tích các sản phẩm của học sinh: vở bài tập, bài kiểm tra của học sinh
6.5 Phương pháp xử lí số liệu
Dùng toán thông kê để xử lí số liệu, so sánh, đối chiếu để rút ra kết luận
7 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu kĩ năng giải các bài tập Đạo đức của học sinh lớp
4 trường Tiểu học Tích Sơn, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc
8 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài góp phần tìm hiểu thực trạng kĩ năng giải bài tập Đạo đức và các yếu tố ảnh hưởng kĩ năng giải bài tập Đạo đức của học sinh lớp 4 Từ đó, đề
Trang 9xuất các giải pháp hình thành và phát triển các kĩ năng giải các bài tập Đạo đức cho học sinh lớp 4
9 Cấu trúc khóa luận
- Mở đầu
- Nội dung
+ Chương 1: Cơ sở lí luận
+ Chương 2: Kết quả nghiên cứu kĩ năng giải bài tập Đạo đức của học sinh lớp 4
+ Chương 3: Thử nghiệm giải pháp nhằm nâng cao kĩ năng giải các bài tập Đạo đức cho học sinh lớp 4
Trang 10NỘI DUNG Chương 1
- Các công trình nghiên cứu ở góc độ Tâm lí học lao động và giáo dục lao động, xem xét vấn đề kĩ năng trong mối quan hệ con người với máy móc, tiêu biểu là tác giả: V.V.Tebuseva
Kĩ năng giải bài tập (Vũ Trọng Kỳ, Nguyễn Thị Mùi…)
- Công trình nghiên cứu kĩ năng trong hoạt động sư phạm, cụ thể là kĩ năng giải bài tập của học sinh tiểu học gồm các tác giả như: Nguyễn Kế Hào, Bùi Văn Huệ, Nguyễn Thị Mùi, Phạm Minh Hạc…
Điểm qua các công trình nghiên cứu ở trên đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề
lí luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu thực trạng kĩ năng giải các bài tập Đạo đức của học sinh lớp 4
Trang 111.2 Những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài
1.2.1 Khái niệm bài tập
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm bài tập như:
- Theo từ điển Tiếng Việt: “Bài tập là bài ra cho học sinh làm để vận dụng những điều đã học”
Trong thực tiễn dạy học,các bài tập có mục đích và chức năng khác nhau: dẫn dắt học sinh đi vào khái niệm mới, luyện tập, củng cố, kiểm tra việc lĩnh hội và vận dụng kiến thức, kĩ năng ở các mức độ khác nhau nhằm kích thích phát triển khả năng của học sinh
- Theo A.N.Lêonchiep: “Bài tập là tình huống đòi hỏi chủ thể phải có hành động nào đó là mục đích cho những điều kiện nhất định”
- Theo cách hiểu của G.X.Catxchuc; “Bài tập là tình huống đòi hỏi chủ thể phải có hành động nào đó hướng vào việc tìm kiếm cái chưa biết trên cơ
sở sử dụng mối liên quan của nó với cái đã biết trong những điều kiện mà chủ thể chưa biết rõ quy trình hành động”
Qua việc phân tích các quan niệm khác nhau về bài tập, ta có thể khái quát lại khái niệm bài tập như sau: Bài tập trước hết là một tình huống có vấn
đề, có tính xác định cao, được hình thành trong hoàn cảnh cụ thể Cấu trúc của bài tập nói chung bao giờ cũng chứa đựng các yếu tố xác định
1.2.2 Khái niệm kĩ năng
- Theo từ điển Tiếng Việt: “Kĩ năng là khả năng vận dụng kiến thức đã thu nhận được trong một lĩnh vực nhật định vào thực tế [ 4,tr.520]
- Theo Bùi Văn Huệ: “Kĩ năng là vận dụng tri thức vào thực hiện một hành động” [3,tr.242]
- Theo Lê Văn Hồng“Kĩ năng là khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp,…) để giải quyết một nhiệm vụ mới”[1,tr.131]
Trang 12* Đặc trưng của kĩ năng
- Luôn gắn với một hành động, một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để thực hiện hành động, hoạt động đó, phù hợp với mục tiêu và điều kiện thực tế
- Xét về mặt cấu trúc, kĩ năng bao gồm các thành phần:
+ Cá nhân hiểu được mục đích của hành động
+ Biết được cách thức để đi đến kết quả
+ Hiểu được những điều kiên cần thiết để triển khai cách thức đó
- Kĩ năng chính là mặt kĩ thuật của hành động, biểu hiện ở mức độ đúng đắn của hành động Kĩ năng không có đối tượng riêng mà đối tượng của
nó chính là đối tượng của hành động Không có kĩ năng chung chung mà kĩ năng bao giờ cũng là kĩ năng của một hành động cụ thể
- Việc hình thành kĩ năng và việc tiếp thu kiến thức có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, Việc tiếp thu kiến thức sẽ tạo cơ sở, nền tảng cho việc hình thành kĩ năng Vì vậy, kĩ năng cũng có thể hiểu là sự thể hiện của kiến thức trong hành động Ngược lại, khi kĩ năng được hình thành và phát triển sẽ làm sâu sắc hơn sự hiểu biết của kiến thức Đồng thời, để hình thành kĩ năng, bao giờ con người cũng phải triển khai hành động ở mức khái quát nhất, đầy đủ nhất và luyện tập trong các tình huống khác nhau đến mức độ có thể nắm được các quy tắc, quy luật chung, cũng như có thể triển khai nó xa hơn dạng ban đầu
Trong quá trình dạy học, người giáo viên tổ chức truyền đạt cho học sinh lĩnh hội tri thức Sau khi nắm được tri thức, học sinh sẽ vận dụng những tri thức, những hiểu biết của các em vào thực tiễn, khi đó các em sẽ có kĩ năng Khi kĩ năng được củng cố vững chắc, trở nên tự động hóa hoặc nửa tự động hóa thì kĩ năng sẽ biến thành kĩ xảo Nói một cách dễ hiểu hơn, kĩ xảo là
Trang 13Giữa kĩ năng và kĩ xảo chúng ta cần phải phân biệt rõ ràng:
Theo tâm lí học: Kĩ xảo là loại hành động được tự động hóa nhờ luyện tập, Nó có đặc điểm vượt ngoài sự kiểm soát thường xuyên của ý thức Như vậy, ta thấy về bản chất kĩ năng và kĩ xảo đều là thuộc tính kĩ thuật của hành động cá nhân, đều được hình thành trên cơ sở các tri thức của hành động đã được lĩnh hội và triển khai trong thực tiễn Tuy nhiên, so với kĩ năng thì kĩ xảo thuần thuần thục hơn, tự động hóa và giải phóng được sự kiểm soát của ý thức Nhờ kĩ xảo mà con người có thể đạt được kết quả cao hơn trong hành động
1.2.3 Kĩ năng học tập
1.2.3.1 Khái niệm kĩ năng học tập
Trong cuộc sống mỗi hành động, hoạt động khác nhau lại có những kĩ năng tương ứng Trong học tập cũng vậy, kĩ năng học tập là một trong những thành phần không thể thiếu để tạo nên cách học tập hiệu quả cho học sinh
Kĩ năng học tập trong Tâm lí học được hiểu là khả năng vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức thực hiện các hành động học tập đã được học sinh lĩnh hội để giải quyết nhiệm vụ học tập đề ra phù hợp với điều kiện cho phép
* Những đặc trưng của kĩ năng học tâp
- Kĩ năng học tập thể hiện ở mặt năng lực học tập của học sinh, liên quan chặt chẽ với hiệu quả học tập và đây là yếu tố quan trọng quyết định đến kết quả học tập của học sinh
- Kĩ năng học tập thể hiện ở măt kĩ thuật của hành động học tập, là sự
tổ hợp các phương thức thực hiện hành động học tập đã được học sinh nắm vững và vận dụng có hiệu quả vào việc giải quyết các nhiệm vụ học tập đề ra
1.2.3.2 Phân loại kĩ năng học tập
Kĩ năng học tập là một hệ thống phức tạp và phát triển bao gồm trong
nó những kĩ năng chuyên biệt:
Trang 14+ Kĩ năng chung: Đây là những kĩ năng cơ bản cần cho nhiều môn học Chẳng hạn kĩ năng viết cần cho nhiều môn học
+ Kĩ năng chuyên biệt: Là những kĩ năng riêng biệt của từng môn học
Ví dụ: Kĩ năng tính toán cần nhiều cho mônToán,
Kĩ năng : nghe, nói, đọc, viết là kĩ năng riêng cho môn tiếng Việt
Kĩ năng bày tỏ ý kiến, thái độ; kĩ năng lựa chọn cách ứng xử phù hợp với các chuẩn mực xã hội là những kĩ năng riêng của môn Đạo đức
Trên cơ sở lí thuyết của hoạt động học của D.B.Encônhin và V.V.Đavưđôp Tác giả Nguyễn Kế Hào đã đưa ra một hệ thống kĩ năng học tập cơ bản của học sinh đó là:
+ Hệ thống các kĩ năng thực hiện hành động phân tích
+ Hệ thống các kĩ năng thực hiện hành động mô hình hóa
+ Hệ thống kĩ năng thực hiện hành động cụ thể hóa, kĩ năng vận dụng trong học tập và đời sống như: kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, kĩ năng tính nhẩm (cộng, trừ, nhân chia)
Bước 2: Học sinh quan sát mẫu và làm thử
Bước 3: Học sinh luyện tập để tiến hành hành động học theo đúng yêu cầu, điều kiện của hành động để đạt được mục đích đề ra
Khi đã nhận thức rõ về đối tượng, để hình thành được kĩ năng học tập cần phải quan sát thật kĩ và làm thử Sau đó cần được luyện tập theo đúng yêu cầu, tiêu chuẩn và luyện tâp thường xuyên để hình thành được kĩ năng học tập
Trang 15Các bước trên có mối quan hệ mật thiết với nhau và không thể tách rời nhau “Học và hành” phải đi đôi với nhau, nếu tách bước 1 và bước 2 ra sẽ dẫn đến hiện tượng kĩ năng bị tách rời ra khỏi hành động học
1.2.4 Hoạt động học và sự hình thành kĩ năng học tập ở học sinh tiểu học
1.2.4.1 Hoạt động học là học động chủ đạo của học sinh tiểu học
Trẻ em tròn 6 tuổi vào học lớp 1, bằng hoạt động học trẻ sẽ có những biến đổi tâm lí căn bản (trí tuệ, năng lực, động cơ, hứng thú ) Các nhà tâm lí học đều chỉ ra rằng, mặc dù hoạt động học tập theo học sinh suốt quãng đời đi học, nhưng chỉ với học sinh tiểu học, vai trò chủ đạo của nó được thể hiện rõ nhất
Hoạt động học của học sinh tiểu học có đầy đủ các dấu hiệu của một hoạt động chủ đạo: là hoạt động có đối tượng lần đầu tiên xuất hiện trong tiến trình phát triển của trẻ; khi đã được hình thành hoạt động học tồn tại mãi, không tự thủ tiêu; hoạt động học quy định những biến đổi cơ bản trong đời sống tâm lí của học sinh tiểu học
Nói hoạt đông học là hoạt động chủ đạo của học sinh tiểu học có nghĩa
là thừa nhận hoạt động học tập là hoạt động mà sự hình thành và phát triển của nó quy định những biến đổi cơ bản nhất trong các quá trình tâm lí, thuộc tính nhân cách và trong sự xuất hiện các cấu tạo tâm lí mới đặc trưng cho lứa tuổi tiểu học
Hoạt động học giúp cho học sinh tiểu học được tiếp xúc với những điều mới mẻ về cả nội dung lẫn yêu cầu của nó, tạo cơ sở cho sự xuất hiện những phẩm chất tâm lí mới, đặc trưng cho lứa tuổi tiểu học và qua đó tạo ra những biến đổi quan trọng trong đời sống tâm lí, nhân cách của các em Các phẩm chất tâm lí mới đó tính là tính chủ định, kĩ năng làm việc trí óc, sự phản tỉnh
+ Tính chủ định: là khả năng xác định được mục đích của hành động và tập trung sức lực để đạt nó
+ Kĩ năng làm việc trí óc: là khả năng lập kế hoạch và thực hiện hành động cho mình ở bên trong
Trang 16+ Sự phản tỉnh: là khả năng phân tích một cách hợp lí và khách quan những phán đoán và hành vi của mình có phù hợp với ý định và điều kiện hoạt động hay không
Như vây, hoạt động học đã quy định sự xuất hiện các phẩm chất tâm lí mới cơ bản của lứa tuổi tiểu học và chính chúng lại làm biến đổi toàn bộ đời sống tâm lí của trẻ Cho phép trẻ tự tin hơn, chủ động hơn và linh hoạt hơn trong học tập cũng như trong đời sống
1.2.4.2 Sự hình thành kĩ năng học tập
Ở học sinh tiểu học việc hình thành kĩ năng học tập là rất cần thiết và quan trọng Khi có nhũng kĩ năng học tập cơ bản sẽ giúp học sinh biết cách học tập tốt và hiểu quả hơn
Hình thành kĩ năng học tập cho học sinh tiểu học là giúp học sinh nắm vững một cách hệ thống phức tạp các thao tác nhằm làm biến đổi và sáng tỏ những thông tin chứa đựng trong các bài tập Sau đó đối chiếu chúng với những hành động cụ thể
Muốn vậy, khi hình thành kĩ năng cho học sinh cần chú ý:
+ Giúp các em biết tìm tòi và nhận biết các yếu tố đã cho, yếu tố chưa biết, yếu tố phải tìm và nhận ra được mối quan hệ giữ chúng
+ Giúp các em hình thành một mô hình khái quát, để giải quyết các bài tập
+Giúp các em xác lập được mói quan hệ giữa mô hình khái quát vừa hình thành được và những kiến thức tương ứng
Sau khi hình thành được kĩ năng học tập cho học sinh tiểu học thì các
kĩ năng này cần phải được củng cố vì nó dễ hình thành nhưng chưa bền vững Cần phải luyện tập một cách có hệ thống, liên tục và thường xuyên vận dụng chúng trong những điều kiện, những hoàn cảnh, những môn học khác nhau để những kĩ năng học tập trở nên bền vững có tính linh hoạt cao
Trang 171.2.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kĩ năng học tập
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kĩ năng học tập của học sinh tiểu học, tiêu biểu là:
+ Nội dung của bài tập
+ Nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra của bài tập có rõ ràng hay không
+ Tâm thế và thói quen của học sinh
+ Khả năng khái quát đối tượng của học sinh tiểu học
+ Quá trình luyện tập để hình thành kĩ năng học tập của học sinh
1.2.5 Kĩ năng học môn Đạo đức
1.2.5.1 Khái niệm kĩ năng học môn Đạo đức
Kĩ năng học môn Đạo đức là khả năng vận dụng những kiến thức, tri thức mà học sinh lĩnh hội được, cũng như vận dụng những hiểu biết, kinh nghiệm sống của học sinh để giải quyết những bài tập, những tình huống đạo đức sao cho phù hợp với chuẩn mực hành vi đạo đức
Đạo đức của con người nói chung và của học sinh tiểu học nói riêng không phải chỉ đánh giá qua lời nói mà đánh giá chủ yếu qua hành động và việc làm cụ thể Vì vậy, kĩ năng học môn Đạo đức là yếu tố cần thiết và quan trọng nhất để học sinh học tốt được môn Đạo đức
1.2.5.2 Phân loại kĩ năng học môn Đạo đức
Kĩ năng học môn Đạo đức bao gồm những kĩ năng sau:
- Kĩ năng biết tự nhận xét hành vi của bản thân
- Kĩ năng biết nhận xét, đánh giá hành vi của người khác
- Kĩ năng biết xử lí những tình huống tương tự trong cuộc sống
- Kĩ năng biết thực hiện các thao tác, hành động đúng đắn theo mẫu qua trò chơi, hoạt cảnh…
- Kĩ năng thực hiện những hành vi trong cuộc sống hàng ngày của mình phù hợp các chuẩn mực hành vi…
Trang 18Chương 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KĨ NĂNG GIẢI CÁC BÀI TẬP ĐẠO ĐỨC
CỦA HỌC SINH LỚP 4
2.1 Khái quát về môn Đạo đức lớp 4
*Chương trình dạy học môn Đạo đức lớp 4
Tổng thời lượng dành cho môn Đạo đức lớp 4 là 35 tiết/ năm, trong đó:
- 14 bài x 2 tiết = 28 tiết
- Dành cho địa phương : 3 tiết
- Ôn tập học kì I: 1 tiết
- Kiểm tra học kì II: 1 tiết
- Ôn tập cuối năm : 1 tiết
- Kiểm tra cuối năm : 1 tiết
Tổng : 35 tiết
Chương trình môn Đạo đức lớp 4 bao gồm 14 bài, đề cập đến các chuẩn mực hành vi, các mối quan hệ:
- Quan hệ với bản thân:
+ Biết bày tỏ ý kiến về những vấn đề có liên quan đến bản thân và tập thể + Trung thực trong học tập
+ Sử dụng tiết kiệm tiền của, thời gian
- Quan hệ với người khác
+ Hiếu thảo với ông bà cha mẹ
+ Kính trọng, biết ơn thầy cô giáo
+ Kính trọng, biết ơn người lao động
+Lịch sự với mọi người
- Quan hệ với công việc:
Trang 19+ Yêu lao động, sẵn sàng tham gia lao động phù hợp với lứa tuổi
+ Tích cực tham gia lao động làm sạch đẹp trường lớp
+ Bảo vệ các công trình công cộng
+ Tôn trong luật giao thông
- Quan hệ với cộng đồng, đất nước, nhân loại:
+ Yêu quê hương, đất nước, kính yêu Bác Hồ, biết ơn Đảng
+ Yêu các dân tộc trên thế giới
+ Tham gia các hoạt động nhân đạo
- Quan hệ với môi trường tự nhiên:
+ Bảo vệ môi trường
2.2 Khái quát về khách thể nghiên cứu
- Kết quả học tập môn Đạo đức
Trong khuôn khổ khách thể nghiên cứu là 77 học sinh lớp 4A3 và 4A4trường Tiểu học Tích Sơn, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc tôi thu được kết quả như sau:
-Phân tích kết quả học tập môn Đạo Đức
Bảng trên đây là căn cứ vào kết quả bài kiểm tra định kì, các bài tập học sinh thực hiện trong vở và ở nhà của 77 học sinh lớp 4A3 và 4A4 trường Tiểu học Tích Sơn, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc
Dựa vào bảng kết quả, ta có thể thấy rằng chất lượng học môn Đạo đức của học sinh lớp 4A3 và 4A4 trường Tiểu học Tích Sơn, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc nói chung là tương đối tốt, thể hiện ở chỗ:
Trang 20Số lượng học sinh học có kết quả môn Đạo đức ở mức Đạt là 62 em (chiếm 80,52%) Nhìn chung học sinh lớp 4 mà chúng tôi tìm hiểu có kết quả học tập tương đối tốt Tuy nhiên, vẫn còn 19,48% có kết quả không tốt trong môn học do chưa có kĩ năng giải bài tập và kĩ năng giải quyết những tình huống liên quan đến từng bài học cụ thể
Để học tốt được môn Đạo đức lớp 4, mỗi học sinh cần phải có những kĩ năng giải bài tập Đạo đức Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi quan tâm chủ yếu là kĩ năng giải bài tập của học sinh, đó là bao gồm các kĩ năng:
- Kĩ năng bày tỏ ý kiến thái độ đối với hành vi của bản thân và những người xung quanh
- Kĩ năng lựa chọn cách ứng xử phù hợp với chuẩn mực trong các tình huống
- Kĩ năng thực hiện các chuẩn mực trong cuộc sống hàng ngày
2.3 Thực trạng kĩ năng bày tỏ ý kiến thái độ đối với hành vi của bản thân và những người xung quanh
Trong chương trình môn Đạo đức lớp 4, kĩ năng bày tỏ ý kiến thái độ đối với hành vi của bản thân và những người xung quanh có rất nhiều dạng bài tập Để khảo sát và đánh giá được thực trạng của học sinh, chúng tôi đưa
ra các bài tập và tiến hành theo hình thức kiểm tra viết, chúng tôi đưa ra 3 dạng bài tập, đó là:
- Hiểu biết của học sinh về một số chuẩn mực hành vi đạo đức và pháp luật ở lớp 4
- Kĩ năng bày tỏ ý kiến, thái độ đối với hành vi của bản thân
- Kĩ năng bày tỏ ý kiến, thái độ đối với hành vi của người khác
a/Hiểu biết của học sinh về một số chuẩn mực hành vi đạo đức và pháp luật ở lớp 4
Trang 21Hành vi đạo đức là một hành động tự giác, được thúc đẩy bởi một động
cơ có ý nghĩa về mặt đạo đức, hành vi đạo đức được biểu hiện trong cách ứng
xử, trong lối sống, trong giao tiếp, trong lời ăn tiếng nói hàng ngày
Trong giáo dục đạo đức cho học sinh cần giáo dục hành vi đạo đức cho các em, hành vi đạo đức ấy phải phù hợp với những chuẩn mực đạo đức mà
xã hội yêu cầu Để đánh giá được một hành vi đạo đức cần xét theo những tiêu chuẩn sau:
+ Tính tự giác của hành vi: Một hành vi được coi là hành vi đạo đức
khi hành vi đó được chủ thể hành động, ý thức đầy đủ về mục đích, ý nghĩa của hành vi Hay nói cách khác, người thực hiện hành vi phải tự giác thực hiện, có hiểu biết, có thái độ và ý thức đạo đức
+ Tính có ích của hành vi: Một hành vi được coi là hành vi đạo đức hay
không tùy thuộc vàochỗ nó có thúc đẩy xã hội đi theo hướng có lợi hay không
+ Tính không vụ lợi của hành vi: Hành vi đạo đức phải là hành vi có
mục đích vì tập thể, vì lợi ích chung, vì cộng đồng xã hội,[1,tr157- 159]
Để kiểm tra sự hiểu biết của học sinh về chuẩn mực hành vi đạo đức và pháp luật thì mỗi học sinh cần phải hiểu:
Ví dụ: Bài 13 “Tôn trọng luật giao thông”
Đưa ra bài tập như sau:
Bài tập: Em sẽ làm gì khi:
a Em đang đi xe đạp thì vô tình va vào một người đi đường
Trang 22b Bạn em thò tay xuống sông nghịch nước khi đi đò
c Các bạn xúm lại xem một vụ tai nạn giao thông
d Các bạn đi xe đạp dàn hàng ngang trên đường đến trường
Để giải quyết được bài tập trên, học sinh cần có sự hiểu biết về luật an toàn giao thông Nhận biết được thế nào là hành vi đúng và thế nào là hành vi không tôn trọng luật giao thông
Ở bài tập trên, bằng sự hiểu biết của bản thân các em sẽ phân tích từng tình huống có trong bài, sau đó đưa ra cách xử lí phù hợp nhất với chuẩn mực hành vi có trong bài
Để phát hiện thực trạng hiểu biết của học sinh về một số chuẩn mực đạo đức, chúngtôi đưa ra 3 bài tập loại trung bình và 3 bài tập loại khá giỏi và thu được kết quả trên 77 học sinh ở các mức độ đánh giá như sau:
+ Mức 1 (Chưa đạt): Học sinh giải được dưới 3 bài tập
+ Mức 2 (Đạt chuẩn): Học sinh giải quyết được từ 3- 5 bài tập, đưa ra được chuẩn mực hành vi đạo đức và có thái độ phù hợp nhưng chưa nhất quán
+ Mức 3 (Trên chuẩn): Học sinh giải quyết được 5- 6 bài tập, có thái độ
và hành vi phù hợp với chuẩn mực
Dưới đây là bảng kết quả:
Bảng số 1 Kết quả hiểu biết của học sinh về một số chuẩn mực hành vi
Trang 23- Số lượng học sinh đạt ở mức 3, giải quyết tất cả các bài tập và có thái
độ và hành vi phù hợp với chuẩn mực vẫn chưa cao, chỉ chiếm 20,78%
- Số lượng học sinh đạt ở mức 2, giải quyết được 3- 5 bài tập chiếm tỉ
lệ khá cao, trên trung bình là 68,83% Tuy nhiên, đối với học sinh đạt ở mức này tuy học sinh có đưa ra các chuẩn mực hành vi đúng đắn và có thái độ phù hợp với hành vi nhưng lại không nhất quán
- Vẫn còn tồn tại một số học sinh chưa giải quyết được các bài tập, đó
là số học sinh đạt ở mức 1, chiếm 10,39% Đây là những học sinh chưa biết cách giải bài tập do không chú ý trong giờ học, chưa tập trung vào việc giải bài tập vì còn mải chơi và sự hiểu biết về các chuẩn mực hành vi còn chưa cao
Để nâng cao sự hiểu biết của học sinh chuẩn mực hành vi và có kĩ năng giải bài tập về sự hiểu biết về chuẩn mực hành vi, giáo viên cần phải:
+ Giúp các em hiểu được thế nào là hành vi đạo đức, và tầm quan trọng của việc thực hiện đúng chuẩn mực hành vi đạo đức
+ Có những hình thức dạy học lôi cuốn các em vào tiết học
+ Trong giờ dạy, cần đưa ra nhiều ví dụ, tình huống gần gũi và phù hợp với các em
+ Khuyến khích, tuyên dương những em chú ý lắng nghe, có tiến bộ trong học tập
b/ Kĩ năng bày tỏ ý kiến, thái độ đối với hành vi của bản thân
Đây là dạng kĩ năng mà học sinh tự đánh giá về bản thân đã thực hiện được hành vi đạo đức liên quan đến chuẩn mực đã được học Với kĩ năng này
có một số dạng bài tập như: Học sinh tự xác định mức độ thực hiện hành vi của mình – thường xuyên hay ít khi, hoặc khẳng định mình đã thực hiện hành
vi đó hay chưa, sau đó bày tỏ ý kiến và thái độ của mình với chính những hành vi mà các em đã thực hiện
Trang 24Để khảo sát được kĩ năng trên, chúng tôi đã biên soạn 6 bài tập, 3 loại
bài tập trung bình và 3 loại bài tập khá giỏi trong bài “Tiết kiệm tiền của”
Yêu cầu giải quyết các bài tập, học sinh sẽ bày tỏ những ý kiến và thái độ đối với việc tiết kiệm tiền của của chính các em
Ví dụ:
Bài tập: Em hãy kể lại một việc làm cụ thể về việc thể hiện tiết kiệm tiền của, theo mẫu sau:
+ Đó là công việc gì?
+ Việc đó được thực hiện ở đâu?
+ Vì sao em lại làm như vây?
+ Kết quả của việc em đã làm là gì?
Sau đó chúng tôi tiến hành chấm điểm và đánh giá học sinh theo các mức độ:
+ Mức 1 (Chưa đạt): Bài làm dưới 5 điểm
+ Mức 2 (Đạt chuẩn): bài làm đạt 5-8 điểm Bày tỏ được thái độ và hành vi đạo đức đúng đắn phù hợp với chuẩn mực nhưng không nhất quán
+ Mức 3 (Trên chuẩn): Bài làm đạt 9-10 điểm Có thái độ và hành vi đúng đắn với chuẩn mực hành vi
Dưới đây là bảng kết quả:
Bảng số 2 Kết quả kĩ năng bày tỏ ý kiến, thái độ đối với hành vi
Trang 254A4
Dựa vào bảng kết quả cho thấy số học sinh đạt ở mức 3 (trên chuẩn) chưa ca, chỉ chiếm 28,57 % Số lượng học sinh đạt ở mức 2 (đạt chuẩn) tương đối tốt, chiếm 53,25% Tuy nhiên, quan sát trong bản ta thấy, số lượng học sinh ở mức 1 (chưa đạt) chiểm 18,18%, đây là một con số khá cao, ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập của các em
Trong quá trình nghiên cứu, tôi nhận thấy: những bài tập ở dạng kĩ năng này chủ yếu được giải quyết bằng tính chủ quan của bản thân học sinh
Vì vậy, kết quả sẽ không thực sự khách quan
Khi soạn các bài tập để đánh giá kĩ năng này cần phải chú ý:
+ Nội dung, hành vi việc làm mà các em bày tỏ ý kiến, thái độ phải phù hợp với cuộc sống thực của các em Tránh hiện tượng yêu cầu học sinh tự đánh giá những hành vi mà cuộc sống các em không có điều kiện thực hiện
+ Cần có biện pháp kiểm tra để đảm bảo tính xác thực của hành vi Tránh hiện tượng thiếu sự kiểm tra, lại thừa nhận chúng một cách dễ dàng, cần đề phòng hiện tượng đối phó của học sinh (thực chất là bịa đặt)
+ Khi học sinh đưa ra ý kiến, thái độ đối với hành vi mà chính bản thân các em thực hiện thì giáo viên nên yêu cầu học sinh làm rõ những chi tiết liên quan đến việc thực hiện hành vi của mình rồi mới đánh giá, vì không có gì đảm bảo đây là hành vi có thực
+ Cần yêu cầu học sinh bày tỏ ý kiến, thái độ kết quả tích cực hay kết quả tiêu cực của hành vi mà mình thực hiện để rút ra kinh nghiệm và bài học cho bản thân và người khác
+ Tránh biến việc bày tỏ ý kiến thái độ thành việc tự kiểm điểm nặng
nề, gây căng thẳng cho học sinh, có khi vô tình “tạo điều kiện” cho các em
Trang 26nói ra những việc mà mình chưa từng thực hiện để đối phó, làm vừa lòng thầy
cô hay để được khen
Để tránh điều này, có một số cách khắc phục lồng việc bày tỏ ý kiến thái độ và một quá trình như xử lí tình huống đạo đức, chơi trò chơi, đóng vai…
c/ Kết quả kĩ năng bày tỏ ý kiến, thái độ đối với hành vi của người khác
Bày tỏ ý kiến, thái độ đối với hành vi của người khác là một kĩ năng quan trọng cần phải hình thành cho học sinh trong mục tiêu dạy học môn Đạo đức lớp 4 Việc bày tỏ ý kiến của mình với hành vi của người khác chứng tỏ được sự hiểu biết của các em về chuẩn mực hành vi đó Học sinh sẽ được quyền nói ra những ý kiến, những suy nghĩ riêng của bản thân về việc làm của người khác, từ đó giúp các em sẽ có những bài học và kinh nghiệm mới trong cuộc sống
Để đánh giá khách quan được kĩ năng này, cần phải đưa ra các bài tập
để học sinh giải quyết Một số hành vi liên quan đến bài tập sẽ được đưa ra và yêu cầu học sinh phải bày tỏ ý, kiến thái độ của mình về hành vi: Hành vi này đúng hay sai? Vì sao?
Hành vi có thể là:
- Tích cực hay tiêu cực
- Lấy từ thực tiễn cuộc sống hay do giáo viên tự xây dựng
- Có thể là một chiều (tức là đều tốt hay ngược lại) hoặc gồm 2 hành động trái ngược (thường là của 2 nhân vật, được thực hiện cùng một tình
huống)
Để đưa ra được nhận xét về kĩ năng này, chúng tôi đã tiến hành xây
dựng một số bài tập yêu cầu học sinh giải quyết Trong bài “Trung thực trong
Trang 27Bài tập: Khi gặp bài tập khó, Tiến chưa giải được Thấy Tiến đang loay hoay chưa biết làm thế nào thì Toàn đã mang vở của mình cho Tiến chép nhưng Tiến đã từ chối và tiếp tục suy nghĩ để tìm ra lời giải
Theo em, Toàn đưa vở cho bạn chép là đúng hay sai?Vì sao?
Việc Tiến xử xự như vậy là đúng hay sai? Vì sao?
Đối với loại bài tập này học sinh phải đọc thật kĩ yêu cầu bài tâp, có những hiểu biết nhất định về trung thực trong học tập là như thế nào? và những hành vi như thế nào là không trung thực trong học tập Sau đó, phân tích rõ yêu cầu của đề bài và tình huống trong bài để đưa ra ý kiến và bày tỏ thái độ của mình đối việc làm 2 bạn nhỏ trong bài tập
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát về kĩ năng này trên các bài tập với các mức độ đánh giá như sau:
+ Mức 1 (Chưa đạt): Bài làm dưới 5 điểm bày tỏ được ý kiến của mình, nhưng chưa có thái độ đúng đắn
+ Mức 2 (Đạt chuẩn): bài làm đạt 5-8 điểm Bày tỏ ý kiến, thái độ đúng đắn đối với hành vi của ngườu khác nhưng không thường xuyên và liên tục
+ Mức 3 (Trên chuẩn): Bài làm đạt 9-10 điểm Bày tỏ được ý kiến của mình và có thái độ đúng đắn với hành vi của người khác
Bảng số 3 Kết quả kĩ năng bày tỏ ý kiến, thái độ đối với hành vi của
Trang 28- Số lượng học sinh đạt điểm 9- 10, đạt ở mức 3 (trên chuẩn) chiếm 29,87% Đây là những học sinh có kĩ năng giải bài tập tốt, có thái độ và hành
Để giúp học sinh đạt được kết quả cao hơn trong việc giải bài tập, khắc phục tình trạng số học sinh chưa đạt ở mức độ 1 còn cao, thì cần chú ý:
- Hành vi được nêu ra phải bám sát bài đạo đức, tránh hiện tượng bài đạo đức một đằng hành vi đạo đức nêu ra lại không liên quan
- Hành vi đưa ra cần thường gặp, gần gũi với các em, tránh những hành vi xa lạ, ít gặp với học sinh, không phù hợp với cuộc sống thường nhật của các em
- Hành vi đưa ra cần phải rõ ràng đúng hoặc sai
2.4 Thực trạng kĩ năng lựa chọn cách ứng xử phù hợp với chuẩn mực trong các tình huống
Trong cuộc sống hàng ngàycác em sẽ gặp phải rất nhiều tình huống đạo đức buộc các em phải lựa chọn cách ứng xử sao cho phù hợp với các chuẩn mực.Bài tập về tình huống đạo đức là bài tậpliên quan đến chuẩn mực hành vi được nêu ra để học sinh đưa ra cách xử lí, giải quyết và lí giải cách ứng xử của mình
Trong tình huống đạo đức, nhân vật nào đó gặp phải một trường hợp, hoàn cảnh khác thường cần phải ứng xử, giải quyết nhưng nhân vật còn băn khoăn do dự, chưa biết làm thế nào Ở những bài tập như vậy, học sinh sẽ
Trang 29phải lựa chọn cách ứng xử phù hợp với chuẩn mực hoặc ra các quyết định thay các nhân vật
Những bài tập về tình huống đạo đức được nêu ra có thể đóng hoặc mở
Ở tình huống đóng, giáo viên cho sẵn học sinh cách ứng xử và yêu cầu học sinh lựa chọn cách ứng xử đúng hoặc đúng nhất Còn ở tình huống mở, giáo viên không cho sẵn cách ứng xử nên học sinh phải tự nghĩ ra, tự đề xuất cách ứng xử của mình
Để khảo sát được kĩ năng lựa chọn cách ứng xử phù hợp với chuẩn mực trong các tình huống,chúng tôi tiến hành như sau:
Đưa ra một số bài tập:
Ví dụ: Trong bài “Lịch sự với mọi người”
Bài tập:Trong giờ ra chơi, Thúy nhìn thấy Minh và Hùng bỏ một con sâu vào cặp của bạn Ngọc Nếu em là Thúy em sẽ làm gì?
Tôi đã đưa ra 6 bài tập, 3 bài tập ở mức trung bình và 3 bài tập ở mức khá giỏi yêu cầu học sinh lựa chọn và đưa ra cách giải quyết trong mỗi bài tập Chúng tôi tiến hành chấm điểm theo thang điểm 10, xử lí ra số liệu % và đánh giá theo các mức độ:
+ Mức 1 (Chưa đạt): Bài làm dưới 5 điểm Chưa thực hiện đúng hành
vi đạo đức và chưa có thái độ đúng đắn
+ Mức 2 (Đạt chuẩn): Bài làm đạt 5-8 điểm Có thái độ và hành vi đạo đức đúng đắn phù hợp với chuẩn mực trong các tình huống nhưng không nhất quán
+ Mức 3 (Trên chuẩn): Bài làm đạt 9-10 điểm Có thái độ và hành vi đúng đắn với chuẩn mực hành vi
Dưới đây là bảng kết quả:
Bảng4: Thực trạng kĩ năng lựa chọn cách ứng xử phù hợp với chuẩn mực
Lớp Số
HS
Kết quả kiểm tra
Trang 30Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ(%) Số lượng Tỉ lệ(%)
Qua bảng số liệu trên, ta thấy số học sinh đạt ở mức 3 là giải quyết được hầu hết tất cả các bài tập và có thái độ, hành vi đúng đắng với chuẩn mực chiếm tỉ lệ chưa cao 37,67% Trong khi đó số học sinh đạt ở mức 2 là 46,75%, đây là con số ở mức trung bình, ở mức này tuy học sinh đã có thái độ
và hành vi đúng đắn nhưng lại không thường xuyên, liên tục và không nhất quán Số học sinh đạt ở mức 1 lại tương đối cao chiếm 15,58%
Đây là kết quả chưa thực sự đáng mong đợi, vì tỉ lệ học sinh đạt ở mức
1 còn khá cao Việc lựa chọn cách ứng xử phù hợp chuẩn mực không quá khó với học sinh lớp 4 Trên thực tế thì hầu như các em đều biết cách xử lí các tình huống Tuy nhiên, vẫn còn một số em vẫn chưa có thái độ phù hợp với hành vi mình xử lí
Để lựa chọn được cách ứng xử phù hợp với chuẩn mực trong các tình huống trước hết các em cần thực hiện theo các bước sau:
+ Đọc kĩ yêu cầu đề bài và yêu cầu bài tập
+ Phân tích tình huống đạo đức trong bài tập
+ Lựa chọn cách ứng xử phù hợp nhất sao cho đúng với chuẩn mực + Bày tỏ thái độ đúng đắn đói với hành vi đạo đức đó
Đề bài trong bài “Lịch sự với mọi người”
Trong giờ ra chơi, Thúy nhìn thấy Minh và Hùng bỏmột con sâu vào cặp của bạn Ngọc Nếu em là Thúy em sẽ làm gì?
Với đề bài này, giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ đề bài và yêu cầu bài tập Hầu hết các em đều dễ dàng hiểu được yêu cầu của bài tập Học sinh phân tích tình huống và xác định được hướng giải quyết bài tập Để đưa ra cách xử lí tình huống phù hợp, yêu cầu học sinh đặt mình và hoàn cảnh trong
Trang 31tình huống và đưa ra cách xử lí tình huống của mình Mỗi học sinh có thể đưa
ra cách giải quyết khác nhau như:
+ Em sẽ coi như không có chuyện gì sảy ra
+ Em sẽ nhắc nhở bạn không nên làm như vây
+ Em sẽ báo cáo với cô giáo
+ Em sẽ nhẹ nhàng nhắc nhở các bạn không nên làm vậy, nếu các bạn không nghe em sẽ báo cáo với cô giáo
Giáo viên dựa vào câu trả lời của học sinh và đánh giá ở mức độ phù hợp nhất
Trong dạy học môn Đạo đức lớp 4, học sinh muốn có kĩ năng lựa chọn cách ứng xử phù hợp thì giáo viên cần phải:
- Dạy học sinh biết xác định yêu cầu của bài tập, biết phân tích tình huống trong bài tập
- Đưa ra những tình huống đạo đức phải thường gặp đối với học sinh, tránh những tình huống xa lạ với cuộc sống hàng ngày của các em
- Tình huống được nêu ra vừa sức giải quyết với các em, tránh những tình huống quá đơn giản mà học sinh không cần động não cũng có thể trả lời được ngay Hay những tình huống quá phức tạp mà học sinh không đủ kinh nghiệm, khả năng để gải quyết
2.5 Thực trạng kĩ năng thực hiện các chuẩn mực trong cuộc sống hàng ngày
Việc thực hiện được các chuẩn mực trong cuộc sống hàng ngày là bước quan trọng trong quá trình dạy học môn Đạo đức Các em sẽ vận dụng những kiến thức tiếp thu được cũng những vốn hiểu biết của mình để thực hiện những công việc, những việc làm có ích, phù hợp với chuẩn mực Đạo đức Giáo viên muốn đánh giá được kĩ năng này cần phải chú ý quan sát từng hành động và việc làm cụ thể của học sinh
Trang 32Học sinh muốn thực hiện tốt các chuẩn mực trong cuộc sống hàng ngày thì các em phải hiểu thế nào chuẩn mực trong cuộc sống và thực hiện tốt các chuẩn mực sẽ mang lại những lợi ích gì ? Đây là kĩ năng hết sức quan trọng việc học tập môn Đạo đức ở lớp 4
Để đánh giá được tình hình cụ thể về kĩ năng trên, chúng tôi tiến hành soạn 6 bài tập, 3 loại trung bình và 3 khá giỏi
Ví dụ trong bài: “Bảo vệ môi trường”
Bài tập:Trường em tiến hành tổng vệ sinh trường học và lớp học Để thực hiện tốt nhiệm vụ của trường lớp đề ra, em cần thực hiện những công việc gì và cần chuẩn bị những những công cụ gì?
+ Những công việc:
+ Những dụng cụ:
Chúng tôi, tiến hành đánh giá theo các mức:
+ Mức 1 (Chưa đạt): Bài làm dưới 5 điểm Chưa thực hiện đúng hành
Trang 33- Số lượng học sinh đạt ở mức 2 và mức 3 là tương đương nhau, mức 2 chiếm 45,45%, mức 3 chiếm 41,56% Đây là con số khả quan so với các kĩ năng khác
- Số lượng học sinh ở mức 1 vẫn còn tồn tại, cụ thể là chiếm 12,99%
2.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng giải bài tập Đạo đức của học sinh lớp 4
2.6.1 Nội dung và phương pháp dạy học môn Đạo đức lớp 4
a Nội dung dạy học môn Đạo đức lớp 4
Nội dung chương trình dạy học môn Đạo đức lớp 4 bao gồm 14 bài, đề cập đến chuẩn mực hành vi trong các mối quan hệ:
- Quan hệ với bản thân
- Quan hệ với người khác
- Quan hệ với công việc
- Quan hệ với cộng đồng, đất nước, nhân loại
- Quan hệ với môi trường tự nhiên
Nội dung môn Đạo đức lớp 4 kết hợp giữa giáo dục quyền trẻ em với giáo dục bổn phận của học sinh như:
- Quyền được giáo dục, học tập của trẻ em
- Quyền được có ý kiến và bày tỏ ý kiến về các vấn đề có liên quan đến trẻ em
- Quyền được có gia đình, quyền được gia đình quan tâm, chăm sóc
- Quyền được vui chơi, giải trí
- Quyền được hỗ trợ giúp đỡ khi gặp khó khăn
- Quyền được bảo đảm an toàn
- Quyền được sống trong môi trường trong lành
Trang 34Nội dung chương trình không chỉ giáo dục bổn phận, trách nhiệm của học sinh đối với gia đình, nhà trường, xã hội, môi trường tự nhiên mà còn giáo dục các em có trách nhiệm đối với chính bản thân mình
Thông qua môn các bài Đạo đức lớp 4, học sinh còn được giáo dục một
số kĩ năng sống cơ bản như: kĩ năng giao tiếp (biết lắng nghe, bày tỏ ý kiến, quan tâm chăm sóc đối với ông bà, cha mẹ; kính trọng thầy cô giáo và những người lao động…), kĩ năng ra quyết định, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năn đặt mục tiêu
b.Phương pháp dạy học môn Đạo Đức lớp 4
Các phương pháp dạy học môn Đạo đức lớp 4 rất phong phú đa dạng, bao gồm cả các phương pháp dạy học hiên đại (đóng vai,thảo luận nhóm, tổ chức trò chơi, giải quyết vấn đề, động não, dự án…) và các phương pháp dạy học truyền thống (kể chuyện, đàm thoại, nêu gương, trực quan, khen thưởng…), dưới đây là một số phương pháp cơ bản được giáo viên sử dụng:
Phương pháp này thường được sử dụng ở tiết 1, nhằm giới thiệu cho học sinh một biểu tượng cụ thể về chuẩn mực, hành vi đạo đức theo bài học Trong thực tế kể chuyện được kết hợp với phương pháp trình bày trực quan
Tiết học bài “Yêu lao động”
Trang 35Chúng tôi dự giờ và quan sát tiết học, giáo viên kể cho học sinh nghe câu chuyện “Một ngày của Pê-chi-a” Học sinh nắm được ý chính của câu chuyện, học sinh kể tóm tắt câu chuyện từ câu chuyện vừa nghe kể Học sinh tìm hiểu nội dung câu chuyện, giáo viên giáo dục kĩ năng sống cho học sinh bằng cách xác định hành vi đạo đức rút ra từ nội dung bài học
Giáo viên đã thực hiện phương pháp kể chuyện giáo dục kĩ năng sống cho học sinh và đảm bảo tính khoa học và tính nghệ thuật
- Bảo đảm chủ đề giáo dục, tính chính xác của nội dung câu chuyện
- Phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí, trình độ nhận thức và kinh nghiệm sống của học sinh
- Gây được cảm xúc mạnh mẽ, sâu sắc
- Thu hút học sinh nhập vai vào tình huống
- Định hướng học sinh có suy nghĩ đúng, hành động đúng
+ Phương pháp trực quan
Phương pháp trực quan đốivới học sinh tiểu học là rất cần thiết vì các
em rất dễ quên bài Việc sử dụng phương pháp trực quan sẽ giúp các em tiếp thu và cụ thể hóa kiến thức trừu tượng và trí tưởng tượng
Tiết học bài “Tiết kiệm thời gian”
Giáo viên tổ chức cho học sinh quan sát tranh cậu bé Mi-chi-a rất buồn
vì nhớ lại cuộc thi trượt tuyết bị thua chỉ có 1 phút Từ những hình ảnh đó các
em sẽ kể lại được nội dung câu chuyện
Phương pháp trình bày trực quan là nền tảng để dạy các môn học khác giúp học sinh hình thành được những biểu tượng về chuẩn mực đạo đức
+ Phương pháp đàm thoại:
Đàm thoại là phương pháp tổ chức trò chuyện, chủ yếu là giữa giáo viên và học sinh, về các vấn đề về đạo đức, dựa trên một hệ thống câu hỏi đã được chuẩn bị
Trang 36Trong thực tiễn dạy học môn Đạo đức, phương pháp này chủ yếu được
sử dụng ở tiết 1 sau phương pháp kể chuyện, nhằm giúp học sinh phân tích truyện kể, nắm được đầy đủ nội dung truyện, phát hiện chính xác các tình huống trong truyện và chỉ ra hành vi ứng xử của các nhân vật trong tình huống đó và kết quả tương ứng Từ đó, các em rút ra kết luận về chuẩn mực hành vi cần thực hiện
Tiết học bài “Hiếu thảo với ông bà cha mẹ”
Giáo viên đặt câu hỏi sau khi các em đã hiểu “Ông bà, cha mẹ là người
có công lao tình cảm như thế nào với con cháu”
Giáo viên đã đặt các câu hỏi:
- Những việc làm nào là hiếu thảo với ông bà, cha mẹ?
- Tác dụng của việc hiếu thảo với ông bà cha mẹ?
+ Phươngpháp thảo luận nhóm
Thảo luận nhóm là phương pháp tổ chức cho học sinh trao đổi vơi nhau theo nhóm nhỏ để đưa ra ý kiến chung của nhóm và giải quyết vấn đề liên quan đến bài học đạo đức Các em trong nhóm tự do trao đổi ý kiến, bày tỏ thái độ, chia sẻ kinh nghiệm về một số vấn đề đạo đức nào đó dưới sự hướng dẫn của giáo viện
+ Phương pháp đóng vai:
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh nhập vai vào những nhân vật trong những tình huống giả định có vấn đề về đạo đức, để các em bộc lộ thái độ, hành vi ứng xử
+ Phương pháp trò chơi:
Trò chơi là phương pháp tổ chức cho học sinh, thực hiện những thao tác hành động thích hợp với bài học thông qua trò chơi nào đó Qua việc tham gia trò chơi, học sinh thực hiện được những thao tác, hành động đạo đức một
Trang 37cách nhẹ nhàng, tự nhiên, thoải mái Từ đó, các em có thể tự tin vận dụng chúng vào thực tiễn cuộc sống của mình
Trong dạy học môn Đạo đức lớp 4, có thể vận dụng nhiều loại trò chơi khác nhau như: đố vui, ghép đôi, phóng viên, ghép hoa,…
+ Phương pháp dự án:
Phương pháp dự án được hiểu như là một phương pháp trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức tạp, có sự kết hợp giữa lí thuyết với thực tiễn, thực hành Nhiệm vụ này được người học thực hiện được với tính tự lập cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện
Như vậy, nội dung môn Đạo đức lớp 4 bao gồm các khái niệm, các chuẩn mực đạo đức và các bài tập Học sinh không chỉ biết, hiểu được các chuẩn mực đạo đức mà còn hình thành các kĩ năng giải bài tập đạo đức Giáo viên đã sử dụng và phối hợp các phương pháp dạy học phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh trong giờ học Dạy các bài học đạo đức kết hợp chặt chẽ giữa lí thuyết và thực hành đó là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến kết quả thực trạng kĩ năng giải các bài tập đạo đức của học sinh lớp 4 mà chúng tôi khảo sát
Tuy nhiên, hướng dẫn học sinh giải bài tập đạo đức theo quy trình và đánh giá học sinh theo quá trình chưa thường xuyên Giáo viên chưa chú ý và giúp đỡ thường xuyên những học sinh chưa đạt chuẩn Trong tiết học bài mới
và tiết thực hành, nhiều học sinh chưa chủ động, còn phụ thuộc vào giáo viên, tính tự giác của các em còn hạn chế
2.6.2 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là những hoạt động được tổ chức vào thời gian ngoài giờ lên lớp để học sinh có một môi trường học tập khác,
Trang 38giúp học sinh có hứng thú hơn trong học tập Có rất nhiều hình thức tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp, chẳng hạn: tham quan, dã ngoại, hoạt động ngoại khóa,
- Hoạt động ngoại khóa:
Hoạt động ngoại khóa trong dạy học môn Đạo đức là những hoạt động được tổ chức vào thời gian ngooài giờ lên lớp cho học sinh nhằm giúp các em thực hiện những hành vi, việc làm trong thực tiễn cuộc sống của mình theo chuẩn mực hành vi đạo đức quy định Điều quan trọng nhất của hình thức tổ chức dạy học này là, khi tham gia hoạt động ngoại khóa, học sinh không dừng lại ở hình thành kĩ năng mà rèn luyện được hành vi đạo đức đích thực Đó chính là kết quả khả quan nhất trong quá trình dạy học môn Đạo đức
Những hoạt động ngoại khóa được tổ chức cho các em vào thời gian giữa các tiết Đạo đúc không chỉ tại trường học mà còn tại những nơi khác thích hợp
Ở trường Tiểu học Tích Sơn, giáo viên tổ chức hoạt động ngoại khóa như sau: Trước khi tham gia hoạt động ngoại khóa, học sinh được biết kế hoạch một cách chi tiết- cần làm những công việc gì, ở đâu, khi nào, kết quả cần đạt là gì, sử dụng những dụng cụ
Khi tham gia hoạt động ngoại khóa giáo viên đã giao cho học sinh các nhiệm vụ:
+ Thực hiện những công việc, hành vi đạo đức cụ thể theo chuẩn mực quy định
+ Ghi chép lại quá trình, công việc mình làm,kết quả, những kiến nghị,
đề nghị vào phiếu báo cáo…
Sau khi thực hiện xong những công việc theo yêu cầu, học sinh báo cáo, thảo luận về quá trình tham gia hoạt động ngoại khóa trước lớp nhằm rút ra