Xuất phát từ lý do trên mà luận án đã chọn đề tài Nghiên cứu phương pháp xây dựng văn bản thư tín thương mại tiếng Anh dành cho người Phương Đông trên cơ sở đối chiếu văn bản thư ti
Trang 1MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Ngữ liệu nghiên cứu 8
7 Ý nghĩa của đề tài 10
8 Bố cục của luâ ân án 10
Chương 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 11
1.1 Tổng quan về văn bản thư tín thương mại 11
1.1.1 Đă ăc điểm của văn bản thư tín thương mại 11
1.1.2 Nhâ ăn diê ăn văn bản thư tín thương mại 13
1.2 Các mô hình lý thuyết được vâ ân dụng 24
1.2.1 Phương pháp phân tích thể loại 25
1.2.2 Ngữ vực 29
1.3 Tiểu kết 35
Chương 2: CÁC NGUYÊN TẮC XÁC LẬP VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH VĂN BẢN THƯ TÍN THƯƠNG MẠI TIẾNG ANH 37
2.1 So sánh cấu trúc tổ chức thư tín 37
2.1.1 Hình thức trình bày (letter-layout) 37
2.1.2 Lời chào đầu thư 38
2.1.3 Chào hỏi đầu thư và cuối thư 39
2.2 So sánh cấu trúc thể loại và đă âc điểm ngôn ngữ 40
2.2.1 Thư bán hàng 40
2.2.2 Thư xin viê ăc 58
2.2.3 Thư từ chối viê ăc làm 71
i
Trang 22.3 Tiểu kết 84
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP CHUYỂN DỊCH VĂN BẢN THƯ TÍN THƯƠNG MẠI (Anh-Việt, Việt-Anh) .88
3.1 Cơ sở lí thuyết và thực tiễn của viê âc chuyển dịch 88
3.1.1 Phân tích thể loại cho mục đích chuyển dịch 88
3.1.2 Đă ăc điểm của thể loại văn bản thư tín thương mại trong chuyển dịch 88
3.1.3 Các tiêu chuẩn chuyển dịch 97
3.2 Các thủ pháp chuyển dịch 102
3.2.1 So sánh cấu trúc sơ đồ giữa thư tín tiếng Việt và tiếng Anh 102
3.2.2 Chuyển đổi cấu trúc sơ đồ 112
3.2.3 Mô hình thể hiê ăn và chuyển đổi ngữ vực 119
3.2.4 Nghiên cứu chuyển dịch tình huống 138
3.3 Tiểu kết 143
KẾT LUÂâN 145
TÀI LIÊâU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC 167
PHỤ LỤC I: CẤU TRÚC VÀ HÌNH THỨC TRÌNH BÀY VĂN BẢN THƯ TÍN THƯƠNG MẠI 168
PHỤ LỤC II: NGỮ PHÁP KINH NGHIÊâM, THUÂâT NGỮ VÀ MÔâT SỐ MÔ HÌNH NGỮ PHÁP TRONG VĂN BẢN THƯ TÍN THƯƠNG MẠI 171
PHỤ LỤC III: THUÂâT NGỮ CHUYÊN NGÀNH LIÊN QUAN ĐẾN VĂN BẢN THƯ TÍN THƯƠNG MẠI .180
PHỤ LỤC IV: NGỮ LIÊâU THƯ BÁN HÀNG 185
PHỤ LỤC V: NGỮ LIÊâU THƯ XIN VIÊâC TIẾNG ANH CỦA NHÂâT 208
PHỤ LỤC VI: NGỮ LIÊâU THƯ TỪ CHỐI VIÊâC LÀM 223
PHỤ LỤC VII: NGỮ LIÊâU THƯ XIN VIÊâC TIẾNG ANH và TIẾNG VIÊâT 242
ii
Trang 3DANH SÁCH BẢNG BIỂUChương 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT
Bảng 1.1: Các thể loại thư tín thương mại 18ᄃBảng 1.2: So sánh ngữ vực trong sử dụng từ, biểu ngữ và câu 20ᄃBảng 1.3: Mô hình cấu trúc bước thoại trong thể loại thuyết phục 21ᄃBảng 1.4: Mô hình cấu trúc bước thoại và chiến lược của thể loại thông tin 22ᄃBảng 1.5: Cấu trúc bước thoại trong thể loại thông tin xấu 22ᄃBảng 1.6: Cấu trúc bước thoại trong thể loại thiện chí 23ᄃBảng 1.7: Mối quan hệ giữa văn bản và ngữ cảnh tình huống 31ᄃ
Chương 2: CÁC NGUYÊN TẮC VÀ MÔ HÌNH VĂN BẢN THƯ TÍN THƯƠNG MẠI TIẾNG ANH DÀNH CHO NGƯỜI PHƯƠNG ĐÔNG
Bảng 2.1: So sánh hình thức trình bày thư tín của Anh-Mỹ và Nhật 38ᄃBảng 2.2: Nguyên tắc viết lời chào đầu thư tiếng Anh 38ᄃBảng 2.3: Tỷ lê â sử dụng lời chào đầu thư của Anh-Mỹ và Nhâ ât 39ᄃBảng 2.4: Tỷ lê â chào hỏi đầu thư và cuối thư trong thư tín của Nhâ ât và Anh-Mỹ 39ᄃBảng 2.5: Mô hình cấu trúc 07 bước thoại trong thư bán hàng của Bhatia 41ᄃBảng 2.6: Mô hình so sánh bước thoại trong thư bán hàng của luâ ân án 42ᄃBảng 2.7: Phân tích đường biên giữa các bước thoại và chiến lược sử dụng 43ᄃBảng 2.8: Mô tả tần số xuất hiện và tỉ lệ phần trăm của Bước thoại và chiến lược 44ᄃBảng 2.9: So sánh các chiến lược trong Bước thoại 2 46ᄃBảng 2.10: So sánh Bước thoại 3 trong thư của Anh-Mỹ và Nhâ ât 50ᄃBảng 2.11: Số lượng từ nhân xưng trong bước thoại 6 của thư bán hàng 56ᄃBảng 2.12: Tỉ lê â sử dụng hành động lời nói trực tiếp và gián tiếp 57ᄃBảng 2.13: Mô hình cấu trúc 11 bước thoại trong thư xin viê âc 59ᄃBảng 2.14: Mô hình 15 bước thoại trong thư xin viê âc của luâ ân án 63ᄃBảng 2.15: Kết quả so sánh các bước thoại trong thư xin viê âc tiếng Anh 65ᄃBảng 2.16: Bảng thống kê các că âp đô âng từ, danh đô âng từ, tính từ và trạng từ 69ᄃBảng 2 17: So sánh các thì (tenses) sử dụng trong thư xin viê âc 71ᄃBảng 2.18: Mô hình so sánh cấu trúc thể loại thư từ chối viê âc làm 73ᄃBảng 2.19: Tỉ lê â các bước thoại trong thư từ chối của Anh-Mỹ và Nhâ ât 74ᄃBảng 2.20: Tỉ lê â các hình thức mở đầu trong thư tín của Mỹ 78ᄃBảng 2.21: Tỉ lê â các hình thức mở đầu thư từ chối của Nhâ ât 78ᄃBảng 2 22: Tỉ lê â các hình thức từ chối trong thư tín của Mỹ 79ᄃBảng 2.23: Tỉ lê â giải thích và từ chối trong thư tín của Mỹ 79ᄃ
iii
Trang 4Bảng 2.24: Tỉ lê â từ chối trực tiếp và gián tiếp trong thư tín Mỹ 80ᄃBảng 2.25: Mô hình từ chối trong thư của Nhâ ât 82ᄃBảng 2.26: Tỉ lê â sử dụng chiến lược bù đắp thể diê ân trong thư tín Anh-Mỹ 83ᄃ
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP CHUYỂN DỊCH VĂN BẢN THƯ TÍN THƯƠNG MẠI (Anh-Việt, Anh)
Việt-Bảng 3.1: Các biểu thức tập quán trong thư tín thương mại 89ᄃBảng 3.2: Cấu trúc bước thoại của thư xin viê âc tiếng Viê ât 101ᄃBảng 3.3: Tần số xuất hiê ân và tỉ lê â bước thoại trong thư xin viê âc tiếng Viê ât 103ᄃBảng 3.4: Cấu trúc bước thoại của thư xin viê âc tiếng Anh 104ᄃBảng 3.5: Tần số xuất hiê ân và tỷ lê â bước thoại trong thư xin viê âc tiếng Anh 106ᄃBảng 3.6: Bản dịch 1- Giữ nguyên cấu trúc thể loại của văn bản nguồn 112ᄃBảng 3.7: Bản dịch 2: Chuyển đổi cấu trúc thể loại 116ᄃBảng 3.8: Ngữ nghĩa kinh nghiê âm của từ “hàng hóa” 120ᄃBảng 3.9: Các biểu ngữ thể hiện ngữ nghĩa liên nhân .128ᄃBảng 3.10: Các ngữ vựng thể hiện nghĩa liên nhân 128ᄃBảng 3.11: Tỷ lê â sử dụng hành động lời nói trực tiếp và gián tiếp trong thư xin viê âc tiếng Anh và tiếng Viê ât 131ᄃBảng 3.12: Bản dịch 1- Không chuyển đổi cấu trúc thể loại 137ᄃBảng 3.13: Bản dịch 2- Chuyển đổi cấu trúc thể loại 140ᄃ
iv
Trang 5DANH SÁCH SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Chương 1- CƠ SỞ LÍ THUYẾT
Sơ đồ 1.1: Các mức độ biến thiên ngữ vực trong thư tín 19ᄃ
Sơ đồ 1.2: Mô hình phân tích văn bản theo phương pháp chức năng hê â thống 24ᄃ
Sơ đồ 1.3: Ảnh hưởng của ngữ cảnh văn hóa và xã hô âi đến hình thức ngôn ngữ 30ᄃ
Chương 2- CÁC NGUYÊN TẮC VÀ MÔ HÌNH VĂN BẢN THƯ TÍN THƯƠNG MẠI TIẾNG ANH DÀNH CHO NGƯỜI PHƯƠNG ĐÔNG
Sơ đồ 2.1 Chiến lược thuyết phục 54ᄃ
Sơ đồ 2.2: Chuẩn bị cho viê âc từ chối 76ᄃ
Sơ đồ 2.3: Mô hình từ chối 77 ᄃ
Biểu đồ 2.1: So sánh tần số xuất hiê ân các chiến lược trong Bước thoại 2 49ᄃBiểu đồ 2.2: So sánh các chiến lược sử dụng trong bước thoại 3 52ᄃBiểu đồ 2.3: So sánh bước thoại trong thư bán hàng của Anh-Mỹ và Nhâ ât 55ᄃBiểu đồ 2.4: So sánh bước thoại trong thư xin viê âc của Nhâ ât và Phương Tây 69ᄃ
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP CHUYỂN DỊCH VĂN BẢN THƯ TÍN THƯƠNG MẠI (Anh-Việt, Anh)
Việt-Sơ đồ 3.1: Duy trì tính thống nhất về thể loại trong chuyển dịch 95ᄃ
Sơ đồ 3.2: Mô hình đối dịch Anh-Viê ât, Viê ât Anh văn bản thư tín thương mại 143ᄃ
v
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
[số : số ] Nguồn tài liệu tham khảo: Số tài liệu trích dẫn (in thẳng), số trang (in nghiêng) và các số
được viết cách nhau bằng dấu hai chấm (:) Nội dung tham khảo được trích dẫn nguyênvăn và viết trong ngoặc kép (“ ”) Thí dụ: [99: 4]
[số ] Nguồn tài liệu tham khảo: Số tài liệu trích dẫn (in thẳng) Nội dung tham khảo được viết
tóm lược lại dựa vào các nội dung của tài liệu, không viết trong ngoặc kép Thí dụ: [18]
[số…; số…] Số các tài liệu tham khảo được viết cách nhau bằng dấu chấm phẩy (;) Thí dụ: [30; 78]
[số, tr…] Nguồn tư liệu trích dẫn thí dụ minh họa: số tài liệu trích dẫn (in thẳng), số trang các số
được viết cách nhau bằng dấu phẩy (,) Thí dụ: [19, tr.314]
( ) (Bước thoại) lựa chọn
: Trâ ât tự bắt buô âc
Trâ ât tự có thể đảo
[ ] : Khống chế trâ ât tự
A: (Stating Availability) Nêu thời gian có thể đảm nhâ ân công viê âc
AD: (Referring to a Job Advertisement) Đề câ âp nguồn thông tin viê âc
làm
CA: (Offering Candidature) Bày tỏ nguyê ân vọng
CW: (Conveying Wishes) Chúc mừng
D: (Determination) Bày tỏ quyết tâm
DPT: (Describing Personal Traits) Mô tả đă âc điểm các nhân
EA: (Expressing Appreciation) bày tỏ cảm ơn
EAA: (Expressing Appreciation Again): Lă âp lại cảm ơn
EAB: (Emphasizing Academic Background): Nhấn mạnh trình đô â học
vấn
EC: (Establishing Credential): Tạo sự tin tưởng
EN: (Enclosing Documents) Gửi kèm giấy tờ
ESP: (English for Specific Purpose): tiếng Anh chuyên ngành
GSP Generic structure Potential: Phương pháp tiềm năng cấu trúc thể
loại
IBE: (Introducing Background of Education): Giới thiê âu trình đô â học
vấn
IC: (Introducing Candidature): Giới thiê âu ứng viên
IC: (Introducing Candidature) Giới thiê âu ứng viên
IFC: (Indicating Further Contact) Yêu cầu liên lạc sau này
LD: (Lyricalizing the Desire): Thể hiê ân mong muốn
MAR: (Making a Resolve): Thể hiê ân cam kết
vi
Trang 7 O: (Opening) Mở đầu
P: (Promoting the Candidate) Giới thiê âu khả năng
PE: (Polite Ending) Kết thúc lịch sự
PG: (Polite Greeting) Chào hỏi đầu thư
PI: (Personal Information) Thông tin cá nhân
R: (Naming Referees) Nêu tên người giới thiê âu
RA: (Stating Reasons for Applying) Nêu lý do ứng tuyển
RPR: (Referring to the Position Requirements) Đề câ âp đến yêu cầu của
vị trí tuyển dụng
RR: (Referring to the Resume) Đề câ âp đến sơ yếu lý lịch
SO: (Signing Off) Lời chào cuối thư
SPLIS: (Specifying the Purpose of the Letter & Infonnation Source): Nêu
mục đích bức thư và nguồn thông tin viê âc làm
SR: (Soliciting Response) Thúc giục phản hồi
SS (Schematic Structure): Phương pháp cấu trúc sơ đồ
TC: (Stipulating Terms and Conditions of Employment) Nêu yêu cầu
về điều kiê ân làm viê âc
vii
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Thế kỷ XXI đánh dấu sự toàn cầu hóa về nhiều phương diện như khoa học, kỹ thuật, văn hóa xã hội
và kinh tế, với vai trò nổi bật của tiếng Anh trong giao tiếp quốc tế Mặc dầu tiếng Anh được sử dụng nhưmột ngôn ngữ thứ ba để kết nối quá trình giao tiếp giữa người Việt và các doanh nghiệp nước ngoài, nhưngthực tế cho thấy để quá trình này diễn ra suôn sẻ đòi hỏi các bên tham gia giao tiếp không những phải nắmvững ngôn ngữ mà còn phải am hiểu văn hóa ứng xử của nhau nhằm nhận thức được đúng các hành vi đượcthể hiện qua lời nói, văn bản của đối tác
Vấn đề thứ nhất được đặt ra là, các giáo trình được sử dụng để giảng dạy môn thư tín thương mại
tiếng Anh tại các trường đại học ở Việt Nam hiện nay hầu hết là các giáo trình của Anh-Mỹ với mục đíchgiao tiếp, bước thoại tu từ, chiến lược lịch sự… đều theo quan điểm văn hóa Anh-Mỹ chỉ thích hợp cho việcgiao dịch với Phương Tây Trong khi thực tế cho thấy, đối tượng giao tiếp chính của các doanh nghiệp ViệtNam lại đến từ Phương Đông Theo số liệu từ Cục Việc làm, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội ngày16/7/2013 [38], số lượng người nước ngoài làm việc tại Việt Nam tính đến tháng 5/2013 lên tới hơn 74.000người, đến từ hơn 60 quốc gia, trong đó, khoảng 58% đến từ châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc,Malaysia…, mang quốc tịch châu Âu chiếm khoảng 28,5% như Anh, Pháp… và các nước khác chiếmkhoảng 13,5% Như vậy, nội dung đào tạo môn thư tín thương mại tiếng Anh rõ ràng là chưa đủ do các giáotrình thư tín này không định hướng đến đối tượng giao tiếp Phương Đông với các quan điểm về văn hóa hoàntoàn khác Việc áp đặt quan điểm Anh-Mỹ trong giao tiếp thương mại với người Phương Đông có thể gâyphản cảm, sốc văn hóa do hiểu lầm hoặc đôi khi phát sinh bất đồng giữa các bên
Như vậy, việc xây dựng giáo trình văn bản thư tín thương mại tiếng Anh dành cho người PhươngĐông tại các trường đại học, nhằm giúp người sử dụng áp dụng phù hợp hơn với thực tế là nhu cầu bức thiếttrong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng hiện nay
Xuất phát từ lý do trên mà luận án đã chọn đề tài Nghiên cứu phương pháp xây dựng văn bản thư
tín thương mại tiếng Anh dành cho người Phương Đông (trên cơ sở đối chiếu văn bản thư tín thương mại
tiếng Anh của Phương Tây và Phương Đông) nhằm tìm ra các nguyên tắc viết và mô hình văn bản cho đối
tượng này, làm cơ sở thiết kế các giáo trình thư tín tại các trường đại học, giúp người sử dụng đạt được hiệuquả giao tiếp cao hơn với các đối tác đến từ vùng văn hóa Phương Đông
Vấn đề thứ hai là toàn cầu hóa về kinh tế khiến thư tín thương mại tiếng Anh trở thành một phương
tiện giao tiếp hữu hiệu và phổ biến trong đời sống kinh tế Tuy nhiên, trong thực tế, năng lực và trình độ giaotiếp thư tín thương mại bằng tiếng Anh của các doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế Cũng theo số liệu khảosát của Cục Việc làm, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, số nhân sự Viê ât Nam tại các doanh nghiệp cógiao dịch với nước ngoài có khả năng sử dụng trực tiếp tiếng Anh để giao tiếp chỉ chiếm 12,5% trong tổng sốnhân sự tại các doanh nghiê âp [38] và thực tế này làm phát sinh nhu cầu chuyển dịch thư tín thương mại Anh-
Việt, Việt-Anh khi giao dịch với các đối tác nước ngoài Từ lý do này, luận án đã chọn đề tài Phương pháp
Trang 9chuyển dịch văn bản thư tín thương mại làm cơ sở lý thuyết cho việc giảng dạy môn dịch thuật tại các
trường đại học ở Việt Nam
Có thể nói, hai vấn đề trên có mối quan hê â rất mâ ât thiết với nhau do đây là nô âi dung giảng dạy tạihầu hết các trường đại học khối kinh tế ở Viê ât Nam Xét về góc đô â lí thuyết phân tích thể loại, người dịch chỉ
có thể chuyển dịch tốt văn bản thư tín khi đã hiểu rõ sự khác biê ât giữa mô hình cấu trúc thư tín thương mạitiếng Anh dành cho người Phương Đông và Phương Tây Nói khác, kiến thức về thể loại thư tín tiếng Anh vàtiếng Viê ât sẽ giúp người sử dụng chuyển dịch hiê âu quả văn bản thư tín từ tiếng Anh qua tiếng Viê ât hoă âcngược lại
Từ những nhu cầu thực tế trên, vấn đề “Phương pháp xây dựng và chuyển dịch văn bản thương mại Anh-Việt, Việt-Anh” đã được lựa chọn làm đề tài nghiên cứu của luận án.
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới về diễn ngôn thư tín thương mại
Có thể nói, diễn ngôn thư tín thương mại tiếng Anh từ lâu đã được nghiên cứu rất nhiều trên thế giới do những đòi hỏi rất thiết thực trong thực tế giao tiếp thương mại [40], [51], [59], [63], [68],[76], [78], [80], [121], [130], [172] Các học giả Anh-Mỹ đã xây dựng khá nhiều giáo trình thư tín thương mại chuẩn mực và đã đưa
ra các mô hình cấu trúc thể loại cho từng kiểu loại thư tín nhằm cung cấp cho người sử dụng các nguyên tắc, chiến lược viết trong giao tiếp kinh doanh như chiến lược lịch sự, chiến lược lấy người đọc làm trung tâm, nguyên tắc tạo lòng tin cho người đọc Chẳng hạn, Bhatia [51] trong tác phẩm “Analyzing genre: language use in professional settings” đã
sử dụng phương pháp thể loại, phân tích khá chi tiết về diễn ngôn thương mại tiếng Anh Trong tác phẩmnày, ông cũng đã đưa ra mô hình 7 bước thoại dành cho thư bán hàng và thư xin việc tiếng Anh Henry vàRoseberry [94] khi nghiên cứu thể loại thư tín thương mại của người Anh-Mỹ, đã đưa ra mô hình 14 bướcthoại trong thư xin việc
Bovee [21, tr.65] khi nghiên cứu về thư tín thương mại tiếng Anh cũng đưa
ra phương pháp lấy người đọc làm trung tâm “You Approach”, với các nguyên tắc
viết: nhấn mạnh chiến lược lịch sự dương tính, tránh phân biệt về giới tính (sex disicrimination), nhấn mạnh hành văn trực ngôn (direct arrangement) …trong thư tín thương mại tiếng Anh.
Về phong cách viết thư tín của người Nhật, Kitao [113], Saigo [150] Suzuki [157] đềcập đến nhận thức của người Nhật về tính lịch sự khi đưa ra yêu cầu đề nghị trong thư tín thương mại
Trang 10Về khác biệt văn hóa thể hiện trong thư tín thương mại giữa Phương Đông và Phương Tây, đã có rất nhiều tác giả đã phân tích nghiên cứu về vấn đề này [83], [95], [98], [121], [136], [161], [166], [170], [176], [178], [180] Chẳng hạn, Maier [121, tr.67] xem xét sự khác biệt trong cách viết thư tín giữa người bản địa và người phi bản địa, chủ yếu là sinh viên người Phương Đông (Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc) Sử dụng các mô hình của Brown và Levinson [60] về chiến lược lịch sự, tác giả phân tích chiến lược viết mang tính khẳng định và phủ định Kết luận của tác giả
là người bản địa sử dụng các chiến lược dương tính nhiều hơn người phi bản địa, là những người thích chiến lược lịch sự âm tính nhưng mang tính rủi ro hơn.
Zdenka [180] khi nghiên cứu về sự khác biệt trong chiến lược lịch sự trong
thư trả lời khiếu nại, việc từ chối khiếu nại trong hai nền văn hóa Nhật và Mỹ, đã phát hiện thấy rằng, thư trả lời khiếu nại của Nhật thường mang tính gián tiếp hơn trong giao tiếp so với thư của Mỹ.
Hinds [95] khi nghiên cứu về mô hình văn bản thư tín của Nhật đã mô tả mô hình này theo cấu trúc:
ki-shou-ten-ketsu trong đó “Ki”: bắt đầu vấn đề, “Shou”, phát triển vấn đề, “Ten” bổ sung các chủ đề phụ,
không liên quan trực tiếp đến chủ đề chính, và “Ketsu”, kết thúc, đi đến kết luận Hinds cũng nghiên cứu vềsự khác biệt trong phần nội dung thư tín truyền đạt, phát hiện rằng, trong một số ngôn ngữ, như tiếng Anh,người chịu trách nhiệm chính cho giao tiếp thành công là người nói, trong khi một số ngôn ngữ khác nhưtiếng Nhật, người chịu trách nhiệm chủ yếu cho giao tiếp hiệu quả lại là người nghe
Naoki Kameda [136, tr 452] khi khảo sát về cách viết thư tín tiếng Anh của sinh viên Nhật tại Mỹ,phát hiện thấy rằng trong cấu trúc tu từ, người Nhật thường viết theo mô hình: giải thích (nguyên nhân) trước
và kết quả (tác động) sau Trong thư tín, người Nhật thường có xu hướng đặt vấn đề cần giải quyết (tác động,kết quả, hoặc hành động yêu cầu) sau cùng
Tương tự như vậy, Suzuki [157, tr.236], một nhà Nhật ngữ học, cho rằng, trái với người PhươngTây, trong giao tiếp nói chung và giao tiếp thương mại nói riêng, người Nhật không thích giải thích cặn kẽ
về quan điểm của mình Theo văn hóa Nhật, người chịu trách nhiệm chính để hiểu người nói hoặc người viết
là người nghe hay người đọc
Hinds [98, tr.95] đã so sánh thư khiếu nại của Anh-Mỹ và của Hàn Quốc ở mô hình bước thoại cùngvới đặc điểm ngôn ngữ và phát hiện thấy rằng, người Hàn Quốc thường có thêm bước thoại rào đón (openingbuffer) ở phần mở đầu bao gồm các cách chào hỏi về thời tiết, nhận xét chung, xin lỗi về việc đã khiếu nại…trong khi đó bước thoại này không có trong thư của Anh-Mỹ Đặc biệt, trong bước thoại yêu cầu giải quyết,người Hàn Quốc thường sử dụng hành vi lời nói gián tiếp nhằm giữ thể diện cho người nhận
Michael Haugh [130, tr.174] đã phân tích về thể diện trong diễn ngôn thương mại của Nhật và chorằng trong đàm phán thương mại, người Nhật thường thể hiện chiến lược lịch sự âm tính nhằm thể hiện tính
Trang 11khiêm nhường, sự tôn trọng đối với các đối tác thay vì chiến lược lịch sự dương tính như của Phương Tây.
2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam về diễn ngôn thương mại
Ở Việt Nam, có thể nói rằng trước đây việc nghiên cứu phân tích diễn ngôn thương mại hầu nhưchưa được quan tâm do ảnh hưởng của nền kinh tế bao cấp và do ảnh hưởng của ngôn ngữ học Xô Viết, thìngày nay, do nhu cầu phát triển của một nền kinh tế thị trường, một vài học giả cũng đã nghiên cứu về phântích diễn ngôn thương mại và nghiên cứu chuyển dịch loại văn bản này
Tác giả Lê Hùng Tiến [29], trong luận án tiến sĩ ngữ văn “Một số đặc điểm
của ngôn ngữ luật pháp tiếng Việt”, đã đề cập đến đặc điểm của diễn ngôn văn bản
luật pháp, đưa ra một số ứng dụng trong biên dịch văn bản luật pháp từ tiếng Việt sang tiếng Anh, trong đó có các văn bản hợp đồng thương mại.
Tác giả Nguyễn Xuân Thơm [31], trong luận án tiến sĩ ngữ văn “Các yếu tố
ngôn ngữ trong đàm phán thương mại quốc tế” đã so sánh đối chiếu phân tích đặc
điểm về ngữ vực trong ngôn ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt trong đàm phán thương mại quốc tế.
Tác giả Nguyễn Đức Hoạt [18], trong luận án tiến sĩ ngữ văn bằng tiếng
Anh“Politeness Markers In Vietnamese requests”, cũng so sánh phân tích sự khác
biệt về một số chiến lược sử dụng câu có đánh dấu (markers) trong việc thể hiện tính lịch sự trong diễn ngôn thương mại tiếng Việt và tiếng Anh
Về diễn ngôn thư tín thương mại, có hai tác giả đã phân tích về diễn ngôn của kiểu loại văn bản này, đó là Nguyễn Trọng Đàn [10], trong luận án tiến sĩ ngữ
văn “Phân tích diễn ngôn thư tín thương mại”, đã phân tích đối chiếu một số đặc
điểm về ngữ vực giữa thư tín tiếng Anh và tiếng Việt Hà Văn Riễn [27] đã nêu ra mộtsố phương pháp dịch thuật thư tín Pháp-Việt và Việt-Pháp trong luận án tiến sĩ ngữ văn “Ngôn ngữ học với việc dịch thuật văn bản giao dịch thương mại”.
Ở cấp độ thấp hơn, Khuất Thị Thu Thủy, trong luận văn thạc sĩ “An erro
anaysis of business correspondence letters in English by Vietnamese Contractors”
cũng đã phân tích một số lỗi trong thư tín thương mại tiếng Anh do người Việt viết.
Ngoài ra, Trần Thị Thanh Hải, trong luận án thạc sĩ “A contrastive of English and
Vietnamese sales letters” (Phân tích đối chiếu thư chào hàng tiếng Anh và tiếng
Trang 12Việt) cũng đã phân tích đối chiếu thư bán hàng tiếng Anh và tiếng Việt ở góc độ các chiến lược lịch sự, chiến lược hướng vào người đọc của loại thư này.
Như vậy, có thể thấy số công trình nghiên cứu về diễn ngôn thương mại nói chung và thư tín thươngmại nói riêng ở Việt Nam là không đáng kể và chưa có công trình nào tập trung khảo sát một cách toàn diện
về văn bản thư tín thương mại và việc chuyển dịch loại văn bản này.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án này là giúp cho các doanh nghiệp người Việt biết cách xây dựng và chuyển
dịch các văn bản thư tín thương mại bằng tiếng Anh để giao dịch với các doanh nghiệp đối tác Phương Đông
trên cơ sở chỉ ra các nguyên tắc viết và mô hình văn bản thư tín thương mại bằng tiếng Anh dành cho người Phương Đông; mô hình chuyển dịch văn bản thư tín thương mại Anh-Việt, Việt - Anh thể hiện trong việc chuyển dịch cấu trúc thể loại từ văn bản nguồn sang văn bản đích; các nguyên tắc chuyển dịch ngữ nghĩa liên
nhân, kinh nghiệm và văn bản của thể loại văn bản này từ ngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- So sánh, đối chiếu và mô tả sự tương đồng và khác biệt giữa thư tín tiếng Anh của Anh-Mỹ và Nhật
Bản thể hiện trong cấu trúc thể loại, cấu trúc tu từ, và các đặc điểm ngôn ngữ giữa hai kiểu viết thư này
- Xác định sự khác biệt trong mục đích giao tiếp và cấu trúc bước thoại trong các kiểu loại văn bảnthư tín này
- So sánh đối chiếu mô hình cấu trúc bước thoại trong hai kiểu viết thư Anh-Mỹ và Việt Nam, tìm rasự khác biệt trong cấu trúc tu từ và mục đích giao tiếp giữa hai kiểu văn bản này để đưa ra mô hình chuyểndịch chuẩn từ ngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích
- So sánh đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ trong ngữ vực để tìm ra các nguyên tắc trong việc chuyểndịch ba trường ngữ nghĩa: Liên nhân, kinh nghiệm và văn bản
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là văn bản thư tín thương mại Phương
Đông (Nhật Bản, Việt Nam) và Phương Tây (Anh-Mỹ), trong đó luận án đi sâu vào
nghiên cứu so sánh các phương diện: Thể loại thư tín thương mại, Cộng đồng diễn
ngôn, Mục đích giao tiếp, Bước thoại và chiến lược, Phương pháp lấy người đọc làm trung tâm (You-Approach), Đặc điểm ngôn ngữ thư tín
Do khuôn khổ của luâ ân án, chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu văn bản thư tín thương mại tiếng Anh do người Nhâ ât, người Viê ât Nam và người Anh-
Mỹ viết để so sánh và quy nạp mô hình cấu trúc kiểu loại văn bản này dành cho
Trang 13người Phương Đông Viê âc xem xét các phương diê ân trên trong văn bản thư tín tiếng Anh do người Phương Đông như Trung Quốc, Hàn Quốc … viết sẽ được đề xuất trong các nghiên cứu tiếp theo.
5 Phương pháp nghiên cứu
Luâ ân án sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau: phương pháp so sánh - đối chiếu,phương pháp miêu tả và thủ pháp thống kê
Phương pháp so sánh-đối chiếu được sử dụng để đối sánh các văn bản thư tín tiếng Anh của
Phương Tây, Nhâ ât Bản và thư tín tiếng Viê ât ở hai cấp đô â: Mô hình cấu trúc thể loại và đă âc điểm ngôn ngữnhằm tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt
Việc so sánh - đối chiếu được thực hiện theo trình tự các bước: i) xác định mô hình đối chiếu; ii) Đốichiếu mẫu; iii) Đối chiếu để tìm ra những điểm tương đồng và khác biê ât về bình diê ân cấu trúc thể loại vănbản thư tín và đă âc điểm ngôn ngữ Kết quả có được nhờ vận dụng phương pháp so sánh-đối chiếu có thể gópphần hữu ích hỗ trợ cho công tác dịch thuật, giảng dạy thư tín tiếng Anh tại các trường đại học ở Viê ât Nam
Thủ pháp thống kê được sử dụng xuyên suốt chương 2 và chương 3, cho phép luận án xác định
được những điểm tương đồng và khác biệt về số lượng và mục đích từng bước thoại trong từng thể loại thưtín Từ nguồn ngữ liê âu gồm 230 bức thư thu thâ âp được và 120 bức thư trong tài liê âu song ngữ, luâ ân án cònsử dụng thủ pháp này để thống kê những đă âc điểm của các yếu tố ngôn ngữ được sử dụng ở các cấp đô â như:cú pháp (cấu trúc câu, biểu ngữ), từ vựng (danh từ, đại từ, tính từ…) nhằm mục đích so sánh các yếu tố nàygiữa các văn bản thư tín của Anh-Mỹ, Nhâ ât Bản và Viê ât Nam
Phương pháp miêu tả giúp luâ ân án phác họa mô ât bức tranh toàn cảnh về văn bản thư tín thương
mại tiếng Anh nói chung hiê ân đang được sử dụng tại Viê ât Nam Phương pháp này cũng giúp luâ ân án miêu tả
đă âc điểm về thể loại và ngôn ngữ của văn bản thư tín được tạo lâ âp bởi những người viết có nguồn gốc vănhóa khác nhau Trên cơ sở miêu tả, luâ ân án sẽ đưa ra các mô hình cấu trúc thể loại và mô hình sử dụng ngônngữ thư tín cho từng vùng văn hóa
6 Ngữ liệu nghiên cứu
Ngữ liệu nghiên cứu của luận án bao gồm 230 văn bản thư tín của Anh-Mỹ, Nhật và Việt Nam, cụthể như sau:
- 70 thư bán hàng tiếng Anh (Sales letters): 35 thư do người Anh-Mỹ viết và 35 thư do người Nhật viết
- 40 thư xin viê âc tiếng Anh (Job application letters): do người Nhật viết
- 60 thư từ chối việc làm tiếng Anh (Rejection letters): 30 thư do người Anh-Mỹ viết và 30 thư do người Nhậtviết
- 60 thư xin việc: 30 thư tiếng Anh của người Anh-Mỹ và 30 thư tiếng Việt
Như vâ ây, tổng số thư khảo sát do người Anh-Mỹ viết là 95; do người Nhâ ât viết là 105; do ngườiViê ât Nam viết là 30 Ngoài ra, để phân tích thực tiễn chuyển dịch thư tín thương mại ở Viê ât Nam, chúng tôicũng khảo sát 120 bức thư được chuyển dịch Anh-Viê ât trong mô ât số tài liê âu giáo trình song ngữ đang lưuhành ở Viê ât Nam [40], [78], [134], [149]
Trang 14Lí do chúng tôi lựa chọn ba loại thư này để so sánh đối chiếu là theo Bhatia [51, tr 66] [52, tr.75],Dugger [68, tr.70] và Bovee [59, tr.97] trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, thư tín thương mạitiếng Anh thường vươn tới cái phổ quát và mang nhiều đặc điểm tương đồng, sự khác biệt về văn hóa được
thể hiện rõ nét và điển hình hơn trong các thể loại thư tín mang tính thuyết phục như: thư bán hàng, xin việc
và trong thể loại thông tin xấu như thư từ chối hoặc khiếu nại
Ngoài số văn bản trên, để xác định các nguyên tắc chuyển dịch Anh-Việt, Việt-Anh, luận án cũngtập hợp các thư khiếu nại, chào hàng, hỏi hàng, đặt hàng, hoàn chào giá… từ các giáo trình và sách song ngữhiê ân đang được sử dụng tại các trường đại học ở Viê ât Nam, lần lượt như sau:
- Ashley, A (2003), Oxford Hanbook of Commercial Correspondence Oxford University press.
- Gartside, L (1992) Model Business Letters Longman: Pitman Publishing.
- Howard Wilson (1988) ABC Business letters Tokyo: Kenekyusha.
- Keisuke Maruyama, Mami Doi, Yuko Igucara, Kazulco Kuwabara, Masahiro Omama, Tasuya Yasui, Ryuko
Yokosuka (1999) Writing Business Letters in Japanese Tokyo: The Japan Times.
- Muckian, Michael and John Woods (1996) The business letter handbook: how to
write effective letters & memos for every business situation Hol-brook,
Massachusetts: Adams Media Corporation.
- Poe.W (2004) The McGraw-Hill handbook of Business letters McGraw-Hill Inc.
- Tatematsu, Kikuko, et al (1994) Writing Letters in Japanese The Japan Times.
Ngoài nguồn ngữ liê âu trên, số văn bản thư tín này còn được sưu tầm từ các đơn vị Viê ât Nam hoă âckinh doanh ở Viê ât Nam Như vâ ây, đối tượng cũng khảo sát là các văn bản tiếng Anh thư tín thương mại, với
3 nguồn gốc khác nhau từ các cơ quan, đơn vị kinh tế Anh, Hoa Kỳ, Nhâ ât Bản và Viê ât Nam
7 Ý nghĩa của đề tài
Về ý́ nghĩa khoa học, kết quả nghiên cứu sẽ đưa ra mô hình chuyển dịch Anh – Viê ăt, Viê ăt - Anh đối với văn bản thư tín thương mại trên cơ sở kế thừa những quan điểm của các nhà lí thuyết dịch thuật đi trước.
Đề tài cũng đưa ra mô hình xây dựng văn bản thư tín thương mại tiếng Anh dành cho người Nhâ ăt Bản nói
riêng và người Phương Đông nói chung
Về nghĩa thực tiễn, đề tài này mang đến cho các doanh nghiệp, giáo viên, sinh viên, người dịch tài
liê âu tham khảo hữu ích trong viê âc xử lý văn bản thư tín thương mại tiếng Anh dành cho người Phương Đông
và phương pháp chuyển dịch Anh-Viê ât, Viê ât-Anh thể loại văn bản này trong việc giảng dạy thư tín thươngmại tiếng Anh hiê ân nay
8 Bố cục của luâ ân án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí thuyết
Trang 15- Chương 2: Các nguyên tắc xác lập và xây dựng mô hình văn bản thư tín thương mại tiếng Anh (Trên cơ sởđối chiếu văn bản thư tín tiếng Anh của Phương Tây và Phương Đông)
- Chương 3: Phương pháp chuyển dịch Anh-Viê ât, Viê ât-Anh văn bản thư tín thương mại
Trang 16Chương 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1 Tổng quan về văn bản thư tín thương mại
Diê âp Quang Ban [2] cho rằng “ở cách hiểu hẹp nhất, văn bản được hiểu là những tài liê ău viết và
trong cách hiểu rô ăng hơn, văn bản là tất cả các tài liê ău viết” [tr 211] Trần Ngọc Thêm [32] cho rằng văn
bản là mô ât hê â thống bao gồm các câu phần tử và cấu trúc
Văn bản thương mại được hiểu là các văn bản liên quan đến thương mại, bao gồm nhưng không hạnchế ở các loại văn bản mang tính pháp lý, các văn bản trao đổi, giao dịch trong thực tiễn kinh doanh …
Trong luâ ân án này, chúng tôi chỉ giới hạn phần nghiên cứu ở văn bản thư tín thương mại sử dụng
trong giao dịch kinh doanh hiê ân nay Để có cái nhìn tổng quan về thể loại này, trong phần tiếp theo chúng tôisẽ phân tích đă âc điểm và nhâ ân diê ân từng kiểu loại văn bản thư tín thương mại
1.1.1 Đă âc điểm của văn bản thư tín thương mại
Thư tín thương mại là thể loại đă âc biê ât sử dụng trong cô âng đồng thương mại nhằm đạt được mụcđích giao tiếp kinh doanh So với thư cá nhân, thư tín thương mại thường mang phong cách trang trọng nhấtđịnh, sử dụng các cấu trúc và biểu ngữ tâ âp quán theo quy ước của cô âng đồng giao tiếp thương mại Tùy từngmối quan hê â, đối tượng giao dịch, bản chất của hàng hóa dịch vụ trao đổi… mỗi tiểu thể loại thư tín đềumang tính đă âc thù và được cấu trúc theo các cách khác nhau để đạt được mục đích riêng
1.1.1.1 Hình thức trình bày
Gartside [78] và các tác giả khác đưa ra ba hình thức chính cho viê âc trình bày mô ât bức thư như sau:
kiểu trình bày lui vào lề (“Indented”) (x Phụ lục 1), kiểu bán hình khối (semiblock) và kiểu hình khối, “full block” hoặc hình khối không có dấu câu ở phần lời chào đầu thư hay cuối thư “full block, open punctuation” Kiểu Indented được coi là lâu đời nhất, với cách trình bày rất công phu, yêu cầu người viết
phải lui vào một hay hai hàng khi xuống dòng, với lời chào đầu thư được đặt phía bên trái, còn lời chào cuốithư đặt phía bên phải Do vậy, hình thức kiểu này tạo ra một sự cân bằng của bức thư khiến cho bức thưtrông trang trọng và bắt mắt
Hiện nay, trong các văn bản hành chính của Việt Nam, hình thức này đang được áp dụng phổ biến.Tuy nhiên, nhược điểm chính của hình thức trình bày kiểu này là người viết thường mất công hơn do phảithực hiê ân nhiều thao tác khi soạn thảo văn bản
Khi các giao dịch thư tín ngày nay trở nên phổ cập hơn nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin,
người viết có xu hướng đơn giản hóa cách trình này bằng việc chuyển sang kiểu bán hình khối block”) Kiểu này được trình bày thẳng từ trên xuống và người viết không cần phải lui vào một hay hai hàng.
(“semi-Tuy nhiên, phần lời chào cuối thư vẫn giữ vị trí bên phải bức thư Để giản tiện hơn nữa, người viết áp dụng
hình thức hình khối, không có dấu câu (“Full block”) trong đó, tất cả phần địa chỉ người nhận, lời chào đầu
thư, nội dung thư, phần lời chào cuối thư… được trình bày theo hình khối, thẳng từ trên xuống và loại bỏ cácdấu câu sau phần tên và địa chỉ của người nhận, lời chào đầu thư, lời chào cuối thư Tùy theo tâ âp quán vănhóa và thói quen của người viết, thư tín được trình bày theo một trong ba hình thức trên (x phụ lục 1)
Trang 171.1.1.2 Cấu trúc tổ chức văn bản thư tín
Theo Dugger [68], Gartside [78] và các tác giả khác, mô ât văn bản thư tín thương mại có cấutrúc tổ chức như sau: (x phụ lục 1)
Phần 1 Thông tin đầu thư: bao gồm thông tin về người viết, thông tin về người nhâ ân, ngày tháng, tham
chiếu
Phần 2 Mở đầu: bao gồm lời chào đầu thư, chủ đề, thăm hỏi đầu thư
Phần 3 Nô ôi dung: Trong phần này, tùy vào kiểu loại thư mà bức thư mang cấu trúc cụ thể như phân tích
trong phần nhâ ân diê ân thể loại thư tín dưới đây Tuy nhiên mô ât bức thư thường chia thành ba phần chính:
(i) Nêu mục đích viết thư; (ii) trao đổi, thông báo, đề nghị, yêu cầu…và (iii) kết thúc.
Phần 4 Thông tin cuối thư, bao gồm: Chào hỏi cuối thư, Lời chào cuối thư, Chữ ký và chức vụ người viết,
Gửi kèm, Tái bút
Nhìn chung, mă âc dù thương tín thương mại ngày nay có xu hướng được trình bày với nhiều đă âcđiểm tương đồng hơn trước đây do tác đô âng của môi trường giao tiếp toàn cầu bằng tiếng Anh, tuy nhiên,như đã phân tích ở trên, sự khác biê ât về văn hóa cũng ảnh hưởng không nhỏ đến cấu trúc tổ chức thư tín
1.1.2 Nhâ ân diê ân văn bản thư tín thương mại
Trước khi đi vào phân tích nhâ ân diê ân từng thể loại thư tín, cần phải xác định mô ât số khái niê âmđược sử dụng trong luâ ân án để làm cơ sở cho viê âc xác định từng thể loại thư tín thương mại và phân tích sosánh sự khác biê ât giữa các văn bản thư tín thuô âc những văn hóa khác nhau
1.1.2.1 Các khái niê âm hữu quan
(i) Thể loại
Thể loại là một sự kiện giao tiếp độc lập mang tính văn hóa, xã hội và được cho là hiệu quả trongviệc bảo đảm sự thành công của dụng học trong thương mại hoặc trong đó ngữ cảnh chuyên ngành khác đượcsử dụng [51, tr.57] Do vậy, khi nghiên cứu cần kiểm tra khía cạnh xã hội của một thể loại đặc biệt để đưa ra
cách giải thích về xã hội cho câu hỏi “Tại sao các thành viên của những gì mà các nhà xã hội học gọi là
“Văn hóa thứ hai” viết theo cách của họ?”
Bhatia [55, tr.135] cho rằng có nhiều phương pháp phân tích thể loại với các định hướng khác nhau,nhưng chúng đều cung cấp mảnh đất chung như sau:
- Thể loại là các sự kiện giao tiếp được công nhận, khắc họa bởi một tập hợp các mục đích để các thành viênthuộc cộng đồng học thuật hay chuyên ngành hiểu nhau
- Các thể loại được cấu trúc ở mức độ cao và có tính tập quán quy ước trong đó một đóng góp nội hàm xét vềcác biểu ngữ, hình thức và nguồn thể loại có khả năng xảy ra
- Khám phá về thể loại và sử dụng tối đa thể loại sẽ là đặc quyền của các thành viên trong một cộng đồngdiễn ngôn chuyên ngành đặc thù
Trang 18- Các thành viên của cộng đồng chuyên ngành và nguyên tắc thường khai thác nguồn thể loại để thể hiệnkhông chỉ các ý định riêng mà cả các ý định tổ chức trong phạm vi các cấu trúc của mục đích giao tiếp côngnhận.
- Thể loại là sự phản ánh văn hóa tổ chức và kỷ luật có sự thống nhất về nội dung, thường được nhận biếtbằng việc dẫn chiếu về sự kết hợp các yếu tố ngữ cảnh, suy luận và văn bản
Trong luâ ân án này, thể loại thư tín thương mại được hiểu là mô ăt sự kiê ăn giao tiếp trong cô ăng đồng
thương mại, được cấu trúc theo tâ ăp quán sử dụng riêng, với cách sử dụng các biểu ngữ và từ vựng đă ăc thù, được cô ăng đồng thương mại công nhâ ăn và khai thác nhằm mục đích để các thành viên trong cô ăng đồng này hiểu nhau trong các giao tiếp của mình.
(ii) Ngữ vực
Halliday [85] sử dụng thuật ngữ Ngữ vực muốn đề cập đến “thực tế ngôn ngữ chúng ta nói hay viết
tùy vào kiểu loại tình huống”, đó là, tùy thuộc vào “ngữ cảnh xã hội sử dụng ngôn ngữ” Có ba quy phạm
ngữ vực liên quan đến vấn đề này: loại tương tác diễn ra giữa người nói và người nghe (gọi là Trường), mối quan hệ liên nhân giữa người nói và người nghe (gọi là Không khí), mối quan hê â mà các tham thể mong đợi ngôn ngữ sẽ thực hiện trong tình huống đó (gọi là Thức) (xem 1.2.2.2) Sau này các nhà ngôn ngữ chức năng
hê â thống trình bày hê â thống này tường minh hơn Ngoài ra, theo chúng tôi, ngữ vực cũng bị ảnh hưởng vàchịu sự tác đô âng bởi ngữ cảnh văn hóa Như vâ ây, nếu ngữ cảnh tình huống gắn liền với một văn bản cụ thể
và một tình huống giao tiếp cụ thể thì ngữ cảnh văn hóa liên quan đến tập quán của các tham thoại bao gồmcả các tri thức nền gắn liền với một cộng đồng diễn ngôn
(iii) Cộng đồng diễn ngôn
Cộng đồng diễn ngôn là một cộng đồng trong đó mối quan hệ liên kết được xây dựng trên cơ sở các
mục đích giao tiếp chung Các mục đích chung này liên kết thể loại với cô âng đồng diễn ngôn [141] Mốiquan hệ giữa các mục đích giao tiếp và cộng đồng diễn ngôn được thể hiện như sau:
Mục đích giao tiếp của một thể loại được công nhận bởi các thành viên trong cộng đồng đó và dovậy, tạo nên tính hợp lý của thể loại, tính hợp lý này hình thành cấu trúc sơ đồ của diễn ngôn và các ảnhhưởng cũng như các khống chế đối với sự lựa chọn nội dung và thể loại [158]
Pare [147] ủng hộ quan điểm về cộng đồng diễn ngôn trong việc tạo lập văn bản Họ tin rằng thể loại
là cách thức để đảm bảo việc tạo nên một diễn ngôn dựa trên cộng đồng; một diễn ngôn được tạo ra bởi và vìnhóm cộng đồng đó Cộng đồng diễn ngôn được cho là có khái niệm liên quan đến các cộng đồng tập quánđang ngày càng trở nên phổ biến, đặc biệt đối với các ngữ cảnh học thuật [60] Swales [158, tr 24-27] đưa rasáu đặc điểm xác định của cộng đồng diễn ngôn như sau:
- Có mục tiêu chung được các thành viên công nhâ ân;
- Thiết lập một cơ chế liên giao tiếp giữa các thành viên (chẳng hạn như các bản tin hay thư thông tin);
- Tận dụng một hay nhiều thể loại trong việc thể hiện các mục đích của mình;
- Tận dụng cơ chế tham gia để cung cấp thông tin và phản hồi ;
- Đạt được các từ vựng đặc thù ngoài việc sở hữu thể loại và cấp độ tiêu chuẩn của các thành viên với mộtnội dung và trình độ diễn ngôn tương đối thích hợp
Trang 19Tóm lại, cộng đồng diễn ngôn là một cộng đồng trong đó người tạo lập văn bản và người tiếp nhậnvăn bản được nối kết bởi kiến thức và các mong đợi tương tự về bản chất và chức năng của thể loại Các liênkết lẫn nhau giữa các thành viên được xây dựng trên cơ sở chung mục đích [141, tr.198]
(iv) Mục đích giao tiếp
Mục đích giao tiếp là tiêu chuẩn điển hình cho việc xác định thể loại mà Swales định nghĩa một thể
loại là “một lớp các sự kiện giao tiếp, các thành viên của cộng đồng có chung một số mục đích giao tiếp” Tương tự như vậy, Bhatia [51, tr.58] cho rằng, “một thể loại là một sự kiện giao tiếp được công nhận khắc
họa bởi một tập hợp các mục đích giao tiếp” Còn đối với Martin [127, tr 89] thể loại là một “quy trình xã hội có mục đích và được phân đoạn” Cả ba diễn dịch này về thể loại cho rằng khái niệm cơ bản đó là về
mục đích, chức năng hay mục tiêu [41, tr 123] Cả hai trường phái này đều coi mục tiêu hay mục đích giao
tiếp là quan trọng và là tiêu chuẩn cơ bản cho việc quyết định liệu một diễn ngôn đặc biệt sẽ được xếp vàoloại nào Mục đích giao tiếp xác định cả cấu trúc sơ đồ và lựa chọn từ vựng của diễn ngôn, và là nguyênnhân tại sao các văn bản đều mang các đặc tính riêng nào đó
(v) Bước thoại và chiến lược
Bước thoại (Moves): Theo Hyland, K [106, tr.46], bước thoại là sự thể hiện một mục đích giao tiếp
chung đặc thù thông qua các chiến lược ngôn ngữ khác nhau Cũng như vậy, Hopkins và Dudley [101,
tr.131) cho rằng bước thoại là “đơn vị cú pháp liên quan đến mục đích của người viết” Nwogu [143]
định nghĩa về bước thoại có lẽ chi tiết hơn:
“Bước thoại là một phân đoạn văn bản tạo nên từ các đặc điểm ngôn ngữ (ngữ nghĩa ngữ vựng, ngữ nghĩa thành phần, lực ngôn trung…) mang lại cho phân đoạn ấy tính thống nhất và thể hiện nội dung của diễn ngôn trong phân đoạn (tr 122)
Các định nghĩa tiếp theo về bước thoại của Swales [158], Thompson [165] và mô ât số nhà ngônngữ học khác như sau:
Bước thoại là một đơn vị giao tiếp của một văn bản mang mục đích giao tiếp riêng biệt, được khắc họa bởi các đặc điểm hay bằng chứng ngôn ngữ trong văn bản Các đơn vị giao tiếp hay bước thoại trong một văn bản tạo nên một loạt các mục đích giao tiếp thể hiện thể loại của văn bản
Trong thư tín thương mại, bước thoại được hiểu là đơn vị giao tiếp cơ bản, sử dụng chiến lược ngôn
ngữ khác nhau nhằm thể hiê ân mục đích cụ thể của văn bản thư tín đó Mỗi tiểu thể loại thư tín đều có cấutrúc bước thoại riêng mang chức năng giao tiếp khác nhau mà chúng sẽ được nhâ ân diê ân trong các phân tíchdưới đây
Ví dụ: trong thể loại thư tín mang tính thông tin (thư hỏi hàng, chào hàng, đă ât hàng, thông báo…),
cấu trúc bước thoại bao gồm: Bước thoại 1 Đưa ra vấn đề trung tâm; - Bước thoại 2 Cung cấp thông
Trang 20tin.-Bước thoại 3 Thu hút hợp tác.
Chiến lược (Strategies)
Để thể hiện mục đích giao tiếp của một bước thoại cụ thể, người viết thư tín cần phải thêm các yếutố cấu thành, và các yếu tố cấu thành này được gọi là chiến lược hay còn gọi là tiểu thoại (steps) Một bướcthoại có thể bao gồm một hay nhiều chiến lược thực hiê ân Đối với thư tín thương mại, một chiến lược đượcxác định thành một phân đoạn của văn bản chứa đựng các đặc điểm tu từ, có nghĩa cho việc thể hiện mụcđích giao tiếp của một bước thoại Các chiến lược chủ yếu được nhận biết bằng các bằng chứng ngôn ngữ vàdiễn ngôn trong văn bản hoặc được suy luận từ ngữ cảnh Tóm lại, người viết đưa ra các chiến lược thực hiê ânnhằm đạt được mục đích giao tiếp cho mô ât bước thoại cụ thể Ví dụ: trong thể loại thư đă ât hàng, Bước thoại
1: Đưa ra vấn đề trung tâm được người viết thực hiê ân bằng một trong ba chiến lược sau: Nêu mục đích bức
thư, Nhắc lại vấn đề trước đó, Trả lời các vấn đề trước đó.
(vi) Phương pháp lấy người đọc làm trung tâm (You-Approach)
Trong thư tín thương mại tiếng Anh, Bovee [59 tr 67] phân tích ba phương pháp: “You
approach” (Lấy người đọc làm trung tâm), “We/I approach” (Lấy người viết làm trung tâm và “It/they approach” (Trung tính) Phương pháp “you approach” được người Phương Tây ưa chuô âng, trong đó người
viết sử dụng chiến lược hướng về sự quan tâm của người đọc bằng viê âc sử dụng nhiều từ nhân xưng ở ngôi
thứ 2 như: You, your, yours Ngược lại với phương pháp này là I/We approach trong đó người viết sử dụng nhiều đại từ nhân xưng ở ngôi thứ 1 (We/ I/ us/ me…) để định hướng giao tiếp về phía người viết Phương pháp It/they approach thường bắt đầu bằng chủ ngữ ngôi thứ 3 (it, they) không định hướng vào người viết
hay người nhâ ân Chẳng hạn như khi thông báo viê âc khai trương mô ât cửa hàng, người viết có thể sử dụng bakiểu như sau:
a We are happy to announce that we have increased the size of our store building (Chúng tôi vui
mừng thông báo đã mở rô âng khuôn viên khu bán hàng)
b Now you will find a wider choice of merchandize in the greatly enlarged building (Giờ đây quý
khách hàng sẽ có nhiều lựa chọn hơn trong khu bán hàng đã mở rô âng này)
c The enlarged store building has allowed you so much greater variety of merchandize (Khu bán
hàng đã được mở rô âng này đã mang lại cho quý khách hàng nhiều sự lựa chọn hơn trước nhiều)
Đối với (a), diễn ngôn định hướng về người viết (sử dụng chủ ngữ We) còn (b) có diễn ngôn định hướng về người nhâ ân (sử dụng chủ ngữ “you”) và (c) được coi là diễn ngôn trung tính
1.1.2.2 Nhâ ân diê ân thư tín theo thể loại
Dựa vào khái niê âm về thể loại và mục đích giao tiếp, Larson [61, tr 234] phân chia thư tín thương mại thành các tiểu thể loại như Bảng 1.1 dưới đây.
Bảng 1.1: Các thể loại thư tín thương mại [61]
THƯ TÍN THƯƠNG MẠI
Trang 21Yêu cầu Thư yêu cầu Hỏi về thông tin hoă âc đề nghị
Trả lời Đồng ý Thư trả lời Đồng ý yêu cầu hoă âc khiếu nại
Khiếu nại Thư khiếu nại Thể hiê ân viê âc không hài lòng, khiếu nại đòi bồi thường
Xin viê âc Thư xin viê âc Tự giới thiê âu với doanh nghiê âp
Giới thiê âu, tiến cử Thư giới thiê âu, tiến
cử
Giới thiê âu cá nhân/ công ty cho đối tượng khác
Đă ât hàng Thư đă ât hàng Đă ât mua hàng hóa, dịch vụ
Thiê ân chí Thư thiê ân chí Tăng cường, thắt chă ât mối quan hê â
Xác nhâ ân Thư xác nhâ ân Xác nhâ ân về viê âc đã thỏa thuâ ân
Các loại thư tín trên đây có thể gọi là các tiểu thể loại thư tín mà mỗi tiểu thể loại đều mang mô âtchức năng, mục đích giao tiếp và đă âc điểm riêng
1.1.2.3 Nhâ ân diê ân thể loại thư tín theo ngữ vực
Xét về phương thức giao tiếp và biến đổi ngữ vực, Giménez [80, tr 112] phân chia thư tín theo Sơđồ 1.1 dưới đây Theo tác giả, việc phân chia này chỉ mang tính tương đối vì tùy theo ngữ cảnh và vai trò củangười tham gia mà mức độ trang trọng hay thân mật trong ngữ vực của từng thể loại có thể thay đổi khác đi
Sơ đồ 1.1: Các mức độ biến thiên ngữ vực trong thư tín [80, tr 112]
Email Học Thuật
Thư tín Thương mại
Email Thương mại
Pháp lý
Trang 22Trên cơ sở về sự khác biệt về mức đô â trang trọng trong ngữ vực, Giménez đưa ra các tiêu chí dướiđây để xác định các mức đô â phong cách.
Bảng 1 2: So sánh ngữ vực trong sử dụng từ, biểu ngữ và câu [80, tr 121]
1 Các biểu ngữ nhân xưng
2 Thể chủ động
3 Hành động ngôn ngữ trực tiếp
4 Động từ, liên từ thông thường
5 Các thuật ngữ chung chung
6 Các động từ kép và các biểu ngữ thân mật
7 Cấu trúc ngắn gọn, viết tắt, sử dụng đô âng từ hóa
1 Biểu ngữ vô nhân xưng
2 Thể bị động
3 Hành động ngôn ngữ gián tiếp
4 Các động từ, liên từ đặc trưng
5 Các đặc ngữ
7 Các biểu ngữ trang trọng có gốc Latin
7 Các biểu ngữ cụ thể và chi tiết không rút gọn,sử dụng danh từ hóa và bổ ngữ
Như trên đã phân tích, mức độ trang trọng, nghi thức hay thân mật trong ngữ vực thư tín sẽ tùy theongữ cảnh tình huống và đối tượng sử dụng Ngoài ra ảnh hưởng của ngữ cảnh văn hóa sẽ dẫn đến sự khácbiê ât về ngữ vực trong thư tín thương mại của Anh-Mỹ và Phương Đông
1.1.2.4 Nhâ ân diê ân thể loại thư tín theo mục đích
Dựa vào mục đích của từng thể loại, Budly và các tác giả khác [61, tr.224] phân chia thư tín làm bốn
tiểu thể loại là: thuyết phục, thông tin, thông tin xấu và thiện chí.
Thể loại thuyết phục: bao gồm thư bán hàng, xin viê âc, chào hàng, hoàn chào giá…
Thể loại thông tin xấu: bao gồm thư từ chối (viê âc làm, đề nghị…), khiếu nại, phàn nàn…
Thể loại thông tin: bao gồm báo cáo, thông báo, đặt hàng, hỏi hàng, thư nội bộ (memo), thư giới thiệu … Thể loại thiện chí: gồm thư chúc mừng, chia buồn, cảm ơn …
1.1.2.5 Cấu trúc bước thoại và chiến lược của các thể loại thư tín
(i) Thể loại thuyết phục
Đối với thể loại thuyết phục, Bhatia [51, tr 43] đã xác định chức năng chính thuyết phục là để ngườiđọc đáp lại một hành vi cụ thể Để đạt được mục tiêu cuối cùng này, bức thư phải gây được sự chú ý củangười đọc, đưa ra các lợi ích của sản phẩm hay dịch vụ liên quan đến nhu cầu, lợi ích của người đọc, tạo mốiquan hệ kinh doanh bước đầu và khuyến khích tiếp tục giao tiếp Bhatia đã minh họa cấu trúc diễn ngôn của
thể loại thuyết phục với bảy bước thoại (BT) như sau:
Bảng 1.3: Mô hình cấu trúc bước thoại trong thể loại thuyết phục [51, tr 49]
Bước thoại- Mục đích
BT 1: Tạo sự tin tưởng
BT 2: Giới thiê âu
BT 3: Đưa ra các biê ân pháp khuyến khích
BT 5: Thúc giục phản hồi
BT 6: Sử dụng chiến thuâ ât thúc ép
BT 7: Kết thúc lịch sự
Trang 23BT 4: Gửi kèm tài liê âu
Đây là mô hình cấu trúc bước thoại chung dành cho thư tín thuô âc thể loại này Tuy nhiên, thể loạithuyết phục được coi là thể loại bị ảnh hưởng lớn nhất bởi văn hóa do nó thể hiê ân quan điểm của người viết
về các vấn đề cần thuyết phục [51] Trong chương 2, chúng tôi sẽ sử dụng mô hình này để so sánh sự khácbiê ât giữa thư bán hàng và thư xin viê âc của Anh-Mỹ và Nhâ ât Bản Trong chương 3, chúng tôi cũng so sánhthể loại thuyết phục này của thư xin viê âc Anh-Mỹ và Viê ât Nam để đưa ra phương pháp chuyển dịch chungđối với văn bản thư tín thương mại
(ii) Thể loại thông tin
Nelson [137, tr 26] cho rằng đối với thể loại thông tin, thư tín thường được hình thành bởi ba bướcthoại với các chiến lược thực hiê ân chung, tùy theo đặc điểm của từng loại thư tín mà lựa chọn số lượng cácchiến lược này để đưa vào sử dụng
Bảng 1.4: Mô hình cấu trúc bước thoại và chiến lược của thể loại thông tin [137, tr.26]
BT1: Đưa ra vấn đề trung tâm
Nêu mục đích bức thưNhắc lại vấn đề trước đóTrả lời các vấn đề trước đó
BT2: Cung cấp thông tin
Trả lời và yêu cầu điều kiện thương mạiYêu cầu về điều kiện thương mạiĐàm phán điều kiện thương mạiYêu cầu báo giá, chào hàng, xác nhâ ân
BT3: Thu hút hợp tác
Bày tỏ cảm ơn Khuyến khích phản hồiXây dựng lòng tinLập triển vọng tích cựcXác nhận nguồn liên lạc
(iii) Thể loại thông tin xấu
Meyer [129, tr 34] khi nghiên cứu về các loại thư từ chối viê âc làm, thư khiếu nại… đã đưa ra môhình cấu trúc bước thoại cho thể loại này như sau
Bảng 1.5: Cấu trúc bước thoại trong thể loại thông tin xấu [129, tr.34]
BT1: Xác nhâ ôn vấn đề
Xác nhận vấn đề/Dẫn chiếu/ Nêu vấn đềThông báo tin tốt (nếu có)
Bày tỏ cảm ơn (nếu có)
BT2: Đưa thông tin xấu
Trình bày nguyên nhân
Từ chối yêu cầuBày tỏ tiếc nuốiĐưa chứng cứ, thuyết phục thỏa thuậnGửi kèm giấy tờ
Bày tỏ ý định, Đề nghị giải quyết
Hi vọng chấp nhận
Trang 24Khuyến khích phản hồi
(iv) Thể loại thiện chí
Ashley [40, tr 57] đưa ra mô hình các bước thoại trong thể loại thiê ân chí như sau:
Bảng 1.6: Cấu trúc bước thoại trong thể loại thiện chí [40]
BT1: Xác định vấn đề
Cảm ơnChúc mừngThông báo
BT2: Chia sẻ Bày tỏ cảm ơnBày tỏ tiếc nuối
BT3: Thiết lập triển vọng tích cực Kết thúc tích cực
Như vâ ây, khi triển khai văn bản thư tín thương mại, cần phải hiểu rõ cấu trúc thể loại của loại thư đóđể xác định chiến lược viết sao cho phù hợp với mục đích giao tiếp Khi đã xác định thể loại, người viết cầnphải xem xét toàn bộ các yếu tố lần lượt là: mối quan hệ giữa người gửi và người nhận, chức năng của thểloại đó, ngữ cảnh của diễn ngôn, phần tựa đề, cấu trúc bước thoại, tính liên kết, loại hình từ vựng…để triểnkhai chiến lược viết thích hợp Có như vậy, mọi thông tin mới được truyền đạt đầy đủ, rõ ràng đến ngườinhận và quá trình giao tiếp kinh doanh mới đạt được hiệu quả như mong muốn
Trên đây là bảng phân tích mô hình bước thoại và các tiểu thoại chung trong thư tín thương mại.Tuy nhiên, do có sự khác biê ât về văn hóa mà người Phương Đông và người Anh-Mỹ có sự lựa chọn khácnhau về cấu trúc bước thoại này Mô ât số bước thoại và tiểu thoại được coi là bắt buô âc với người Anh-Mỹ thìlại được coi là lựa chọn đối với người Phương Đông
1.2 Các mô hình lý thuyết được vâ ân dụng
Trong phân tích thể loại, các nhà ngôn ngữ học có xu hướng sử dụng hê â thuâ ât ngữ chức năng hê â thống của Halliday [87, tr 181], trường phái “Sydney” ([70]; [127]; [165]) và Martin [127] để tiếp câ ân văn bản vì ưu điểm của phương pháp này là xem xét văn bản mang tính tổng thể hơn hê â cấu trúc luâ ân về ngôn ngữ hành chức, ngôn ngữ hoạt đô âng, tương tác xã hô âi hay viê âc sử dụng ngôn ngữ [19,
tr 22] Xuyên suốt trong luận án này, chúng tôi sẽ sử dụng mô hình phân tích văn bản theo phương pháp chức năng hệ thống của Martin [127, tr 312] lần lượt là: Thể loại, Ngữ vực và Ngôn ngữ như Sơ đồ 1.2 dưới đây.
Sơ đồ 1.2: Mô hình phân tích văn bản theo phương pháp chức năng hê â thống (Martin, [127])
Trang 25Về thể loại, luận án sử dụng hai mô hình: Mô hình tiềm năng cấu trúc thể
loại (GSP) của Hasan [90] và Mô hình cấu trúc sơ đồ (SS) của Martin [125] để so sánh cấu trúc thể loại trong các kiểu loại văn bản thư tín Phương Đông và Phương Tây.
Về ngữ vực, luận án sẽ làm rõ sự khác biệt về trường, không khí và thức được thể hiện ở tính lịch
sự và mục đích giao tiếp trong các kiểu loại văn bản thư tín này
Về đă ôc điểm ngôn ngữ, luận án sẽ so sánh văn bản thư tín của Anh-Mỹ, Nhâ ât Bản và Viê ât Nam ở
ba trường ngữ nghĩa:
- Ngữ nghĩa liên nhân: Thể hiê ân ở hành vi lời nói trực tiếp và gián tiếp, lịch sự trong giao tiếp và phương pháp lấy người đọc làm trung tâm (You approach)
- Ngữ nghĩa văn bản: thể hiê ân ở tính mạch lạc và tình thái (modality) và câu chủ động, bị động
trong văn bản thư tín
- Ngữ nghĩa kinh nghiê ăm: thể hiê ân ở sự khác biê ât trong tâ âp quán sử dụng các biểu ngữ, thuâ ât ngữ
chuyên ngành, sự kết hợp từ vựng…
1.2.1 Phương pháp phân tích thể loại
1.2.1.1 Mục tiêu của phân tích thể loại
Theo Diệp Quang Ban [2], thể loại là một kiểu diễn ngôn bằng cách viết hoặc nói chứa những đặc
trưng được thiết lập theo quy ước Nói cách khác, nó gồm một loạt các tiêu chuẩn quy định cho một loại hình
Trang 26diễn ngôn, được dùng để phân loại các văn bản và lời nói hoặc sử dụng cho các hình thức nghệ thuật hoặcphát ngôn nói chung Berkenkotter & Huckin [50, tr.102] cũng xác định việc phân tích thể loại vănbản thường được xem như là việc nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ theo ngôn cảnh, là việc đặc định hóahành động diễn ngôn và là các quy tắc về các quy trình phân đoạn hoặc là sự hợp nhất các mục đích thôngtin.
Theo Bhatia [51, tr 15], mục tiêu của việc phân tích thể loại là nghiên cứu hành vi ngôn ngữ xácđịnh trong tình huống nhằm trình bày và giải thích các hiện tượng dường như rất phức tạp của thế giới hiệnthực Việc phân tích thể loại cũng giúp cho người viết hiểu sâu hơn về các mục tiêu thông tin của văn bảnnhằm giúp cho người viết và người đọc nhận thức rõ hơn về ngôn ngữ sử dụng và chuyển đổi theo môitrường xã hội phức tạp Việc phân tích thể loại cũng giúp đưa ra các giải pháp hiệu quả giải quyết các vấn đề
về ứng dụng trong phương pháp sư phạm
Có thể nói, nghiên cứu phân tích thể loại nhằm các mục đích sau:
- Thể hiện và giải thích cho thực tế phức tạp và đa dạng của thế giới ngôn ngữ;
- Hiểu và giải thích cho ý định riêng của từng tác giả, cùng với việc đạt được mục đích giao tiếp đã được xãhội công nhận;
- Hiểu cách sử dụng ngôn ngữ được hình thành trong môi trường xã hội;
- Đưa ra giải pháp hữu hiệu đối với các vấn đề sư phạm và ngôn ngữ thực hành khác
Do nhiều lí do khác nhau, một thời gian dài ở Việt Nam, dưới ảnh hưởng của ngôn ngữ học Xô viết,các phong cách chức năng và cả các thể loại trong lòng từng phong cách được nhận diện và miêu tả khá đơngiản, nhất là những loại diễn ngôn liên quan đến kinh tế Điều đó có lí do xã hội – lịch sử của nó
Giờ đây khi xu hướng hội nhập diễn ra khá nhanh, một số lĩnh vực giao tiếp, trao đổi … tất cả đềuphải tuân thủ theo thông lệ quốc tế Trước tình hình đó, việc nghiên cứu các diễn ngôn giao dịch nói chung,một số thể loại thuộc lĩnh vực kinh tế nói riêng, có ý nghĩa rất quan trọng chẳng những về mặt lý thuyết màcòn cả về ứng dụng cụ thể
Để có cái nhìn bao quát về việc nghiên cứu thể loại kinh tế, luâ ân án này, trên cơ sở quan sát các tàiliệu cùng chủ đề bằng tiếng Anh, cố gắng đúc kết và giới thiệu một số đường hướng về phân tích thể loại vàthể loại thư tín thương mại
Trên cơ sở phân tích, nhận diện các thể loại thư tín trong các giáo trình hiện đang được sử dụng tạicác trường đại học Việt Nam, chúng tôi sẽ hệ thống hóa các thể loại diễn ngôn và đưa ra những nguyên tắc,chiến lược triển khai cho từng thể loại thư tín, nhằm giúp cho quá trình đào tạo hiệu quả hơn, đáp ứng đượccác yêu cầu về giao tiếp kinh doanh bằng tiếng Anh tại các doanh nghiệp nước ngoài
1.2.1.2 Mô hình tiềm năng cấu trúc thể loại (Generic Structure Potential)
Mô hình phân tích các cấu trúc văn bản trong phạm vi một thể loại được công nhận rộng rãi được
gọi là Mô hình tiềm năng cấu trúc thể loại (GPS) Đây là mô hình đầu tiên sử dụng phương pháp phân tích
thể loại theo truyền thống của ngôn ngữ học chức năng hệ thống do Hasan [90] phát triển Theo Partridge
[148], bất kỳ ai muốn sử dụng mô hình phân tích GSP phải xác định các thành phần bắt buộc và lựa chọn
của một văn bản Ngoài việc xác định các yếu tố bắt buộc và lựa chọn này, người phân tích thể loại cần phải
Trang 27nhận ra mối quan hệ giữa các yếu tố này với nhau Paltridge [148] còn giải thích thêm rằng các phân tíchGSP cho thấy những yếu tố nào phải diễn ra; những yếu tố nào có thể diễn ra, khi nào các yếu tố này phảidiễn ra, và tần suất các yếu tố này có thể diễn ra.
Hasan [90] cho rằng một văn bản mang ba yếu tố: bắt buộc, lựa chọn và lặp lại Các yếu tố bắt
buộc là các yếu tố phải diễn ra trong cấu trúc của một văn bản Các yếu tố lựa chọn, tuy nhiên, là một phầncủa cấu trúc văn bản có thể diễn ra nhưng không bắt buộc phải diễn ra Còn các yếu tố lặp lại là một tập hợpcác yếu tố đặc biệt diễn ra hơn một lần Việc phân bố hay sắp xếp các văn bản chiếm lĩnh một ngữ cảnh gọi làphương pháp tiềm năng cấu trúc thể loại Cũng như vậy, Hasan [90, tr 61] cho rằng các yếu tố bắt buộc xácđịnh thể loại của văn bản Theo mô hình này, khi một loạt các văn bản cùng chung mục đích, thông thườngchúng sẽ có chung cấu trúc và do vậy có chung một thể loại
Không giống các yếu tố lựa chọn, các yếu tố bắt buộc được sử dụng làm tiêu chuẩn cho việc quyếtđịnh liệu văn bản đó đã hoàn chỉnh hay chưa Các yếu tố lựa chọn, ngược lại, không được coi là tiêu chuẩncho việc này [90, tr 37] Theo Hasan, nếu một văn bản cụ thể không thể hiện một hay nhiều yếu tố này (yếutố bắt buộc và lựa chọn), chúng vẫn có thể được xem là hoàn chỉnh nhưng được phân thành kiểu “cộc cằn”,kiểu “thương mại”, và kiểu “nghèo nàn”, v.v
Vì mô hình GSP quan tâm đến trình tự và sự lặp lại của các yếu tố thể loại, có một số trật tự bắt buộcdành cho các yếu tố thể loại Hasan [90: tr.239] giải thích như sau:
Mức độ linh động khác nhau giữa các cặp yếu tố này và các cặp khác; một yếu tố cụ thể có thể diễn ra theo một trình tự cố định tiếp theo một yếu tố đặc biệt nào đó mà không phải là yếu tố khác.
Trình tự chấp nhận được của các yếu tố bắt buộc, do vậy, được sử dụng là tiêu chuẩn để xác định tínhhoàn thiện và thích hợp của văn bản
Tương tự như thế, Hasan đề nghị sử dụng thuật ngữ cấu trúc thực tế (“Actual structure”) để nói đến các
loại khả năng cấu trúc trong một thể loại cụ thể Sự biến đổi trong các kiểu loại văn bản trong phạm vi cùngthể loại có thể được giải thích bằng sự xuất hiện và thứ tự các yếu tố lựa chọn trong một văn bản cụ thể
Tóm lại, theo mô hình GSP, văn bản có thể được phân chia thành một thể loại đặc biệt trên cơ sở sựxuất hiện của các yếu tố bắt buộc còn giá trị của văn bản được xác định bằng các mô hình cấu trúc trình tự.Tuy nhiên, các thành viên của tiểu thể loại (sub-genre) được xác định bằng sự xuất hiện và thứ tự của các yếutố lựa chọn
Như đề cập ở trên, ba thành phần trong mô hình GPS là trật tự bắt buộc, lựa chọn và lặp lại Chẳnghạn, các yếu tố bắt buộc trong thư tín thuô âc thể loại thuyết phục như thư bán hàng, xin viê âc… là Tạo sự tin tưởng, Giới thiê ău chào hàng và Thúc giục phản hồi thực hiện chức năng quan trọng để tạonên sự thuyết phục đối với người đọc
Các nhà nghiên cứu tin rằng mô hình phân tích cấu trúc sơ đồ GSP của Hasan giúp nhâ ân diê ân vàphân loại các thành phần bắt buộc, lựa chọn và lặp lại Tuy nhiên, trừ khi một nhà phân tích thể loại có kiếnthức cơ sở về thể loại và có đủ dữ liệu mới có thể quyết định biên giới giữa các thành phần lựa chọn và bắtbuộc
Trang 281.2.1.3 Mô hình cấu trúc sơ đồ (Schematic Structure-SS)
Cấu trúc sơ đồ (SS) là một hệ thống phân tích thể loại quan trọng trong phạm vi lý thuyết chức năng
hệ thống do Martin [127] phát triển từ Halliday Kathpalia [110, tr.220] đề nghị rằng mặc dầu mô hình nàyđược xem là việc mở rộng và đánh giá lại phương pháp GPS, nhưng có sự khác biệt cơ bản xét về lí thuyết vàthực tiễn Sự khác biệt giữa hai khái niệm nằm ở quan điểm về thể loại và ngữ vực và vị trí cũng như mốiquan hệ giữa hai khái niệm này
Martin [127, tr.505] nhận thức thể loại là “một quy trình xã hội có mục đích và được phân đoạn
thông qua ngữ vực” Không giống như phương pháp GSP của Hasan, Martin trong mô hình SS của mình cho
rằng cấu trúc văn bản cần phải được tạo ra ở cấp độ thể loại thay vì ở cấp độ ngữ vực Do vậy, mạng lưới thểloại có thể được thành lập trên cơ sở các tương đồng và khác biệt giữa các cấu trúc văn bản (cấu trúc sơ đồ)
mà các cấu trúc này cuối cùng sẽ xác định thể loại văn bản
Hai mô hình GSP và SS có chung cơ sở xét về sự tương quan giữa cấu trúc sơ đồ và sự lựa chọntrường, không khí và thức Các phân đoạn trong cả hai phương pháp đều bị ảnh hưởng bởi các ngữ cảnh xãhội [127, tr 231] Tuy nhiên, sự khác biệt, nằm ở sự lựa chọn trường, không khí và thức Cụ thể hơn, Hasancoi trường, không khí và thức được thể hiện bằng cấu trúc sơ đồ, trong khi cấu trúc sơ đồ của Martin đượcthể hiện qua sự lựa chọn trường, không khí, và thức Nói cách khác, Martin đã đảo ngược công thức mốiquan hệ giữa các yếu tố thể loại của Hasan và ngữ vực
Khi triển khai phân tích văn bản, Martin phát triển mô hình phân tích văn bản, xuất phát từ quy
phạm năng động của văn bản để đưa các lựa chọn văn hóa thể loại của một xã hội nơi các văn bản xuất hiện
1.2.2 Ngữ vực
1.2.2.1 Ngữ cảnh tình huống và Ngữ cảnh văn hóa trong thư tín
Ngữ cảnh tình huống đầu tiên được Bronislaw Malinowski [122], một nhà nhân học đưa ra, ông đã
đề nghị một loại môi trường phi ngôn ngữ cho văn bản Ngữ cảnh tình huống của ông đề cập đến một vănbản cụ thể trong khi ngữ cảnh văn hóa liên quan đến lịch sử văn hóa làm cơ sở cho các tham thể và các tậpquán mà người nói tham gia
Để ủng hộ nhận thức về ngữ cảnh tình huống và ngữ cảnh văn hóa của Malinowski, Halliday [86] vàHasan [90] cho rằng nhằm hiểu ý nghĩa của ngữ cảnh với tư cách là sự biểu thị của một văn hóa đặc thù, cầnphải có kiến thức về hai loại ngữ cảnh này Tuy nhiên, Firth [72] mở rộng khái niệm ngữ cảnh tình huống củaMalinowski sử dụng trong việc nghiên cứu văn bản bằng cách đưa ra hai đặc điểm của ngữ cảnh Đầu tiên,ngữ cảnh tình huống cần phải có các tham thể (participants), ở đây là người tham gia và tính cách liên quanđến những gì mà các nhà ngôn ngữ xã hội học đề cập đến gọi là vị thế và vai trò của tham thể Thứ hai, ngữcảnh tình huống cần phải mô tả hành động của tham thể cho dù bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ
Dell Hymes [107, tr 118] cho rằng ngữ cảnh tình huống của một văn bản cụ thể cần phải mang cáctiêu chí như: Hình thức và nội dung của thông điệp, ngữ cảnh, các tham thể, ý định và tác động của giao tiếp,
từ khóa, các công cụ, các thể loại, và tiêu chuẩn tương tác và diễn dịch Có thể khái quát ảnh hưởng của ngữcảnh văn hóa tới ngôn ngữ như sơ đồ sau
Trang 29Như phân tích trong phần trên, người Phương Tây, do sống trong bối cảnh văn hóa ngữ cảnh caothường thể hiê ân ngôn ngữ trực tuyến (linear), với hành văn trực ngôn đi thẳng vào vấn đề, còn người PhươngĐông, do xuất phát từ văn hóa ngữ cảnh thấp, thể hiê ân ngôn ngữ mang tính vòng vo (circular) có xu hướngsử dụng hành văn gián ngôn, thể hiê ân gián tiếp các ý định, mục đích
Sơ đồ 1.3: Ảnh hưởng của ngữ cảnh văn hóa và xã hô âi đến hình thức ngôn ngữ [90, tr.147]
1.2.2.2 Trường, Không khí và Thức
Khi xem xét khái niệm ngữ cảnh của Malinowski, Halliday và Hasan mở rộng ba tiêu chí về ngữ
cảnh tình huống thành: trường, không khí và thức.
(i) Trường diễn ngôn đề cao những gì xảy ra, bản chất của hành động xã hội diễn ra và những gì cáctham thể tham gia vào Đối với thư tín thương mại, trường diễn ngôn thể hiện các bản chất và hành động củagiao dịch thương mại giữa các đối tác như: thông báo, yêu cầu, đề nghị, đàm phán, từ chối, thuyết phục…
(ii) Không khí diễn ngôn đề cập đến ai tham gia, bản chất của tham thể, vị thế và vai trò của họ.Thêm vào đó, nó cũng thể hiện loại mối quan hệ mà các tham thể đưa ra bao gồm các mối quan hệ tạm thời
và lâu dài với nhau, loại vai trò lời nói mà họ thực hiện trong đối thoại và toàn bộ các quan hệ có nghĩa vềmặt xã hội mà họ liên quan tới Trong thư tín thương mại, không khí của diễn ngôn thường mang tính trangtrọng do mối quan hệ liên nhân được xây dựng trên cơ sở mối quan hệ giữa các đối tác kinh doanh như ngườibán và người mua hay mối quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp như giám đốc và nhân viên
(iii) Thức của diễn ngôn liên quan đến phần ngôn ngữ sử dụng Những gì mà các tham thể mongđợi ngôn ngữ sẽ thực hiện cho họ trong tình huống đó, tổ chức mang tính biểu tượng của văn bản, bao gồmcác kênh và cách thức tu từ
Ngữ cảnh tình huống của một văn bản cụ thể (trường, không khí và thức) chủ yếu thể hiện qua từvựng thể hiện các tư tưởng cơ bản của văn bản [90] Tuy nhiên, ngữ cảnh tình huống cũng có thể được thểhiện bằng đặc điểm ngữ pháp của văn bản, chẳng hạn như sự chuyển tác (transitivity), thức, thể, các công cụliên kết, loại mệnh đề… như được thể hiện trong bảng 1.7 dưới đây
Bảng 1.7: Mối quan hệ giữa văn bản và ngữ cảnh tình huống [90]
TÌNH HUỐNG: đặc điểm của ngữ Thể hiện bởi VĂN BẢN: thành phần chức năng của hệ thống
Trang 30Ngữ nghĩa liên nhân (thức, tình thái, nhân xưng)
Phương thức diễn ngôn: vai trò quy
định cho ngôn ngữ
Ngữ nghĩa văn bản (chủ đề, đề-thuyết thông tin,mối quan hệ liên kết)
Bảng 1.7 cho thấy cách thức người viết có thể sử dụng sự chuyển tác và chỉ định để thể hiện trườngdiễn ngôn Ngược lại, người đọc có thể dự đoán những gì người viết bàn luận bằng việc rút ra kết luận từphép tịnh tiến và chỉ định bởi người viết Để hiểu mối quan hệ vai trò thiết lập bởi người viết, người đọcđược khuyến khích nhận biết cách sử dụng thức, thể và các đại từ nhân xưng Cuối cùng, thức diễn ngôn hayvai trò chỉ định cho ngôn ngữ phản ánh bằng mối quan hệ đề-thuyết, cấu trúc thông tin và mối quan hệ liênkết được người viết sử dụng
Theo Halliday và Hasan, một loại sự kiện giao tiếp khi so sánh với loại khác có các đặc điểm ngữcảnh khác nhau (trường, không khí và thức) Các đặc điểm ngữ cảnh của một thư chào hàng chẳng hạn, sẽkhác với một bài đưa tin hay một danh sách thực đơn trong nhà hàng Các mục đích khác nhau liên quan đếncác chức năng khác nhau mà văn bản phục vụ Lấy ví dụ, một thư bán hàng sẽ có đặc điểm ngữ cảnh khác sovới thư khiếu nại ở chỗ thư bán hàng mang chức năng tạo ra và duy trì sự quan tâm của người mua tiềm năngđối với sản phẩm hay dịch vụ trong khi thư khiếu nại nhằm thuyết phục người bán về tình trạng tổn thất haythiệt hại của hàng hóa hay dịch vụ nhằm đưa ra các giải pháp hợp lý Halliday [88, tr] cho rằng “ngôn ngữbiến đổi khi chức năng biến đổi” Khi thể hiện sự biến đổi trong văn bản - ngữ cảnh trong ngôn ngữ sử dụng,Halliday và Hasan nhấn mạnh ý nghĩa của tư tưởng về tính phong phú của ngôn ngữ, các tác giả này đưa rathuật ngữ “ngữ vực”
Khái niệm về ngữ vực được liên kết một cách có ý nghĩa với luận án này xét về mục đích giao tiếptrong thể loại thư thuyết phục được thể hiện về mặt ngôn ngữ Ví dụ: bước thoại đặt vấn đề trong thể loại thưthuyết phục cho thấy đối với người Mỹ, mục đích giao tiếp của họ là đạt được khi thuyết phục người muatrong việc mua một sản phẩm hay dịch vụ cụ thể, còn đối với người Nhật, họ hướng tới mối quan hệ chungchứ không phải là một doanh vụ cụ thể Xét về góc đô â chuyển dịch, Nguyễn Thiê ân Giáp [15, tr.251] chorằng các dịch giả muốn làm tốt công viê âc của mình cần phải nắm được ngữ cảnh của ngôn ngữ nguồn, đểtrên cơ sở đó, xác định sự tương đương về cấu trúc ngữ pháp và từ vựng
1.2.2.3 Nguyên tắc lịch sự và chiến lược giao tiếp trong thư tín
a) Nguyên tắc lịch sự
Theo Nguyễn Văn Khang [22, tr.375], lịch sự là nói về người có hành vi xử sự thích hợp vớiphép tắc chuẩn mực mà xã hô âi thừa nhâ ân Trong quan hê â xã hô âi, lịch sự là nhân tố không thể thiếu được đểvừa duy trì trâ ât tự công cô âng, vừa thúc đẩy quan hê â tương tác xã hô âi Trong quan hê â giao tiếp ngôn ngữ,lịch sự là yếu tố có vị trí hàng đầu mang tính quyết định đối với hiê âu quả giao tiếp Lịch sự chính là nhằmtránh sự xung đô ât trong quan hê â giao tiếp giữa những người tham gia giao tiếp
Trang 31Nguyễn Thiê ân Giáp [14, tr.100] cũng cho rằng, lịch sự tác đô âng, chi phối không những đối với quátrình giao tiếp mà cả đối với kết quả giao tiếp Trong giao tiếp kinh doanh, bên cạnh nguyên tắc hợp tác(Cooperative principle), nguyên tắc lịch sự được các doanh nghiê âp coi là yếu tố không thể thiếu được trongviê âc xây dựng tính thiê ân chí đối với các đối tác của mình.
Nghiên cứu về hành vi lịch sự đưa ra các hiểu biết về cách sử dụng thích hợp của hình thức ngônngữ trong thư tín, Leech [119, tr.243] cho rằng, hành động ngôn trung gián tiếp mang tính lịch sự hơn trựctiếp do bởi hành động ngôn trung gián tiếp có thể đưa ra nhiều lựa chọn hơn cho người đọc hay người nghe.Các lời đáp lịch sự dường như cũng được xem là tối thiểu hóa tổn thất của người nghe và làm tối đa hóa lợiích của họ, do vậy cách nói gián tiếp thường được sử dụng là chiến lược lịch sự xuyên văn hóa [56, tr 116] Chiến lược này có thể được giải thích thêm từ lí thuyết giữ thể diện của Brown và Levinson [60, tr 75], rằng nhiều hành động mà chúng ta đưa ra như yêu cầu hay đề nghị, là các hành vi có nguy cơ làm mất thể diện
Tuy nhiên, các giá trị được nhấn mạnh bởi lí thuyết văn hóa ngữ cảnh cao và văn hóa ngữ cảnh thấp của Hall [84, tr 76] dẫn đến các hình thức thể hiện tính lịch sự khác nhau trong giao tiếp kinh doanh Blum-Kulka [56, tr 231] chẳng hạn, khám phá mức độ gián tiếp về chiến lược yêu cầu của tám nền văn hóa và thấy có sự khác biệt về chiến lược sử dụng tính gián tiếp này Điều này có thể minh họa bằng các cấu trúc trong tiếng Anh như việc sử dụng các động từ tình thái (modals) và các từ chỉ mệnh lệnh [176, tr.134] làm chiến lược yêu cầu đề nghị.
Có rất nhiều quan điểm về lịch sự, chẳng hạn như G Lakoff [118, tr 317]
cho rằng “lịch sự chính là sự giảm thiểu xung đô ăt trong giao tiếp, nhiều khi là sự
nhân nhượng tuyê ăt vời: người ta coi trọng nó hơn cả sự rõ ràng, minh bạch, nhằm tránh những diều phiền toái, bực mình” (Dẫn theo [22, tr 405]) Leech [119, tr 223]
lại xác tín lịch sự là mối quan hê â giữa lợi (benefit) và thiê ât (cost) giữa những người tham gia giao tiếp, thể hiê ân ở sáu phương châm: khéo léo, hào hiê âp, tán thưởng, khiêm tốn, tán đồng và cảm thông.
Theo P Brown & S Levinson, có hai loại thể diê ân: thể diê ăn dương tính (thể
diê ân tích cực) và thể diê ân âm tính (thể diê ân tiêu cực), trong đó, thể diê ân dương tính là mong muốn được hòa đồng, gắn kết, nói cách khác là mong muốn hình ảnh
về cái tôi của mình được xác nhâ ân, ủng hô â Thể diê ăn âm tính là mong muốn được tự
do hành đô âng, không mong người khác áp đă ât cho mình, tức là hành vi của mình
Trang 32không gă âp trở ngại từ phía người khác Theo hai tác giả này, lịch sự được coi là chiến lược nhằm sửa đổi, giảm thiểu mức đô â mất thể diê ân, trong đó có năm chiến lược phổ quát như sau (xếp theo thứ tự từ yếu đến mạnh, tức là tăng dần mức đô â lịch sự):
(i) Đe dọa thể diê ăn: bằng lối nói gần không có hành đô âng bù đắp; nói gần như lô â liễu; (ii) Lịch sự dương tính: Bằng lối nói gần có hành đô âng bù đắp bằng viê âc đánh giá cao, ngợi khen; (iii) Lịch sự âm tính: Bằng lối nói gần có hành đô âng
bù đắp bằng viê âc xin lỗi, thông cảm; (iv) Nói gián tiếp/ nói xa; (v) Không thực hiê ân
đe dọa thể diê ân [22, tr 412].
b) Chiến lược lịch sự trong thư tín tiếng Anh
Trong thư tín thương mại tiếng Anh, người viết có xu hướng lựa chọn chiến lược nói gần, dươngtính và chiến lược làm dịu, âm tính Maier [121, tr.68] đã sử dụng các dữ liê âu phân tích và so sánh chiếnlược lịch sự trong thư tín do người bản ngữ và người phi bản ngữ (chủ yếu người Phương Đông) viết Tác giảxác định các chiến lược sau được Brown và Levinson mô tả thường xuất hiê ân trong thư tín thương mại:
- Chiến lược lịch sự dương tính: (i) Bày tỏ quan tâm; (ii) Thể hiê ân thiê ân chí hoă âc đề nghị có lợi; (iii) Thể
hiê ân lạc quan
- Chiến lược lịch sự âm tính: (i) Xin lỗi: Chấp nhâ ân lỗi, nêu lý do; (ii) Nói gần thể hiê ân sự hàm ơn; (iii) Tỏ
ra bi quan; (iv) Sử dụng cách nói gián tiếp; (v) Thể hiê ân sự tôn trọng [tr.194]
Maier [121, tr.68] phát hiê ân thấy người bản ngữ chủ yếu sử dụng chiến lược lịch sự dươngtính trong khi người phi bản ngữ chủ yếu sử dụng chiến lược lịch sự âm tính Chẳng hạn trong thư trả lời
khiếu nại, người phi bản ngữ thường viết: “We would very much apologize for this inconvenience" (Chúng tôi thành thực xin lỗi về sự bất tiê ân này) (xin lỗi), hoă âc “We feel this will bring you some difficulties but
believe that you will be back to normal soon” (Chúng tôi cảm thấy điều này sẽ gây khó khăn cho quý ngài
nhưng tin rằng quý ngài sẽ sớm trở lại kinh doanh bình thường) (gián tiếp, bi quan) Trong khi người bản ngữ
thiên về sử dụng lịch sự dương tính như bày tỏ quan tâm trực tiếp “We are interested in your products” (Chúng tôi muốn mua sản phẩm của quý ngài), hay thiê ân chí như: “We are prepared to offer you a discount of
15% for this shipment provided your order is of over USD12,000” (Chúng tôi sẵn sàng dành mức chiết khấu
15% cho lô hàng này với điều kiê ân đơn hàng có trị giá trên 12.000 đô)
1.2.1.4 Phương pháp xác định bước thoại và chiến lược
Hatim và Mason [91, tr 94] cho rằng một trong các vấn đề chủ chốt trong nghiên cứu phân tích diễnngôn là nhận thức được việc tối thiểu hóa sự phụ thuộc vào tính chủ quan, mà phải ưu tiên xem xét nội dungtrong từng phân đoạn của văn bản Giải pháp đối với vấn đề này đã được Brown và Yule [60, tr 98] đưa ra,
đó là khi xem xét các biên giới tạo nên một phân đoạn thông qua các phần còn lại trong viê âc sử dụng cácbiểu ngữ mang tính công thức và cố định Tương tự như vậy, Dudley-Evans [101, tr 223] nhấn mạnh các
Trang 33cách thức xác định biên giới các đơn vị giao tiếp, như bước thoại và chiến lược trong mô hình CARS (Create
a Research Space) của Swale Do vậy, Dudley-Evans phát biểu rằng các nhà phân tích thể loại có thể dựa trêncác bằng chứng ngôn ngữ, việc hiểu văn bản và hiểu các ý định mà cả cộng đồng chung và riêng thể hiệntrong văn bản đó
1.3 Ti u kêêt ê
Chương 1 nêu đă âc điểm chung của văn bản thư tín thương mại, hê â thống các tiểu thể loại thư tín thương mại với các mục đích giao tiếp của từng loại, nhâ ân diê ân văn bản này theo mục đích sử dụng, theo ngữ vực, và hê â thống các mô hình cấu trúc thể loại chung Chương 1 cũng xác định mô ât số khái niê âm sử dụng trong luâ ân
án như: thể loại, ngữ vực, bước thoại, chiến lược, cô âng đồng diễn ngôn… làm cơ sở cho viê âc phân tích so sánh trong chương 2 và 3 Chương 1 cũng phân tích sự khác biê ât trong văn hóa Phương Tây và Phương Đông thể hiê ân ở văn hóa ngữ cảnh cao
và văn hóa ngữ cảnh thấp, ở phương pháp tư duy diễn dịch và quy nạp, ở hành vi lời nói gián tiếp và trực tiếp, ở lịch sự dương tính và âm tính…
Trong chương này, chúng tôi cũng nêu ra cơ sở lý thuyết sử dụng trong luận
án: đó là áp dụng phương pháp chức năng hệ thống của Martin [127, tr 312] để
so sánh đối chiếu các kiểu loại văn bản thư tín Phương Đông và Phương Tây ở các
giác độ: Thể loại, Ngữ vực và Ngôn ngữ.
Để so sánh về thể loại, luận án sử dụng hai mô hình: Mô hình tiềm năng cấu trúc thể loại (GSP) củaHasan [90] và Mô hình cấu trúc sơ đồ (SS) của Martin [125] Mô hình GSP xác định cơ cấu thể loại của vănbản bao gồm các thành phần bắt buộc và lựa chọn, mối quan hê â giữa các thành phần này với nhau, tần suấtcác yếu tố này có thể diễn ra Mô hình SS xem xét văn bản ở góc đô â thể loại và ngữ vực trong đó cấu trúc sơđồ của Martin được thể hiện qua sự lựa chọn trường, không khí, và thức Các thể loại và từ vựng là cácphương tiện giúp thành viên duy trì được mục tiêu của mình, điều chỉnh mối quan hệ và giao tiếp hiệu quảvới nhau Trong ngữ cảnh của giao tiếp thư tín, luận án này sẽ so sánh sự khác biệt về từ vựng và thể loại thưtín được sử dụng trong cộng đồng thương gia Mỹ, Nhật Bản và Viê ât Nam
Ngoài việc áp dụng hai mô hình trên, lí thuyết về ngữ cảnh tình huống/văn hóa và lịch sự dương tính/âm tính cũng được đề câ âp làm cơ sở so sánh trong phần tiếp theo
Để so sánh về ngữ vực, luận án sẽ làm rõ sự khác biệt về trường, không khí
và thức trong kiểu loại văn bản thư tín Phương Đông và Phương Tây.
Trang 34Để so sánh đă âc điểm ngôn ngữ, luận án sẽ làm rõ sự khác biệt ở ba trường ngữ nghĩa: Liên nhân, văn bản và kinh nghiệm.
Trang 35Chương 2: CÁC NGUYÊN TẮC XÁC LẬP VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH VĂN BẢN THƯ TÍN THƯƠNGMẠI TIẾNG ANH
Để xây dựng các nguyên tắc viết và xác lập mô hình văn bản thư tín thương mại tiếng Anh dành chođối tượng người Phương Đông trên cơ sở đối chiếu văn bản thư tín tiếng Anh của Phương Tây và Phương
Đông, chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp phân tích, đối chiếu lần lượt ở các yếu tố: cấu trúc tổ chức thư tín,
cấu trúc bước thoại và đă ăc điểm ngôn ngữ giữa thư tín tiếng Anh của Anh-Mỹ và Nhâ ât Bản, cụ thể là so sánh
mô ât số thể loại thư tín điển hình mang dấu ấn văn hóa, đó là thể loại thuyết phục và từ chối Trên cơ sở đó,
luâ ân án sẽ quy nạp, tổng kết và đề xuất các nguyên tắc viết, mô hình văn bản thư tín thương mại tiếng Anhdành cho người Phương Đông Tuy nhiên, các tri thức về phương pháp hoă âc và thủ pháp được chúng tôitrình bày rải rác trong cả chương này
2.1 So sánh cấu trúc tổ chức thư tín
Trong phần này, chúng tôi sử dụng nguồn ngữ liê âu bao gồm 70 thư từ chối xin viê âc làm bằng tiếngAnh (x phụ lục 7) trong đó, 35 thư của Anh-Mỹ và 35 thư của Nhâ ât, để so sánh cấu trúc tổ chức thư tín, lần
lượt là: Kiểu trình bày, Lời chào đầu thư, Thăm hỏi đầu thư Các loại thư này đều có đă âc điểm chung là được
gửi lần đầu tiên Riêng đối với phần nô âi dung thư của từng thể loại, chúng tôi sẽ đề câ âp đến trong phần 2.2(So sánh cấu trúc thể loại và đă âc điểm ngôn ngữ)
2.1.1 Hình thức trình bày (letter-layout)
Trong chương 1, chúng tôi đã đề câ âp đến ba hình thức trình bày thư tín như sau:
Khảo sát ngữ liê âu thư từ chối của Anh-Mỹ và Nhâ ât Bản, chúng tôi có số liê âu sau:
Bảng 2.1: So sánh hình thức trình bày thư tín của Anh-Mỹ và Nhật
Từ bảng so sánh trên đây, có thể thấy rằng hình thức Full block được người Anh-Mỹ sử dụng tới82% , trong khi người Nhật chỉ sử dụng có 11% Tỷ lệ này cho thấy tính câu nệ, bảo thủ của người Nhật tráingược lại với tính thực dụng của người Mỹ Gartside [78, tr.4] cho rằng hình thức full block sẽ tiết kiệm thờigian trình bày cho người viết và tạo sự gần gũi giữa người đọc và người viết Người Nhật thì trái lại, do yếutố bảo thủ về truyền thống trong giao tiếp, họ vẫn cho rằng, sự tôn trọng người khác phải được thể hiện ởnhững nghi thức nhất định nên mặc dầu cũng đã có xu hướng chuyển qua loại full block giống người Anh-
Mỹ khi sử dụng tiếng Anh trong thư tín, nhưng hình thức này không chiếm tỉ lệ cao mà chủ yếu họ sử dụngloại Semi-block, chiếm tới 75% tổng số thư tín
Trang 362.1.2 Lời chào đầu thư
Gartside [78, tr.89] đã đưa ra nguyên tắc về lời chào đầu thư dành cho các đối tượng khác nhautrong thư tín tiếng Anh như sau:
Bảng 2.2: Nguyên tắc viết lời chào đầu thư tiếng Anh [78, tr 89]
Rất trang trọng - Tổ chức, Công ty, phòng ban Dear Sirs, Gentlemen
- Người nhận giới tính Nam, chưa biết tên
- Người nhận giới tính Nữ, chưa biết tên
- Chưa xác định được giới tính người nhâ ân
Dear Sir Dear Madam Dear Sir/ Madam
Trang trọng - Đã xác định giới tính và tên của người nhận, trong các
giao tiếp lần đầu
Dear + Mr./Ms/Miss + Tên họ
Thân mật - Trong các giao tiếp lâu năm, đã quen biết - Dear + Tên gọi
- Hi/ Hello + Tên gọi
Khảo sát nguồn ngữ liê âu thư từ chối nêu trên, chúng tôi thấy tỷ lê â sử dụng lời chào đầu thư trong 02loại thư như sau:
Bảng 2.3: Tỉ lê â sử dụng lời chào đầu thư của Anh-Mỹ và Nhâ ât
Madam
Kết quả trên cho thấy, cho dù sử dụng tiếng Anh trong văn bản thư tín, lời chào đầu thư của ngườiNhâ ât vẫn không tránh khỏi ảnh hưởng của văn hóa truyền thống tôn trọng đối với người khác
2.1.3 Chào hỏi đầu thư và cuối thư
Kết quả khảo sát tỉ lê â phần chào hỏi đầu thư và chào hỏi cuối thư như sau:
Bảng 2.4: Tỷ lê â chào hỏi đầu thư và cuối thư trong thư tín của Nhâ ât và Anh-Mỹ
Tần số xuất hiê ân (35) Tỷ lê â Tần số xuất hiê ân (35) Tỷ lê â
Trong giao tiếp thư tín tiếng Nhâ ât, phần thăm hỏi đầu thư thường được trình bày theo một trong
ba cách như: Dẫn chiếu về mùa, thời tiết, Đưa ra lời chúc sức khỏe, Chúc sự thành đạt của công ty Ví dụ:
- Although the calendar says spring, the weather continues to be cold… (Mă âc dầu lịch trên tường đã
báo mùa xuân, nhưng thời tiết vẫn còn lạnh)
- Allow me to congratulate you on your increasing good health and well-being as the sun brightens each spring day (Cho phép chúng tôi chúc mừng quý ngài ngày càng dồi dào sức khỏe và thành đạt như
Trang 37mă ât trời tỏa sáng mỗi sớm mùa xuân)
Khảo sát ngữ liê âu thư từ chối của Nhâ ât, chúng tôi thấy phần thăm hỏi chủ yếu về viê âc chúc sứckhỏe người nhâ ân (9 bức thư chiếm 25%) trong khi trong thư tín Anh-Mỹ, phần này không xuất hiê ân
Tương tự như phần chào hỏi đầu thư, một bức thư tiếng Nhật không bao giờ kết thúc mà không đưa
ra lời nhận xét hoă âc xin lỗi về việc đã viết thư gấp gáp, hoặc bày tỏ lời chúc sức khỏe của người nhận, về sựphát đạt của công ty, sự hợp tác hai bên… Kết quả trong bảng trên cho thấy, mă âc dù đây loại thể loại thưthông tin xấu, được người Nhâ ât viết bằng tiếng Anh, nhưng có tới 25 bức thư (71%) sử dụng phần này, trongkhi chỉ có 5 bức thư của Anh-Mỹ có phần này Có thể thấy rằng cách viết câu nê â, hình thức và trang trọngtrong thư tín tiếng Nhâ ât ảnh hưởng rất lớn đến phong cách giao tiếp của họ bằng tiếng Anh
2.2 So sánh cấu trúc thể loại và đă âc điểm ngôn ngữ
Như đã phân tích trong chương 1, thư tín được nhận diện thành bốn thể loại: thuyết phục, thông tin,
thông tin xấu và thiện chí [61], trong đó, dấu ấn của văn hóa trong thể loại thuyết phục và thông tin xấu là
điển hình và rõ nét hơn hai thể loại còn lại [51] Dưới đây, chúng tôi sẽ lần lượt phân tích so sánh sự khác
biê ât về cấu trúc thể loại và đă âc điểm ngôn ngữ trong ba loại: thư bán hàng, thư xin viê ăc (thể loại thuyết phục)
và thư từ chối viê ăc làm (thể loại thông tin xấu).
2.2.1 Thư bán hàng
a) So sánh cấu trúc thể loại
Trong phần này, ngữ liê âu của luâ ân án gồm 60 thư bán hàng tiếng Anh, trong đó 30 thư bán hàng tiếng Anh
do người Anh-Mỹ viết và 30 thư bán hàng tiếng Anh do người Nhâ ât viết (x phụ lục 4)
a1) Quy trình phân tích so sánh
Dựa trên mô hình bảy bước thoại của Bhatia [51], chúng tôi sẽ so sánh đă âc điểm tương đồng vàkhác biê ât về cấu trúc thể loại trong hai loại thư tiếng Anh của Anh-Mỹ và Nhâ ât theo năm bước sau đây:
Bước 1: So sánh các loại bước thoại và các chiến lược sử dụng trong ngữ liê âu với mô hình của Bhatia Bước 2: Lâ âp mô hình so sánh
Bước 3: Phân tích xác định bước thoại của từng bức thư để xác định đường biên giữa bước thoại và chiến
lược
Bước 4: Lâ âp bảng kết quả so sánh.
Bước 5: So sánh kết quả cấu trúc bước thoại và chiến lược giữa 02 loại thư.
Dưới đây là mô hình và mục đích bước thoại của thư bán hàng theo Bhatia
Bảng 2.5: Mô hình cấu trúc 07 bước thoại trong thư bán hàng của Bhatia [51]
BT 1: Tạo sự tin tưởng Gây chú ý và tạo sự tin tưởng
BT 2: Giới thiê âu chào hàng
Chiến lược: (i) Chào bán sản phẩm/
Giới thiê âu về sản phẩm
Trang 38dịch vụ; (ii) Nêu chi tiết chào hàng;
(iii) Xác định giá trị của chào hàng
BT 3: Khuyến khích mua hàng Thuyết phục người đọc mua sản phẩm
BT 4: Gửi kèm tài liê âu chào hàng Bổ sung thông tin chi tiết về sản phẩm
BT 5: Thúc giục phản hồi Khuyến khích người đọc phản hồi
BT 6 : Sử dụng chiến thuâ ât thúc ép Khuyến khích người đọc mua sản phẩm ngay
BT 7: Kết thúc lịch sự Tạo hình ảnh tích cực
a2) Mô hình so sánh
Kết quả so sánh cho thấy các bước thoại trong ngữ liê âu đều có trong mô hình của Bhatia Tuy nhiên,khảo sát sơ bô â ngữ liê âu thư tín của Nhâ ât, chúng tôi phát hiê ân thấy có thêm một bước thoại mới (Đă ât tên là
bước thoại (BT) giới thiê ău) và trong bước thoại Tạo sự tin tưởng, xuất hiê ân mô ât số chiến lược mới không có
trong mô hình của Bhatia
Trên cơ sở ngữ liê âu thực tế, chúng tôi đưa ra mô hình cấu trúc mới để so sánh hai loại thư tín trongngữ liê âu của luâ ân án như sau:
Bảng 2.6: Mô hình so sánh bước thoại trong thư bán hàng của luâ ôn án
CL1: Giới thiê âu khả năng sản xuất của công ty CL2: Đề câ âp đến lịch sử lâu dài của công ty CL3: Đề câ âp đến thành tích của công ty CL4: Đề câ âp đến tính ưu viê ât của sản phẩm
BT 3 Giới thiê âu chào hàng
CL 1: Chào sản phẩm hoặc dịch vụ
CL 2: Chào bán chi tiết
CL 3: Nêu giá trị của chào hàng
BT 5 Gửi kèm tài liê âu chào hàng
BT 6 Thúc giục phản hồi
BT 7 Sử dụng chiến thuâ ât thúc ép
(Chìa khóa: BT: Bước thoại; CL: Chiến lược)
Trang 39Dựa trên mô hình so sánh này, chúng tôi phân tích đường biên giữa các bước thoại của các thư bánhàng theo mẫu như sau để xác định toàn bô â số lượng bước thoại và chiến lược cũng như tần số xuất hiê ân củachúng trong ngữ liê âu
Bảng 2.7: Phân tích đường biên giữa các bước thoại và chiến lược sử dụng
We think you may be interested to know that we have a
residue stock of 307 typewriters in Model ST-202 It is just
the next newest to the latest Model ST-203 You can be sure
of its being efficient and durable, economical and
practical in use for middle school students
We are prepared to clear the stock by allowing you a
generous discount Say
-9% for an order for 100 sets to 199 sets
-12% lor an order for 200 sets to 299 sets
-15% for an order for 300 sets and above
on the current price of US $280-per set CIF New York.
This offer is subject to your reply reaching here on or
before 29th June
We give you the first chance and hope, you will take
advantage of this exceptional offer.
Your favourable response is awaited.
Trang 40Dựa trên mô hình so sánh thư bán hàng mà luâ ân án khảo sát, chúng tôi đã so sánh về tần số xuấthiện và tỉ lệ phần trăm của các bước thoại và chiến lược trong ngữ liệu thu thập Dưới đây là bảng so sánh về
tỉ lệ phần trăm của bước thoại và các chiến lược thể hiê ân nhằm mục đích giao tiếp cụ thể trong bức thư
Bảng 2.8: Mô tả tần số xuất hiện và tỉ lệ phần trăm của Bước thoại và chiến lược
(Chìa khóa: BT: Bước thoại; CL: Chiến lược)
Từ Bảng 2.8 nói trên, có thể thấy như sau:
- Bước thoại bắt buô âc trong thư tín Anh-Mỹ: 3 và 6 (100%)
- Bước thoại bắt buô âc trong thư của Nhâ ât: 2, 3 và 6 (100%)
Mă âc dầu các bước thoại còn lại đều mang tính lựa chọn nhưng tần số xuất hiê ân trong thư của
Anh-Mỹ và Nhâ ât đều khác nhau Dưới đây, chúng tôi sẽ lần lượt phân tích so sánh từng bước thoại và chiến lượcđể tìm ra sự khác biê ât giữa hai loại thư này
Bước thoại 1: Giới thiệu
Bước thoại này chỉ xuất hiện trong thư bán hàng của người Nhật, với tần số cao chiếm 73% (22trong số 30), điều này cho thấy rằng bước thoại này là yếu tố quan trọng mặc dù, ở một mức độ nào đó, nóvẫn được R Hasan coi là bước thoại chọn lựa trong số ngữ liệu thu thập Mục đích giao tiếp của bước thoạinày là thiết lập mối quan hệ với khách hàng, như ví dụ dưới đây:
- First, allow me to congratulate you on your increasing good health I am so glad to get your contact through the internet! I am pleased to introduce myself as X, the Marketing Manager of … Co.Ltd.
(Đầu tiên, cho phép tôi chúc mừng quý khách hàng luôn dồi dào sức khỏe Tôi rất vui mừng liên hê â với quýkhách thông qua internet! Tôi xin tự giới thiê âu là X, giám đốc marketing của công ty…)
- By the introduction of …, we are glad to know that you are interested in our product and we would like to take this opportunity to let you know more information about our company (Qua sự giới thiê âu của…,