1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng kỹ năng giải các bài tập đạo đức của học sinh lớp 2

75 753 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp với đề tài: “Thực trạng kĩ năng giải các bài tập Đạo đức của học sinh lớp 2”, tôi đã nhận được sự hướng dẫn rất tận tình của thầy giáo - T

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

-

HÀ THỊ SEN

THỰC TRẠNG KĨ NĂNG GIẢI CÁC BÀI TẬP ĐẠO ĐỨC CỦA

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp với đề tài: “Thực trạng kĩ năng

giải các bài tập Đạo đức của học sinh lớp 2”, tôi đã nhận được sự hướng

dẫn rất tận tình của thầy giáo - Thạc sĩ Lê Xuân Tiến cùng với sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, sự giúp đỡ của cô giáo Nguyễn Thị Lan chủ nhiệm lớp 2A, cô giáo Vũ Thị Ngọc Hoà chủ nhiệm lớp 2C và các em học sinh lớp 2A, lớp 2C Trường Tiểu học Tiền Phong B

Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy, cô giáo và bạn bè trong khoa giáo dục Tiểu học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2; các thầy,

cô giáo cùng toàn thể các em học sinh lớp 2A, lớp 2C Trường Tiểu học Tiền Phong B - Mê Linh - Hà Nội Và đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất đến thầy giáo -Thạc sĩ Lê Xuân Tiến, thầy đã hướng dẫn và tạo những điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 4 năm 2016

Sinh viên thực hiện

Hà Thị Sen

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài: “Thực trạng kĩ năng giải các bài tập Đạo đức của học sinh

lớp 2” được hoàn thành qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và tham khảo các

tài liệu có liên quan đến đề tài dưới sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Th.S

Lê Xuân Tiến - Giảng viên tổ Tâm lý - Giáo dục Trường ĐHSP Hà Nội 2

Tôi xin cam đoan khoá luận với đề tài này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Những kết quả thu được là hoàn toàn chân thực và chưa có trong một đề tài nghiên cứu nào

Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm!

Hà Nội, tháng 4 năm 2016

Sinh viên thực hiện

Hà Thị Sen

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Phạm vi nghiên cứu 3

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

9 Cấu trúc của khoá luận 4

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 5

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài khoá luận 5

1.1.1 Trên thế giới 5

1.1.2 Ở Việt Nam 5

1.2 Những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài 6

1.2.1 Khái niệm bài tập 6

1.2.2 Khái niệm kĩ năng 7

1.2.3 Kĩ năng học tập 9

1.2.4 Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của học sinh tiểu họcОшибка! Закладка не определена.12 1.2.5 Kĩ năng học môn Đạo đức 14

Chương 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KĨ NĂNG GIẢI CÁC BÀI TẬP ĐẠO ĐỨCCỦA HỌC SINH LỚP 2 16

2.1 Khái quát chung về môn Đạo đức lớp 2 16

2.2 Khái quát về khách thể nghiên cứu 16

2.3 Thực trạng kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân và những người xung quanh 18

Trang 5

2.3.1 Kiểm tra hiểu biết của học sinh về một số chuẩn mực hành vi

đạo đức và pháp luật 18

2.3.2 Thực trạng kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân 21

2.3.3 Thực trạng kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của người khác 23

2.4 Thực trạng kĩ năng lựa chọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực 25

2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng giải bài tập Đạo đức của học sinh lớp 2 29

2.5.1 Nội dung và phương pháp dạy học môn Đạo đức lớp 2 29

2.5.2 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 39

2.6.3.Giáo dục gia đình và các tổ chức xã hội 40

2.6 Các giải pháp hình thành và phát triển kĩ năng giải bài tập Đạo đức cho học sinh lớp 2 41

Chương 3 THỬ NGHIỆM GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO KĨ NĂNG GIẢI CÁC BÀI TẬP ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH LỚP 2 43

3.1 Mục tiêu thử nghiệm 43

3.2 Nội dung và phương pháp thử nghiệm 43

3.2.1 Nội dung thử nghiệm 44

3.2.2 Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh 46

3.2.3 Tăng cường các hoạt động tham quan, tìm hiểu thiên nhiên, đọc sách báo 44

3.3 Khách thể thử nghiệm và đối chứng 46

3.4 Kết quả nghiên cứu 47

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

PHỤ LỤC 55

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Giáo dục Tiểu học giữ một vị trí rất quan trọng trong hệ thống giáo dục của mỗi quốc gia, là chìa khóa vàng cho mọi quốc gia, dân tộc bước vào tương lai Quyết định số 2957/QĐ - ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ rõ vị trí, tính chất của Giáo dục Tiểu học: “Tiểu học là cấp học nền tảng, đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành, phát triển toàn diện nhân cách của con người, đặt nền tảng vững chắc cho Giáo dục phổ thông và toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân” Do đó, ở tiểu học các em phải được tạo điều kiện phát triển tối đa, toàn diện

Ở tiểu học, môn nào cũng có vị trí và vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách của con người Việt Nam Bác Hồ có câu nói rất nổi tiếng đó là: “Có tài mà không có đức là người vô dụng Có đức mà không

có tài thì làm việc gì cũng khó” Chính vì vậy ngoài các môn Toán, Tiếng việt, Tự nhiên và xã hội, … thì Đạo đức cũng là môn học rất quan trọng trong chương trình học, có nhiệm vụ tạo dựng cơ sở ban đầu, giúp học sinh xây dựng ý thức đạo đức, bồi dưỡng tình cảm, hình thành những chuẩn mực hành

vi phù hợp với các quan hệ: bản thân, gia đình, nhà trường, cộng đồng, xã hội

và môi trường tự nhiên Chính vì vậy việc giải các bài tập trong môn Đạo đức

sẽ giúp các em thực hiện được tốt hoạt động học tập, rèn luyện cho học sinh tính chủ động, sáng tạo trả lời hệ thống câu hỏi theo nội dung của từng bài học Quan sát tranh và kể chuyện theo tranh, nhận xét về việc làm của các nhân vật trong tranh,… Từ đó, các em có ý thức hơn trong học tập, chú ý lắng nghe thầy, cô giáo giảng bài và tự giác tham gia các hoạt động tại lớp do giáo viên hướng dẫn Để thực hiện được các nhiệm vụ đó thì yêu cầu các em học sinh tiểu học nói chung và các em học sinh lớp 2 nói riêng cần phải có các kĩ năng giải các bài tập Đạo đức Đối với học sinh lớp 2, làm thế nào để giải các

Trang 7

bài tập và tình huống đạo đức một cách hợp lý, phù hợp, sáng tạo và đúng với

chuẩn mực xã hội Đề tài “Thực trạng kĩ năng giải các bài tập Đạo đức của

học sinh lớp 2” của tôi sẽ làm rõ vấn đề này thông qua việc tìm hiểu thực

trạng, nguyên nhân Đồng thời trên cơ sở đó đề xuất biện pháp nhằm phát triển kĩ năng giải các bài tập Đạo đức cho học sinh tiểu học

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu nhằm phát hiện thực trạng kĩ năng giải các bài tập Đạo đức của học sinh lớp 2 và chỉ rõ nguyên nhân của thực trạng Trên cơ sở

đó đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần hình thành và nâng cao kĩ năng

giải các bài tập Đạo đức cho học sinh lớp 2

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Kĩ năng giải các bài tập Đạo đức của học sinh lớp 2

3.2 Khách thể nghiên cứu

65 học sinh lớp 2A và lớp 2C Trường Tiểu học Tiền Phong B – Mê Linh -

Hà Nội

4 Giả thuyết khoa học

Học sinh lớp 2 đã có kĩ năng giải các bài tập Đạo đức Tuy nhiên nhận thức và kĩ năng để giải các bài tập Đạo đức ở học sinh còn chưa đồng đều, học sinh giải các bài tập còn dựa vào cảm tính của các em Nguyên nhân chủ yếu là do vốn sống, kinh nghiệm và kĩ năng giải quyết, xử lí các tình huống, bài tập Đạo đức chưa nhiều

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài để làm sáng

tỏ các khái niệm: bài tập, kĩ năng, kĩ năng học tập

Trang 8

- Xây dựng hệ thống bài tập nhằm tìm hiểu thực trạng kĩ năng giải các bài tập Đạo đức của học sinh lớp 2, đồng thời chỉ ra nguyên nhân của thực trạng

- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao kĩ năng giải các bài tập Đạo đức cho học sinh lớp 2

6 Phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp nghiên cứu lí luận

- Tìm hiểu các khái niệm: bài tập, kĩ năng, kĩ năng học tập

- Nghiên cứu các kĩ năng giải các bài tập Đạo đức của học sinh tiểu học

d Phương pháp điều tra

Biên soạn hệ thống bài tập Đạo đức để đo thực trạng kĩ năng giải các bài tập Đạo đức của học sinh

e Phương pháp xử lí số liệu

Dùng toán thống kê để xử lí số liệu, so sánh đối chiếu rồi rút ra kết luận

7 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài này chỉ nghiên cứu kĩ năng giải bài tập Đạo đức của học sinh lớp

2 trong quá trình học môn Đạo đức (theo chương trình tiểu học đã được hoàn thiện và giảm tải) ở Trường Tiểu học Tiền Phong B - Mê Linh - Hà Nội

Trang 9

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài này bước đầu tìm hiểu thực trạng kĩ năng giải các bài tập Đạo đức của học sinh lớp 2 Qua đó góp phần làm phong phú và cụ thể kĩ năng học môn Đạo đức của học sinh ở giai đoạn đầu tiểu học Các biện pháp mà chúng tôi đề ra giúp cho giáo viên trong việc phát triển các kĩ năng giải các bài tập Đạo đức cho học sinh

9 Cấu trúc của khoá luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phần nội dung của khoá luận có cấu trúc như sau:

Chương 1 Cơ sở lí luận của đề tài

Chương 2 Kết quả nghiên cứu kĩ năng giải các bài tập Đạo đức của

học sinh lớp 2

Chương 3 Thử nghiệm giải pháp nhằm nâng cao kĩ năng giải các bài

tập Đạo đức cho học sinh lớp 2

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài khoá luận

Kĩ năng và kĩ năng học tập là vấn đề quan trọng và cần thiết ở mọi cấp học Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này như:

1.1.1 Trên thế giới

- Công trình nghiên cứu về kĩ năng vận dụng sáng tạo tri thức của A.V.Petrovski

- Công trình về kĩ năng độc lập học tập của N.A Menchinxkasa

- Các công trình nghiên cứu kĩ năng ở mức độ đại cương, khái quát về bản chất kĩ năng, các giai đoạn, các quy luật, các điều kiện hình thành kĩ năng, mối quan hệ qua lại giữa kĩ năng, kĩ xảo và năng lực tiêu biểu là các tác giả: A.V.Petrovski, V.A.Cruchetxlki,…

- Các công trình nghiên cứu kĩ năng ở góc độ tâm lí học lao động và giáo dục lao động, xem xét vấn đề kĩ năng trong mối quan hệ con người và máy móc Có tác giả V.V.Tebuseva …

- Công trình nghiên cứu kĩ năng trong hoạt động sư phạm, kĩ năng hoạt động học tập của học sinh Có tác giả N.Đ.Levitov …

- Các thông tin trên được lấy từ các khoá luận có liên quan

1.1.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam nghiên cứu về kĩ năng học tập của học sinh tiểu học đã được nhiều tác giả quan tâm như: Nguyễn Kế Hào đã chỉ ra hệ thống kĩ năng học tập cơ bản của học sinh tiểu học như: hệ thống kĩ năng thực hiện hành động phân tích, hệ thống kĩ năng thực hiện hành động lập mô hình, hệ thống

kĩ năng cụ thể hoá,… Đặng Thành Hưng đã đưa ra cơ sở tâm lí học và lí luận dạy học của kĩ năng học tập ở học sinh cấp 1 Vũ Trọng Rỹ đưa ra cơ sở lí luận về rèn luyện kĩ năng học tập cho học sinh Nguyễn Thị Mùi nghiên cứu kĩ

Trang 11

năng sử dụng mô hình trong giải bài tập toán có lời văn của học sinh lớp 3 Với hai nhóm kĩ năng: kĩ năng xây dựng mô hình và kĩ năng làm việc trên mô hình

Công trình của Nguyễn Minh Hải về kĩ năng giải bài toán có lời văn của học sinh tiểu học và những điều kiện tâm lí hình thành chúng Công trình nghiên cứu của Nguyễn Phụ Thông Thái về hình thành kĩ năng học tập cơ bản cho học sinh lớp 1 thông qua một số môn học

Nghiên cứu kĩ năng trong giảng dạy Tiếng Việt như Lê Phương Nga,

Đỗ Xuân Thảo, Lê Hữu Tỉnh và các tác giả khác đã chỉ ra sự mã hoá và giải

mã trong môn Tiếng Việt có liên quan đến sự mã hoá và giải mã nói chung

Như vậy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về kĩ năng và kĩ năng học tập của học sinh Nhưng thực trạng kĩ năng giải các bài tập Đạo đức của học sinh lớp 2 ở Trường Tiểu học Tiền Phong B thì chưa ai nghiên cứu Vì thế tôi chọn đề tài “Thực trạng kĩ năng giải các bài tập Đạo đức của học sinh lớp 2” để nghiên cứu

1.2 Những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài

1.2.1 Khái niệm bài tập

Theo từ điển Tiếng Việt thì: “Bài tập là bài ra cho học sinh để tập vận dụng những điều đã học”[5; tr.27]

Trong thực tiễn dạy học, các bài tập có mục đích và chức năng khác nhau: dẫn dắt học sinh đi vào khái niệm mới, luyện tập, củng cố, kiểm tra việc lĩnh hội và vận dụng các kiến thức và kĩ năng ở các mức độ khác nhau, cao hơn nữa là kích thích và phát triển tìm tòi, sáng kiến nhằm phát triển tư duy độc lập sáng tạo ở các mức độ khác nhau của học sinh Các yêu cầu này thường được sắp xếp có định hướng trong sự kết hợp chặt chẽ với lí thuyết trong sách giáo khoa

Theo A.N Lêônchiev: “Bài tập là tình huống đòi hỏi chủ thể phải có hành động nào đó, là mục đích đã cho trong những điều kiện nhất định”

Trang 12

Khái niệm “bài tập” theo cách hiểu của G.X.Catxchuc: “Bài tập là tình huống đòi hỏi chủ thể có hành động nào đó hướng vào việc tìm kiếm cái chưa biết trong những điều kiện mà chủ thể chưa biết rõ quy trình hành động”

Như vậy giữa bài tập và tình huống có vấn đề có những điểm tương đồng, song tình huống có vấn đề có những điểm khác nhau là ở chỗ: trong lời văn của bài tập đã thể hiện sự nhận định tương đối giữa cái đã cho và cái chưa biết, cái phải tìm

Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau do xuất phát từ cách tiếp cận riêng, nhưng giữa chúng có nhiều điểm cơ bản thống nhất Có thể khái quát như sau: bài tập trước hết là tình huống có vấn đề trong hoàn cảnh cụ thể, cấu trúc của bài tập nói chung bao giờ cũng chứa đựng các yếu tố xác định là một tình huống tâm lí đòi hỏi chủ thể phải có hành động nhằm thoả mãn nó Trong tình huống đó chứa đựng các dữ kiện, ẩn số nhất định nào đó, sự xuất hiện các

dữ kiện, ẩn số và các quan hệ giữa chúng đối với chủ thể là những yếu tố cơ bản của bài tập Khi thoả mãn được các yếu tố này tức là đã giải được bài tập, chủ thể có được nhận thức mới, sự phát triển mới

1.2.2 Khái niệm kĩ năng

Theo từ điển Tiếng Việt: “Kĩ năng là khả năng vận dụng kiến thức đã thu nhận được trong một lĩnh vực nhất định vào thực tế”[5; tr.520]

Theo Lê Văn Hồng: “Kĩ năng - khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp,…) để giải quyết một nhiệm vụ mới” [1; tr.131]

Theo Bùi Văn Huệ: “Kĩ năng là vận dụng tri thức, khái niệm, định nghĩa, định luật,… vào thực tiễn Kĩ năng còn là hành động ý chí đòi hỏi phải

“động não”, suy xét, tính toán, phải có nỗ lực ý chí thì mới hoàn thành được” [2; tr.156]

Cùng với các quan niệm trên Trong những năm gần đây xuất hiện nhiều công trình khoa học nghiên cứu về kĩ năng ở các góc độ khác nhau (kĩ

Trang 13

năng học tập, kĩ năng tổ chức,…) xét riêng về phương diện lí luận, các công trình này đều có những điểm thống nhất khi bàn về kĩ năng ở các điểm sau:

Thứ nhất: khái niệm kĩ năng là khả năng thực hiện các hành động phù hợp với các mục đích và điều kiện mà trong đó con người được định hướng Mọi kĩ năng xét về mặt cấu trúc đều bao gồm các thành phần sau:

- Cá nhân phải hiểu mục đích của hành động

- Biết cách thức đi đến kết quả

- Hiểu được những điều kiện cần thiết để triển khai cách thức đó Thứ hai: bất cứ kĩ năng nào cũng phải dựa trên cơ sở lí thuyết đó là kiến thức Kĩ năng bao giờ cũng gắn với một hành động cụ thể nào đó và được xem như một đặc điểm của hành động Kĩ năng là mặt kĩ thuật của hành động biểu hiện mức độ đúng đắn thành thục của hành động Kĩ năng không có đối tượng riêng, đối tượng của nó là đối tượng của hành động Không có kĩ năng chung chung Theo Ganperin là: “Ngăn cách tuyệt đối giữa hành động với đồ vật như một hiện tượng của thế giới bên ngoài với các kĩ năng, kĩ xảo như

là các phương tiện tâm lí… về mặt tâm lí học điều đó biến kĩ năng trống rỗng và chặn đường nghiên cứu một cách khách quan các hiện tượng tâm lí người

Thứ ba: xét về mặt kết quả hình thành, để đánh giá một cá nhân có kĩ năng hành động nào đó cần dựa vào những tiêu chuẩn sau: cá nhân phải hiểu

rõ mục đích của hành động, các yếu tố (cách thức, điều kiện, phương tiện), để triển khai nó, biết triển khai hành động đúng đắn và thành thục trong thực tiễn Mỗi hành động còn phạm lỗi hay tốn nhiều thời gian, sức lực thì chưa phải là hành động có kĩ năng

Thứ tư: để hình thành được hành động có kĩ năng, bao giờ cá nhân cũng phải triển khai hành động một cách khái quát nhất, đầy đủ nhất, đồng thời luyện tập dạng này trong các tình huống khác nhau đến mức cá nhân có thể nắm được các quy tắc, quy luật chung của hành động và triển khai nó ở dạng khác xa dạng ban đầu

Trang 14

Ngoài ra chúng ta cần phân biệt rõ giữa kĩ năng và kĩ xảo

Theo tâm lí học, kĩ xảo là loại hành động được tự động hoá nhờ luyện tập Nó có đặc điểm không có sự kiểm soát thường xuyên của ý thức Động tác mang tính chất khái quát, không có động tác thừa, kết quả cao, ít tốn năng lượng, thần kinh và cơ bắp

Như vậy kĩ năng và kĩ xảo về bản chất đều là thuộc tính kĩ thuật của hành động cá nhân Chúng đều được hình thành trên cơ sở các tri thức về hành động đã được lĩnh hội và triển khai trong thực tiễn Tuy nhiên so với kĩ năng thì kĩ xảo thuần thục hơn, tự động hoá và được giải phóng khỏi sự kiểm soát của ý thức Nhờ có kĩ xảo mà con người có thể đạt kết quả cao trong hành động

Quan điểm đúng đắn là phải coi kĩ năng, kĩ xảo được hình thành nhờ luyện tập hành động nào đó Cơ chế hình thành kĩ năng, kĩ xảo thực chất là cơ chế hình thành kĩ năng của luyện tập đó ở trong các điều kiện khác nhau Ở

đó kĩ năng được hình thành trong ba bước:

Bước 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện hành động (giúp các em biết cách tìm tòi để nhận biết ra yếu tố đã cho, yếu tố phải tìm và mối quan hệ giữa chúng)

Bước 2: Quan sát mẫu và làm thử theo mẫu (giúp học sinh hình thành một mô hình khái quát để giải quyết các bài tập, các đại lượng cùng loại)

Bước 3: Luyện tập để tiến hành theo các hành động, theo đúng yêu cầu, điều kiện của hành động nhằm đạt được kết quả đề ra (xác lập được mối quan

hệ giữa bài tập mô hình khái quát và các kiến thức tương ứng)

1.2.3 Kĩ năng học tập

1.2.3.1 Khái niệm kĩ năng học tập

Mỗi hoạt động khác nhau, đòi hỏi phải có kĩ năng tương ứng Kĩ năng học tập là một thành phần không thể thiếu để tạo nên cách học cho học sinh

Trang 15

Trong tâm lí học, kĩ năng học tập được hiểu là khả năng vận dụng có kết quả những tri thức về phương diện thực hiện các hành động học tập đã được học sinh lĩnh hội để giải quyết nhiệm vụ học tập đề ra phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện cho phép

Kĩ năng học tập có những đặc trưng sau:

- Kĩ năng học tập thể hiện mặt năng lực học tập của học sinh, liên quan chặt chẽ với hiệu quả học tập và là yếu tố có tính chất quyết định đến kết quả học tập

- Kĩ năng học tập thể hiện mặt kĩ thuật của hành động học tập, là sự tổ hợp các phương thức thực hiện hành động học tập đã được học sinh nắm vững

và vận dụng có hiệu quả vào việc giải quyết các nhiệm vụ học tập đề ra

- Kĩ năng học tập là một hệ thống phức tạp và phát triển, bao gồm trong nó những kĩ năng chuyên biệt Có những kĩ năng chung, cơ bản cần thiết cho nhiều môn học, có những kĩ năng của từng môn học

Trên cơ sở lí thuyết của hoạt động học của D.B.Encônhin và V.V.Đavưđốp, thông qua thực nghiệm dạy học, tác giả Nguyễn Kế Hào đã đưa ra một hệ thống kĩ năng học tập cơ bản của học sinh tiểu học Đó là hệ thống kĩ năng thực hiện hành động phân tích; hệ thống kĩ năng thực hiện hành động lập mô hình; hệ thống kĩ năng cụ thể hoá, kĩ năng vận dụng trong học tập và trong đời sống hàng ngày như: kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, kĩ năng tính nhẩm (cộng, trừ, nhân, chia)…

1.2.3.2.Phân loại kĩ năng học tập

Kĩ năng học tập là một hệ thống phức tạp và phát triển bao gồm trong

nó là kĩ năng chung và kĩ năng chuyên biệt

+ Kĩ năng chung: Đây là những kĩ năng cơ bản rất cần thiết cho nhiều môn học Chẳng hạn kĩ năng viết, kĩ năng nói, kĩ năng nghe là những kĩ năng

mà hầu hết các môn học đều cần đến

Trang 16

+ Kĩ năng chuyên biệt: Là những kĩ năng riêng biệt của từng môn học

Ví dụ: Kĩ năng tính toán cần nhiều cho môn Toán

Kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết là kĩ năng cần cho môn Tiếng Việt

Kĩ năng bày tỏ ý kiến, thái độ, kĩ năng lựa chọn cách ứng xử phù hợp với các chuẩn mực xã hội là những kĩ năng riêng của môn Đạo đức

Trên cơ sở lí thuyết của hoạt động học của D.B.Encônhin và V.V.Đavưđôp,… thông qua nghiên cứu dạy học, tác giả Nguyễn Kế Hào đã đưa ra một hệ thống kĩ năng học tập cơ bản của học sinh đó là:

+ Hệ thống các kĩ năng thực hiện hành động phân tích

+ Hệ thống các kĩ năng thực hiện hành động lập mô hình

+ Hệ thống kĩ năng cụ thể hóa, kĩ năng vận dụng trong học tập và đời sống như: kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, kĩ năng tính nhẩm (cộng, trừ, nhân, chia)

Bước 2: Học sinh quan sát mẫu và làm thử theo mẫu

Bước 3: Học sinh luyện tập để tiến hành hành động học theo đúng yêu cầu, điều kiện của hành động nhằm đạt mục đích đề ra

Việc xác định các bước hình thành kĩ năng học tập nêu trên có tính quy ước, còn trong thực tế không thể tách rời bước 1 và bước 2 Việc tách bước 1

và bước 2 là sự tách rời “học” và “ hành”, tách kĩ năng ra khỏi hành động

Khi nghiên cứu sự hình thành kĩ năng, nhiều nhà tâm lí học cho rằng thực chất của việc hình thành kĩ năng là làm cho học sinh nắm vững một hệ thống phức tạp các thao tác, nhằm biến đổi và làm sáng tỏ những thông tin

Trang 17

chứa đựng trong bài tập, trong nhiệm vụ và đối chiếu với những hành động cụ thể, muốn vậy khi hình thành kĩ năng học tập cho học sinh cần phải:

- Giúp học sinh biết cách tìm tòi, phân tích để xác định yếu tố đã cho, yếu tố phải tìm và mối quan hệ giữa chúng

- Giúp học sinh hình thành một mô hình khái quát để giải quyết các bài tập, các đối tượng cùng loại

- Xác định được mối liên hệ giữa các bài tập mô hình khái quát và kiến thức tương ứng

1.2.4 Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của học sinh tiểu học

Khái niệm hoạt động học: Hoạt động học là hoạt động có ý thức của con người được điều khiển một cách tự giác nhằm lĩnh hội những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo

Bản chất của hoạt động học: Hoạt động học tập là hoạt động chuyên hướng vào sự tái tạo lại tri thức ở người học Sự tái tạo ở đây hiểu theo nghĩa

là phát hiện lại Sự thuận lợi cho người học ở đây là con đường đi để phát hiện lại tri thức đã được các nhà khoa học phát hiện trước đó Và để tái tạo tri thức, người học không có cách gì khác là phải huy động nội lực của bản thân (động cơ, ý chí, kiến thức cũ,…), càng phát huy cao bao nhiêu thì sự tái tạo của học sinh lại càng diễn ra tốt bấy nhiêu Do đó hoạt động học làm thay đổi chính người học Ai học thì người đó phát triển, không ai học thay thế được, người học cần phải có trách nhiệm với chính bản thân mình, vì mình trong quá trình học Mặc dù hoạt động học cũng có thể làm thay đổi khách thể Nhưng như thế không phải là mục đích tự thân của hoạt động học mà chính là phương tiện để đạt được mục đích làm thay đổi chính chủ thể của hoạt động

Hoạt động học là hoạt động tiếp thu những tri thức lý luận, khoa học Nghĩa là học sinh không chỉ lĩnh hội những khái niệm kinh nghiệm mà học

Trang 18

sinh phải lĩnh hội những tri thức khoa học, những tri thức có tính chọn lựa cao, được khái quát hoá, hệ thống hoá

Hoạt động học tập không chỉ hướng vào tiếp thu những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà còn hướng vào tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt động học Hoạt động học muốn đạt kết quả cao, người học phải biết cách học, phương pháp học, nghĩa là phải có những tri thức về chính bản thân hoạt động học

Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi học sinh Do đó nó giữ vai trò chủ đạo trong việc hình thành và phát triển tâm lý của người học trong lứa tuổi này

- Đối tượng của hoạt động học: Tri thức mà học sinh phải học được lựa chọn từ những khoa học khác nhau, theo những nguyên tắc nhất định, làm thành những môn học tương ứng, và được cụ thể ở những đơn vị cấu thành như: khái niệm, kĩ năng, thái độ… Đối tượng của hoạt động học có liên quan chặt chẽ với đối tượng của khoa học Tuy vậy, có sự khác nhau về nguyên tắc giữa hoạt động học và hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động học là hoạt động tái tạo lại những tri thức đã có từ trước ở người học, còn hoạt động nghiên cứu khoa học đó là phát hiện những chân lý khoa học mà loài người chưa biết đến Có thể nói: đối tượng của hoạt động học là cái mới với cá nhân nhưng không mới đối với nhân loại

- Phương tiện học tập: Hoạt động bao giờ cũng hướng tới một đối tượng cụ thể và chủ thể phải có những phương tiện, những điều kiện cụ thể để chiếm lĩnh đối tượng Trong hoạt động học tập, ngoài những phương tiện như: giấy, bút, sách, giáo trình, máy tính… thì nó còn mang tính chất đặc thù của hoạt động học tập đó là tất cả yếu tố của quá trình của nó đều được hình thành trong quá trình học tập Phương tiện của học tập không có sẵn trong tâm lý

Trang 19

chủ thể mà hình thành chính trong quá trình chủ thể tham gia (nhà) hoạt động học tập

Phương tiện chủ yếu của hoạt động học tập đó là các hành động học tập: so sánh, phân loại, phân tích, khái quát hoá, Tâm lý học vừa khẳng định

so sánh, phân loại là những hành động học tập là phương tiện đắc lực cho chuyện hình thành những khái niệm kinh nghiệm, còn phân tích, khái quát hoá là phương tiện để hình thành nên những khái niệm khoa học

Cần nhấn mạnh rằng trong hoạt động học, phương tiện chủ yếu là tư duy Trong giáo dục, tất cả các hình thức tư duy đều quan trọng và cần thiết

Như vậy hoạt động học là hoạt động chủ đạo của học sinh tiểu học vì: + Hoạt động học là hoạt động lần đầu tiên xuất hiện trong cuộc sống của học sinh tiểu học và trong lòng nó sẽ xuất hiện các yếu tố của dạng hoạt động chủ đạo, của lứa tuổi thiếu niên Đó là hoạt động giao tiếp

+ Khi đã được hình thành hoạt động học sẽ tồn tại mãi mãi và không tự thủ tiêu

+ Hoạt động học vừa là động lực vừa là cơ sở cho sự xuất hiện các phẩm chất tâm lí mới đặc trưng cho học sinh tiểu học Nó tạo ra cơ sở cho những biến đổi quan trọng trong các quá trình và các thuộc tính tâm lí của nhân cách học sinh tiểu học

- Vì vậy trong nhà trường tiểu học cần tổ chức tốt hoạt động học cho học sinh để hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh theo đúng mục tiêu

1.2.5 Kĩ năng học môn Đạo đức

1.2.5.1 Khái niệm kĩ năng học môn Đạo đức

- Kĩ năng học môn Đạo đức được coi là kết quả quan trọng nhất của việc dạy học môn Đạo đức (nhưng đồng thời cũng là khó khăn nhất) vì đạo đức của con người nói chung và học sinh tiểu học nói riêng được đánh giá chủ yếu qua hành động, việc làm, thái độ mà không phải chỉ qua lời nói

Trang 20

- Việc hình thành kĩ năng được thực hiện qua việc học sinh vận dụng tri thức đạo đức để liên hệ thực tế, tự đánh giá bản thân, nhận xét hành vi của người khác, giải quyết các tình huống đạo đức, thực hiện trò chơi, điều tra thực tiễn …

1.2.5.2 Phân loại kĩ năng học môn Đạo đức

Kĩ năng học môn Đạo đức bao gồm:

- Biết tự nhận xét hành vi của bản thân

- Biết nhận xét, đánh giá hành vi của người khác

- Biết xử lí những tình huống đạo đức tương tự trong cuộc sống

- Biết thực hiện các thao tác, hành động đúng đắn theo mẫu, qua trò chơi, hoạt cảnh,…

- Biết đánh giá những vấn đề thực tiễn liên quan đến bài Đạo đức

- Thực hiện được những hành vi tích cực trong cuộc sống hằng ngày của mình phù hợp với các chuẩn mực hành vi.…

Ví dụ: Bài 7: “Giữ gìn trường lớp sạch đẹp” (lớp 2) các kĩ năng sẽ

được hình thành:

- Tự nhận xét được hành vi của mình về giữ gìn trường lớp sạch đẹp Học sinh đã làm những việc gì để giữ gìn trường, lớp sạch đẹp, mức độ thực hiện, kết quả đạt được

- Nhận xét được hành vi của người khác liên quan đến việc giữ gìn trường lớp sạch đẹp - hành động đó đúng hay sai? Vì sao?

- Xử lí được tình huống liên quan đến việc giữ gìn trường lớp sạch đẹp, nêu cách giải quyết và giải thích vì sao?

- Thực hiện được những thao tác, hành động phù hợp về giữ gìn trường lớp sạch đẹp thông qua trò chơi sắm vai

- Đánh giá được một số nơi trong trường, lớp nếu có thể là toàn bộ trường, lớp đã sạch, đẹp chưa? Nêu được nguyên nhân

- Thực hiện được một số việc làm cụ thể để giữ gìn trường lớp sạch đẹp

Trang 21

Chương 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KĨ NĂNG GIẢI CÁC BÀI TẬP ĐẠO ĐỨC CỦA HỌC SINH LỚP 2

2.1 Khái quát chung về môn Đạo đức lớp 2

Chương trình học môn Đạo đức ở lớp 2 có tất cả là 35 tiết:

Trong đó:

- 14 bài x 2 tiết = 28 tiết

- Dành cho địa phương: 3 tiết

- Ôn tập học kì I: 1 tiết

- Kiểm tra học kì I: 1 tiết

- Ôn tập cuối năm: 1 tiết

- Kiểm tra cuối năm: 1 tiết

Vở bài tập Đạo đức lớp 2 có các dạng bài tập chính:

- Quan sát tranh và kể chuyện theo tranh

- Nhận xét về việc làm của các nhân vật trong tranh

2.2 Khái quát về khách thể nghiên cứu

* Kết quả học tập môn Đạo đức

Trong khuôn khổ khách thể nghiên cứu là 65 học sinh lớp 2A và lớp 2C Trường Tiểu học, Tiền Phong B Trường tiểu học đánh giá kết quả học tập môn Đạo đức của học sinh lớp 2A và lớp 2c được đánh giá theo hai mức độ như sau: Mức 1(chưa hoàn thành) và mức 2 (hoàn thành)

Trang 22

+ Mức 1 (chưa hoàn thành): Học sinh chưa giải quyết được hết các tình huống và bài tập đồng thời chưa có hành vi và thái độ đúng chuẩn mực

+ Mức 2 (hoàn thành): Học sinh giải quyết được tất cả các tình huống

và bài tập đồng thời có hành vi và thái độ phù hợp với chuẩn mực

Bảng kết quả học tập môn Đạo đức lớp 2A và lớp 2C

* Phân tích kết quả học tập môn Đạo đức

Bảng trên đây là căn cứ vào kết quả của các bài kiểm tra định kì, các bài tập học sinh thực hiện trong vở bài tập trên lớp và ở nhà của 65 học sinh lớp 2A và lớp 2C Trường Tiểu học Tiền Phong B

Dựa vào bảng kết quả, ta có thể thấy rằng chất lượng học môn Đạo đức của học sinh lớp 2A và lớp 2C Trường Tiểu học Tiền Phong B là tương đối tốt, điều đó thể hiện ở chỗ:

Số lượng học sinh đạt kết quả học tập: Mức 2 là 51 học sinh (chiếm 78,46%) và chỉ có 14 học sinh là chưa hoàn thành (mức 1) Nhìn chung học sinh lớp 2A và lớp 2C đạt được kết quả học tập khá tốt và nguyên nhân là do các em đã chú ý nghe giảng trong các giờ học, phương pháp dạy học của giáo viên phù hợp với học sinh trong lớp ngoài ra thì các em bước đầu cũng đã có được những kĩ năng giải bài tập và kĩ năng giải quyết những tình huống một cách đúng đắn và phù hợp

Để học tốt được môn Đạo đức lớp 2, thì mỗi học sinh cần phải có những hiểu biết nhất định về các chuẩn hành vi đạo đức và pháp luật ngoài ra các em cần phải có những kĩ năng giải bài tập Đạo đức Trong phạm vi nghiên

Trang 23

cứu của đề tài, kĩ năng mà chúng tôi quan tâm chủ yếu là kĩ năng giải bài tập của học sinh, bao gồm các kĩ năng:

- Kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân

- Kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của người khác

- Kĩ năng lựa chọn các hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực

- Kĩ năng thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực

2.3 Thực trạng kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân và những người xung quanh

- Kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân và những người xung quanh được tôi tiến hành khảo sát trên 2 lớp khối 2 là lớp 2A và lớp 2C của Trường Tiểu học, Tiền Phong B

- Đối với học sinh thì các em sử dụng kĩ năng này ở nhiều tình huống khác nhau xảy ra ở nhiều nơi như: trường, lớp và cả trong cuộc sống hằng ngày ở trong gia đình và ngoài xã hội

2.3.1 Kiểm tra hiểu biết của học sinh về một số chuẩn mực hành vi đạo đức và pháp luật

- Muốn nhận xét được hành vi việc làm của bản thân và của người khác thì trước hết các em phải có những hiểu biết nhất định về các chuẩn mực hành

vi đạo đức và pháp luật Để kiểm tra hiểu biết của học sinh về một số chuẩn mực hành vi đạo đức và pháp luật tôi tiến hành như sau:

- Cho học sinh chơi trò chơi về Đạo đức

Tên trò chơi: Xử lí tình huống cho đúng

Trang 24

2 Bạn Ngọc đang làm trực nhật lớp thì nhặt được một quyển truyện của bạn nào đó để quên Ngọc đang rất thích quyển truyện đó mà em chưa có

3 Bạn Lan sang nhà Huệ chơi khi vào đến cửa em nhặt được một chiếc vòng cổ rất đẹp

4 Bạn Huệ, Hương, Sen vào cửa hàng mua kem khi đi ra các em nhặt được một chiếc ví mà không biết của ai vì cửa hàng lúc đó rất đông người

5 Trên đường đi học về bạn Thức nhặt được một chiếc đồng hồ bằng vàng mà không biết ai đánh rơi

- Giáo viên gọi học sinh chơi đóng vai lần lượt từ tình huống thứ nhất cho đến tình huống thứ năm Khi học sinh chơi xong tình huống thứ nhất thì gọi học sinh trả lời luôn (Em sẽ làm gì nếu em là bạn trong tình huống trên ?)

Ví dụ: Tình huống 1: Giáo viên sẽ gọi 2 học sinh (gồm bạn: Hà Huy Hoàng và bạn Nguyễn Thanh Long) lên bảng đóng vai theo tình huống 1 đó là: Bạn Hà Huy Hoàng (đóng vai Mạnh) và bạn Nguyễn Thanh Long (đóng vai Nam)

- Hai bạn đang đi trên sân trường thì nhặt được năm mươi nghìn đồng

Và hai bạn sẽ bàn với nhau sẽ làm gì với hai mươi nghìn đồng vừa nhặt được

- Bạn Hà Huy Hoàng (vai Mạnh): Theo cậu chúng mình sẽ làm gì với năm mươi nghìn này bây giờ?

- Bạn Nguyễn Thanh Long (vai Nam): Theo tớ chúng mình hãy đem năm mươi nghìn đồng này nộp lại cho cô tổng phụ trách để cô trả lại cho người bị mất

- Bạn Hà Huy Hoàng (vai Mạnh): Ừ mình cũng nghĩ như bạn vậy chúng mình cùng đem đi nộp cho cô Ngọc (cô tổng phụ trách) đi

- Bạn Nguyễn Thanh Long (vai Nam): Ừ chúng mình đi thôi

(Đa số các em tham gia đóng vai trong tình huống trên đều có chung hướng giải quyết là đem nộp lại cho cô tổng phụ trách hoặc giáo viên chủ nhiệm)

Trang 25

- Giáo viên sẽ gọi bạn khác nhận xét việc làm của các bạn và chốt lại đáp án đúng và phù hợp Các tình huống 2,3,4,5 làm tương tự như ở tình huống 1

- Sau 5 tình huống giáo viên sẽ khen thưởng bạn nào tích cực tham gia đóng vai và xử lí được nhiều tình huống đúng và hay nhất

- Sau khi kết thúc trò chơi giáo viên có thể đánh giá hiểu biết của học sinh về một số chuẩn mực hành vi đạo đức và pháp luật theo các mức độ sau:

- Mức chưa đạt (M1): Học sinh chỉ đóng vai và giải quyết được 1 hoặc

2 tình huống

- Mức đạt chuẩn (M2): Học sinh đóng vai và giải quyết được 3,4 hoặc

cả 5 tình huống nhưng chưa có thái độ đúng chuẩn mực

- Mức trên chuẩn (M3): Học sinh đóng vai và giải quyết được cả 5 tình huống đồng thời có thái độ đúng chuẩn mực

Kết quả thu được trên khách thể là 65 học sinh như sau:

Bảng 1: Kết quả hiểu biết của học sinh về một số chuẩn mực

hành vi đạo đức và pháp luật

Lớp

Số lượng

Tỉ lệ (%)

Số lượng

Tỉ lệ (%)

Số lượng

Tỉ lệ (%)

Qua kết quả thu được từ bảng số liệu trên, tôi thấy rằng hiểu biết về các chuẩn mực hành vi đạo đức và pháp luật của các em học sinh lớp 2 của Trường Tiểu học Tiền Phong B là tương đối cao Tuy nhiên sự hiểu biết về chuẩn mực hành vi đạo đức và pháp luật của học sinh giữa các lớp là không đồng đều, cụ thể: số học sinh đạt M1 của lớp 2C chỉ chiếm 14,29% nhưng lớp

Trang 26

2A tỉ lệ số học sinh đạt M1 lên tới 26,66% và tỉ lệ số học sinh đạt M2 và M3 của lớp 2A đều thấp hơn so với lớp 2C cụ thể như sau: số học sinh đạt M2 của lớp 2A là 66,67% và của lớp 2C là 74,29% còn M3 của lớp 2A chỉ có 6,67% trong khi đó lớp 2C đạt 11,42%

Thực tế điều tra cho thấy có những em vốn hiểu biết về các chuẩn mực hành vi đạo đức và pháp luật rất tốt nhưng có nhiều em lại chưa nắm được và phân biệt được các chuẩn mực hành vi và pháp luật một cách đúng đắn Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng như vậy là do các em chưa thực sự

tự tin để tham gia vào trò chơi để hoá thân vào các nhân vật trong tình huống, trong giờ học các em chưa chú ý nghe giảng và phương pháp dạy của giáo viên chưa thực sự phù hợp với trình độ của học sinh lớp mình

2.3.2 Thực trạng kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân

- Để kiểm tra kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân và của

người khác Tôi tiến hành như sau:

- Tôi đưa ra 3 bài tập với ba mức độ khác nhau (độ khó của các bài tập tăng dần từ dễ đến khó) nhưng cả ba bài này đều có cùng nội dung

- Sau khi cho học sinh làm bài tập ở phiếu điều tra thì tôi đã thu được kết quả làm bài cũng như cách mà các em xử lí các tình huống trong 3 bài tập

Từ đó có thể biết được kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân của học sinh được phân loại theo 3 mức độ (chưa đạt, đạt chuẩn và trên chuẩn) như sau:

- Mức chưa đạt (M1): Dưới 5 điểm (Học sinh chưa giải quyết được các bài tập và tình huống đưa ra)

- Mức đạt chuẩn (M2): Từ 5 điểm đến 8 điểm (Học sinh hoàn thành được đúng tất cả các yêu cầu của hai hoặc cả ba bài tập nhưng chưa có thái độ đúng chuẩn mực)

- Mức trên chuẩn (M3): Học sinh hoàn thành được đúng cả ba bài tập đồng thời các em có thái độ phù hợp, đúng chuẩn mực khi làm các bài tập

Trang 27

Ví dụ Khi làm bài tập 2 trong phiếu điều tra: Bài 2 có nội dung như sau: Trong cuộc thi tìm kiếm tài năng do trường tổ chức, có tiết mục nhảy rất hay ai cũng muốn đến gần để nhìn cho rõ và Nam cũng vậy nhưng vì đang ngồi ở cuối hàng nên Nam đã …

Câu hỏi đặt ra trong bài là: Nếu em là bạn Nam trong trường hợp trên

em sẽ làm thế nào cho phù hợp ?

- Với bài tập này thì các em lại có các cách giải quyết khác nhau như là: + Bạn Hùng (lớp 2A) đã chọn cho mình phương án đó là em sẽ chạy (chen) lên đầu hàng để nhìn cho rõ Với cách giải quyết tình huống của Hùng chúng ta có thể đánh giá được hành vi của Hùng là chưa phù hợp và chưa đúng với chuẩn mực Vậy Hùng sẽ nằm trong mức chưa đạt (M1)

+ Bạn Tâm (lớp 2C) thì có cách xử lí khác đó là: Tâm sẽ đứng dậy để xem và bảo các bạn phía trên ngồi xuống để em nhìn thấy nhưng với vẻ mặt

và thái độ cau có, bực tức không hài lòng Với cách xử lí tình huống như vậy mặc dù Tâm giải quyết tình huống đúng và phù hợp nhưng với thái độ như thế thì Tâm cũng chỉ đạt mức đạt chuẩn (M2)

+ Bạn Châm (lớp 2C) đã xử lí tình huống trên như sau: Em đã đứng dậy và nói rất nhẹ nhàng với bạn ngồi trên là Mi (bạn ngồi trước Huệ) ơi cậu hãy cúi thấp người một chút cho mình nhìn thấy với nhé Với cách xử lí tình huống cùng với thái độ như vậy thì Huệ đạt mức trên chuẩn (M3)

Kết quả thu được trên khách thể là 65 học sinh như sau:

Bảng 2: Thực trạng kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân

Lớp

Số lượng

Tỉ lệ (%)

Số lượng

Tỉ lệ (%)

Số lượng

Tỉ lệ (%)

Trang 28

Qua kết quả trên thì cho chúng ta thấy kĩ năng nhận xét đánh giá hành vi bản thân của các em học sinh lớp 2 là khá tốt, hầu hết các em đã nhận thức được các hành vi của bản thân mình, biết được mình nên làm gì và không nên làm gì Nhưng bên cạnh đó thì vẫn còn nhiều em chưa nhận thức đúng được hành vi của bản thân mình, dù biết đó là việc làm không đúng các em vẫn làm hoặc khi làm những việc làm đúng thì các em lại thái độ không hứng thú, tích cực

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do nhiều bài tập chưa phù hợp với trình độ của học sinh, chưa phù hợp với điều kiện thực tế trong nhà trường

và vốn hiểu biết về thực tế cuộc sống của các em còn hạn chế

2.3.3 Thực trạng kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của người khác

Kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của người khác là: Khi các em thấy hành vi, việc làm của người khác trong bất kì một tình huống nào đó ở trên lớp, ở ngoài xã hội hay ở nhà mà các em có thể nhận xét được việc làm của người đó là đúng hay là sai; nên hay không nên làm như vậy

- Vậy để tìm hiểu về kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của người khác của học sinh lớp 2 Trường Tiểu học Tiền Phong B Trước hết có thể phân loại học sinh theo 3 mức độ (chưa đạt, đạt chuẩn, trên chuẩn) như sau:

- Mức chưa đạt (M1): Học sinh chưa giải quyết được các bài tập và tình huống đưa ra

- Mức đạt chuẩn (M2): Học sinh hoàn thành được đúng tất cả các yêu cầu của hai hoặc cả ba bài tập nhưng chưa có thái độ đúng với chuẩn mực

- Mức trên chuẩn (M3): Học sinh làm đúng tất cả các bài tập đồng thời

có hành vi, thái độ đúng chuẩn mực

Ví dụ: Khi tiến hành kiểm tra kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của người khác qua bài tập 3 trong phiếu điều tra (Bài 3: Đi học về em thấy mẹ vừa dọn dẹp nhà cửa vừa nấu ăn còn bố thì nằm trên giường chơi điện tử Câu hỏi đặt ra đó là: Em có nhận xét gì về việc làm của bố? Tại sao?)

Trang 29

- Với bài này thì kết quả mà tôi thu được như sau:

+ Một số em cho rằng việc làm của bố là đúng vì những việc như: dọn dẹp nhà cửa, nấu ăn là việc của mẹ, hay vì ở nhà em cũng thường thấy như vậy (mẹ thì làm việc nhà, nấu ăn còn bố thì xem đá bóng hoặc chơi điện tử) Với những em mà có nhận xét như vậy thì tôi xếp vào mức chưa đạt (M1)

+ Một số em khác ví dụ như bài của Thư thì có nhận xét việc làm của

bố như vậy là chưa đúng vì khi thấy mẹ làm như vậy bố không nên ngồi chơi điện tử Mặc dù Thư có nhận xét đúng về việc làm của bố như vậy là sai nhưng vì em chưa chỉ hay nêu được rằng nếu gặp tình huống như vậy em sẽ làm như thế nào thì em cũng chỉ đạt mức đạt chuẩn (M2)

+ Còn bài làm của Lan đã làm bài tập này như sau: Khi thấy mẹ vừa dọn nhà vừa nấu ăn còn bố thì ngồi chơi điện tử, em đã đến và bảo: Bố ơi! Bố con mình cùng phụ giúp mẹ nấu ăn và dọn dẹp đi bố với thái độ vừa nài nỉ vừa chân thành Thế là bố Lan đã không chơi điện tử nữa mà cùng Lan làm phụ giúp cho vợ (mẹ Lan) Với bài làm như vậy thì Lan hoàn toàn xứng đáng đạt mức trên chuẩn (M3)

Kết quả thu được trên khách thể là 65 học sinh như sau:

Bảng 3: Thực trạng kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của người khác

Lớp

Số lượng

Tỉ lệ (%)

Số lượng

Tỉ lệ (%)

Số lượng

Tỉ lệ (%)

Qua bảng số liệu trên đã phản ánh được thực chất kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của những người xung quanh của học sinh lớp 2 Trường Tiểu học Tiền Phong B Tỉ lệ các em đạt mức 1 so với mức 2 và mức 3 giữa hai lớp 2A và 2C là có sự chênh lệch, cụ thể: Tỉ lệ các em đạt mức 1 của lớp

Trang 30

2C là 14,43% nhưng lớp 2A đạt tới 20% Còn tỉ lệ đạt chuẩn (M2) của lớp 2C lên tới 80%; lớp 2A thấp hơn một chút là 76,67% còn mức trên chuẩn của lớp 2C chiếm 8,57% nhưng lớp 2A chỉ chiếm 3,33%

2.4 Thực trạng kĩ năng lựa chọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực

- Để kiểm tra về kĩ năng lựa chọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực.Tôi tiến hành như sau :

- Tôi đưa ra 2 bảng (Bảng 4 và bảng 5) trong đó mỗi một bảng sẽ có 3 bài tập với 3 mức độ khác nhau (trung bình, khá và giỏi tương ứng với các bài

bài 1, bài 2 và bài 3) và các bài tập trong một bảng có cùng một nội dung

a) Kĩ năng lựa chọn các hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực

- Sau khi cho học sinh làm 3 bài tập trên, qua kết quả làm bài cũng như cách mà các em xử lí các tình huống trong 3 bài tập Có thể phân loại học sinh theo 3 mức độ (chưa đạt, đạt chuẩn và trên chuẩn) như sau:

- Mức chưa đạt (M1): Dưới 5 điểm (Học sinh chỉ giải quyết được đúng một bài tập)

- Mức đạt chuẩn (M2): Từ 5 đến 8 điểm (Học sinh hoàn thành được đúng tất cả các yêu cầu của hai hoặc cả ba bài tập)

- Mức trên chuẩn (M3): 9 đến 10 điểm (Học sinh làm đúng cả ba bài tập đồng thời có thái độ đúng chuẩn mực)

Ví dụ: Bài 2 trong phiếu điều tra về kĩ năng lựa chọn các hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực có nội dung: Trên đường đi học về em thấy một chú mèo bị thương nằm ở giữa đường Em sẽ làm gì trong tình huống đó? Vì sao?

Để xếp loại học sinh qua bài tập trên tôi xin đưa ra bài làm của một số học sinh như sau:

+ Bài làm của em Nguyễn Quang Huy: Em nói rằng em sẽ mặc kệ và

cứ đi thẳng về coi như không thấy Vì em rất ghét mèo Với cách xử lí khi gặp

Trang 31

tình huống như vậy thì Huy đã cho thấy việc làm của em như vậy là chưa đúng chính vì thế khi xếp loại em sẽ nằm trong nhóm chưa đạt (M1)

+ Bài làm của em Hà Kim Anh: Em nói rằng em sẽ bế chú mèo vào lề đường, rồi đi tiếp Vì nếu để chú ở giữa đường thì có thể chú sẽ bị xe đâm chết Với bài làm của Kim Anh thì tôi cũng chỉ có thể xếp em vào nhóm đạt chuẩn (M2) Vì mặc dù em đã có hành vi rất đúng là bế chú vào lề đường nhưng em lại không quan tâm xem chú bị thương như thế nào và cũng không biết là mèo của ai mà em để chú như vậy rồi về thì cũng rất nguy hiểm cho chú mèo

+ Bài làm của Ngô Thanh Tùng: Em nói rằng em đã gặp tình huống như vậy nhưng không phải là mèo mà là một chú chó con và khi đó em đã bế chú vào lề đường rồi hỏi mấy nhà xung quanh đó xem có phải là chủ của chú chó không và cuối cùng em cũng tìm được chủ của chú chó và còn được cô (là chủ của chú chó) cảm ơn và khen em ngoan Với bài của Tùng thì tôi đã xếp em vào nhóm mức trên chuẩn (M3)

Kết quả thu được trên khách thể là 65 học sinh như sau:

Tỉ lệ (%)

Số lượng

Tỉ lệ (%)

Số lượng

Tỉ lệ (%)

Kết quả khảo sát cho thấy đa số các em đã biết đâu là hành vi đúng, phù hợp với chuẩn mực để từ đó đưa ra các lựa chọn đúng nhất Nhưng vẫn còn một số em là chưa nhận thức được việc này và số lượng các em chưa nhận thức được ở hai lớp cũng chiếm tỉ lệ khá cao, cụ thể: Số học sinh chưa

Trang 32

đạt (M1) của lớp 2A là 7 học sinh trên tổng số 30 học sinh chiếm 23,33%; lớp 2C là 8 học sinh trên tổng số 35 học sinh chiếm 22,86%

b) Kĩ năng thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực

Sau khi cho học sinh làm các bài tập trong phiếu điều tra, qua kết quả làm bài cũng như cách mà các em xử lí các tình huống trong 3 bài tập Có thể phân loại học sinh theo 3 mức độ (chưa đạt, đạt chuẩn và trên chuẩn) như sau:

- Mức chưa đạt (M1): Học sinh chỉ giải quyết được đúng một bài tập

- Mức đạt chuẩn (M2): Học sinh hoàn thành được tất cả các yêu cầu của hai hoặc cả ba bài tập nhưng các em lại chưa có thái độ đúng chuẩn mực

- Mức trên chuẩn (M3): Học sinh làm đúng cả ba bài tập đồng thời có thái độ đúng chuẩn mực

Ví dụ: Để kiểm tra kĩ năng thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực qua bài tập 3 trong phiếu bài tập (Bài 3: Em hãy kể 5 việc mà em

đã làm thể hiện sự chăm chỉ học tập) Tôi thu được kết quả như sau:

+ Bài của em Phùng Gia Bảo em đã nêu được 3 việc như sau:

- Em chỉ giải những bài tập cô giao

- Trong giờ học, em chỉ trả lời câu hỏi khi cô giáo chỉ định

- Ăn cơm xong em xem hoạt hình khi mẹ nhắc em mới đi học bài Với bài làm của Bảo như vậy thì em sẽ nằm trong nhóm chưa đạt (M1) + Bài làm của em Vũ Khánh Linh em đã kể được 5 việc mà em đã làm như sau:

- Đi học về là em lại ngồi vào bàn học bài khi bố mẹ nhắc nhở

- Trong giờ học em luôn lắng nghe cô giảng bài khi cô giáo nhắc nhở

- Ra chơi em lại mang Toán ra để làm

- Em làm hết các bài tập cô giao còn những bài cô không giao thì em không làm

- Mỗi khi ăn cơm xong mẹ nhắc em đi học bài là em đi học luôn

Trang 33

Với bài làm của Khánh Linh mặc dù em đã làm đúng được hết yêu cầu của bài nhưng tôi cũng chỉ đánh giá em ở mức đạt chuẩn (M2) vì khi thực hiện những việc làm đó em chưa có thái độ tự giác vẫn cần người khác nhắc nhở

+ Còn bài làm của em Lê Thuỳ Dương như sau: Những việc em đã làm thể hiện sự chăm chỉ học tập là:

- Ở lớp và ở nhà em đều tự giác học bài mà không cần cô giáo hay bố

mẹ nhắc nhở

- Mỗi khi làm xong bài tập nào đó em đã tự sửa chữa sai sót trong bài

- Mỗi khi làm các bài tập trong nhóm, tổ em luôn tích cực đưa ra ý kiến và cùng các bạn thảo luận

- Mỗi buổi sáng em đều tự dậy đánh răng, rửa mặt,… Rồi đi học mà không phải để bố mẹ gọi dậy đi học

- Mỗi khi rảnh rỗi em lại lấy sách ra đọc

Với bài làm của Thuỳ Dương thì tôi đã xếp em vào nhóm trên chuẩn (M3) Vì không những em đã hoàn thành đúng yêu cầu của bài mà em còn thực hiện những công việc đó một cách tự giác

Kết quả thu được trên khách thể là 65 học sinh như sau:

Tỉ lệ (%)

Số lượng

Tỉ lệ (%)

Số lượng

Tỉ lệ (%)

Mặc dù các em đã nhận thức được đâu là hành vi đúng phù hợp với chuẩn mực (theo kết quả từ bảng 4) nhưng khi thực hiện các hành vi đó thì các em lại làm chưa được tốt lắm, cụ thể: Tỉ lệ chưa đạt (M1) của các lớp như

Trang 34

sau: lớp 2A có 10 học sinh trên tổng số 30 học sinh chiếm tỉ lệ 16,67%; lớp 2C có 7 học sinh trên tổng số 35 học sinh chiếm tỉ lệ là 20%

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên chủ yếu là do trong khi làm các bài tập các em không tập chung làm bài mà chỉ làm với mục đích cho xong đồng thời do vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của các em còn hạn chế nên các em chưa biết mình nên làm gì và cần phải làm gì

2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng giải bài tập Đạo đức của học sinh lớp 2

2.5.1 Nội dung và phương pháp dạy học môn Đạo đức lớp 2

2.5.1.1 Nội dung chương trình Đạo đức lớp 2

1 tiết / tuần x 35 tuần = 35 tiết

a) Quan hệ với bản thân

- Sống gọn gàng, ngăn nắp đúng giờ giấc

- Khi có lỗi, biết xấu hổ, nhận lỗi và sữa lỗi

b) Quan hệ với người khác

- Thật thà, không tham của rơi

c) Quan hệ với công việc

- Tự giác tham gia làm những việc nhà phù hợp với khả năng

- Chăm chỉ học tập

- Giữ gìn vệ sinh trường lớp

d) Quan hệ với cộng đồng, đất nước, nhân loại

- Yêu quý những người xung quanh, yêu quê hương đất nước

Trang 35

- Yêu hoà bình, ghét chiến tranh

e) Quan hệ với môi trường tự nhiên

- Tôn trọng, quy định về trật tự, vệ sinh nơi công cộng

- Yêu quý và bảo vệ loài vật có ích

2.5.1.2 Phương pháp dạy học môn Đạo đức ở lớp 2

1: Phương pháp động não

a) Khái niệm: Động não là phương pháp giúp học sinh trong một thời

gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó

b) Giáo viên đã tiến hành như sau:

- Giáo viên nêu vấn đề cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm

- Khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt

- Liệt kê tất cả mọi ý kiến phát biểu đưa lên bảng hoặc giấy to, không loại trừ một ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp

- Phân loại các ý kiến

- Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng

- Tổng hợp ý kiến của học sinh, hỏi các em có thắc mắc hay bổ sung gì không

c) Những điều cần lưu ý khi sử dụng

- Phương pháp động não có thể dùng để lí giải bất lì một vấn đề đạo đức nào, song đặc biệt phù hợp với các vấn đề ít nhiều đã quen thuộc trong thực tế cuộc sống của học sinh

- Các ý kiến phát biểu nên ngắn gọn bằng một từ hay một câu thật ngắn

- Tất cả mọi ý kiến đều cần được giáo viên hoan nghênh, chấp nhận

mà không cần phê phán, nhận định đúng sai

- Cuối giờ thảo luận giáo viên nên nhấn mạnh kết luận này là kết quả của sự tham gia chung của tất cả học sinh

Trang 36

d) Chúng tôi đã dự giờ, quan sát các tiết học:

- Học tập, sinh hoạt đúng giờ có lợi gì? (Bài 1)

- Điều gì sẽ xảy ra nếu mọi người không có ý thức giữ trật tự, vệ sinh nơi công cộng? (Bài 8)

- Những việc nên làm khi đến nhà người khác? Những việc không nên làm khi đến nhà người khác? (Bài 12)

- Nên làm gì để bảo vệ các loài vật có ích? (Bài 14)

2 Phương pháp đóng vai

a) Khái niệm: Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành

một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định

b) Ưu điểm

- Học sinh được rèn luyện, thực hành những kĩ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn

- Gây hứng thú và chú ý cho học sinh

- Tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của học sinh

- Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo chuẩn mực hành vi đạo đức

- Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn

c) Giáo viên đã tiến hành như sau:

- Giáo viên chia nhóm, giao nhiệm vụ đóng vai cho từng nhóm và quy định rõ thời gian chuẩn bị, thời gian đóng vai

- Các nhóm thảo luận, chuẩn bị đóng vai

- Các nhóm lên đóng vai

- Lớp thảo luận, nhận xét:

+ Cách ứng xử của các vai diễn phù hợp hay chưa phù hợp? Chưa phù hợp ở chỗ nào?

Trang 37

+ Cảm xúc của học sinh khi thực hiện cách ứng xử? Khi nhận được cách ứng xử? (đúng hoặc sai)?

- Giáo viên kết luận về cách ứng xử cần thiết trong tình huống

d) Những điều cần lưu ý khi sử dụng

- Tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ đề bài học, phù hợp với lứa tuổi, trình độ học sinh và điều kiện, hoàn cảnh lớp học

- Tình huống để mở, không cho trước kịch bản, lời thoại

- Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai

- Người đóng vai phải hiểu rõ vai diễn của mình trong bài tập đóng vai

để không lạc đề

- Nên khích lệ cả những học sinh nhút nhát cùng tham gia

- Nên có hoá trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của trò chơi đóng vai

đ) Chúng tôi đã dự giờ, quan sát các tiết học:

Tổ chức cho học sinh đóng vai trong các tình huống:

- Nhắc nhở bạn khi bạn vứt rác ra sân trường (Bài 7)

- Hỏi mượn sách vở, đồ dùng học tập; hỏi thăm chú công an địa chỉ, đường đi; nhờ bạn chuyển hộ giấy xin phép cô giáo;… (Bài 10)

- Gọi điện thoại hỏi thăm sức khoẻ ông bà; hỏi thăm bạn ốm;… (Bài 11)

- Đến chơi nhà bạn (Bài 12)

3 Phương pháp trò chơi

a) Khái niệm: Phương pháp trò chơi là tổ chức cho học sinh thực hiện

những hành động, những thái độ, những việc làm phù hợp với chuẩn mực hành vi đạo đức đã học thông qua một trò chơi nào đó

b) Ưu điểm

- Nội dung trò chơi sẽ minh hoạ một cách sinh động cho các mẫu hành

vi đạo đức Nhờ vậy, những mẫu hành vi này sẽ tạo được những biểu tượng rõ rệt ở học sinh, giúp các em ghi nhớ dễ dàng và lâu bền

Ngày đăng: 13/12/2016, 14:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Kết quả  hiểu biết của học sinh về một số chuẩn mực - Thực trạng kỹ năng giải các bài tập đạo đức của học sinh lớp 2
Bảng 1 Kết quả hiểu biết của học sinh về một số chuẩn mực (Trang 25)
Bảng 3: Thực trạng kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của người khác - Thực trạng kỹ năng giải các bài tập đạo đức của học sinh lớp 2
Bảng 3 Thực trạng kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của người khác (Trang 29)
Bảng 4: Thực trạng kĩ năng lựa chọn các hành vi ứng xử phù hợp - Thực trạng kỹ năng giải các bài tập đạo đức của học sinh lớp 2
Bảng 4 Thực trạng kĩ năng lựa chọn các hành vi ứng xử phù hợp (Trang 31)
Bảng  5: Thực trạng kĩ năng thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp - Thực trạng kỹ năng giải các bài tập đạo đức của học sinh lớp 2
ng 5: Thực trạng kĩ năng thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp (Trang 33)
Bảng 6: Kĩ năng lựa chọn các hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực. - Thực trạng kỹ năng giải các bài tập đạo đức của học sinh lớp 2
Bảng 6 Kĩ năng lựa chọn các hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w