Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu - Nhận diện, miêu tả cấu trúc của các hình thức hô êi thoại đối thoại, đô êc thoại và chỉ ra những đồng nhất và khác biệt giữa các kiểu loại hội th
Trang 1MỤC LỤC
Lời cam đoan
Quy ước trình bày
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Diễn ngôn và phân tích diễn ngôn
1.1.1 Diễn ngôn
1.1.2 Phân tích diễn ngôn
1.1.3 Phân tích diễn ngôn truyện ngắn
1.2 Hội thoại
1.2.1 Các quan niệm về hội thoại
1.2.2 Các vận động hội thoại
1.2.3 Các quy tắc hội thoại
1.3 Mạch lạc
1.3.1 Các quan niệm về mạch lạc
1.3.2 Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi - Đáp
1.4.Tiền giả định và hàm ngôn ……… … 49
1.4.1 Tiền giả định
1.4.2 Hàm ngôn
1.5 Lịch sử vấn đề nghiên cứu………55
1.5.1 Khái quát về lịch sử vấn đề nghiên cứu truyê ên ngắn Nam Cao 51
1.5.2 Khái quát về lịch sử vấn đề nghiên cứu phân tích diễn ngôn… 54
TIỂU KẾT
CHƯƠNG 2 ĐỐI THOẠI VÀ ĐỘC THOẠI NỘI TÂM TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO
2.1 Đối thoại trong truyện ngắn Nam Cao
2.1.1 Tình huống đối thoại trong tác phẩm tự sự
2.1.2 Tần suất xuất hiê ên của các cuô êc thoại
2.1.3 Tình huống cuô êc thoại, số lượt lời của nhân vâ êt
2.1.4 Quan hê ê quyền thế và hoàn cảnh giao tiếp của nhân vâ êt
Trang 22.1.5 Các hình thức đối thoại(song thoại và đa thoại)
2.1.6 Ngôn ngữ đối thoại của nhân vâ êt
2.2 Độc thoại nội tâm trong truyện ngắn Nam Cao
2.2.1 Tần suất xuất hiê ên đô êc thoại nô êi tâm
2.2.2 Vấn đề chủ thể diễn ngôn trong đô êc thoại nô êi tâm
TIỂU KẾT
CHƯƠNG 3 MẠCH LẠC DIỄN NGÔN HỘI THOẠI TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO
3.1 Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi – Đáp tương hợp
3.1.1 Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi - Đáp tương hợp với câu hỏi chính danh
3.1.2 Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi - Đáp tương hợp với câu hỏi có giá trị cầu khiến
3.1.3 Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi - Đáp tương hợp với câu hỏi có giá trị khẳng định
3.1.4 Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi - Đáp tương hợp với câu hỏi có giá trị phủ định
3.1.5 Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi - Đáp tương hợp với câu hỏi biểu thị sự ngờ vực, ngần ngại, phỏng đoán, …
3.1.6 Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi - Đáp tương hợp với câu hỏi có giá trị cảm thán
3.2 Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi – Đáp không tương hợp
3.2.1 Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi - Đáp không tương hợp xét từ nguyên tắc cộng tác hội thoại
3.2.2 Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi – Đáp không tương hợp xét từ sự tương hợp giữa các hành động nói
TIỂU KẾT……….136
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
Trang 4Những trang văn của Nam Cao ra đời cách đây đã hơn nửa thế kỷ, songvẫn có sức cuốn hút mạnh mẽ đối với bạn đọc và là mẫu mực để mọi ngườihọc hỏi Nhiều người khi đọc tác phẩm Nam Cao có cảm nhận là giữa nhà văn
và chúng ta – những con người của thế kỷ XXI – hầu như không có khoảngcách bởi tính chất hiện đại, mới mẻ trong cách viết của ông Nam Cao đã gópvào kho tàng văn học dân tộc một gia tài truyện ngắn đồ sộ được sáng tác ở cảhai giai đoạn trước và sau Cách mạng tháng Tám Truyện ngắn cũng là thểloại thành công nhất của ngòi bút nhà văn Đã có không ít bài viết, công trìnhnghiên cứu đi vào khảo sát, đánh giá sự nghiệp văn học Nam Cao, vị trí vànhững đóng góp của ông trong làng văn xuôi Việt Nam thế kỷ XX từ lâu đãđược khẳng định
Trong lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ học từ đầu thế kỷ XX đến nay, cáckết quả nghiên cứu của nó thường gắn với một số ngành khoa học xã hộikhác, trước hết và gần gũi hơn cả là gắn với việc nghiên cứu văn học Quátrình nghiên cứu ngôn ngữ học tiền ngữ dụng còn gặp nhiều hạn chế như chỉthấy mô hình mã mà chưa thấy mô hình suy ý; hoặc chỉ thấy nghĩa của câu lànội dung sự kiện (hay còn gọi là sự tình) của câu ấy… Mô hình mã và môhình suy ý không loại trừ lẫn nhau, mà chúng cùng thể hiện nội dung sự tình ởnhững mặt khác nhau: kết học, nghĩa học và dụng học Khoảng gần ba mươinăm trở lại đây, ngôn ngữ học chuyển sang lĩnh vực mới là nghiên cứu ngônngữ trong sử dụng Bên cạnh những thành tựu của Dụng học (Pragmatics) làphân ngành Phân tích diễn ngôn(Discourse Analysis ) và Phân tích diễn ngônphê bình (Critical Discourse Analysis) Các phân ngành này cùng một lúc tácđộng mạnh mẽ đến văn học, nhất là trong việc phân tích ngôn ngữ vănchương Vận dụng thành tựu mới của ngôn ngữ học vào việc nghiên cứu tác
phẩm của Nam Cao, chúng tôi lựa chọn đi vào khảo sát đề tài “Diễn ngôn hô ôi
Trang 5thoại trong truyê ôn ngắn Nam Cao-Đối thoại, đô ôc thoại và mạch lạc”, bởi lý
thuyết về phân tích diễn ngôn tuy ra đời vào những năm 60 của thế kỷ XX,nhưng trong thực tế hiện nay, nó vẫn là một mảnh đất màu mỡ đang được chú
ý khai thác
Khi phân tích diễn ngôn hô êi thoại trong truyê ên ngắn Nam Cao, chúngtôi lựa chọn đối thoại, độc thoại nội tâm và mạch lạc diễn ngôn của các cặpthoại kế cận, bởi vì theo chúng tôi đây là những vấn đề quan trọng, cốt lõi của
mô êt diễn ngôn hô êi thoại Chúng tôi tin rằng việc vận dụng lý thuyết phân tíchdiễn ngôn vào việc khảo sát ngôn ngữ truyện ngắn Nam Cao sẽ giúp phát hiệnthêm những nét độc đáo góp phần làm nên cái hay, cái đẹp, cái tinh tế củangòi bút đầy chất sống thực tế của nhà văn Kết quả nghiên cứu của đề tài còngóp thêm kinh nghiệm thực tiễn về việc phân tích diễn ngôn các tác phẩm vănhọc thuộc thể tự sự
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Nhận diện, miêu tả cấu trúc của các hình thức hô êi thoại (đối thoại,
đô êc thoại) và chỉ ra những đồng nhất và khác biệt giữa các kiểu loại hội thoạinói trên; sử dụng các kiến thức ngôn ngữ học để phân loại, miêu tả và phântích các biểu hiê ên mạch lạc trong các că êp thoại Hỏi-Đáp trong truyê ên ngắnNam Cao
- Góp phần soi sáng lý thuyết về phân tích diễn ngôn tác phẩm văn học,đặc biệt là các tác phẩm thuộc thể loại truyện ngắn
Trang 62.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ việc tổng hợp, tiếp cận những vấn đề lí luận về phân tích diễn ngônnói chung và phân tích diễn ngôn một tác phẩm văn học thuộc thể tự sự nóiriêng, chúng tôi khảo sát ngôn ngữ truyện ngắn Nam Cao từ góc độ phân tíchdiễn ngôn để chỉ ra các hình thức mạch lạc, đối thoại và độc thoại nội tâm…trong truyện ngắn Nam Cao Từ đó nhận ra được những dụng ý nghê ê thuâ êtcủa nhà văn trong viê êc xây dựng các cuô êc thoại đạt được các mục đích vàhiê êu quả giao tiếp
3 Đối tượng nghiên cứu
Để nghiên cứu Phân tích diễn ngôn hội thoại trong truyện ngắn Nam
Cao, luận án đã khảo sát 71 truyện ngắn của Nam Cao trước và sau Cáchmạng tháng Tám 1945 Tuy số lượng không nhiều, nhưng tác phẩm Nam Cao
đã có những đóng góp thật sự có giá trị về nội dung tư tưởng và hình thứcnghệ thuật Luận án tập trung khảo sát các cuô êc hô êi thoại (đối thoại, đô êcthoại) và tính mạch lạc của nó trong các că êp thoại Hỏi –Đáp trên góc nhìnphân tích diễn ngôn nhằm khẳng định thêm những giá trị nghê ê thuâ êt của ngòibút Nam Cao
4 Phương pháp nghiên cứu
Sau khi đã xác định “Phân tích diễn ngôn hội thoại trong truyện ngắnNam Cao” làm đề tài luận án, chúng tôi tiến hành nghiên cứu với các phươngpháp sau:
4.1 Phương pháp thống kê
Luận án chủ yếu thống kê các cặp đối thoại trực tiếp, một số cuộc đốithoại, độc thoại nội tâm trong truyện ngắn Nam Cao Qua đó, tìm hiểu và xácđịnh hình thức thể hiện tính mạch lạc của các cặp Hỏi – Đáp, các hình thứccủa cuộc đối thoại và độc thoại nội tâm, để tìm ra giá trị ngữ nghĩa của cáchình thức hội thoại
Trang 74.2 Phương pháp miêu tả
Phương pháp này được vận dụng trong suốt quá trình trình bày luận ánđể phân tích, miêu tả các ngữ liệu hội thoại trong truyện ngắn Nam Cao Saukhi thống kê các că êp thoại Hỏi-Đáp, chúng tôi đã miêu tả các hình thức kếthợp phân tích nô êi dung, ý nghĩa
4.3 Phương pháp phân tích hội thoại
Một số phương pháp cụ thể của dụng học (viết tắt DH) thường đượcdùng trong phân tích diễn ngôn (viết tắt PTDN) liên quan đến các nội dungsau:
- Phân tích cách diễn đạt “hành động nói” (trong hội thoại), phát hiệncâu ngôn hành, ngôn hành hàm ẩn, hành động nói trực tiếp và gián tiếp
- Nguyên tắc cộng tác hội thoại (có 4 phương châm: Lượng, Chất,Quan hệ và Cách thức)
Các phương châm này liên quan đến phương pháp của phân tích hộithoại và PTDN như sau: Một lời nói bình thường đúng và tường minh vềnghĩa phải được thực hiện với đầy đủ các phương châm trên Nếu người phântích (hay người nghe) nhận là rằng người nói đưa ra một lời nói khó hiểu hoặckhông thể hiểu ngay được thì lời đó có thể thuộc một trong hai trường hợp sauđây: (a) Hoặc là người nói đã “vô tình” sử dụng sai một phương châm nào đó,nên đã gây nên tình trạng nan giải vừa nêu; (b) Hoặc là người nói đã “cố ý”không tuân theo một phương châm nào đó, nhằm tạo ra một phát ngôn “bấtbình thường”, như tạo ra một ý hàm ẩn (hàm ý) nào đó, trong trường hợp nàyngười phân tích phải có kiến thức liên quan các kiểu ý nghĩa như tiền giả định(viết tắt TGĐ), hàm ý hội thoại, lập luận, tính lịch sự, thì có thể giải mã đượccác ẩn ý
4.4 Phương pháp phân tích diễn ngôn
Phương pháp chung thường được sử dụng của PTDN là phân tích ngữliệu trong mối quan hệ chặt chẽ với ngữ cảnh tình huống (contextual
Trang 8situation) và phân tích nghĩa của lời nói (gồm cả chức năng của lời nói làhành động nói của DH)
Ngoài các loại phương pháp có tính chất chuyên môn trên, luận án cũngsử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chung thông dụng Trong quátrình miêu tả, luâ ên án đã có so sánh với tác giả khác, so sánh giữa các hìnhthức xây dựng cuô êc thoại với nhau
5 Ý nghĩa của luận án
5.1 Ý nghĩa lý luận
Vận dụng lý thuyết phân tích diễn ngôn vào việc nghiên cứu truyê ênngắn Nam Cao không phải là mô êt hướng đi hoàn toàn mới, nhưng triển khaitheo mục tiêu của chúng tôi cho đến nay vẫn là một hướng tiếp cận mới
Tập hợp những quan điểm đã có, kế thừa và chọn lọc các cơ sở lý luận
về diễn ngôn hội thoại, chúng tôi đã lựa chọn cho mình mô êt cách thức, hướng
đi và các bước cụ thể nhằm phân tích mô êt cứ liê êu cụ thể khá phức tạp –đó làtác phẩm văn học Qua đó, đề tài là những gợi ý cho các hướng nghiên cứutiếp theo khi tiếp câ ên truyê ên ngắn của các tác giả cụ thể khác nói chung vàtruyê ên ngắn Nam Cao nói riêng
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
-Với cách nhìn phân tích diễn ngôn, luận án hy vọng sẽ tìm ra nhữngdấu hiệu hình thức diễn ngôn hội thoại (đối thoại, đô êc thoại) và những biểuhiê ên mạch lạc diễn ngôn hội thoại trong truyê ên ngắn Nam Cao
- Kết quả của luận án có thể góp thêm cứ liệu, cho thấy hiệu quả củaviệc nghiên cứu các diễn ngôn hội thoại được áp dụng mô êt cách cụ thể, gópphần làm rõ về lý thuyết này cũng như những vấn đề hữu quan trong việcgiảng dạy tác phẩm văn học ở trường phổ thông
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận; Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận ángồm ba chương:
Trang 9Chương một (47 trang) trình bày một cách tổng quan những vấn đề vềdiễn ngôn và phân tích diễn ngôn; những vấn đề về mạch lạc như: các quanniệm mạch lạc, mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi – Đáp; những vấn đề về hộithoại như: các quan niệm hội thoại, vận động hội thoại, quy tắc hội thoại, tiềngiả định và hàm ngôn Chương 1 của luâ ên án đã trình bày lịch sử vấn đềnghiên cứu, qua đó chúng tôi hê ê thống hóa, đánh giá những công trình tiêubiểu nghiên cứu về Nam Cao và về phân tích diễn ngôn.
Chương hai (39 trang) trình bày cụ thể vấn đề đối thoại và độc thoại nộitâm trong truyện ngắn Nam Cao qua những cuộc thoại Về vấn đề đối thoại,chúng tôi trình bày diễn ngôn hội thoại của người kể chuyện, của các vaitrong truyện Chúng tôi xét chúng qua các mối quan hệ: quan hệ quyền thế, vịthế giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp… trong cuộc thoại (song thoại, tam thoại
và đa thoại) của một số truyện ngắn cụ thể Vấn đề độc thoại nội tâm cũng làvấn đề được quan tâm ở đây Độc thoại nội tâm được biểu hiện cụ thể quanhững lời tự nhủ, nói thầm hoặc qua những dòng suy nghĩ của nhân vật, qualời kể của tác giả, bằng những lời kể chính giọng điệu của nhân vật, diễn ngôntrần thuật của người kể chuyện và diễn ngôn nhân vật… để trần thuật, để triếtlý…
Chương ba (54 trang) trình bày các vấn đề mạch lạc diễn ngôn của cáccặp thoại Hỏi – Đáp (tương hợp và không tương hợp) Đối với mạch lạctrong các cặp thoại Hỏi – Đáp tương hợp, chúng tôi trình bày sáu loại cơ bản.Luâ ên án đã phân tích những ví dụ cụ thể cho từng loại că êp thoại đó, đồngthời chỉ ra sự phong phú, đa dạng và biến hóa của nhà văn khi xây dựng cáccuô êc thoại Tìm hiểu mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi - Đáp không tươnghợp, chúng tôi trình bày hai loại cơ bản sau đây: mạch lạc trong các cặp thoạiHỏi - Đáp không tương hợp xét từ nguyên tắc cộng tác hội thoại và mạch lạctrong các cặp thoại Hỏi - Đáp không tương hợp xét từ sự tương hợp giữa cáchoạt động nói
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU1.1 Diễn ngôn và phân tích diễn ngôn
1.1.1 Diễn ngôn
1.1.1.1 Khái niệm diễn ngôn
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về diễn ngôn, nhưng chưa thật sự cómột định nghĩa hoàn chỉnh nhất
Người đầu tiên đề xướng ra khái niệm này là Z Harris trong công trình
“Discourse Analysis” – Phân tích diễn ngôn (1952) Diễn ngôn được hiểu với
tư cách là một văn bản liên kết ở bậc cao hơn câu Công trình này đã gópphần quan trọng cho ngành ngôn ngữ học văn bản còn non trẻ vào việc nghiêncứu lĩnh vực chức năng của ngôn ngữ
Thuật ngữ diễn ngôn với tư cách “sản phẩm” trong việc sử dụng ngôn
ngữ được hiểu rất rộng bao gồm tất cả các dạng tồn tại của nó, có thể là chữviết dưới mọi hình thức, có thể âm thanh tự nhiên khi nói hay mọi hình thứcghi âm lời nói
Trong cách nhìn khái quát, cách tiếp cận diễn ngôn “được quy thành haidạng: dạng coi trọng hình thức và dạng coi trọng ngữ cảnh PTDN dưới dạnghình thức nhất của nó gắn liền với truyền thống logic/triết học của J Searle và
J L Austin, dạng ngữ cảnh hoá cao nhất của PTDN nối kết với lý luận vănhọc hiện đại” [5,73]
M Foucault nêu: “Thay vì giảm dần các nét nghĩa đã khá mơ hồ của từ diễn ngôn, tôi tin rằng thực tế tôi đã bổ sung thêm ý nghĩa của nó: lúc thì coi
nó như một khu vực chung của tất cả các nhận định, lúc thì coi nó như một nhóm các nhận định được cá thể hoá, và đôi khi lại xem nó như một hoạt động được quy chuẩn (regulated practice) nhằm tạo nên một tập hợp các nhận định” [93,45-46] Theo Trần Văn Toàn, trong trích dẫn trên, Foucault
Trang 11cùng lúc đưa ra ba định nghĩa về diễn ngôn Định nghĩa thứ nhất, diễn ngôn
bao gồm “tất cả các nhận định” nói chung; định nghĩa thứ hai, diễn ngôn như
là “một nhóm các nhận định được cá thể hoá”; định nghĩa thứ ba, diễn ngôn
“như một hoạt động được quy chuẩn (regulated practice) nhằm tạo nên một tập hợp các nhận định” Mặc dù ba định nghĩa của Foucault được liệt kê khá
độc lập nhưng trong thực tế nghiên cứu các định nghĩa này luôn được sử dụngxen kẽ nhau và định nghĩa này có thể bao trùm lên định nghĩa khác tuỳ theohướng triển khai của người nghiên cứu
Barthes trong La linguistique du discours (1970) coi diễn ngôn như là
một đối tượng của ngôn ngữ học văn bản mà ông đề nghị gọi là “ngôn ngữ
học diễn ngôn” Ông viết: “…Diễn ngôn – tương tự văn bản do ngôn ngữ học nghiên cứu, và chúng tôi sẽ định nghĩa nó (hãy còn là sơ bộ) như là một đoạn lời nói hữu tận bất kì, tạo thành một thể thống nhất xét từ quan điểm nội dung, được truyền đạt cùng với những mục đích giao tiếp thứ cấp, và có một
tổ chức nội tại phù hợp với những mục đích này, vả lại (đoạn lời này) gắn bó với những nhân tố văn hoá khác nữa, ngoài những nhân tố có quan hệ đến bản thân ngôn ngữ” [12,199]
Còn Bellert thì cho rằng “Diễn ngôn là chuỗi liên tục những phát ngôn S1 , Sn, trong đó việc lý giải nghĩa của mỗi phát ngôn S1 (với 2 ≤ i ≤ n) lệ thuộc vào sự lý giải những phát ngôn trong chuỗi S1 …Si-1” [12,199]
Đối với Guy Cook, ông nêu: “Diễn ngôn là những chuỗi ngôn ngữ được nhận biết là trọn nghĩa, được hợp nhất lại và có mục đích” [12,200]
Brown và Yule khi xử lí diễn ngôn như là “sản phẩm” hay “tiến trình”
thì lại khẳng định: “Diễn ngôn như một tiến trình” [17,48]
Trong bài viết Nguồn gốc, vấn đề và phạm trù của dụng học, Aрутюнова và Падучева viết: “…Diễn ngôn phản ánh chủ quan của con người và do vậy, khác với những suy luận lý thuyết, diễn ngôn không thể xa lạ với người nói (…) Lý thuyết về diễn ngôn như hình thức của văn bản đã được
Trang 12dụng học hoá được bắt đầu từ quan niệm của E Benveniste phân định diện tường thuật (récit) và diện diễn ngôn (discours) ngôn ngữ “được người nói sở hữu” Diễn ngôn, cần được hiểu ở đây nghĩa rộng nhất, như một phát ngôn bất kỳ giả định có người nói và người nghe và ý định từ người nói tác động theo cách nhất định đến người nghe” [3,76]
Lý thuyết hiện đại về diễn ngôn (2006) của Ekaterenburg cũng đã dẫn
ra một số định nghĩa về diễn ngôn của Teun A Van Dijk, P Riceau, M.Foucault, Jakob Torfing, R Barthes, Louis Maren…
Ngoài ra có thể kể đến Crystal, Paul Gee, Nunan, Lyons… cũng có đềcập khái niệm diễn ngôn trong tác phẩm của mình
Ở Viê êt Nam, với công trình Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản, Diê êp Quang Ban là mô êt trong những tác giả tiêu biểu quan tâm và
nghiên cứu diễn ngôn Trong tác phẩm này, ông đồng tình với định nghĩa của
Cook: “Diễn ngôn là những chuỗi ngôn ngữ được nhận biết là trọn nghĩa, được hợp nhất lại và có mục đích” [12,200] Có thể hình dung mối quan hệ
giữa diễn ngôn và văn bản như sau:
Diễn ngôn
(nghĩa lôgic, chức năng)
Sơ đồ 1: Mối quan hệ giữa diễn ngôn và văn bản
Qua sơ đồ 1, ta thấy văn bản là bề mặt ngôn từ, diễn ngôn thuộc vềnghĩa lôgic và chức năng
Có thể nói Diệp Quang Ban đã góp thêm vào bức tranh chung về nghiêncứu diễn ngôn của các nhà Việt ngữ học khi ông đề câ êp đến lĩnh vực phântích diễn ngôn văn chương
Văn bản (bề mặt từ ngữ)
Trang 13Còn tác giả Nguyễn Thiện Giáp, sau khi điểm qua một số quan điểm
khác nhau về khái niệm văn bản và diễn ngôn, ông nêu: “Thuật ngữ diễn ngôn và văn bản thường được coi là đồng nghĩa với nhau để chỉ các sản phẩm của ngôn ngữ, viết hay nói, dài hay ngắn, tạo nên một tổng thể hợp nhất, trong đó diễn ngôn thường được hiểu là bao hàm văn bản, còn văn bản thiên về sản phẩm viết nhiều hơn” [44,169]
Trong công trình nghiên cứu của mình, Nguyễn Hòa nhấn mạnh sự
phân biệt hai khái niệm “diễn ngôn” và “văn bản” Theo ông, “ Văn bản như là sản phẩm ngôn ngữ ghi nhận lại quá trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp nói và viết trong một hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể” Trong khi đó “Diễn ngôn như là sự kiện hay là quá trình giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất có mục đích không giới hạn được sự dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể” [54,28] Mặc dù đã đưa ra sự phân biệt hai khái niệm như trên, song tác
giả cũng thừa nhận rằng trên thực tế sự phân biệt này chỉ mang tính tương đối
vì theo cách hiểu đó, trong văn bản sẽ xuất hiện một vài đặc trưng của diễnngôn và ngược lại trong diễn ngôn cũng nhiều khi tồn tại các thuộc tính vănbản
Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Diễn ngôn là đơn vị lớn hơn câu, đúng hơn là lớn hơn một phát ngôn, nó có thể là một phát ngôn mà cũng có thể do vô số phát ngôn hợp lại.”; “Nó phải có tính mạch lạc…” [26,19] Tác
giả cũng cho rằng, diễn ngôn có cả hình thức và nội dung nhưng cả hai đềuchịu tác dụng của ngữ cảnh
Luâ ên án này đồng tình với quan điểm về khái niê êm diễn ngôn được thểhiê ên ở sơ đồ 1 ở trên Do vậy, phân tích diễn ngôn là phân tích cả các yếu tốhình thức của diễn ngôn, bao gồm các yếu tố ngôn ngữ, các đơn vị từ vựng,các quy tắc kết học, các hành vi ngôn ngữ tạo nên diễn ngôn Các yếu tố kèmlời và phi lời, theo chúng tôi, cũng được xem là các yếu tố thuộc hình thứccủa phát ngôn Về nội dung, chúng tôi nhất trí với quan điểm cho rằng diễn
Trang 14ngôn bao gồm nội dung thông tin và nội dung miêu tả Hai thành tố nội dungnày có thể hiện diện tường minh qua các yếu tố ngôn ngữ hình thức của diễnngôn, hoặc tồn tại khiếm diện trong đích giao tiếp của đối tượng
1.1.1.2 Đặc điểm về diễn ngôn
- Diễn ngôn là đơn vị lớn hơn câu/phát ngôn.Nó có thể là một phátngôn mà cũng có thể do vô số phát ngôn hợp lại
- Nó phải có tính mạch lạc, nghĩa là có một đề tài, có chủ đề chung,giữa các phát ngôn trong một diễn ngôn phải có quan hệ hình thức và nộidung Trong một cuộc giao tiếp có bao nhiêu đề tài, bao nhiêu chủ đề thì cóbấy nhiêu diễn ngôn
- Mỗi loại hình diễn ngôn có cấu trúc mô hình riêng Mô hình đó đượcquy định bởi hành động giao tiếp chủ đạo như hành động tự sự, thỉnh cầu, lậpluận …
1.1.1.3 Phân loại diễn ngôn
Dựa vào cấp độ của diễn ngôn có thể chia diễn ngôn thành: diễn ngôn
và siêu diễn ngôn Khổng Tử sáng lập ra siêu diễn ngôn Nho giáo, Thích caMâu ni (Siddharta Gautama) sáng lập ra siêu diễn ngôn Phật giáo, Freud sánglập siêu diễn ngôn Phân tâm học, Ann Radcliffe sáng tạo ra diễn ngôn tiểuthuyết kinh dị, Bakhtin tạo ra diễn ngôn đa thanh phức điệu Chủ thể của cácsiêu ngôn không chỉ khai phá ra một loại diễn ngôn mới, một ngôn ngữ mới
mà còn mở ra một con đường mới, mở ra các bước đi tạo ra các diễn ngônkhác Các siêu diễn ngôn luôn tạo ra sau nó vô số các diễn ngôn đồng dạng,đồng chất với nó
Dựa vào tính chất phát triển của diễn ngôn có thể chia diễn ngôn thành:diễn ngôn liên tục và diễn ngôn ngắt quãng
+ Diễn ngôn liên tục
Ví dụ (1): Bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh.
Trang 15“ Hỡi đồng bào cả nước,
Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền
tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".
Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.
Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.
Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.
Chúng thi hành những luật pháp dã man Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.
Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.
Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.
Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.
Trang 16Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc
kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.
Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng Thế là chẳng những chúng không "bảo hộ" được
ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật.
Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.
Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.
Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.
Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa.
Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.
Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.
Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.
Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được
tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!
Trang 17Vì những lẽ trên, chúng tôi, chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:
Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự
do độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.
+ Diễn ngôn ngắt quãng
Ví dụ (2): Đoạn thoại giữa Kim Trọng và Thuý Kiều:
- "Sinh rằng gió mát trăng trong Bấy lâu nay một chút lòng chưa cam Chầy sương chưa nện cầu Lam
Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng ?
- Nàng rằng: Hồng diệp xích thằng Một lời cũng đã tiếng rằng tương tri Đừng điều nguyệt nọ hoa kia Ngoài ra ai có tiếc gì với ai
- Rằng nghe nổi tiếng Chương Đài Nước non luống những lắng tai Chung Kì
- Thưa rằng: Tiện kĩ xá chi
Đã lòng dạy đến dạy thì phải vâng").
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)Đoạn thoại trên có hai diễn ngôn: một diễn ngôn thỉnh cầu Kiều đánhđàn của chàng Kim; một diễn ngôn chấp thuận lời thỉnh cầu đó của nàngKiều Cả hai diễn ngôn này đều là diễn ngôn cách quãng gồm một phần mở
và phần trung tâm Phần mở của diễn ngôn Kim Trọng là lời ướm, phần trungtâm là hành động và nội dung thỉnh cầu Phần mở của diễn ngôn Thuý Kiều làlời rào đón và phần trung tâm là lời chấp nhận Cả hai diễn ngôn của haingười tạo thành một sự kiện lời nói Bên cạnh đó, dựa vào mô êt số tiêu chíkhác, chúng ta cũng có thể phân chia diễn ngôn theo mô êt số cách khác nhau
Trang 181.1.2 Phân tích diễn ngôn
1.1.2.1 Một số cách tiếp cận trong phân tích diễn ngôn
Khái niê êm “Diễn ngôn” ra đời vào những năm 60 của thế kỷ XX Từ đóđến nay, lý luận về diễn ngôn đã tiến một bước dài Ở nước ngoài, quan tâmđến lĩnh vực phân tích diễn ngôn tự sự có thể kể đến Roland Barthes với
Nhập môn phân tích cấu trúc truyện kể, Todorov với Ngữ pháp truyện kể, David Rumelhart với Ghi chú lược đồ về các câu chuyện, Gérard Genette với Diễn ngôn tự sự, David Nunan với Dẫn nhập phân tích diễn ngôn, Gillian Brown và George Yule với Phân tích diễn ngôn Ở Việt Nam, một số các công trình nghiên cứu đề cập đến việc phân tích diễn ngôn tự sự như: Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản (Diệp Quang Ban), Phân tích diễn ngôn: Một số vấn đề lý luận và phương pháp (Nguyễn Hoà), Biểu hiện của quan hệ quyền thế trong các diễn ngôn hội thoại (Phạm Thị Thu Trang), Mạch lạc diễn ngôn hội thoại trong một số tác phẩm văn học hiện đại (Trần
Thị Thu Hương)…
Với những hướng tiếp cận và ứng dụng khác nhau: dựa trên chủ nghĩacấu trúc và kí hiệu học, ngữ pháp chuyển hoá tạo sinh, đường hướng dụnghọc, đường hướng giao tiếp liên văn hoá,… các công trình nghiên cứu nóitrên đã góp phần soi sáng một số vấn đề lý thuyết và thực hành về phân tíchdiễn ngôn tự sự Tuy nhiên, phân tích diễn ngôn văn học là việc khó, cho đếnnay hầu như chưa có một nhà ngôn ngữ học nào đưa ra một đường hướngphân tích diễn ngôn tác phẩm tự sự một cách hoàn chỉnh, khoa học, thao táchoá được cách nghiên cứu diễn ngôn tác phẩm truyện của mọi thời, mọi ngônngữ Căn nguyên của điều này đã được Schiffrin chỉ rõ: phân tích diễn ngôn làmột lĩnh vực đa ngành, do vậy tuy được nhiều người quan tâm nó vẫn là một
địa hạt “ rộng mênh mông và ít nhiều còn mơ hồ của ngôn ngữ”.[3,17]
1.1.2.2 Một số công cụ lý thuyết của phân tích diễn ngôn
Trang 19Để tìm ra đối tượng nghiên cứu, phương pháp và công cụ lý thuyết, hệthuật ngữ cho phân môn PTDN, dù đã nhiều năm tìm hiểu nhưng các nhànghiên cứu vẫn chưa có sự thống nhất Theo Diệp Quang Ban, G Brown và
G Yule công bố trong tài liệu Phân tích diễn ngôn, đề tài và vấn đề được bộ
môn PTDN quan tâm là:
1 Dẫn luận: các hình thái và các chức năng của ngôn ngữ [Introduction: linguistic forms and functions]
2 Vai trò của ngữ cảnh trong việc lý giải (hiểu diễn ngôn – DQB) [The role of context in interpretation]
3 Đề tài và việc biểu hiện nội dung của diễn ngôn [Topic and the representation of discourse content]
4 ‘Cấu tứ’ và việc biểu hiện cấu trúc của diễn ngôn [‘Staging’ and the representation of discourse structure]
5 Cấu trúc tin [Information structure]
6 Bản chất của quy chiếu trong văn bản và trong diễn ngôn [The nature of reference in text and in discourse]
7 Mạch lạc trong việc lý giải diễn ngôn [Coherence in the interpretation of discourse]
[12,164]
Phần liệt kê các nội dung cho thấy được cơ sở lý thuyết cũng nhưphương pháp, đối tượng, công cụ… chủ yếu của nghiên cứu PTDN Trướchết, đó là việc chuyển từ nghiên cứu chủ yếu ở mặt hình thức ở bậc câu sangviệc nghiên cứu mặt nghĩa của diễn ngôn, không lấy các thuật ngữ nghiên cứucâu làm công cụ lý thuyết mà đưa ra một chương trình làm việc khai thác diễnngôn từ những phương diện khác nhau Phương pháp làm việc là dựa hẳn vàongữ cảnh tình huống Đối tượng là toàn bộ các đề tài và vấn đề giúp hiểu (lýgiải) được diễn ngôn từ những phương diện thực tế của nó Tuy nhiên các vấn
Trang 20đề cần khám phá trong ngôn ngữ của diễn ngôn rất phong phú và thuộc vềnhiều loại, cho đến nay vẫn chưa được đề cập đến mức tạm gọi là đầy đủ
Chính G Brown và G Yule cũng thừa nhận “còn bỏ trống nhiềuphương diện trong ngôn ngữ của diễn ngôn” Như vậy, có thể nói PTDN làmảnh đất màu mỡ đang và sẽ tiếp tục “cày xới” ngày càng nhiều hơn
Luâ ên án này đồng ý với quan điểm của D.Nunan khi ông cho rằng khitìm hiểu diễn ngôn về mặt nghĩa, cần chú trọng hai vấn đề: mạch lạc diễnngôn và hành động ngôn ngữ
Về mạch lạc diễn ngôn, ông dẫn ví dụ của Widdowson (1978)
A: Có điện thoại kìa.
B: Anh (em) đang tắm.
C: Thôi được.
Qua ví dụ này ta thấy, người sử dụng nó để biện hộ luận đề của mìnhcho rằng liên kết không cần thiết mà cũng không đủ để thiết lập tính mạch lạc.Ông tiếp tục nêu ra rằng chúng ta có thể công nhận văn bản này là mạch lạcbằng cách tạo ra một ngữ cảnh, rồi nhận dạng các chức năng mà mỗi phátngôn hoàn thành trong ngữ cảnh đó
Ví dụ (3):
Phát ngôn Chức năng
Với việc tạo ra một ngữ cảnh có đủ nghĩa và việc nhận dạng được cácchức năng của từng phát ngôn thì tính mạch lạc được thiết lập
Thuật ngữ hành đô êng ngôn ngữ do nhà triết học ngôn ngữ J.L Austin(1962) nghĩ ra và được nhà triết học J Searle (1969) phát triển Họ xác nhậnrằng, khi sử dụng ngôn ngữ không chỉ tạo ra những phát biểu có chứa mệnhđề…, mà chúng ta cũng hoàn thành các chức năng như: yêu cầu, phủ nhận,
Trang 21xin lỗi, cảm ơn…; việc nhận dạng hành động ngôn ngữ được thực hiện bởimột phát ngôn riêng chỉ có thể làm được nếu chúng ta biết được ngữ cảnh màphát ngôn diễn ra Ý định chức năng của người nói được biết đến với tên gọi
a) Hành động ngôn ngữ có ba phạm trù cơ bản
* Hành động tạo lời ( locutionary act)
“Hành động tạo lời là hành động vận động các cơ quan phát âm (hoặc
cử động tay để tạo ra các nét chữ) vận dụng các từ và kết hợp các từ theo các quan hệ cú pháp thích hợp thành các câu, rồi tổ chức các câu thành diễn ngôn (văn bản)…” [26,56]
* Hành động mượn lời (hành động xuyên ngôn) (perlocutionary act)
“Hành động mượn lời khi thực hiện một phát ngôn là hành động nhằm gây ra những biến đổi trong nhận thức, trong tâm lý, trong hành động vật lý
có thể quan sát được, gây ra một tác động nào đấy đối với ngữ cảnh” [26,56]
Ví dụ (5), nghe thông báo trên đài phát thanh : Ngày mai, 25 tháng 7 ở Hà Nội sẽ có mưa lớn, sức gió cấp 4, cấp 5 tức 40 đến 50 km một giờ làm một
số người tỏ ra lo lắng, bực mình …
Hành động mượn lời rất đa dạng
Ví dụ (6), một con vẹt phát: CHÁY, người nghe thường thì không có gì,
người chưa nghe thì bị ảnh hưởng, tức là có sự tác động đến người nghe (như vậy, có thể có hành động mượn lời)
Trang 22* Hành động ở lời (hành động trong lời, hành động ngôn trung) (illocutionary act)
“Hành động ở lời là hành động mà đích của nó nằm ngay trong việc tạo nên phát ngôn được nói ra (viết ra)” [26,56]
Ví dụ (7): Ngày mai, chúng ta nghỉ học.
Tôi cảm ơn anh.
Đích của hành động ở lời được gọi là đích ở lời và nếu đích đó được thoả mãn thì ta có hiệu quả ở lời
Dấu hiệu của hiệu quả ở lời là lời hồi đáp của người tiếp nhận hành động ở lời
- Hành động ở lời là một hành động xã hội
Ví dụ (8): Sp1: - Bao giờ anh đi Huế ?
Sp2: - Mai, anh ạ.
Nếu cho hành động hỏi là một bộ phận thứ nhất và hành động trả lời là
bộ phận thứ hai thì bộ phận thứ nhất và bộ phận thứ hai lập thành một cặp,
được gọi là một cặp kế cận.
b) Biểu thức ngữ vi và phát ngôn ngữ vi
* Biểu thức ngữ vi là một thể thức nói năng cốt lõi do các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời kết hợp với (hoặc không có) nội dung mệnh đề đặc trưng cho một hành vi ở một lời nào đó Còn phát ngôn ngữ vi là hiện thực hoá một biểu thức ngữ vi trong giao tiếp, tức là trong một ngữ cảnh nào đấy
[26,60]
+ Phát ngôn ngữ vi tối giản:
Ví dụ (9):
- Thuỷ yêu Ngọc à ? (hỏi)
- Thuỷ không nên yêu Ngọc (khuyên can)
- Thuỷ yêu Ngọc đi ! (thúc giục)
+ Phát ngôn ngữ vi có thành phần mở rộng:
Trang 23Ví dụ (10):
- Nếu cậu đi Hà Nội, nhớ mua hộ cho mình quyển Ngữ dụng học.
* Các loại biểu thức ngữ vi (Theo J.L Austin, gọi là cách thức thực hiện hành động ở lời)
+ Biểu thức ngữ vi tường minh
Biểu thức ngữ vi tường minh là biểu thức ngữ vi có động từ được dùng trong chức năng ngữ vi (động từ ngôn hành).
- Tôi sẽ tuyên bố ông ấy vô tội (-)
Một số động từ ngữ vi (động từ ngôn hành): đa tạ, cảm tạ, hứa, mời, chào, khuyên, phê bình, cảnh cáo, trả lời, cấm, bảo đảm, thách, lên án, chúc mừng, đề nghị, ra lệnh, loan báo, …
+ Biểu thức ngữ vi nguyên cấp
Biểu thức ngữ vi nguyên cấp là biểu thức ngữ vi không có động từ được dùng trong chức năng ngữ vi (sử dụng câu phân loại theo mục đích nói một cách trực tiếp).
Ví dụ (13): - Nước trong bể hết rồi (điều khiển)
- Mẹ ơi, con búp bê kia xinh ơi là xinh (đòi hỏi)
Trang 24Ví dụ: - Anh đóng cửa lại (nguyên cấp)
- Tôi khuyên anh đóng cửa lại (tường minh)
- Ôi, rét quá (gián tiếp)
Ba loại hành động: Hành động tạo lời, hành động ở lời và hành động mượn lời được thực hiện theo cách thống hợp khi tạo ra một diễn ngôn
1.1.3 Phân tích diễn ngôn truyện ngắn
1.1.3.1 Diễn ngôn truyện ngắn
a) Thể loại truyện ngắn
Là thể văn xuôi tự sự có hình thức ngắn gọn, truyện ngắn đã ra đời từthuở xa xưa khi con người biết sáng tác văn chương và phát triển cho đếnngày nay Do có dung lượng nhỏ, truyện thường có ít nhân vật, ít sự kiện phứctạp, mỗi tác phẩm thường chỉ hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, pháthiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của conngười
Truyện ngắn là thể loại xung kích của đời sống văn học, nó chinh phụcđộc giả đương đại nhờ hình thức nhỏ gọn, có thể đọc liền một mạch, tái hiệncuộc sống và truyền đạt thông tin nhanh chóng Tuy ngắn nhưng đây là thểloại khó viết và viết khó hay
b) Đặc điểm của diễn ngôn truyện ngắn (diễn ngôn tự sự)
Diễn ngôn văn học (nói chung) và diễn ngôn tác phẩm tự sự/ diễn ngôntruyện ngắn (nói riêng) có nhiều điểm tương đồng với các loại diễn ngônkhác bởi văn học là một diễn ngôn trong hệ thống diễn ngôn của xã hội Hơn
HĐNN trực tiếp C1 - HĐNN tường minh
Trang 25thế nữa, diễn ngôn văn học còn là “siêu diễn ngôn” vì có khả năng dung nạp,chứa đựng trong bản thân nó nhiều loại diễn ngôn khác (diễn ngôn chính trị,pháp luật, khoa học,…) Bên cạnh đó, nó còn mang các đặc điểm riêng:
+ Tính hư cấu
Diễn ngôn truyện ngắn tạo lập tri thức bởi nó tái tạo, sáng tạo hiện thựcđời sống bằng cách nhìn, cách tiếp cận và lý giải thế giới xã hội theo quanđiểm và cảm thụ thẩm mỹ của chủ thể phát ngôn Thông qua việc lựa chọnnội dung thông tin và phản ánh thông tin theo cảm xúc và sự đánh giá củariêng mình, chủ thể phát ngôn giúp người đọc nhận thức về hiện thực xã hội
và mở rộng tri thức về đời sống
Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu đã dựng
lên hai bức tranh đối lập nhau: bức tranh “Chiếc thuyền ngoài xa” trong buổisớm mờ sương đẹp như tranh vẽ và bức tranh cuộc sống gia đình nhà thuyềnchài đầy nghiệt ngã, cay cực Thiên truyện thể hiện nhận thức sâu sắc của nhàvăn về cách tiếp cận cuộc sống Nhà nghệ sĩ không chỉ phản ánh vẻ đẹp bềngoài mà phải đi sâu khám phá những bí ẩn bên trong thân phận con người,
có như thế mới tránh được việc nhìn nhận cuộc sống và con người một cách
giản đơn, sơ lược Tác phẩm bộc lộ nỗi ưu tư của một trái tim nhân hậu, sự
trân trọng “những hạt ngọc” ẩn sâu bên trong tâm hồn người lao động nghèo.Nguyễn Minh Châu xót xa thương cảm người phụ nữ làng chài bất hạnh, lên
án sự tàn nhẫn, thô bạo của người chồng, đồng thời báo động tình trạng bạolực trong gia đình đang làm băng hoại tâm hồn con trẻ
Nhiều nhà ngôn ngữ học đã thừa nhận diễn ngôn mang tính quyền lực
M Foucault phân tích quan hệ quyền lực trong diễn ngôn và chỉ ra đó là thứquyền lực “đặt lên trên hay bảo đảm các lợi ích của một giai cấp cụ thể”
Cùng một quan điểm trên, J Cook cho rằng : “Diễn ngôn, giống như ý thức
hệ, nguỵ trang các hoạt động của quyền lực, và văn chương, như là một kiểu diễn ngôn, có thể tham dự vào sự nguỵ trang đó” [2,968] Tính quyền lực
Trang 26trong diễn ngôn truyện ngắn thể hiện ở sự lựa chọn, phản ánh hiện thực vàthái độ đánh giá của nhà văn khi tái tạo hiện thực ấy Số phận nhân vật trongtác phẩm đặt dưới bàn tay của nhà văn và những cảm xúc, nhận thức củangười viết về cuộc đời luôn ẩn hiện phía sau con chữ.
+ Tính quy chiếu
Diễn ngôn tác phẩm tự sự quy chiếu về một hiện thực Đó là thực tạiđược nhà văn miêu tả bằng quan sát, cảm nhận hoặc hư cấu, tưởng tượng Bảnthân các ký hiệu ngôn ngữ không có tính quy chiếu, nhưng dưới ngòi bút nhàvăn, mỗi biểu thức ngôn từ trong tác phẩm đều có mối liên hệ với vật nằmngoài văn bản được nó biểu thị Đây là kiểu quy chiếu ngoại hướng Chínhnhà văn là người đã xác lập tính quy chiếu cho các yếu tố ngôn ngữ được sửdụng trong diễn ngôn Cơ sở của sự quy chiếu này là sự giả định cái đã cótrước Đó có thể là bối cảnh xã hội, tình huống phát ngôn và các quy ước giaotiếp
Song song đó, giữa các yếu tố ngôn ngữ của một tác phẩm còn có quy
chiếu nội hướng Đó là “mối quan hệ đồng nhất hoặc tương tự xác lập được giữa các đơn vị ngữ pháp” [1,343] Hai bình diện quy chiếu nội hướng và quy
chiếu ngoại hướng bổ sung cho nhau, giúp cho diễn ngôn tác phẩm tự sự trởnên mạch lạc và có ý nghĩa
+ Tính lịch sử
Thời đại nào, văn học ấy, diễn ngôn truyện ngắn phải tuân thủ nhữngquy ước và chuẩn mực của thời đại Viết 20 truyện ngắn trong tập Truyền kìmạn lục, Nguyễn Dữ đã sử dụng khá nhiều điển cố bởi đây là sản phẩm củavăn học thời kì trung đại mang đậm tính uyên bác, tính sùng cổ và tính phingã
Mặt khác, ngôn ngữ là công cụ của diễn ngôn văn học Ngôn ngữ trựctiếp phản ánh đời sống xã hội Song hành cùng với sự thay đổi của hoàn cảnhkinh tế, chính trị, văn hoá,… ngôn ngữ cũng phát triển theo cùng thời đại,
Trang 27được bổ sung những từ vựng mới, cấu trúc mới Do vậy, đọc truyện ngắn
Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản (ra đời trong giai đoạn đầu hình thành nền văn xuôi quốc ngữ), truyện ngắn Sống chết mặc bay của Phạm Duy
Tốn, ta có thể nhận rõ bước tiến mới của văn xuôi tiếng Việt Ngôn ngữ trongcác tác phẩm truyện ngắn của văn học thời kỳ đổi mới, đặc biệt là các tácphẩm mang khuynh hướng văn học hậu hiện đại của Nguyễn Huy Thiệp,
Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái,… có sự khác biệt khá rõ với ngôn ngữ trong
các truyện ngắn được sáng tác trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứunước
1.1.3.2 Đường hướng phân tích diễn ngôn truyện ngắn
Phân tích diễn ngôn không chỉ nghiên cứu hình thức mà còn phải khảosát mặt nghĩa của diễn ngôn Riêng đối với diễn ngôn văn học, cần phải chú ý
và nắm vững các đặc trưng riêng nó so với các loại diễn ngôn khác mới có thểxác định đúng đắn các thao tác cần có trong việc phân tích diễn ngôn
a) Phân tích cấu trúc của truyện ngắn
Việc phân tích diễn ngôn một truyện ngắn nên được bắt đầu bằng thaotác phân tích cấu trúc của nó Cần tháo dỡ kết cấu tác phẩm, chia tách tácphẩm thành các phần nhỏ hơn để nhận diện rõ mạng lưới các yếu tố quan yếucấu thành văn bản Đây cũng chính là quan điểm của Roland Barthes,Todorov, George Yule, Diệp Quang Ban và nhiều nhà ngôn ngữ khác Cụ thểđối với một truyện ngắn, chúng ta có thể chia tách tác phẩm thành bốn phần:phần tiêu đề, phần mở, phần triển khai và phần kết Việc phân tích cấu trúcnghĩa của từng phần và sự kết nối các ý nghĩa đó lại với nhau giúp ta nhận rõtính mạch lạc và cấu trúc chủ đề của văn bản
b) Phân tích ngữ cảnh để làm rõ tình huống diễn ngôn và giọng điệu của truyện ngắn
Có nhiều đường hướng phân tích diễn ngôn khác nhau, thế nhưng “tất
cả các đường hướng phân tích diễn ngôn đều coi trọng ngữ cảnh” [2,161].
Trang 28Phân tích diễn ngôn dứt khoát không thể bỏ qua ngữ cảnh vì đây là một yếu tốquan trọng giúp người đọc hiểu được nội dung thông báo
Diễn ngôn truyện ngắn luôn gắn với một ngữ cảnh nhất định Đó là tìnhhuống, hoàn cảnh chủ thể phát ngôn (tác giả/ nhân vật) giao tiếp với nhân vậtkhác và với bạn đọc Tình huống diễn ngôn luôn gắn với điểm nhìn trần thuật
và chi phối giọng điệu trần thuật của tác phẩm Giọng điệu thể hiện quanđiểm tư tưởng, cảm xúc và cá tính sáng tạo của nhà văn Giọng điệu cũng làmột trong các yếu tố góp phần tạo nên nội hàm ý nghĩa của văn bản
c) Phân tích đặc điểm của các loại diễn ngôn trong truyện ngắn
Một tác phẩm truyện ngắn thường bao gồm nhiều loại diễn ngôn như:diễn ngôn kể, diễn ngôn thoại, diễn ngôn trữ tình ngoại đề Các đơn vị diễnngôn này góp phần tạo nên giọng điệu, cấu trúc ý nghĩa và đặc điểm riêng củatác phẩm
Diễn ngôn kể biểu hiện điểm nhìn, ngôi kể và và giọng điệu của ngườikể chuyện trong tác phẩm Diễn ngôn kể trong truyện ngắn có thể vận độnghết sức linh hoạt, là giọng của tác giả, giọng của nhân vật trong truyện
Diễn ngôn hội thoại trong tác phẩm có thể là lời đối thoại, lời độc thoạinội tâm của các nhân vật hoặc người kể chuyện Việc xây dựng, kết cấu diễnngôn hội thoại cũng là một phần quan trọng trong cấu trúc nội tại của truyệnngắn, góp phần biểu hiện ý nghĩa của tác phẩm
Diễn ngôn trữ tình ngoại đề cũng là dạng thức thường thấy trong lờivăn nghệ thuật của truyện ngắn góp phần tạo nên chất giọng riêng của tácphẩm
d) Phân tích ngôn ngữ nghệ thuật của truyện ngắn
Khi sáng tác truyện, nhà văn luôn có ý thức cân nhắc việc dùng một từngữ, một cấu trúc câu sao cho sự lựa chọn đó mang lại hiệu quả biểu đạt cao
nhất Trong công trình nghiên cứu Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản, Diệp Quang Ban đã đề xuất “Một hướng ứng dụng phân tích diễn ngôn
Trang 29vào việc phân tích ngôn ngữ nghệ thuật” [12,173] Theo ông cần phải khảo sát
“từ sắc độ của âm thanh ngôn ngữ, đến từ ngữ, đến việc dùng các kiểu câu, các cấu tạo ngôn ngữ lớn hơn câu…” [12,174] nhằm làm rõ tài năng nhà văn
bằng việc chỉ ra tính nghệ thuật trong việc sử dụng ngôn ngữ của họ Đây làmột ý kiến xác đáng
Phân tích diễn ngôn truyện ngắn, chúng ta không thể bỏ qua ngôn ngữnghệ thuật của tác phẩm Cần phải chú ý xem xét, phân tích việc dùng từ ngữ,các cách nói hoa mỹ, trật tự từ trong câu, các từ chỉ quan hệ, các kiểu câuđược sử dụng trong tác phẩm,… Truyện ngắn Nam Cao sử dụng nhiều cáckhẩu ngữ, thành ngữ, tục ngữ và các biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ vànhân hoá; chính điều này đã góp phần tạo nên chất giọng tự nhiên, sốngđộng,tươi mới, mang hơi thở của cuộc sống của tác phẩm
Tóm lại, diễn ngôn truyện ngắn mang tính hư cấu, tính quy chiếu vàtính lịch sử Phân tích diễn ngôn truyện ngắn phải xem xét cả hai phương diệnchức năng và cấu trúc ngôn ngữ của tác phẩm qua các bước: phân tích cấutrúc, phân tích ngữ cảnh để làm rõ tình huống diễn ngôn và giọng điệu của tácphẩm, phân tích đặc điểm của diễn ngôn kể, diễn ngôn thoại và diễn ngôn trữtình ngoại đề trong tác phẩm, cuối cùng là phân tích ngôn ngữ nghệ thuật củatác phẩm Đường hướng phân tích diễn ngôn tổng hợp theo chúng tôi làhướng đi tối ưu trong việc phân tích diễn ngôn thể loại truyện ngắn
1.2 Hội thoại
1.2.1 Các quan niệm về hội thoại
Hội thoại là hoạt động giao tiếp căn bản, thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, đồng thời, hội thoại cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác Khi giao tiếp hai chiều cũng tức là chúng ta tạo ra một hội thoại trên cơ sở tương tác qua lại giữa một bên là người nói và một bên là người nghe, kết hợp với sự luân phiên lượt lời, thay đổi vai trò trong suốt quá trình giao tiếp Hội thoại khi được thực hiện bởi hai bên là song thoại, khi
Trang 30được thực hiện bởi ba bên là tam thoại, thậm chí có hội thoại gồm rất nhiều vai giao tiếp, ta có đa thoại Tuy nhiên, song thoại được coi là hình thức hội thoại cơ bản và phổ biến nhất, mang đậm những đặc trưng của một cuộc thoại
Cho đến nay chưa có một định nghĩa hoàn toàn chính xác về hội thoại Các nhà nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới tuy đã có rất nhiều công trình
về hội thoại song họ cũng chỉ đưa ra những quan điểm khác nhau về vấn đề này chứ đó chưa được coi là một định nghĩa hoàn chỉnh
Hồ Lê đưa ra quan niệm hội thoại gắn với hành vi phát ngôn như sau:
“Phát ngôn hội thoại là kết quả của một hành vi phát ngôn được kích thích bởi một sự kiện hiện thực (kể cả hội thoại hoặc một xung đột tâm lý của người phát ngôn, có liên quan đến những người có khả năng trực tiếp tham gia hội thoại, nó tác động vào anh ta khiến anh ta phải dùng lời để phản ứng lại và hướng lời nói của mình vào những người có khả năng trực tiếp tham gia hội thoại ấy, trên cơ sở của một kiến thức về cấu trúc câu và cách sử lý mối quan hệ giữa phát ngôn và ngữ cảnh tình huống và của một dự cảm về hiệu quả của lời nói ấy đối với người thụ ngôn hội thoại trực tiếp” [54,21]
Theo Nguyễn Thiện Giáp, “Hội thoại là hành động giao tiếp phổ biến nhất, căn bản nhất của con người Đó là giao tiếp hai chiều có sự tương tác qua lại giữa người nói và người nghe với sự luân phiên lượt lời” [54,21-22]
Đỗ Hữu Châu lại khẳng định: “Hội thoại là hoạt động giao tiếp căn bản, thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ Các hình thức hành chức khác của ngôn ngữ đều được giải thích dựa vào hình thức hoạt động căn bản này”.
[26,88]
Còn theo Nguyễn Đức Dân: “Trong giao tiếp hai chiều, bên này nói và bên kia nghe và phản hồi trở lại Lúc đó vai trò của hai bên thay đổi: bên nghe lại trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe Đó là hội
thoại” [32,76]
Trang 31Tác giả Đỗ Thị Kim Liên lại hơi thiên về ngữ nghĩa khi cho rằng: “Hội thoại là một trong những hoạt động ngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp trong một ngữ cảnh nhất định mà giữ họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định” [54,22]
Theo chúng tôi, hội thoại là hoạt động giao tiếp thường xuyên, phổ biếncủa con người, là sự trao đổi thông tin theo mục đích nào đó của những ngườitham gia giao tiếp
Ở phần này, chúng tôi chủ yếu bàn đến vấn đề mạch lạc của các cặp thoại Hỏi – Đáp gồm một lượt lời và hai lượt lời của song thoại, trên cơ sở đó
có thể hình dung ra được bức tranh khái quát nhất về các đặc trưng của “diễn ngôn hội thoại”
Trang 32chí trái ngược nhau về các mặt Không có sự khác biệt này thì giao tiếp trở nên thừa.
Trong hội thoại, một lời nói bị chấm dứt khi người kia tỏ ra không chú ýđến nội dung của nó, lảng xa nó Lúc này, người nói phải hoà phối lại cuộc hội thoại bằng cách kéo đối phương trở lại với câu chuyện và khi thấy đã kéo lại được rồi thì "khởi động lại" câu chuyện
Bởi tương tác là tác động chủ yếu trong hội thoại cho nên ngữ dụng học hội thoại còn được gọi là ngữ dụng học tương tác bằng lời
Ví dụ (14):
- Cụ bán rồi?
- Bán rồi! Họ vừa bắt xong
(Lão Hạc – Nam Cao)
Ví dụ trên thể hiện sự trao đáp giữa giữa lão Hạc và ông giáo Lão Hạc khi thấy ông giáo sang là báo ngay về việc của con chó nhà mình Ông giáo hỏi lại và lão Hạc trả lời Như vậy, ví dụ trên đã thể hiện sự giao tiếp hai chiều(hội thoại) trên cơ sở tương tác giữa người nói (trao lời) và người nghe (trao đáp), kết hợp sự luân phiên lượt lời, thay đổi vai trò trong quá trình giao tiếp Đây là cuộc song thoại – hình thức hội thoại cơ bản và phổ biến nhất mang đậm đặc trưng của một cuộc hội thoại
1.2.3 Các quy tắc hội thoại
Để hội thoại đạt kết quả một cách tường minh, các nhân vật hội thoại phải tuân theo các quy tắc hội thoại
Các quy tắc hội thoại được nhà ngôn ngữ học Pháp, C.K.Orecchioni chia thành ba nhóm:
1.2.3.1 Nguyên tắc luân phiên lượt lời
Khi có hai người hội thoại, người kia phải nói khi người này nhường lờicho anh ta theo cách lời người này kế tiếp lời người kia, không có sự giẫm đạp lên lời của nhau
Trang 33Các lượt lời có thể được một người điều khiển phân phối hoặc do các nhân vật hội thoại tự thương lượng một cách không tường minh với nhau.
1.2.3.2 Nguyên tắc liên kết hội thoại
Nguyên tắc liên kết hội thoại không chỉ chi phối các diễn ngôn đơn thoại mà chi phối cả các lời tạo thành một cuộc hội thoại Nếu giữa các lời của các nhân vật hội thoại không có liên kết thì "cuộc hội thoại giữa những người điếc" sẽ xảy ra, trong đó "ông sẽ nói gà, bà sẽ nói vịt"
Nguyên tắc liên kết có thể mềm dẻo, linh hoạt mà cũng có thể chặt chẽ, nghiêm ngặt tuỳ theo tính chất của cuộc hội thoại
1.2.3.3 Nguyên tắc hội thoại
Các nguyên tắc hội thoại gồm:
a) Nguyên tắc cộng tác hội thoại
Nguyên tắc này được Grice chia thành bốn phương châm hội tthoại
(maximes conversationnelles) nhỏ:
+ Phương châm về lượng (maxime de quantité): Hãy làm đúng phần
đóng góp của anh (vào cuộc hội thoại) mà nó xuất hiện phù hợp đích hay phương hướng của cuộc hội thoại mà anh đã chấp nhận tham gia vào
Phương châm về lượng đòi hỏi:
- Hãy làm cho đóng góp của anh có lượng tin đúng như đòi hỏi (của đích đang diễn ra của từng phần của cuộc hội thoại)
- Đừng làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin lớn hơn đòi hỏi
Ví dụ (15): Lợn cưới áo mới
Có anh tính hay khoe của Một hôm, may được cái áo mới, liền đem ra mặc, rồi đứng hóng ở cửa, đợi có ai đi qua người ta khen Đứng mãi từ sáng đến chiều chả có ai hỏi cả, anh ta tức lắm.
Đang tức tối, chợt thấy một anh tính cũng hay khoe, tất tưởi chạy đến hỏi to:
- Bác có thấy con lợn cưới của tôi chạy qua đây không?
Trang 34- Từ lúc tôi mặc cái áo mới này, tôi chẳng thấy con lợn nào chạy qua đây cả!
Truyện cười này chủ yếu vi phạm phương châm về lượng, thừa các thông tin: “cưới” và “mới"
+ Phương châm về chất (maxime de qualité): Hãy làm cho phần đóng
góp của anh là đúng Đừng nói những gì mà anh tin rằng không đúng, đừng nói những gì mà anh không có đủ bằng chứng
Phương châm về chất đòi hỏi:
- Đừng nói những điều mà anh tin rằng không đúng
- Đừng nói điều mà anh không có bằng chứng xác thực
Ví dụ (16): Quả bí khổng lồ
Hai anh chàng đi qua một khu vườn trồng bí Một anh thấy quả bí to, kêu lên:
- Chà, quả bí kia to thật!
Anh bạn có tính hay nói khoác, cười mà bảo rằng:
- Thế thì đã lấy gì làm to Tôi đã từng thấy những quả bí to hơn nhiều
Có một lần, tôi tận mắt trông thấy một quả bí to bằng cả cái nhà đằng kia kìa.
Anh kia nói ngay:
- Thế thì đã lấy gì làm lạ Tôi còn nhớ, một bận tôi trông thấy một cái nồi đồng to bằng cả cái đình làng ta.
Anh nói khoác ngạc nhiên hỏi:
- Cái nồi ấy dùng để làm gì mà to vậy?
Anh kia giải thích:
- Cái nồi ấy dùng để luộc quả bí anh vừa nói ấy mà.
Ví dụ trên cho thấy anh nói khoác biết bạn chế nhạo mình bèn nói lảng sang chuyện khác Nó thể hiện vấn đề nói quá sự thật, những điều không đúngnên đã vi phạm phương châm về chất
Trang 35+ Phương châm quan hệ (maxime de relation): Hãy làm cho phần
đóng góp của anh quan yếu, tức có dính líu đến câu chuyện đang diễn ra Phương châm quan hệ đòi hỏi:
Mỗi người nói cần nói đúng đề tài, tránh nói lạc đề
Ví dụ (17):
Một cậu bé năm tuổi chơi quả bóng nhựa trong phòng đọc sách của bố Quả bóng văng vào ngăn dưới của một kệ sách Cậu bé tìm mãi không ra bèn hỏi bố Ông bố đáp:
- Quả bóng nằm ngay dưới cuốn “Tuyển tập truyện ngắn Nam Cao” kia kìa.
Ở ví dụ này, người bố đã không chú ý đến phương châm cách thức.Đứa con 5 tuổi (chưa học lớp 1) không thể nhận biết được đâu là “Tuyển tậptruyện ngắn Nam Cao”; đối với đối tượng giao tiếp này, câu nói đó là mơ hồ.Như thế, câu nói của người bố cũng không đảm bảo phương châm quan hệ
+ Phương châm cách thức (maxime de modalité ou de manière): Hãy
nói cho rõ ràng Tránh lối nói tối nghĩa, tránh nói mập mờ, mơ hồ về nghĩa Hãy nói ngắn gọn, nói có trật tự
Ví dụ (18): Cháy
Một người sắp đi chơi xa, dặn con:
- Ở nhà có ai hỏi thì bảo bố đi vắng nhé !
Sợ con mải chơi quên mất, lại cẩn thận lấy giấy bút viết vào tờ giấy rồi bảo:
- Có ai hỏi thì con cứ đưa ra tờ giấy này !
Con cầm giấy bỏ vào túi áo Cả ngày chẳng thấy ai hỏi Tối đến, sẵn
có ngọn đèn, nó lấy giấy ra xem, vô ý thế nào lại để giấy cháy mất.
Hôm sau, có người đến chơi hỏi:
- Bố cháu có nhà không?
Nó ngẩn ngơ hồi lâu, sực nhớ ra, sờ vào túi không thấy giấy liền nói:
Trang 36ra vấn đề vi phạm phương châm về cách thức, tạo ra tiếng cười hóm hĩnh, hài hước
Bên cạnh những phương châm hội thoại, vấn đề phân tích diễn ngôn hội thoại còn lưu ý đến các nguyên tắc hội thoại như: nguyên tắc cộng tác,
nguyên tắc quan yếu và phép lịch sự
Về nguyên tắc quan yếu, theo Wilson và Sperber, tất cả các phát ngôn đều quan yếu Do đó, trong hội thoại, người nghe luôn phải nỗ lực để xác địnhtính quan yếu của phát ngôn
Ví dụ (19): Sp1a (Khách đến chơi, quạt máy ở phòng khách không chạy)
- Ở đây mất điện hả bác ?
Sp2a (chủ nhà):
- Tháng trước mất điện suốt, tháng này thì bình thường rồi anh ạ.
Sp1b (lấy khăn trong túi ra lau mồ hôi):
Sp2b: - Ấy chết, tôi vô ý quá Để tôi bật quạt cho anh.
Sp1c: - Xin cảm ơn bác !
1.2.3.4 Cấu trúc hội thoại
Chuỗi những đơn vị ngôn ngữ được một thoại nhân nói ra trong một cuộc hội thoại được gọi là một lượt lời Đằng sau vẻ tuỳ tiện của các lượt lời kế
Trang 37tiếp nhau trong hội thoại vẫn tồn tại cấu trúc của những đơn vị hội thoại xác định
Lượt lời do những hành động ở lời tạo nên Trước khi xem xét cấu trúc của hội thoại, cần xem xét cách tổ chức nói chung của các hành động ở lời trong hội thoại
a) Cặp kế cận
Cặp kế cận bao gồm hành động dẫn nhập và hành động hồi đáp tương ứng tuỳ theo sự ± thoả mãn hành động hồi đáp đối với đích của hành động dẫn nhập, ta có cặp kế cận tích cực hay cặp kế cận tiêu cực
Cặp kế cận tích cực là cặp có hành động hồi đáp thoả mãn đích của
Ví dụ (21): Sp1 – Đi karaoké đi !
Sp2 - Chịu thôi Vừa tốn tiền, vừa mất thì giờ.
Cặp kế cận tiêu cực
Cặp kế cận không được ưa thích là cặp mà hành động hồi đáp không liên kết gì với hành động dẫn nhập hoặc "lửng lơ"
Ví dụ (22): Sp1 – Đi karaoké đi!
Sp2 – Cái áo này mua bao nhiêu tiền đấy?
Sp2 – Để xem đã.
b) Sự kiện lời nói
Sự kiện lời nói là một hoạt động trong đó những người tham gia dùng những hành động ở lời tác động lẫn nhau nhằm đạt đến một đích nào đó Mỗi
Trang 38sự kiện lời nói được tạo nên bởi một cặp kế cận trung tâm Tên hành động ở lời dẫn nhập của cặp kế cận trung tâm là tên của sự kiện lời nói
Cặp kế cận và sự kiện lời nói đi vào hội thoại sẽ trở thành những đơn vị hội thoại
1.3 Mạch lạc
1.3.1 Các quan niệm về mạch lạc
Mạch lạc là đối tượng thường được xem có tính chất mơ hồ, trừutượng, khó nắm bắt Diệp Quang Ban nhận xét mạch lạc trong văn bản là hiệntượng vừa có vẻ như vừa có phần thực lại vừa có phần hư Trong vài thập kỷtrở lại đây, ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học đặcbiệt về phân tích diễn ngôn, trong đó có nghiên cứu các khía cạnh của mạchlạc và đạt được những thành tựu nhất định
- Về khái niệm, mạch lạc được một số nhà ngôn ngữ học trên thế giớinêu ra như sau:
Trong từ điển The Encyclopedia of Language and Linguistics, mạch lạc được giải thích: “Mạch lạc là sự nối kết có tính chất logic được trình bày trong quá trình triển khai một cốt truyện, một truyện kể, v.v, lệ thuộc vào việc tạo ra những sự kiện được kết nối với nhau, hơn là những dây liên hệ thuộc ngôn ngữ [như liên kết ( cohesion)]” [134,10]
D Nunan cho rằng: “Mạch lạc là tầm rộng mà ở đó diễn ngôn được tiếp nhận như là có mắc vào nhau chứ không phải là một tập hợp câu và phát ngôn không có liên quan với nhau” [131,165]
D Togeby xác định: “Mạch lạc (coherence), hiểu một cách chung nhất, là đặc tính của sự tích hợp văn bản, tức là cái đặc tính bảo đảm cho các yếu tố khác nhau trong một văn bản khớp được với nhau trong một tổng thể gắn kết” [136,71]
M.A.K Halliday & R Hasan quan niệm: “Mạch lạc được coi như phần còn lại (sau khi trừ liên kết) thuộc về ngữ cảnh tình huống với những dấu
Trang 39nghĩa tiềm ẩn Mạch lạc được coi là phần bổ sung cần thiết cho liên kết, là một trong những điều kiện tạo thành chất văn bản” [125, 18-19]
Tuy những khái niệm trên chưa thống nhất một cách trọn vẹn, nhưngnhìn chung đều bộc lộ một ý rất rõ ràng: mạch lạc (coherence) không phải làliên kết (cohesion) Theo K.Wales, mạch lạc được định nghĩa như là “sự liênkết ngữ nghĩa” và liên kết như là “sự mạch lạc văn bản”, mạch lạc tạo nênchất văn bản
- Khái niệm mạch lạc cũng được đề cập đến trong một số công trìnhnghiên cứu Việt ngữ học
Cao Xuân Hạo cho rằng: “Khi ngôn bản gồm từ hai câu trở lên, giữa các câu có một mối quan hệ nhất định khiến chúng không phải là bất kỳ đối với nhau: giữa chúng có một mạch lạc” [48,92]
Đỗ Hữu Châu xác định: “Một văn bản, một diễn ngôn là một lập luận đơn hay phức hợp bất kể văn bản viết theo phong cách chức năng nào Tính lập luận là sợi chỉ đỏ đảm bảo tính mạch lạc về nội dung bên cạnh tính liên kết về hình thức của văn bản của diễn ngôn.” [26,74]
Nguyễn Thiện Giáp đã nêu: “Văn bản mạch lạc là văn bản, ở đó người giải mã có thể cấu trúc lại sơ đồ của người nói một cách hợp lí bằng cách suy luận những mối liên hệ giữa các câu và những mối liên hệ riêng biệt của chúng với những mục đích thứ cấp khác nhau trong sơ đồ giải thích, khiến cho sự khó hiểu trở nên dễ hiểu” [42,173]
Còn Diệp Quang Ban định nghĩa mạch lạc như sau: “Mạch lạc là sự nối kết có tính chất hợp lý về mặt nghĩa và về mặt chức năng, được trình bày trong quá trình triển khai một văn bản (như một truyện kể, một cuộc thoại, một bài nói hay bài viết…), nhằm tạo ra những sự kiện nối kết với nhau hơn là sự liên kết câu với câu”[10,94-95] Từ góc độ dụng học, ông đã phát biểu rằng: “Mạch lạc chính là sự áp dụng các quy tắc tạo hành động và hiểu hành động nói”.
Trang 40- Theo Diệp Quang Ban [10,97-131], mạch lạc được biểu hiện trongcác quan hệ cụ thể sau đây:
Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các từ ngữ trong một câu
Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các đề tài - chủ đề của các câu
Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các phần nêu đặc trưng ởnhững câu có quan hệ nghĩa với nhau
Mạch lạc biểu hiện trong trật tự hợp lý giữa các câu (hay các mệnhđề)
Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các từ ngữ trong văn bản vớitình huống bên ngoài văn bản, hay là mạch lạc theo quan hệ ngoạichiếu
Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ thích hợp giữa các hành động nói
Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ lập luận