1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án Tiến sĩ đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai

145 1,1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 639,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học, do vậy, thể hiện một cách sinh động hoạt động giao tiếp của con người trong xã hội thôngqua sự sáng tạo của nhà văn.. Cách nói trần trụi dân dã, thẳng th

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC CÁC BẢNG BIỂU THỐNG KÊ v

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10

4 Đối tượng, phạm vi và nguồn tư liệu của luận án 11

5 Phương pháp nghiên cứu 12

6 Đóng góp mới của luận án 13

7 Cấu trúc của luận án 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 14

1.1 Lí thuyết về hội thoại 14

1.1.1 Khái niệm hội thoại 14

1.1.2 Vận động hội thoại 15

1.1.3 Các dạng thức hội thoại 19

1.1.4 Ngôn ngữ hội thoại 24

1.2 Tác phẩm văn học, nhân vật văn học 25

1.2.1 Tác phẩm văn học 25

1.2.2 Nhân vật văn học 26

1.3 Giới thiệu tác giả và tác phẩm Chu Lai 32

1.3.1 Nhà văn Chu Lai 32

1.3.2 Các tác phẩm của Chu Lai 33

1.3.3 Hệ thống nhân vật trong tiểu thuyết của Chu Lai 37

1.4 Ngôn ngữ nhân vật và từ ngữ lời thoại nhân vật trong tác phẩm của Chu Lai 40

1.5 Tiểu kết 45

Trang 2

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ NHÂN VẬT TRONG TIỂU

THUYẾT CHU LAI QUA TỪ NGỮ XƯNG HÔ 46

2.1 Một số vấn đề chung về từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt 46

2.1.1 Khái niệm từ xưng hô trong tiếng Việt 46

2.1.2 Chức năng của từ xưng hô trong tiếng Việt 47

2.2 Các loại từ ngữ xưng hô trong ngôn ngữ nhân vật của tiểu thuyết Chu Lai 48

2.2.1 Từ xưng hô là đại từ 48

2.2.2 Từ xưng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc và các danh từ khác 57

2.3 Từ xưng hô và các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai 75

2.3.1 Mối quan hệ giữa xưng hô và kiểu nhân vật 75

2.3.2 Từ xưng hô của một số kiểu nhân vật trong tác phẩm của Chu Lai .77

2.4 Vai trò của từ xưng hô trong việc hình thành đặc trưng ngôn ngữ nhân vật của tiểu thuyết Chu Lai 88

2.4.1 Từ xưng hô góp phần bộc lộ đặc điểm, tính cách, hoàn cảnh của nhân vật trong tác phẩm 88

2.4.2 Vai trò của từ xưng hô trong việc khắc họa đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai 91

2.5 Tiểu kết 95

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT CHU LAI QUA TỪ THÔNG TỤC, QUÁN NGỮ VÀ THÀNH NGỮ 97

3.1 Từ thông tục 97

3.1.1 Khái niệm 97

3.1.2 Từ thông tục trong lời thoại nhân vật 98

3.1.3 Vai trò của từ thông tục trong ngôn ngữ nhân vật của tiểu thuyết Chu Lai 125

Trang 3

3.1.4 Một vài so sánh bước đầu từ thông tục trong ngôn ngữ nhân vật của

tiểu thuyết Chu Lai với từ thông tục trong ngôn ngữ nhân vật của một

số nhà văn khác 128

3.2 Hệ thống quán ngữ trong ngôn ngữ nhân vật của tiểu thuyết Chu Lai 131

3.2.1 Vài nét về quán ngữ 131

3.2.2 Vai trò của quán ngữ qua các lời thoại nhân vật trong tiểu thuyết của Chu Lai 131

3.3 Các loại thành ngữ trong ngôn ngữ nhân vật của tiểu thuyết Chu Lai 133

3.3.1 Vài nét về thành ngữ tiếng Việt 133

3.3.2 Vai trò của việc sử dụng các thành ngữ qua lời thoại nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai 134

3.4 Tiểu kết 140

KẾT LUẬN 141

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 144

TÀI LIỆU THAM KHẢO 145

TÁC PHẨM TRÍCH DẪN LÀM DẪN CHỨNG 157

PHẦN PHỤ LỤC 159

Trang 4

MỤC LỤC CÁC BẢNG BIỂU THỐNG KÊ

Trang

Bảng 1.1 Thống kê số lượng nhân vật chia theo giới tính và nghề

nghiệp chức vụ trong 10 cuốn tiểu thuyết của nhà văn Chu Lai 39 Bảng 2.1 Bảng thống kê tần số sử dụng ĐTNX trong lời thoại

nhân vật của tiểu thuyết Chu Lai 49 Bảng 2.2 Số lượng và tần số xuất hiện các từ xưng hô có nguồn gốc

từ danh từ thân tộc và các danh từ khác của nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai 58

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của con người” (V.I Lênin).Giao tiếp bằng ngôn ngữ được chia thành hai phong cách: phong cách nói (phong cáchkhẩu ngữ) và phong cách viết (phong cách sách vở) Tác phẩm văn học là sản phẩm giaotiếp thuộc phong cách viết nhưng có tính tích hợp cả hai phong cách (nói và viết) thànhmột dạng giao tiếp đặc thù: giao tiếp nghệ thuật

Văn học là tấm gương phản ánh đời sống xã hội Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học,

do vậy, thể hiện một cách sinh động hoạt động giao tiếp của con người trong xã hội thôngqua sự sáng tạo của nhà văn Ở góc độ nghiên cứu, ngôn ngữ học hiện đại đang chuyểnsang một hướng tiếp cận mới là tìm hiểu sự hành chức của ngôn ngữ trong cuộc sống vàcuộc sống trong ngôn ngữ Vì vậy, việc khảo sát tìm hiểu ngôn ngữ trong tác phẩm văn học

là một cách tiếp cận phù hợp với xu hướng nghiên cứu mới cả về phương diện lí luậnchung (đặc điểm, vai trò, cơ chế hành chức của ngôn ngữ trong giao tiếp nói chung, giaotiếp nghệ thuật nói riêng) và phương diện cụ thể (đặc điểm, vai trò, các quy tắc hoạt độngcủa ngôn ngữ trong tác phẩm văn học)

1.2 Các tác phẩm văn học Việt Nam sau 1975 đến nay, trong đó có thể loại tiểuthuyết, đã góp phần không nhỏ trong việc tạo nên bản sắc, diện mạo riêng cho thời kỳ vănhọc sau chiến tranh Sự đổi mới về đề tài, cách miêu tả hiện thực, quan niệm nghệ thuật vềcon người, đặc biệt là phong cách ngôn từ thể hiện rất rõ trong các tác phẩm văn học thời

kì này Trong số các nhà văn có nhiều tác phẩm thành công, tạo ra phong cách, giọng điệuriêng, người đầu tiên và tiêu biểu nhất phải kể đến là nhà văn Chu Lai Các tác phẩm củanhà văn đã phản ánh được nhiều vấn đề nóng bỏng hiện nay về hiện thực xã hội; các nhânvật trong tác phẩm của Chu Lai được mô tả là người lính vừa mang cốt cách anh hùng trậnmạc (thời chiến) vừa mang đặc điểm của con người sống trong nhiều áp lực, thử thách củaquãng đời phía sau chiến trận (thời bình) Ngôn ngữ trong tiểu thuyết Chu Lai, đặc biệt làngôn ngữ nhân vật, có nhiều đặc thù đáng được quan tâm “có những trang hấp dẫn, ngườiđọc đã cầm đến sách là phải theo đuổi câu chuyện đến cùng ” [34, tr.9] “Dấu vết thời đại

đã ảnh hưởng và quy định cách nói năng, đối đáp, nhiều lớp từ mới được hình thành, quanniệm về lời nói cũng được bổ sung những sắc thái biểu cảm mới Ngôn ngữ tiểu thuyết gầnvới ngôn ngữ đời thường, giàu tính khẩu ngữ Ngôn ngữ trong các tiểu thuyết biểu hiện sự

Trang 6

cá tính hoá mạnh mẽ, tính cách nào, lời lẽ ấy Cách nói trần trụi dân dã, thẳng thắn, bạodạn” [34, tr.16] của các nhân vật là những điểm nổi trội trong tác phẩm của Chu Lai.

Vì vậy, ở phương diện ngôn ngữ, tiểu thuyết Chu Lai có thể gợi mở nhiều vấn đề

mà ngôn ngữ học đang quan tâm, nhất là ở khía cạnh sự hành chức của ngôn ngữ tronggiao tiếp nghệ thuật, như: đặc điểm, vai trò của từ ngữ trong tổ chức lời thoại; sự hànhchức của ngôn từ thể hiện trong ngôn ngữ nhân vật; ngôn ngữ đã thực hiện chức năng phảnánh và chức năng tổ chức phát ngôn, thể hiện phong cách, giọng điệu tác phẩm và tác giảnhư thế nào…

1.3 Nghiên cứu ngôn ngữ trong tác phẩm văn học nói chung, nghiên cứu ngôn ngữhội thoại của nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai nói riêng, không chỉ có ý nghĩa về mặt líluận (góp phần xác định về phong cách giao tiếp, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, ngônngữ nhân vật, các quy tắc giao tiếp) mà còn có ý nghĩa đóng góp vào thực tiễn (cung cấpnguồn ngữ liệu để làm rõ sự hành chức của ngôn từ trong giao tiếp nghệ thuật), cũng nhưtính ứng dụng thực hành của đề tài (góp phần vào việc giảng dạy tác giả, tác phẩm; phongcách ngôn ngữ nghệ thuật; diễn ngôn và phân tích diễn ngôn trong nhà trường)

Từ những căn cứ lí luận và thực tiễn trên đây, chúng tôi lựa chọn đề tài luận án: Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Những hướng nghiên cứu về ngôn ngữ trong giao tiếp và hội thoại

Việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp đã trởthành một trong những hướng được chú ý của ngôn ngữ học hiện đại Những kết quảnghiên cứu ở lĩnh vực này thể hiện rõ trong các công trình của các nhà ngôn ngữ học trênthế giới, bắt đầu từ luận điểm quan trọng bậc nhất của F.de Saussure trong cuốn Giáo trìnhngôn ngữ học đại cương (1916) và sau đó được các nhà ngôn ngữ học khai thác theo nhữnghướng khác nhau Có thể kể đến những hướng nghiên cứu chính, như: nghiên cứu về dụnghọc - Pragmatics (J.L Austin, 1965; Ch.W Morris, 1966; J.R Searle, 1969); hướng nghiêncứu về Ngôn ngữ học xã hội - Socio- Linguistics (Nikolski, 1920; E.d Sapir, O.Jesperson,1922 ); hướng nghiên cứu về Ngôn ngữ học văn bản - Text Linguistics (L.Bloomfield(1926), E.Benveniste (1960), A.Reformatxky (1967), v.v…

Ở hướng nghiên cứu dụng học, các nhà ngôn ngữ học xác định có 4 vấn đề: sựchiếu vật và chỉ xuất, nghĩa tường minh và hàm ẩn, các hành động ngôn ngữ và lý thuyếthội thoại Trong các vấn đề đó, lí thuyết hội thoại (bàn về lĩnh vực giao tiếp đối thoại) được

Trang 7

xem là vấn đề trọng tâm Theo M Bakhtin, “Ngôn ngữ chỉ sống trong sự giao tiếp đốithoại giữa những người sử dụng ngôn ngữ Sự giao tiếp đối thoại chính là lĩnh vực đíchthực của cuộc sống của ngôn ngữ Toàn bộ cuộc sống của ngôn ngữ, trong bất kì lĩnh vựcnào sử dụng nó (sinh hoạt, sự vụ, khoa học, nghệ thuật v.v ) đều thấm nhuần những quan

hệ đối thoại ” [2, tr.172) Nghiên cứu ngôn ngữ hội thoại nói chung, ngôn ngữ nhân vậtnói riêng “không thể tách nó ra khỏi lĩnh vực lời nói, tức khỏi ngôn ngữ với tư cách là mộthiện tượng toàn vẹn cụ thể” [2, tr.172]

Tiếp thu và phát triển quan điểm và kết quả của ngôn ngữ học thế giới, các nhàngôn ngữ học Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực ngữ dụng học, ngônngữ học xã hội, ngôn ngữ học văn bản đề cập đến sự hành chức của ngôn ngữ trong giaotiếp [thể hiện trong các tài liệu: 6, 20, 23, 47, 54, 70, 93, 105] Riêng về vấn đề ngôn ngữhội thoại, ngôn ngữ nhân vật, các hành động ngôn ngữ, đã có nhiều công trình nghiên cứu

ở các quy mô khác nhau (chuyên luận, giáo trình, luận án, luận văn, bài báo) đề cập đến ởnhững mức độ khác nhau (từ những vấn đề lí luận, các nguyên lí, khái niệm đến thống kê,miêu tả, phân tích các đặc trưng, cách thức hoạt động của các đơn vị trong hoạt động giaotiếp cụ thể từ tiếng Việt)

Trong các công trình trên, các tác giả đã nêu lí thuyết hội thoại, nhận xét đánh giá

về đặc điểm của hội thoại, các phương diện của hội thoại Bàn về hội thoại và vai trò của

nó trong nghiên cứu, Đỗ Hữu Châu nhấn mạnh:“Hội thoại là hoạt động giao tiếp căn bản,thường xuyên, phổ biến của sự hành chức ngôn ngữ Các hình thức hành chức khác củangôn ngữ đều được giải thích dựa vào hoạt động căn bản này Vấn đề phải nghiên cứu sựhành chức của những cặp trả lời như cặp hỏi/trả lời theo một quan điểm hội thoại, tức trong

sự đối đáp của các nhân vật giao tiếp trong một hoàn cảnh nhất định ” [20, tr.276, 267].Nhiều công trình bàn về các lĩnh vực của hội thoại, như: Về ngữ nghĩa của lời (Hoàng Phê,1981); Phân tích các nhân tố trong hội thoại (Nguyễn Thiện Giáp, 1999), Ngữ nghĩa lời hộithoại (Đỗ Thị Kim Liên, 1999), v.v Một số công trình bàn sâu về hội thoại, miêu tả, phântích các nhân tố của hội thoại, vai trò chức năng của các lời thoại trong giao tiếp ngôn ngữ

ở các ngữ cảnh Trong đó có những công trình nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ hộithoại trong các ngữ cảnh giao tiếp Chẳng hạn, phân tích về vai trò của từ trong hoạt độnggiao tiếp (Bùi Minh Toán, 1999); bàn về vai xã hội và ứng xử trong giao tiếp (Nguyễn Như

Ý, 1990); phân tích đặc điểm của khẩu ngữ tiếng Việt và rèn luyện kỹ năng giao tiếp

Trang 8

(Nguyễn Chí Hòa, 2009); về từ xưng hô trong gia đình đến ngoài xã hội của người Việt(Bùi Minh Yến, 2001)

2.2 Những hướng nghiên cứu ngôn ngữ và ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm vănhọc

Cùng với việc nghiên cứu ngôn ngữ trong các bối cảnh giao tiếp, là những côngtrình bàn về ngôn ngữ và ngôn ngữ trong giao tiếp nghệ thuật nói chung, trong tác phẩmvăn học nói riêng Để xác định ngôn ngữ trong tác phẩm văn học, người ta làm rõ mốiquan hệ giữa ngôn ngữ phong cách viết và phong cách nói: “ Ngay trong phong cách nóicũng có sự phân biệt giữa lời nói được chọn lọc, trau giồi (ví dụ như lời diễn giảng, thuyếttrình, lời phát biểu chính thức có chuẩn bị sẵn ) với lời nói chưa được chọn lọc kĩ và traugiồi cẩn thận (ví dụ như trong nói năng thân mật thông thường hàng ngày, thậm chí có thểchấp nhận cả tính chất thông tục trong đó) Loại thứ nhất ở đây nhích gần về phía ngôn ngữthuộc phong cách viết hơn, còn loại thứ hai, từ bản chất của nó, được gọi đích danh là khẩungữ - một tên gọi mà tuy không nói ra một cách hiển minh, nhưng ít nhiều bên trong,người ta có ý phân biệt nó với ngôn ngữ nói, nói chung Như thế, có thể nhận ra trong từvựng ba lớp từ mang đặc điểm của ba phong cách: lớp từ khẩu ngữ, lớp từ ngữ thuộcphong cách viết, và cuối cùng là lớp từ ngữ trung tính (hoặc còn gọi: trung hoà về phongcách) có thể dùng trong mọi phong cách khác nhau” [29, tr.23] Bàn về phong cách ngônngữ trong tác phẩm văn học, các tác giả cho rằng ngôn ngữ trong tác phẩm văn học cũng

có những yếu tố mang phong cách khẩu ngữ theo lối “mô phỏng ngôn ngữ tự nhiên” Điều

đó được thể hiện trong lời thoại nhân vật: “Lời đối thoại giữa các nhân vật là một thànhphần chủ yếu trong kết cấu lời nói của tác phẩm tự sự Chức năng chủ yếu của đối thoạikhông chỉ mang tính chất miêu tả hay chuyển dẫn, trình bày sự kiện mà còn là bộc lộ tínhcách, tâm lí của nhân vật và quan điểm tư tưởng” [68, tr.194]

Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến và liên tục của cuộc sốnghàng ngày Gần đây, dựa vào lí thuyết hội thoại mà nhiều tác giả đề cập đến nghệ thuậtgiao tiếp, như: Giao tiếp bất kì ai của Jo Condrill - Bennie Bough (2001), Ngữ cảnh vàgiao tiếp, Phân tích hội thoại của Nguyễn Thiện Giáp (1999) Sự phát triển này cho thấymảnh đất hội thoại ngày càng màu mỡ được nhiều nhà nghiên cứu khám phá Trong cácvăn bản văn học nhất là thể loại tự sự, hội thoại góp phần thể hiện phẩm chất nhân vật, tìnhcảm và tư tưởng của nhà văn tác động đến bạn đọc sâu sắc

Trang 9

Nhiều bài viết, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ cũng đã tìm hiểu các phương diệnkhác nhau liên quan đến ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm văn học Chẳng hạn, Ngôn ngữtác giả trong truyện Nguyễn Tuân (Đặng Lưu, 2006), Khảo sát ngôn ngữ hội thoại củanhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (Lê Thị Trang, 2002); Hội thoại trongtruyện ngắn Nam Cao (Mai Thị Hảo Yến, 2006); Lời độc thoại nội tâm nhân vật trongtruyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ (Lê Thị SaoChi, 2010), v.v

Qua những công trình đã kể một cách rất khái quát và có tính đại diện trên, phầnnào ta có thể hình dung được vấn đề ngôn ngữ trong giao tiếp, hội thoại, ngôn ngữ tác giả,ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm đã được nêu ra và bàn luận về mặt lí thuyết và phântích miêu tả về mặt thực tiễn từ nhiều góc độ và thu được nhiều kết quả rất có ý nghĩa, làm

cơ sở cho những hướng nghiên cứu đầy triển vọng về sự hành chức của ngôn ngữ tronggiao tiếp xã hội

2.3 Những công trình viết về tác phẩm của Chu Lai từ góc độ văn học và ngôn ngữhọc

2.3.1 Nghiên cứu tác phẩm của Chu Lai từ góc độ phê bình văn học

Khi nghiên cứu, đánh giá về tác phẩm Chu Lai, nhìn chung, các nhà nghiên cứu phêbình khẳng định thành công của Chu Lai là ở đề tài chiến tranh với hình tượng trung tâm làngười lính Chiến tranh và người lính trong sáng tác của Chu Lai được phản ánh dướinhiều góc độ khác nhau chủ yếu bằng cái nhìn sử thi và thế sự Điều đáng chú ý là cáchxây dựng nhân vật trong sáng tác của Chu Lai được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm BùiViệt Thắng viết: “Nhân vật Chu Lai được thể hiện như những con người tâm linh Họ sốngbởi những ám ảnh của ảo giác, hối thúc bởi sự sám hối, luôn tìm kiếm sự giải thoát Đó lànhững con người trở về sau chiến tranh bị mất thăng bằng, khó tìm được sự yên ổn trongtâm hồn Họ sống trong cảm giác không bình yên Chu Lai làm người đọc bất ngờ vìnhững khám phá nghệ thuật của mình: Nhân vật Chu Lai thường tự soi tỏ mình, khám phámình, khám phá một bản ngã hay là một con người trong con người” [124, tr.104] HồngDiệu nhận xét: “Chu Lai là nhà văn thuỷ chung với đề tài chiến tranh, anh có nhiều tácphẩm viết về đề tài người lính trên cả ba mặt trận: Văn học - Sân khấu - Điện ảnh” [34,tr.6] Trần Quốc Huấn trong Người chiến sĩ viết văn hôm nay - đội ngũ kế tục những nhàvăn chiến sĩ, khẳng định phẩm chất của người lính trong chiến tranh: “Trong truyện ChuLai, cái vốn tri thức văn hóa, trí tuệ sáng suốt của người lính trẻ đã thấm nhuyễn một cách

Trang 10

tự nhiên vào từng chi tiết nhỏ của truyện, trong từng phán đoán nhạy bén, quả quyết, đểdẫn tới chiến thắng cuối cùng ở nhân vật” [65, tr.33] Viết về người lính sau hoà bình trongtiểu thuyết chiến tranh thời kỳ đổi mới, Nguyễn Hương Giang cho rằng: “Sự thật về chiếntranh hôm nay được nhìn lại là một sự thật đã trải qua những năm tháng day dứt, trăn trởtrong tâm hồn nhà văn Chu Lai, hơn thế, nó thực sự là những nếm trải của người “chịutrận”, “người trong cuộc” [45, tr.20] Lý Hoài Thu cũng khẳng định: “Dù trực tiếp viết về

dĩ vãng mịt mù bom đạn hay chuyển dịch sang tiếp cận những “kênh” thông tin mới xô bồcủa thời hiện tại, bao giờ Chu Lai cũng nghiền ngẫm suy tư về hiện thực với sự nhiệt tâm

và lòng trung thực của người lính Nếu như trước kia, các nhân vật của anh được mô tảchủ yếu ở cốt cách anh hùng trận mạc thì hiện nay ( ) Chu Lai tập trung khai thác quãngđời thứ hai: quãng đời phía sau chiến trận của người lính” [125, tr.63]

2.3.2 Nghiên cứu tác phẩm của nhà văn Chu Lai từ góc độ thi pháp học và ngônngữ học

Đánh giá về phương diện nghệ thuật của tiểu thuyết Chu Lai, Phan Cự Đệ trongTiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thời kỳ đổi mới cho rằng, tiểu thuyết Chu Lai

“không chỉ đa dạng trong các phương thức tiếp cận mà cả trong các biện pháp nghệ thuật,kết hợp độc thoại nội tâm, “dòng ý thức”, nghệ thuật đồng hiện và có những thành côngnhất định” [41, tr.18] Về tiểu thuyết Vòng tròn bội bạc, Hồng Diệu đánh giá cao nghệthuật xây dựng nhân vật, cách tạo tình huống, những xung đột, đặc biệt là cách nhìn khámạnh dạn của Chu Lai, “có những trang hấp dẫn, người đọc đã cầm đến sách là phải theođuổi câu chuyện đến cùng” [33, tr.9]

Xuân Trường nhận xét về nghệ thuật và ngôn ngữ trong tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãngqua Một vài cảm nhận sau khi đọc “Ăn mày dĩ vãng”, báo Văn nghệ số 26/1993: “Có thểgọi tác phẩm này đầy chất lính, giọng văn băm bổ, sôi động, các thứ tình cảm, suy tư đềuđẩy đến tận cùng Cốt truyện có pha chút ly kỳ bí hiểm kiểu kiếm hiệp, đọc rất cuốn hút

Có những chương, những đoạn anh viết về chiến tranh hết sức sinh động, nếu không làngười trong cuộc, không dựng lại được không khí một địa bàn chiến đấu khá đặc biệt này

Ăn mày dĩ vãng còn có chỗ chưa hoàn mỹ Chính cái giọng văn băm bổ sôi động ấy, chínhcái cách đẩy tình cảm, tư duy đến tận cùng ấy tạo ra mặt trái khác bởi tính thái quá Đấy là

sự cường điệu trong xử lý tình tiết, sự lộng ngôn trong câu văn Và cũng vì say sưa với cốttruyện, tác giả đã thiếu chặt chẽ trong lý giải tính cách nhân vật của mình Từ bỏ quá khứvới một người đàn bà dũng cảm, trung hậu như Ba Sương, quả thật không phải là điều quá

Trang 11

dễ dàng Dù sao đây cũng là cuốn tiểu thuyết sáng giá về chiến tranh và người lính; vớitầm tư tưởng đúng đắn, trong sáng rất đáng trân trọng, khích lệ” [tr.34].

Chu Bích Thu trong bài viết Những nỗ lực sáng tạo của tiểu thuyết Việt Nam từ sauđổi mới đề cập đến một khía cạnh của thi pháp và ngôn ngữ trong tiểu thuyết sau 1975 vàtrong tiểu thuyết Chu Lai: “Nhiều tiểu thuyết sau những năm đổi mới đến nay đã sử dụng

mô típ giấc mơ, giấc mơ chiêm bao như một ngôn ngữ độc thoại đặc biệt để giải mã thếgiới vô thức của con người Thủ pháp này thể hiện rõ trong các tiểu thuyết Thân phận củatình yêu (Bảo Ninh), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai)” [tr.590] Tác giả đã lưu ý đến một đặcđiểm của ngôn ngữ tiểu thuyết sau năm 1975: “Dấu vết thời đại đã ảnh hưởng và quy địnhcách nói năng, đối đáp, nhiều lớp từ mới được hình thành, quan niệm về lời nói cũng được

bổ sung những sắc thái biểu cảm mới Ngôn ngữ tiểu thuyết gần với ngôn ngữ đời thường,giàu khẩu ngữ ( ) Ngôn ngữ trong các tiểu thuyết biểu hiện sự cá tính hoá mạnh mẽ, tínhcách nào, lời lẽ ấy Cách nói trần trụi dân dã của người lính (Ăn mày dĩ vãng), cách nóithẳng thắn bạo dạn của cánh nhà báo (Dấn thân, Một ngày và một đời)” [tr 588, 589]

Nhiều ý kiến đi sâu vào phân tích riêng từng tác phẩm Ở Cuộc trao đổi về tiểuthuyết Ăn mày dĩ vãng in trên báo Văn nghệ số 39/1992 xuất hiện những luồng ý kiến khácnhau, song chủ yếu vẫn là khen ngợi, đó là: “Chu Lai đã “nhử” được người đọc bởi một cốttruyện li kì” (Cao Tiến Lê), “Trên từng trang viết lộ rõ tâm huyết của tác giả tuy có khi tưtưởng mới chỉ dừng lại ở những câu triết lý” (Thiếu Mai) Trong bài viết Cuộc tìm tòi vềtiểu thuyết, tác giả Đỗ Văn Khang đã đề cập đến nghệ thuật xây dựng nhân vật: “Lối chạmkhắc nhân vật trong Ăn mày dĩ vãng cũng có nhiều đóng góp mới Ngày trước nhân vậtthường mang một ý nghĩa phổ quát, tức là có cái gì đó chung cho cả lớp người , còn HaiHùng của Chu Lai có số phận được miêu tả như một yếu tố cá biệt độc nhất nhưng vẫnmang tính điển hình Nhân vật Hai Hùng của Chu Lai tàn tạ về thân xác, nhưng vạm vỡ vềtâm hồn Hai Hùng có bộ khung “xuống cấp” vì thương tật, vì sự hủy hoại của mọi thứ vớvẩn thời hậu chiến, nhưng vẫn nhất quán một bản lĩnh, một kiểu xông pha gần như bạtmạng vì không chịu chấp nhận một cái gì lập lờ tráo trở” [tr.5]

Tác giả Hồng Diệu trong Vấn đề của tiểu thuyết Vòng tròn bội bạc viết: “Với nghệthuật xây dựng nhân vật, cách tạo tình huống, những xung đột, đặc biệt là cách nhìn khámạnh dạn, Chu Lai có những trang hấp dẫn, người đọc đã cầm đến sách là phải theo đuổicâu chuyện đến cùng” [33, tr.41]

Trang 12

Từ góc độ nghiên cứu ngôn ngữ học, gần đây, một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc

sĩ cũng đã đề cập một số đặc điểm ngôn ngữ tác phẩm, ngôn ngữ nhân vật trong các truyệnngắn và tiểu thuyết của nhà văn Chu Lai Chẳng hạn như: Hành động trần thuật qua lờithoại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Chu Lai, Lê Lựu (Cao Xuân Hải,Luận án Tiến sĩ, 2010), Sự thể hiện người lính thời hậu chiến trong tiểu thuyết của Chu Lai(Lê Thị Luyến, Luận văn Thạc sĩ, 2006), Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn Chu Lai(Nguyễn Thúy Huệ, Luận văn Thạc sĩ, 2007),v.v

Như vậy, có thể nói các công trình nghiên cứu về tác phẩm của Chu Lai đã đượcnhiều tác giả quan tâm và thu được một số kết quả bước đầu nhưng còn nhiều vấn đề cầnđược tiếp tục tìm hiểu, nhất là từ góc độ ngôn ngữ học Các kết quả của người đi trước lànhững gợi ý, nguồn ngữ liệu quan trọng giúp chúng tôi đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu đặcđiểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Đề tài nhằm làm sáng tỏ một số đặc điểm và vai trò nổi bật của ngôn ngữ nhân vật

từ phương diện từ ngữ trong tiểu thuyết Chu Lai

- Qua những kết quả phân tích và tổng hợp, đề tài nhằm làm rõ đặc điểm ngôn ngữnhân vật và phong cách ngôn ngữ của tác phẩm văn học thể hiện trong tiểu thuyết Chu Lai

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được các mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định là:

- Tổng hợp những vấn đề lý luận chung liên quan đến đề tài, như: lý thuyết hộithoại, nhân vật và ngôn ngữ nhân vật, vai trò của từ ngữ trong tác phẩm, tác giả và tácphẩm và các vấn đề liên quan khác

- Khảo sát, thống kê nguồn ngữ liệu liên quan đến ngôn ngữ hội thoại, các lời thoạitrong tiểu thuyết của Chu Lai

- Miêu tả, phân tích, nêu vai trò của các lớp từ ngữ tiêu biểu trong việc thể hiện đặcđiểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai

- Tổng hợp, rút ra những đặc điểm nổi trội về sự hành chức của các lớp từ ngữtrong các lời thoại nhân vật và đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong các tác phẩm khảo sát, từ

đó góp phần làm rõ phong cách ngôn ngữ của nhà văn Chu Lai

4 Đối tượng, phạm vi và nguồn tư liệu của luận án

4.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 13

Đối tượng nghiên cứu của luận án là khảo sát, làm rõ đặc điểm ngôn ngữ nhân vậttrong tiểu thuyết Chu Lai, nhưng ngôn ngữ nhân vật – xét từ quan điểm tiếp cận của ngônngữ học - là một phạm trù rộng, có nhiều phương diện (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, vănbản) và được xem xét từ nhiều góc độ (cấu trúc, ngữ nghĩa, phong cách, ngữ dụng) Trongkhuôn khổ của luận án, chúng tôi giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài ởviệc tìm hiểu hệ thống từ ngữ thể hiện qua lời thoại nhân vật trong tiểu thuyết của nhà vănChu Lai từ góc độ ngữ dụng.

4.2 Nguồn tư liệu khảo sát của luận án

Luận án khảo sát từ ngữ qua lời thoại nhân vật trong tiểu thuyết của Chu Lai, gồmcác tác phẩm:

1 Chu Lai (1979), Nắng đồng bằng, Nxb Quân đội nhân dân, Số trang: 351

2 Chu Lai (1985), Gió không thổi từ biển, Nxb Phụ nữ, Số trang: 186

3 Chu Lai (1990), Vòng tròn bội bạc, Nxb Thanh niên, Số trang: 351

4 Chu Lai (1990), Bãi bờ hoang lạnh, Nxb Phụ nữ, Số trang: 210

5 Chu Lai (1994), Ăn mày dĩ vãng, Nxb Hội Nhà văn, Số trang: 339

6 Chu Lai (1999), Phố, Nxb Văn học, Số trang: 339

7 Chu Lai (2000), Ba lần và một lần, Nxb Quân đội nhân dân, Số trang: 343

8 Chu Lai (2002), Cuộc đời dài lắm, Nxb Quân đội nhân dân, Số trang: 510

9 Chu Lai (2002), Sông xa, Nxb Quân đội nhân dân, Số trang: 510

10 Chu Lai (2002), Chỉ còn một lần, Nxb Quân đội nhân dân, Số trang: 510

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thống kê - phân loại

Phương pháp này được dùng để thống kê các lời thoại nhân vật; các từ ngữ tiêubiểu trong ngôn ngữ nhân vật; phân loại các lớp từ ngữ, tính tần số, lượt dùng của từ ngữ Phương pháp thống kê – phân loại vừa là cơ sở để xác định đối tượng nghiên cứu (từ ngữcủa ngôn ngữ nhân vật), vừa là cung cấp các số liệu làm minh chứng cho các luận điểmtrong từng chương của luận án

5.2 Phương pháp phân tích diễn ngôn

Phân tích các ngữ liệu trên các bình diện của diễn ngôn hội thoại; tổng hợp để rút rađặc điểm khái quát về từ ngữ trong tác phẩm và vai trò, ảnh hưởng của đặc điểm đó đến hệthống chung, từ đó xác định đặc điểm của ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm và phongcách ngôn từ của tác giả

Trang 14

5.3 Phương pháp miêu tả

Phương pháp miêu tả dùng trong luận án liên quan đến các trường hợp cần làm nổibật các đặc điểm nào đó trong luận án (chẳng hạn: các lớp từ ngữ trong lời thoại nhân vật,

hệ thống từ xưng hô, từ thông tục, v.v ) Các kết quả của phương pháp miêu tả trong luận

án là cơ sở để phân tích, tổng hợp, đưa ra các kết luận về đặc điểm ngôn ngữ nhân vậttrong tiểu thuyết của Chu Lai

6 Đóng góp mới của luận án

Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểuthuyết Chu Lai ở bình diện từ ngữ từ góc độ ngữ dụng Công trình đã vận dụng những kiếnthức cơ bản của ngữ dụng học để khảo sát, phân tích về ngôn ngữ hội thoại, qua đó nhằmlàm rõ sự hành chức của ngôn ngữ trong giao tiếp xã hội nói chung, giao tiếp nghệ thuậtnói riêng; đồng thời góp phần làm rõ đặc điểm của ngôn ngữ nhân vật và phong cách ngônngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết của Chu Lai

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận án được trìnhbày trong ba chương:

Chương 1: Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài

Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai qua từ ngữ

xưng hôChương 3: Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai qua từ thông

tục, quán ngữ, thành ngữ

Trang 15

Chương 1NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Lí thuyết về hội thoại

1.1.1 Khái niệm hội thoại

Theo quan điểm chung của các nhà nghiên cứu [thể hiện trong các tài liệu:11, 15,

17, 20], thành tựu nổi bật nhất của ngôn ngữ học hiện đại là đã dành sự quan tâm đặc biệtđến ngôn ngữ trong giao tiếp, sự hành chức của ngôn ngữ trong thực tiễn Dụng học(Pragmatics) ra đời theo hướng đó và phát triển mạnh mẽ từ những năm 70 của thế kỷ XX.Giai đoạn đầu, dụng học chú ý đến ngôn ngữ đơn thoại (lời nói một chiều, các diễn ngôn),sau đó dụng học chuyển sang hướng quan tâm đến quan hệ hồi đáp (đặt các diễn ngôn vàochuỗi các chuỗi lời nói trao qua đổi lại) Theo các nhà nghiên cứu, các diễn ngôn có tínhđơn thoại, tức là không có sự tương tác qua lại giữa các lời nói trong đó (như một bài văn

tả cảnh, một bài nghị luận) cũng đều hàm ẩn một cuộc trao đổi, bởi vậy, dụng học thực sựphải là dụng học hội thoại (Pragmatique dialogique) “Hội thoại là hoạt động giao tiếp cănbản, thường xuyên, phổ biến của sự hành chức ngôn ngữ Các hình thức hành chức khácnhau của ngôn ngữ đều được giải thích dựa vào hoạt động căn bản này” [20; tr.276]

Về khái niệm hội thoại, tác giả Nguyễn Như Ý xác định: “Hội thoại là hoạt độnggiao tiếp bằng lời ở dạng nói giữa các nhân vật giao tiếp nhằm trao đổi các nội dung miêu

tả và liên cá nhân theo đích được đặt ra” (152; tr.122) Theo Đỗ Thị Kim Liên: “Hội thoại

là một trong những hoạt động ngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp,trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hayhành vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định” [86, tr.18] Trong tác phẩm văn học,cùng với ngôn ngữ tác giả là sự xuất hiện luân phiên, xen kẽ ngôn ngữ hội thoại của cácnhân vật Ví dụ:

Một cái hôn nhẹ vào trán Tiếng nói ai dịu nhẹ, mơn man:

- Ngủ đi! Ngủ một chút đi anh! Đã hai ngày hai đêm nay, anh chưa chợp mắt chútnào rồi Em sang hầm chị Hai đây Em sợ vết thương chị nhiễm trùng Tức cười ghê cơ!Vết thương của mình không lo, cái sống của mình không lo, lại cứ lo cho tiểu đoàn anhTám bên kia sông Chờ nghen! Em sẽ quay lại ngay

- Anh Hùng Em không nghe nữa đâu - Cô gái vội lấy tay bịt tai lại

Sương cúi đầu xuống một giây rồi ngẩng lên, nét mặt lạnh cứng:

Trang 16

- Dám!

- Đồng chí y tá! - Hùng cũng sắt mặt - Đây là lệnh, đồng chí không được can thiệpvào Anh em đâu? Thằng Khiển, thằng Vượng đâu? Cả thằng Tuấn khốn nạn kia nữa, màyngồi chết giẫm ở đó à? Mang nó ra hố pháo chôn ngay!

- Không! Sương thét - Không được chôn sống người ta như thế!

- Lôi con người lắm điều này đi! - Hùng chỉ tay ra cửa rừng

Chát! Cả khuôn mặt râu ria của Hùng hơi bật ngửa ra sau trước một cái tát quábất ngờ” [XIII, tr.79]

Hội thoại hầu như có mặt trong các sáng tác (văn bản văn học) nhưng chúng ta thấyrằng trong văn bản văn học (truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch ), hội thoại không xuất hiệnđộc lập mà nó luôn gắn liền với ngôn ngữ tác giả, làm thành chỉnh thể văn bản – chỉnh thểtác phẩm văn học

Tình thế trao lời ngầm ẩn rằng, người B tất yếu phải có mặt đi vào trong lời của A

Vì thế “ngay trước khi B đáp lời thì B đã được đi vào trong lời trao của A và thường xuyênkiểm tra, điều hành lời nói của A” Cũng chính vì thế, ở phía người nói - người trao lời nói

có nghĩa là “lấn trước vào người nghe B, phải dự kiến trước phản ứng của người nghe” đểlựa chọn lời thích hợp, làm sao có thể “áp đặt” điều mình muốn nói vào B” [24, tr.41]

Khi trao lời, có các vận động cơ thể (điệu bộ, nét mặt, cử chỉ, ) hướng tới ngườinhận hoặc hướng về mình (gãi đầu, gãi tai, đấm ngực ) bổ sung cho lời trao

Trang 17

động hội thoại, câu trao của Sương hướng tới Hùng bằng các từ “em, anh” Trong câu trao

đã có sự hiện hữu của người nhận Sự dịu dàng, yếu đuối của nhân vật Sương được tác giảthể hiện bằng câu dẫn: “Một tiếng khóc tấm tức bật lên”

Hùng quay mặt đi, tiếng nói ngàn ngạt:

- Thế là bao nhiêu công sức đổ vào đó mà phải dừng lại! Người ta sẽ nghĩ gì?

- Không không sao đâu Em thay mặt lực lượng địa phương sẽ cùng chịu tráchnhiệm với anh

- Sương [XIII, tr.82]

Khi xuất hiện lời đáp của nhân vật B thì vận động trao - đáp - cái lõi của hội thoạidiễn ra theo nhịp điệu của nội dung hội thoại Có lúc, sự vận động đó lắng lại theo tiếngngập ngừng trong tâm trạng của nhân vật, có lúc lại diễn biến nhanh, dồn dập Sự thay đổitrong cặp vai người nói - người nghe cũng biến đổi theo Đây cũng là yếu tố cho sự pháttriển hội thoại đạt đến đích mong muốn Trong ví dụ trên, nhân vật Hùng lúc sắp vai ngườinói dưới hình thức câu hỏi “Người ta sẽ nghĩ gì?”, lúc lại chuyển thành người nhận lời và

có sự đáp lời: “Sương ”

1.1.2.3 Sự tương tác

Trong cuộc thoại, các nhân vật giao tiếp, ảnh hưởng lẫn nhau, tác động qua lại vớinhau làm biến đổi lẫn nhau Trước cuộc thoại, nhân vật có sự khác biệt, đối lập về tínhcách, tâm lý, hiểu biết tình cảm, v.v Trong quá trình tham gia vào hội thoại, nhân vật sẽ tựđiều phối những khác biệt này để cùng cộng tác đi đến thoả hiệp hoặc có thể phát triển caohơn, mở rộng những khác biệt này làm cho cuộc thoại đi đến xung đột Đây chính là sựtương tác trong hội thoại Theo Đỗ Hữu Châu, sự tương tác được hiểu là: “Các nhân vậtgiao tiếp ảnh hưởng lẫn nhau, tác động lẫn nhau đến cách ứng xử của từng người trong quátrình hội thoại” [24, tr.42]

Trang 18

Với văn bản tác phẩm văn học, sự tương tác hội thoại có thể phát triển theo nhữngchiều hướng khác nhau

- Tạo điều kiện cho tâm lý nhân vật phát triển, đưa cuộc thoại đạt đến đích:

Có tiếng nổ nhỏ trong đầu, tôi đứng dậy:

- Bữa nay mình là chủ xị phải không?

- Còn bàn cãi gì nữa - Ba Thành nói

- Vậy dẹp đi! Và bây giờ lên xe trở về nhà thằng Tuấn Sẽ nhậu tại đó

- Còn chuyến tàu? - Tuấn hỏi

- Cũng dẹp luôn! Tao sẽ ở lại với chúng mày để tìm bằng được tên giết người đó[XIII, tr.339]

Trong ví dụ trên, cái đích của cuộc thoại đã được xác định, chiến tranh với đạn bomkhói lửa, chết chóc đã qua nhưng cuộc chiến trong cuộc sống đời thường giữa ranh giớithiện - ác thì mới chỉ bắt đầu ở những người lính can trường một thời này

- Làm cho hội thoại thêm căng thẳng và đi đến xung đột do không hoà phối đượcnhững khác biệt:

- Không! Không đi đâu cả! - Ông Hùng xô cửa bước vào, giọng nói tắc lại

- Trời Anh Hai! - Ba Sương lùi người trở lại, hai tay bất giác đưa lên che đỡ lấyngực như hôm nào

- Sương! Em cứ ở đây Ngày mai tôi sẽ đưa em về - Ông Hùng đứng chắn ngangcửa, cặp mắt trũng sâu sáng lên - Nếu cái đoàn thanh tra ấy muốn, chính tôi sẽ trả lời, nhândanh những người chết và những người sống, tôi sẽ trả lời thay em

Sương càng lùi lại, miệng lắp bắp:

- Không Không được đâu anh Đừng anh [XIII, tr.331]

- Hé gợi sự tình của nhân vật với những cảm giác, những day dứt trong tâm trạng: Như nhân vật Ba Sương, sau chiến tranh trở về, sự trớ trêu của số phận hay là một

hệ quả đau lòng của chiến tranh đã khiến cô buộc phải phản bội lại chính mình để trở thànhngười đàn bà đẹp và uy quyền nhưng cũng nổi tiếng là lạnh lùng, dửng dưng với đàn ông

Một đám khói màu da cam đột nhiên trôi qua, phủ đầy vào mắt người đàn bà Saumột thoáng rùng mình ớn lạnh, bà ta cười, lắc đầu vẻ mệt mỏi:

- Thanh tra Bộ à? Sao lại có thanh tra Bộ ở đây? Tội nghiệp! Chắc lại một ca hộichứng chiến tranh đó thôi Thôi được, không cần biết là ai nhưng đã đến đây thì coi như làkhách Anh làm ơn đưa ổng về phòng nghỉ và nói rằng, ở đây không có ai tên Sương hết

Trang 19

[XIII, tr.25].

1.1.3 Các dạng thức hội thoại

Qua khảo sát và thống kê tiểu thuyết Chu Lai, chúng tôi nhận thấy, ngôn ngữ củatác giả sử dụng nhiều dạng thức hội thoại như đơn thoại, song thoại, tam thoại, đa thoại,trong đó, song thoại xuất hiện và chiếm tỉ lệ nhiều nhất Cụ thể, các dạng hội thoại đượcthể hiện:

1.1.3.1 Đơn thoại

Là lời thoại của một nhân vật phát ra hướng đến người nghe nhưng không có lờiđáp trực tiếp Việc tiếp nhận nội dung lời thoại được phản hồi bằng hành động thể hiện hay

cử chỉ không được tác giả mô tả thành lời

Dạng đơn thoại biểu hiện rõ nhất ở kiểu lời trần thuật của nhân vật, có nghĩa là, lờinói của nhân vật có xen kẽ một yếu tố kể của mình, của người

Thấp thỏm chưa thật tin vào cái nhận xét còn mang màu sắc võ đoán ấy, tôi hạ nòngbắn thẳng một loạt đạn ria:

- Bà không phải là một cái gì hết Đúng thế Bởi vì bà chính là Ba Sương Y tá BaSương! Xã đội trưởng Ba Sương của ba xã vùng hạ lưu sông Sài Gòn cách đây hai mươinăm

Lạnh lẽo, tôi bồi tiếp một loạt nữa:

- Bà có muốn nhận bà là Ba Sương hay không Tuỳ! Đó là quyền của bà Nhưngtôi, tôi lại cần phải biết tại sao [XIII, tr.234]

Giữa những lời dẫn thoại “bắn thẳng một loạt đạn ria”, “lạnh lẽo, tôi bồi tiếp mộtloạt nữa” là “một thoáng xao động vút rất nhanh trong đôi mắt mở to, một chút chuyểnmàu trên đôi môi không son phấn, một chút rung giật ở gò má phơn phớt hồng” của ngườiđàn bà chối bỏ quá khứ - Ba Sương

Thông thường, dạng đơn thoại là vắng lời đáp, mỗi nhân vật tự đeo đuổi một ý nghĩriêng của mình nhưng đều tuân theo một logic Ở nhân vật Hai Hùng, sự dồn đuổi đến tậncùng để tìm ra sự thật về người con gái anh yêu đã chết đau đớn trong trận càn của địch màanh là người chứng kiến Còn ở Ba Sương, sự ngây ngất trong vầng hào quang giả dối đãkhiến cô quay lưng với tất cả kỷ niệm xưa Sự im lặng của Ba Sương trong đoạn thoại trên

có tác động sâu sắc đến nội dung phát ngôn của nhân vật Hai Hùng

1.1.3.2 Song thoại

Trang 20

Đây là dạng thoại chủ yếu và được quan tâm nhiều nhất trong lý thuyết hội thoại.Theo Nguyễn Đức Dân: “Nếu không có chú thích gì đặc biệt thì thuật ngữ hội thoại đượchiểu là song thoại” [32, tr.77] Song thoại là lời của người trao hướng đến người nghe và có

sự đối đáp bằng hành vi ngôn ngữ Chúng tôi gọi là hành vi trao lời và hành vi đáp lời Ởdạng thoại này, nhân vật trực tiếp đưa lời nói của mình vào hội thoại, bảo đảm yếu tố lờitrao và lời đáp của nhân vật, bảo đảm nguyên tắc luân phiên lượt lời hội thoại

Kính râm đen rầm, ria mép đen nhức, bắp tay xoắn bện như xoắn thừng, anh ta tiếnđến, hất mặt hỏi rất hỗn:

- Có gì không mấy anh?

- Không Không có gì Đứng hóng mát thôi - Ông trưởng phòng lúng túng trả lời

- Hóng mát thì mời đi chỗ khác Chỗ này vừa thi công xong, nóng thấy mẹ, có gì

- Chính vì thế mà em biết anh không thương em

- Tầm bậy nào! Không thương mà tối tăm, mưa gió thế này, anh bỏ cả văn phònggiám đốc, bỏ cả vợ con xuống đây chỉ cốt được gặp em à? Im! Ngoan nào Cho anh lầnnữa nhé!

- Kìa! Đừng làm thế! Đứt hết khuy áo bây giờ đấy, đứt rồi! Bỏ ra đi! Em khôngđùa đâu!

- Ai đùa! Em ác lắm! Em có biết rằng mấy tuần nay không lúc nào anh không

mơ tưởng về em Về bộ ngực về thân thể nóng rực của em Anh thèm em

- Không được! Dơ hết quần áo bây giờ Kìa, dơ!

- Dơ, anh đền cho một trăm bộ, một ngàn bộ khác Ôm anh đi! Ôm chặt vào Ôi!Ngực em ấm quá Bộ ngực trinh nữ của em Cả cặp đùi nữa! Anh chưa từng thấy ai cócặp đùi tròn và rắn như thế này

- Ái đau Cắn đau thế!

- Anh xin lỗi! Tại em đấy Ai bảo em cứ ngon như một khúc giò Nào! Mở chân ramột chút đi! Anh xin

Trang 21

- Không [XVI, tr.118].

Tuy không có lời dẫn và từ dẫn nhưng người đọc vẫn hình dung được thái độ, tìnhcảm, hành động của nhân vật trong cuộc thoại trên Đây là nhân vật được tạo nên từ cáinhập nhằng, nhá nhem giữa bóng tối và ánh sáng Bề ngoài thì lịch sự, hiểu biết nhưng bêntrong lại là một tâm địa vô cùng đen tối, đểu giả ngay cả trong quan hệ tình cảm

Ở dạng song thoại còn xuất hiện xen độc thoại như là một hình thức để nhân vậtbộc lộ suy nghĩ thầm kín của mình hơn nữa trong dụng ý của tác giả:

- Sinh nhật chị

- Sinh nhật tôi? - Chị tròn mắt rồi chợt nhớ và phá lên cười, cái cười còn trẻ trunglắm - Chết thật! Năm nào cũng không nhớ và năm nào cũng được Hoàng tặng hoa, kể từngày còn ở Hà Nội Cám ơn! - Chị lúng túng nhận bó hoa, không dấu được một chút cảmđộng ánh lên trong mắt - Cám ơn nhiều lắm! [XV, tr.336]

Song thoại là dạng thức hội thoại cơ bản của lý thuyết hội thoại và cùng là dạngthoại xuất hiện chủ yếu trong ngôn ngữ hội thoại tiểu thuyết

1.1.3.3 Tam thoại

Tam thoại là dạng thoại xuất hiện khi có ba nhân vật giao tiếp cùng một chủ đề, mộtkhông gian và cùng một thời điểm Ở mọi cuộc trao đổi, giao tiếp trong cuộc sống cũngnhư trong văn chương luôn xảy ra hiện tượng có hơn hai nhân vật giao tiếp trở lên Ở hìnhthức giao tiếp này có thể quy về dạng tam thoại Trong tiểu thuyết Chu Lai, dạng thức hộithoại này khá nhiều, điều đó cũng thể hiện mối quan hệ đan xen nhiều chiều, phức tạp giữacác nhân vật tiểu thuyết

Anh vụt đứng dậy, móc hộp quẹt Zipo Mỹ còn giữ được, quẹt vào giữa mặt kẻ dâmtặc, giọng rung lên vì giận:

- Bỏ cô ấy ra! Làm thằng đàn ông như vậy là rất nhục!

- Nhục kệ cha tao! - Sau phút quếnh quáng trước quầng sáng lửa, gã lấy lại giọnghách dịch - Mày là thằng nào? Mày chui ở xó nào ra thế? Định giở trò rình rập hả? Độimấy, nói!

Không thèm trả lời, anh quay lại phía cô gái lúc này đang cuống cuồng bận lại

áo xống:

- Cô về đi! Đối với loại đàn ông chó dái này, cô nên hết sức cẩn thận [XV, tr.119]

Ở đoạn thoại này có ba nhân vật giao tiếp: cô gái, gã, anh Khi nhân vật gã hướngcâu hỏi liên tiếp đến nhân vật anh nhưng câu trả lời không xuất hiện mà câu trao lại hướngđến nhân vật thứ ba là cô gái

Trang 22

Cả trường hợp hai lời trao cùng hướng đến vai nhận, dẫn đến thoại căng thẳng theotình tiết truyện.

- Nổ đi! Mày có thể nâng súng lên mà nổ được rồi đấy - Năm Thành gượng đứngdậy, mặt chuyển màu tái nhợt - Tao biết trước

Câu nói ấy đánh thốc vào mặt Sáu Nguyện như một cành trà gai Khẩu súng anhvừa đưa lên lại hạ thấp dần xuống Cùng lúc đó, Tư Chao từ trong phòng chạy ào ra, gầnnhư quỳ xuống chân anh, giọng nghẹn tắc:

- Đừng Đừng bắn! Không phải - Nói đến đây, giọng chị ta nấc lên, nước mắttrào ra - Em chỉ thương nó Nó đã biết gì đâu

- Nó nào? - Sáu Nguyện gạt mạnh cánh tay mảnh dẻ đang cố bám lấy mình - Nó làai?

- Con em [XV, tr.71]

1.1.3.4 Đa thoại

Đa thoại là lời của nhiều nhân vật đan xen vào nhau trong một ngữ cảnh hội thoại

cụ thể; chúng tôi gọi đây là lời của đám đông (nhân vật) Sử dụng dạng thức đa thoại là sựsắp đặt đầy dụng ý của tác giả

Tiếng cười âm u, tiếng thở dài nhớt nhát, tiếng nói lạnh lẽo úp chụp, đậu lên vai,luồn vào tóc, chui cả vào ngực nhồn nhột, không mùi không vị: “Thủ trưởng ôi! Thủtrưởng đi đâu đấy? Có nhận ra chúng tôi không? Có nhớ chúng tôi không ” Tôi càng đinhanh Cái bóng của Viên vượt lên, hơi thở ram ráp liếm vào tai tôi: “Anh quên em rồi saoanh Hai? ” Bóng Viên biến mất, cái bóng của Bảo thay thế, cũng hơi thở ram ráp: “Saolại chôn vội thế thủ trưởng ơi! ” Cái bóng của Khiên xồ tới, tanh nồng và rách rưới: “Anhkhỏi áy náy [XIII, tr.156]

Hay đoạn thoại trong một buổi sáng đình công ở nhà máy:

- Thế cánh chủ thợ họ trả lời thế nào mấy anh? - Sáu Nguyện hỏi

- Trả lời cái mẹ gì! - Một người quật con bài đánh chát xuống mặt bàn - Tất nhiên

là đổ cho con nhỏ

- Thật tội cho cô ấy - Người khác chêm vào với giọng từ tốn hơn - Mẹ thì già, bốlâm trọng bệnh

- Giúp!- Người nữ lại dằn giọng - Giúp thì dễ quá ? [XV, tr.236, 237]

Dạng thức đa thoại trong lý thuyết hội thoại đã xác định số lượng nhân vật tham gia vào hội thoại: đám đông nhân vật, mà ở đó nhân vật được miêu

Trang 23

tả rõ nét nó nằm trong hệ thống nào, chỉ biết rằng nó xuất hiện cùng với lượt lời để có thể nhận ra có nhân vật ấy trong đám đông ấy Trong tiểu thuyết Chu Lai, hình thức đa thoại không được sử dụng nhiều.

Tóm lại, trên cơ sở trình bày những vấn đề chung về hội thoại, có thể dẫn ý kiến của Đỗ Hữu Châu làm định nghĩa khái niệm này:“Hội thoại là hoạt động giao tiếp căn bản, thường xuyên, phổ biến của sự hành chức ngôn ngữ Các hình thức hành chức khác của ngôn ngữ đều được giải thích dựa vào hoạt động căn bản này Vấn đề phải nghiên cứu sự hành chức của những cặp trả lời như cặp hỏi/trả lời theo một quan điểm hội thoại, tức trong sự đối đáp của các nhân vật giao tiếp trong một hoàn cảnh nhất định ” [20, tr.276, 267].

1.1.4 Ngôn ngữ hội thoại

Việc nghiên cứu hội thoại tất yếu liên quan đến việc làm rõ ngôn ngữ hội thoại.Ngôn ngữ hội thoại là một trong những vấn đề đã được đặt ra trong ngôn ngữ học nóichung, ngữ dụng học và ngôn ngữ học văn bản nói riêng của ngôn ngữ học hiện đại Đã cónhiều công trình nghiên cứu ở nước ngoài về lĩnh vực này, như: O M Moskalskaija, I.R.Galperin, J Lyon (dẫn theo Phan Mậu Cảnh, 2008) Ở trong nước, giới Việt ngữ họckhi nói đến lĩnh vực văn bản và ngữ dụng học cũng có những cuốn tiểu thuyết đạt giảinhiều tác giả đề cập đến vấn đề hội thoại như Đỗ Hữu Châu (2003), Diệp Quang Ban(1998), Trần Ngọc Thêm (2005), Đỗ Thị Kim Liên (2005)

Qua các nghiên cứu, có thể thấy, ngôn ngữ hội thoại là loại ngôn ngữ thuộc phongcách hội thoại, tức là “Việc tổ chức, xây dựng lời nói dưới dạng hội thoại” [52; tr.219] Hộithoại có thể thể hiện trong giao tiếp hàng ngày (thuộc phong cách khẩu ngữ) hay xuất hiệntrong tác phẩm văn học (thuộc phong cách nghệ thuật), tức là đều dưới dạng lời nói (có sựtrao đáp bằng lời qua lại giữa các nhân vật giao tiếp) Ngôn ngữ hội thoại “là hình thái nói,nhưng có cách nói tuỳ tiện (gọi là khẩu ngữ); có cách nói trau dồi, trong cách nói trau dồinày, có cách nói thông thường, văn nghệ hoặc khoa học Ở hình thái viết cũng vậy, có cáchviết hệt như khẩu ngữ, có cách viết thông thường, văn nghệ hoặc khoa học Đó là các dạngkhác nhau trong việc vận dụng các phương tiện của ngôn ngữ toàn dân, gọi là các phongcách” [52; tr.215]

Theo các nhà nghiên cứu, ngôn ngữ trong tác phẩm văn học (văn xuôi tự sự) cóhình thức tổ chức theo lối mô phỏng ngôn ngữ tự nhiên thể hiện trong cách sử dụng từ ngữ,

Trang 24

các kiểu câu, các yếu tố ngữ âm Đó là điều mà Hegel gọi là cái nôm na của tác phẩm tự

sự [68; tr.175] Điều này đúng với ngôn ngữ nhân vật thể hiện qua lời thoại nhân vật Lờiđối thoại giữa các nhân vật là một thành phần chủ yếu trong kết cấu lời nói của tác phẩm tự

sự, vừa thể hiện tư tưởng của nhân vật, của tác phẩm vừa là “khúc xạ những ý chỉ của tácgiả và do đó, đến một mức độ nhất định, có thể được coi là ngôn ngữ thứ hai của tác giả”[68; tr.195]

Tóm lại, khái niệm hội thoại, những vấn đề liên quan đến hội thoại theo quan điểm

và kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước là cơ sở để chúng tôi tìm hiểu, làm rõ đặcđiểm ngôn ngữ nhân vật trong các chương tiếp theo của luận án

1.2 Tác phẩm văn học, nhân vật văn học

1.2.1 Tác phẩm văn học

Tác phẩm văn học là một loại văn bản thuộc phong cách nghệ thuật; là công trìnhnghệ thuật ngôn từ do một cá nhân hay tập thể sáng tác nhằm phản ánh cuộc sống bằnghình tượng thông qua các thủ pháp nghệ thuật Tác phẩm văn học có thể tồn tại dưới hìnhthức truyền miệng hay hình thức văn bản được ghi lại bằng văn tự, có thể được viết bằngvăn vần hoặc văn xuôi Các tác phẩm có dung lượng rất khác nhau và có thể chia thành baloại hình cơ bản: tác phẩm tự sự, tác phẩm trữ tình, tác phẩm kịch

Mỗi tác phẩm văn học là một hệ thống phức tạp bao gồm nhiều yếu tố như chủ đề,

tư tưởng, kết cấu, ngôn ngữ, hình tượng, v.v Ở những tác phẩm có giá trị, sự kết hợp hàihoà và tác động qua lại giữa các yếu tố ấy khiến tác phẩm trở thành một chỉnh thể nghệthuật mang tính thống nhất hữu cơ, biện chứng giữa nội dung thẩm mỹ và hình thức nghệthuật Tính phức tạp của tác phẩm văn học không chỉ biểu hiện qua cấu trúc nội tại của bảnthân nó mà còn biểu hiện qua hàng loạt quan hệ khác Với chủ thể sáng tạo, tác phẩm lànơi ký thác, nơi khẳng định quan điểm nhân sinh, lý tưởng thẩm mỹ Với hiện thực kháchquan, tác phẩm là hình ảnh phản ánh đời sống, là tấm gương ghi giữ diện mạo lịch sử củamột giai đoạn, một thời kỳ một đi không trở lại và dự báo tương lai Với người đọc, tácphẩm là đối tượng tích cực của cảm thụ thẩm mỹ Cố nhiên, trong thực tế, những quan hệ

ấy xuyên thấm, tổng hoà với nhau một cách biện chứng và sinh động

1.2.2 Nhân vật văn học

Nhân vật văn học là yếu tố cơ bản nhất, là hạt nhân trung tâm của mỗi tác phẩm văn học Nhân vật là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn Nhân vật văn học là thuật ngữ chỉ hình tượng nghệ thuật về con người, một

Trang 25

dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người Bên cạnh con người, nhân vật còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống với con người Nhân vật là phương thức nghệ thuật nhằm khai thác những nét thuộc tính con người, nhân vật có ý nghĩa trước hết

ở các loại văn học tự sự, sân khấu, điện ảnh.

1.2.2.1 Kiểu loại nhân vật

Nhân vật trong văn học là một hiện tượng đa dạng về mặt kiểu loại Các nhà nghiên cứu (như: Phan Cự Đệ (2001), Đỗ Văn Khang (1996), Bùi Việt Thắng (1994) và nhiều tác giả khác) đã phân chia nhân vật văn học thành nhiều kiểu loại khác nhau: Nhân vật trong văn học dân gian khác nhân vật trong văn học viết Nhân vật thần thoại khác nhân vật truyền thuyết và cổ tích Xét về phương pháp sáng tác, nhân vật cổ điển khác nhân vật lãng mạn và nhân vật hiện thực Xét về thể loại, nhân vật tự sự khác nhân vật kịch và nhân vật trữ tình Xét về kết cấu, nhân vật chính khác nhân vật phụ, nhân vật trung tâm Xét về ý thức hệ, nhân vật chính diện khác nhân vật phản diện Xét về cấu trúc hình tượng, nhân vật chức năng, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng đều có những đặc trưng khác biệt nhau Dưới đây là một số kiểu loại cơ bản được phân biệt ở ba khía cạnh: kết cấu, ý thức hệ và cấu trúc liên quan trực tiếp đến việc phân tích lời thoại nhân vật trong luận án.

- Xét về mặt cấu trúc: Dựa vào vị trí đối với nội dung cụ thể, với cốt truyện của tác phẩm, nhân vật văn học được chia thành nhân vật chính và nhân vật phụ, nhân vật trung tâm.

Nhân vật chính là nhân vật đóng vai trò chủ chốt giữ vị trí then chốt trong việc triển khai diễn biến của sự kiện Nhân vật chính thường tham gia xuyên suốt, xuất hiện nhiều lần trong tác phẩm Đó cũng là nhân vật được tác giả dày công miêu tả, khắc họa, được hiện lên rõ nét, gây ấn tượng sâu đậm với người đọc Nhưng chủ yếu nhất, nhân vật chính vẫn là nhân vật có vai trò

Trang 26

quan trọng trong việc thể hiện tập trung đề tài, chủ đề và tư tưởng của tác phẩm Nhân vật Hai Hùng, Ba Sương (Ăn mày dĩ vãng); Sáu Nguyện, Út Thêm (Ba lần và một lần);… đều là những nhân vật chính trong tiểu thuyết Chu Lai.

Trong số những nhân vật chính của tác phẩm lại có thể có nhân vật được thể hiện đặc biệt nổi bật, có ý nghĩa tư tưởng - thẩm mỹ sâu sắc nhất, đó

là nhân vật trung tâm Nhân vật trung tâm là nhân vật xuất hiện từ đầu đến cuối tác phẩm, có mối liên hệ với tất cả những nhân vật khác trong tác phẩm Chính vì thế mà nó là nhân vật quy tụ các đầu mối mâu thuẫn của tác phẩm, là nơi thể hiện vấn đề trung tâm của tác phẩm Nhân vật Hai Hùng (Ăn mày dĩ vãng); Sáu Nguyện (Ba lần và một lần); Tám Linh (Vòng tròn bội bạc)… là những nhân vật như thế.

Bên cạnh các nhân vật chính là các nhân vật phụ Đó là những nhân vật

ít xuất hiện trong tác phẩm, đóng vai trò thứ yếu trong việc triển khai đề tài và biểu hiện tư tưởng tác phẩm Nhân vật phụ là nhân vật ít được mô tả, không được chú trọng miêu tả nhưng lại không thể thiếu vì nó có vai trò “giăng nối” các đầu mối quan hệ, bổ sung và hỗ trợ về nhiều mặt kể cả hình thức và nội dung tác phẩm Nhân vật phụ có thể góp phần thể hiện chủ đề, tư tưởng cũng như làm nổi bật tính cách nhân vật chính trong tác phẩm.

Sự hiện diện của nhân vật phụ trong tác phẩm có hai mức độ: ít được

mô tả và hầu như không được mô tả Ví dụ trong Ăn mày dĩ vãng ngoài nhân vật Hai Hùng, Ba Sương còn có các nhân vật như Tường, Hai Hợi, Tám Tính… Trong Ba lần và một lần ngoài Sáu Nguyện, Tư Chao, Út Thêm còn

có Ba Đẩu, Lan Thanh, Nguyện… là nhân vật phụ trong tác phẩm.

- Về mặt ý thức hệ: Dựa vào đặc điểm của tính cách, mối quan hệ với

tư tưởng tác giả và lý tưởng của thời đại, các nhân vật lại có thể chia ra nhân vật chính diện và nhân vật phản diện Thực ra cơ sở xã hội của hai loại nhân

Trang 27

vật này suy cho cùng là dựa trên những mâu thuẫn đối kháng, trên cơ sở đấu tranh giai cấp, đấu tranh tư tưởng trong xã hội.

Nhân vật chính diện là nhân vật mang tư tưởng, quan điểm tư tưởng và đạo đức tốt đẹp của tác giả, của thời đại và được tác giả đề cao, khẳng định, trái lại, nhân vật phản diện lại mang những phẩm chất xấu xa, trái với đạo đức, lý tưởng, đáng lên án và phủ định.

Việc phân biệt nhân vật chính diện và nhân vật phản diện đã có lịch sử lâu đời Có những thể loại nói chung chuyên viết về nhân vật chính diện như tụng ca, sử thi, bi kịch Lại có những thể loại chuyên viết về nhân vật phản diện như thơ châm biếm, truyện cười và hài kịch.

Khái niệm “nhân vật chính diện” và “nhân vật phản diện” là những khái niệm thuộc phạm trù lịch sử, chúng tương ứng với khuynh hướng xã hội

và quan niệm đạo đức của từng thời đại Nhân vật chính diện của thời đại nào thì mang lý tưởng thẩm mỹ và lý tưởng xã hội của thời đại đó

Tiểu thuyết Chu Lai thường hướng tới khám phá con người ở góc độ thế sự đời tư với nhiều mặt khác nhau trong một con người Có tốt, xấu, có cao cả, thấp hèn, có yếu mềm, anh dũng Con người trong văn học sau 1975 ít khi toàn diện, toàn mỹ theo hướng lý tưởng hóa và cũng thật khó chứng minh rằng trong tác phẩm một nhân vật nào đó lại đại diện cho tư tưởng thẩm mỹ,

lý tưởng thời đại của nhà văn.

- Dựa vào cấu trúc hình tượng, người ta có thể chia nhân vật chức năng, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách và nhân vật tư tưởng.

Nhân vật chức năng: là loại nhân vật xuất hiện để thực hiện một số chức năng nào đó Loại nhân vật này thường có đặc điểm, tính cách ổn định với những phẩm chất cố định, không thay đổi từ đầu đến cuối Nhân vật chức năng thông thường chỉ xuất hiện trong văn học dân gian, văn học cổ, văn học trung đại như: Tiên, Bụt, Thần xuất hiện để giúp đỡ người tốt, thử thách con

Trang 28

người, ban phát hạnh phúc; yêu tinh, phù thủy để hãm hại người lành, gieo rắc cái ác, hiểm nguy; các vai trung để thực hiện đạo lý, cương trực; vai nịnh gièm pha, phản trắc…

Nhân vật loại hình: là loại nhân vật thể hiện tập trung các phẩm chất xã hội, đạo đức của một loại người nhất định của một thời Đó là nhân vật nhằm khái quát cái chung về loại của các tính cách và nhờ vậy được gọi là điển hình Loại nhân vật này bao giờ cũng có một số phẩm chất loại biệt về mặt xã hội được nêu bật hơn hẳn các tính chất khác Dĩ nhiên nhân vật điển hình loại, như mọi nhân vật văn học khác, đòi hỏi một cá tính nhất định, được thể hiện một cách sinh động qua các chi tiết cụ thể, chân thực Nhân vật loại hình thường xuất hiện nhiều trong các trào lưu văn học cổ điển Acpagông, Tactuyp, Giuốcđanh của Môlie là những nhân vật như thế…

Nhân vật tính cách: Nhân vật tính cách thường xuất hiện trong văn học hiện đại, là loại nhân vật có cá tính nổi bật, được xây dựng cụ thể, sinh động như con người thực ngoài cuộc đời Khái niệm tính cách ở đây được dùng để chỉ một loại nhân vật được mô tả như một nhân cách, một cá nhân có cá tính nổi bật Nhân vật tính cách thường có nhưng mâu thuẫn nội tại, những nghịch

lý, những chuyển hóa và chính vì vậy, tính cách thường có một quá trình tự phát triển và nhân vật không đồng nhất giản đơn vào chính nó Trong nhân vật tính cách có tất cả những mâu thuẫn của một dòng đời đang vận động, không tĩnh tại mà luôn luôn thay đổi, phát triển Hạt nhân của nhân vật tính cách là

cá tính Đó là “con người này” cụ thể, độc đáo, cá biệt nhưng xét từ góc độ nào đó, trong những mối tương quan nào đó lại mang giá trị và ý nghĩa phổ biến chung

Nhân vật tư tưởng là nhân vật có tư tưởng, nhân cách nhưng cơ bản của

nó là hiện thân của ý thức, một tư tưởng đang diễn ra trong đời sống Chẳng hạn như Giăng Vangiăng, Giave của Huygô, A.Q của Lỗ Tấn… Trong sáng

Trang 29

tác, loại nhân vật này dễ rơi vào công thức, minh họa, trở thành cái loa tư tưởng của tác giả.

Tất cả các loại hình nhân vật trên, sự phân biệt trên chỉ mang tính chất tương đối, nó nhằm nhấn mạnh nét trội, nét đặc trưng cơ bản của một nhân vật nào đó Ranh giới phân chia giữa các nhân vật không phải lúc nào cũng rạch ròi Đặc biệt càng về sau này, văn học hướng tới việc thể hiện con người chân thực, sinh động, đa chiều hơn.

1.2.2.2 Nhân vật tiểu thuyết

Nếu ví ngôn ngữ là cái áo của tư tưởng thì nhân vật là hình thù con người mặc cái áo ấy Nhân vật là những con người cụ thể, được miêu tả trong tác phẩm văn học, thể hiện qua từ xưng hô, qua lời kể của tác giả Trong hội thoại, nhân vật đưa ra nội dung lời thoại, chọn từ xưng hô phù hợp, đặt mình vào mối quan hệ trao đáp, lựa chọn các yếu tố tình thái… thể hiện thái độ, tình cảm, xử lý các tình huống hội thoại.

Trong tiểu thuyết, các lời trao đáp được hình thành do sự vận động trao lời và đáp lời của nhân vật Mỗi tác phẩm tiểu thuyết có hệ thống nhân vật phong phú với mối quan hệ đan xen nhiều chiều và các tình tiết của tiểu thuyết đều xoay xung quanh số phận của các nhân vật này Phần đầu của tác phẩm bao giờ cũng là bối cảnh không gian, thời gian cụ thể với những tình tiết mở vào cốt truyện Nhân vật tiểu thuyết không phải là một “con người được kể ra như một hình tượng khối lượng, toàn vẹn, có thực và tạo hình” (Thômat Mann) mà là rất nhiều nhân vật với tính cách, số phận, tư tưởng khác nhau thậm chí trái chiều nhau tạo nên hai thế giới đối lập trong truyện như: tốt

- xấu, chính nghĩa - phi nghĩa, v.v Tính cách, tâm lý của nhân vật được thể hiện qua lời thoại và dẫn thoại cùng các yếu tố khác như không gian, thời gian, v.v Mỗi lời thoại của nhân vật được đặt trong một ngữ cảnh khác nhau nhằm tô đậm diễn biến truyện cũng như nhân vật Điều đó cho thấy, mỗi lời

Trang 30

thoại phải nằm trong một hệ thống đảm bảo tính logic trong sự phát triển tính cách nhân vật Giá trị của nhân vật không chỉ nằm trong tác phẩm mà còn có sức lan tỏa, khái quát cho một hình mẫu nào đó trong một thời kỳ văn học Từ

đó cho thấy nhân vật văn học là một trong những khái niệm trung tâm để xem xét khuynh hướng sáng tác của nhà văn.

Tiểu thuyết Chu Lai với chất thế sự đậm đặc như minh chứng cho sự thay đổi quan niệm sáng tác của văn học sau 1975 Những cách tân về phương diện tiểu thuyết gắn với những thay đổi trong quan niệm về con người trong thời đại mới M.Bakhtin đã từng viết, trong tiểu thuyết “nhân vật không tương hợp với số phận và vị thế của nó Con người hoặc cao lớn hơn thân phận mình, hoặc nhỏ bé hơn tính cách của mình” [3, tr.27], tức là không có những tính cách nguyên phiến Con người hiện ra với tất cả các mặt tốt xấu, người tốt có thể trở thành kẻ xấu và ngược lại, thiên thần và ác quỷ đều có thể tồn tại trong một con người Đặc điểm nổi bật nhất, mang tính đặc thù nhất của nhân vật tiểu thuyết – như Từ điển thuật ngữ văn học xác định - là “con người nếm trải”, tư duy, chịu đau khổ, dằn vặt của cuộc đời (nhân vật của sử thi, nhân vật kịch, nhân vật truyện trung cổ dường như không mang đặc điểm này) Tiểu thuyết miêu tả nhân vật như “con người đang biến đổi trong hoàn cảnh, con người đang trưởng thành do cuộc đời dạy bảo”

1.3 Giới thiệu tác giả và tác phẩm Chu Lai

1.3.1 Nhà văn Chu Lai

Chu Lai tên khai sinh là Chu Ân Lai, họ tên đầy đủ là Chu Văn Lai, sinh ngày 02- 1946 Quê ông ở thôn Tam Nông, xã Hưng Đạo, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên Ôngxuất thân trong một gia đình có truyền thống văn học, cha là nhà viết kịch nổi tiếng HọcPhi Bản thân ông cũng sớm bộc lộ năng khiếu nghệ thuật Gia đình ông chuyển lên HàNội sinh sống từ những ngày ông còn nhỏ Vì thế, nếu như mảnh đất Hưng Yên ngọt ngào,bình yên đã cho ông ký ức đẹp về quê hương, làng mạc, thì Thủ đô Hà Nội tạo cho ông cốtcách lịch lãm, tài hoa của người con đất kinh thành

Trang 31

05-Chu Lai tình nguyện lên đường nhập ngũ khi mới học hết năm thứ nhất đại học.Thời kỳ đầu của quân ngũ, Chu Lai được điều về làm diễn viên Đoàn kịch nói Tổng cụcChính trị Sau đó ông ra chiến trường trực tiếp cầm súng chiến đấu Sau đó, ông chuyển vềđơn vị đặc công chiến đấu ở vùng ven Sài Gòn trong những ngày gian khổ ác liệt nhất củacuộc kháng chiến chống Mỹ Mười năm ở đơn vị đặc công, Chu Lai giữ chức đại độitrưởng đại đội trinh sát chiến đấu cho đến ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đấtnước Sau 1975, ông về làm trợ lý tuyên huấn Quân khu VII Cuối năm 1976, ông về trạisáng tác văn học Tổng cục Chính trị, sau đó đi học lớp khoá I của trường viết văn Nguyễn

Du Tốt nghiệp trường viết văn, ông về công tác tại tạp chí Văn nghệ Quân đội

1.3.2 Các tác phẩm của Chu Lai

1.3.2.1 Các giai đoạn sáng tác

Chu Lai sáng tác từ rất sớm, ngay từ khi 17 tuổi, nhà văn đã cho ra đời vở kịchngắn Hũ muối người Mơ Nông (1963) được đăng trên tờ báo ngành nhưng không mấytiếng vang Phải đến 1975, với truyện ngắn Kỷ niệm vùng ven đăng trên báo Văn nghệ -Chu Lai mới chính thức “gõ cửa” làng văn Hành trình sáng tác của Chu Lai gồm hai giaiđoạn: giai đoạn tiền đổi mới (1975 - 1986); giai đoạn đổi mới (1986 - đến nay)

Giai đoạn từ 1975 đến 1986, Chu Lai đã cho ra mắt bạn đọc các tác phẩm Người imlặng (Tập truyện, 1976); Nắng đồng bằng (Tiểu thuyết, 1977); Đôi ngả thời gian (Tậptruyện, 1975); Đêm tháng hai (Tiểu thuyết, 1982); Vùng đất xa xăm (Tập truyện, 1983); ÚtTeng (Tiểu thuyết, 1983); Gió không thổi từ biển (Tiểu thuyết, 1985) Ở những tác phẩmnày, mặc dù đã có sự đổi mới nhưng ngòi bút Chu Lai về cơ bản vẫn trượt theo quán tínhvăn học của giai đoạn trước; âm hưởng chung của các tác phẩm này chủ yếu là âm hưởng

sử thi Người đọc vẫn gặp trong tác phẩm cách miêu tả quen thuộc về con người ở văn xuôitrước 1975 - đó là sự phân định tính cách rõ ràng của nhiều anh hùng tham gia trận mạc

Giai đoạn từ 1986 đến nay, ngòi bút của Chu Lai đã thực sự đổi mới toàn diện vàmạnh mẽ Cùng với những bức xúc, day dứt xung quanh vấn đề người lính trở về sau chiếntranh, Chu Lai đã cho ra mắt bạn đọc một loạt tiểu thuyết dài hơi tạo thành “dòng tiểuthuyết chiến tranh và người lính của Chu Lai” góp phần làm phong phú đời sống văn xuôiViệt Nam những năm 1990 như Sông xa (Tiểu thuyết, 1986), Bãi bờ hoang lạnh (Tiểuthuyết, 1990), Vòng tròn bội bạc (Tiểu thuyết, 1996), Ăn mày dĩ vãng (Tiểu thuyết, 1994),Phố (Tiểu thuyết, 1993), Ba lần và một lần (Tiểu thuyết, 2000), Cuộc đời dài lắm (Tiểuthuyết, 2002)

Trang 32

Chu Lai là nhà văn có nhiều tiểu thuyết dành được giải thưởng, như Ăn mày dĩvãng (giải A của Hội đồng văn học về đề tài chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang,Hội Nhà văn năm 1993, giải thưởng văn học Bộ Quốc phòng năm 1994); Phố (giải thưởngtiểu thuyết Nhà xuất bản Hà Nội - 1993); Ba lần và một lần (Tặng thưởng cuộc thi tiểuthuyết do Hội Nhà văn tổ chức năm 1998 - 2000); Cuộc đời dài lắm (Giải thưởng Hội Nhàvăn, 2001) Chu Lai cũng là nhà văn có nhiều kịch bản sân khấu và kịch bản phim đượcdàn dựng như Hà Nội đêm trở gió, Người Hà Nội, Người mẹ tự cháy, Ăn mày dĩ vãng

Có thể thấy, các tác phẩm này đã có những bước bứt phá, thể hiện những quan niệm mới

về hiện thực và con người, phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ mới của công chúng hiện đại Sốphận con người được quan tâm hơn ở góc độ đời tư, đặc biệt hình ảnh người lính trở về sauchiến tranh đã trở thành vấn đề nhức nhối với một quá khứ ám ảnh mang nặng ký ức chiếntranh, họ sẽ như thế nào trong cuộc sống hiện tại thời bình? Đó chính là cảm hứng baotrùm trong các sáng tác của Chu Lai

1.3.2.2 Giới thiệu một số tiểu thuyết của Chu Lai dùng làm ngữ liệu trong luận án

Tiểu thuyết Nắng đồng bằng viết sau 1975 in đậm màu sắc sử thi, mang nhiều yếu tố lãng mạn viết về chiến tranh Tám Linh vốn là một chàng trai Hà Nội tham gia vào một đơn vị đặc công Cuộc đời của người lính ấy gắn với những chiến công đầy tự hào khi anh băng rừng, vượt sông, tìm mọi cách tiếp cận với ấp chiến lược Sau bao nhiêu tháng ngày ở rừng, trong một đợt hành quân, Linh bị lạc đường khá lâu Tìm được đơn vị, anh sống trong một tâm trạng tràn ngập niềm vui, cái nắng đồng bằng trải ngập trong anh với niềm háo hức, đam mê tưởng chừng như so với những cái thiếu thốn mà những người lính như anh đều trải qua trong rừng thì cái nắng đồng bằng quả là món quà quí mà thiên nhiên đã hào phóng ban tặng Hiện thực chiến tranh chỉ có thể khiến người lính tăng thêm lòng căm thù chứ không thể giết chết tâm hồn đẹp đẽ, lãng mạn của họ Những cảm xúc rung động trong trái tim khi đứng trước mảnh đất kỷ niệm của một thời

Trang 33

trận mạc đã xoá nhoà đi cái nặng nề, u ám của chết chóc, đau thương Có lẽ, chính những âm hưởng lãng mạn trong tác phẩm đã giúp cho những người lính vượt qua sự hi sinh, mất mát khủng khiếp của chiến tranh, nơi mà sự sống và cái chết luôn cận kề, nơi mà “ngày nào cũng chôn người chết và không biết bao giờ đến lượt mình”

Ăn mày dĩ vãng được xuất bản sau khi Nắng đồng bằng ra đời, với độ chín của thời gian và sự chiêm nghiệm suy tư tác phẩm thực

sự đã gây được sự chú ý, hoan nghênh của độc giả Những sự kiện lịch sử và cả những sự kiện đời thường được phản chiếu qua tâm hồn người lính Góc độ đời tư được khai thác tối đa trong tác phẩm tạo nên những giá trị hiện thực đến nhức nhối Nhân vật Hai Hùng với một quá khứ oai hùng và một hành trình tìm về ký ức với một miền đẹp đẽ, sâu thẳm trong tình yêu với người con gái có cái tên Ba Sương Hùng

là một mẫu người đàn ông lý tưởng, lại càng lý tưởng hơn nữa khi anh được đặt trong bối cảnh của cuộc chiến tranh Ăn mày dĩ vãng cũng

có những trang viết tuyệt đẹp về tình đồng đội, đồng chí trong chiến tranh Hai Hùng đã có những mảng ký ức vẹn nguyên, ấm áp tình đồng đội thiêng liêng Tình cảm ấy được tôi luyện trong lò lửa chiến tranh và vẫn vẹn nguyên trong thời hậu chiến khắc nghiệt Đó là sự gắn bó cùng sẻ chia vui buồn, đắng cay, gian khổ như anh em một nhà.

Nếu như ở Ăn mày dĩ vãng là những thông điệp từ sự khốc liệt của chiến tranh in hằn lên số phận người lính trong chiến tranh thì Vòng tròn bội bạc, người lính khi rời xa cuộc chiến để trở về với đời thường, họ lại mang theo một bi kịch khác - bi kịch của những con người mang đầy ký ức lạc lõng giữa dòng chảy hối hả của nền kinh tế thị trường

Trang 34

Ký ức về những ngày ở rừng trong Linh là khoảnh không gian rộng mở, là tình đồng chí, đồng đội, là một thời oanh liệt, oai hùng, là những tấm huân chương, huy chương lấp lánh Lẽ nào tất cả chỉ còn trong dĩ vãng Lẽ nào giờ đây nó trở nên vô nghĩa và vĩnh viễn ngủ yên dưới đáy ba lô của một thời trận mạc khi cuộc đời của họ bước ra khỏi cuộc chiến tranh! Cuộc đời nghiệt ngã với bao thất vọng, đau đớn, chỉ có trời đất bao la nhuốm một vẻ đẹp hư ảo là cho anh những giây phút ý nghĩa của quá khứ một thời.

Sáu Nguỵên trong Ba lần và một lần cũng trở về sau chiến tranh với một hành trang là quá khứ hào hùng của một chiến sĩ quân báo Trong khoảng gần bốn trăm trang sách, Chu Lai đã thể hiện rõ nét từng trang đời của người lính quân báo đánh giặc quên chết này Khác hẳn với Hai Hùng “kẻ ăn mày dĩ vãng”, Sáu Nguyện không quên quá khứ và cũng không lảng tránh thực tại Từ rừng anh về thành phố

mà chẳng cảm thấy lạ lẫm với trận địa mới

Cũng như Linh trong Vòng tròn bội bạc, Sáu Nguyện trong Ba lần và một lần, Vũ Nguyên trong Cuộc đời dài lắm đã góp thêm một gương mặt nữa vào hàng ngũ những người lính kiên trung, anh dũng ngay trong cả thời bình Đại đội trưởng trinh sát Vũ Nguyên trở về với vùng rừng cao su trong cương vị giám đốc nông trường Trong những tháng ngày đánh vật với cây cao su đầy nhọc nhằn, nếu không có bản lĩnh của một người lính từng tham gia chiến trận thì rồi không hiểu cái đầu quá sức nhạy cảm, rất dễ tổn thương của anh sẽ biến dạng mưng

mủ thế nào trước sự oái ăm của cuộc đời.

Qua khảo sát một số tiểu thuyết tiêu biểu của Chu Lai, chúng tôi thấy trong những trang viết của nhà văn nổi bật là hình ảnh người lính với những cảm hứng phong phú khác nhau trong chiến tranh và sau chiến tranh Chiến tranh đã qua rất lâu, nhưng trong lòng người, đặc

Trang 35

biệt là những con người như Chu Lai thì dấu ấn của nó vẫn vẹn nguyên như ngày nào Bởi vậy trong tác phẩm, chiến tranh cũng thật

sự ấn tượng ở khía cạnh đau thương, mát mát Nhưng dầu vậy, trong bản đàn ấy vẫn vang lên những thanh âm trong trẻo, tinh sương của những tình yêu ban đầu, của tình người e ấp, ngọt ngào đầy sắc màu lãng mạn.

1.3.3 Hệ thống nhân vật trong tiểu thuyết của Chu Lai

Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Chu Lai khá đa dạng, phong phú gần như làmột bức tranh xã hội thu nhỏ với đủ các đặc điểm: về giới tính (nam /nữ), về thành phầnxuất thân (bộ đội, nông dân, trí thức), về cương vị xã hội (thủ trưởng, giám đốc, người lính,người làm thuê), về thái độ (trân trọng, yêu thương, căm ghét), về đạo đức (tốt, xấu, chânthành, xảo trá), về quan hệ (đồng chí, bạn bè, người yêu, kẻ thù), v.v… Hoàn cảnh của cácnhân vật hoạt động cũng khá là rộng với thời gian trong chiến tranh (thời chiến) và sauchiến tranh (hoà bình); không gian mà nhà văn miêu tả, trần thuật cho các nhân vật hoạtđộng là chiến trường, công trường, nông trường, trong đời thường

Dù nhân vật thế nào, hoàn cảnh giao tiếp ra sao thì ngôn ngữ nhân vật cũng đượcthể hiện sinh động qua giọng điệu, từ ngữ mà nhân vật thể hiện trong hội thoại Nhân vậtthế nào thì tính cách, hành động và ngôn ngữ thế ấy Thế giới nhân vật của Chu Lai rất đadạng, để tìm hiểu tính cá thể hóa của các nhân vật mà nhà văn đã dày công xây dựng, trướchết chúng tôi hệ thống hóa, phân loại và nêu một số kiểu nhân vật tiêu biểu

1.3.3.1 Kiểu nhân vật người lính

Trong hệ thống nhân vật mà nhà văn đã xây dựng trong các tác phẩm, đông đảonhất và cũng là chủ đạo nhất là nhân vật người lính Cụ thể, tác phẩm: Ăn mày dĩ vãng có

15 nhân vật là người lính, Ba lần và một lần có 13 nhân vật, Gió không thổi từ biển có 4,Vòng tròn bội bạc có 9, Cuộc đời dài lắm có 4, Phố có 9, Nắng đồng bằng có 28, Bãi bờhoang lạnh có 6, Sông xa có 13, Chỉ còn một lần có 9 nhân vật là người lính

Trong số nhân vật người lính, nhà văn thường chọn lựa một kiểu người lính nhấtđịnh là nhân vật chính, nhân vật trung tâm của tác phẩm Họ có thể là người lính trongchiến tranh (như: Sáu Nguyện trong Ba lần và một lần, Hai Hùng trong Ăn mày dĩ vãng,Hai Thanh trong Sông xa, Thanh Nhàn trong Gió không thổi từ biển…) hay người lính thờihậu chiến (như:Vũ Hà Nguyên trong Cuộc đời dài lắm, Nam trong Phố, Linh trong Vòngtròn bội bạc…)

Trang 36

1.3.3.2 Các kiểu nhân vật khác

Ngoài kiểu nhân vật người lính có tính trung tâm, chủ đạo, trong các tác phẩm củamình, Chu Lai còn xây dựng một hệ thống các kiểu nhân vật khác - không phải là ngườilính Họ có vị thế, tính cách, hành động, suy nghĩ và môi trường hoàn cảnh khá là đa dạng,phong phú

Nhân vật người nông dân, như: Út Cò ngẳng, Rổn, Năm Thúy, Hương, Má Sáu,trong Nắng đồng bằng; Riềng, Lê, Tiến trong Sông xa…

Nhân vật người trí thức, như: cán bộ sở lâm nghiệp trong Ăn mày dĩ vãng; Hải,Nga, ông Luân trong Gió không thổi từ biển; Hạnh, bà trưởng phòng, Tuyến, Thủy, chị vợThịnh, Khâm, Quỳnh, ông anh Linh trong Vòng tròn bội bạc; Hà Thương trong Cuộc đờidài lắm; Lan Thanh, Cầu trong Ba lần và một lần;…

Nhân vật kẻ thù, như: Địch, Tường, Giôn trong Ăn mày dĩ vãng; thằng Xầm, TưHạnh trong Nắng đồng bằng; Thuấn, Hoàng Xanh, đô trưởng trong Gió không thổi từ biển;Viên đại úy, đồn trưởng, Quang trong Sông xa;…

Và các nhân vật khác với đủ các ngành nghề, như: ông già thường trực, gã trai phục

vụ nhà hàng, cô bé tiếp viên bia ôm, cô gái lễ tân, bà chủ quán… trong Ăn mày dĩ vãng;nhân vật thợ may trong Nắng đồng bằng; nhân vật chủ tiệm kim hoàn, thợ may trong Giókhông thổi từ biển; Cô chủ quán Thanh Thủy, Thuần đội trưởng đội bảo vệ, Tuấn tử thầnbuôn bán trong Cuộc đời dài lắm; chị hàng mía, chị hàng nước, ông già bán cà phê trongPhố; Sáu Phượng buôn bán nhỏ, Hương kinh doanh xe máy, chị tài vụ trong Ba lần và mộtlần; Dung họa sĩ, Hòa giúp việc, Vũ bác sĩ kiêm đánh máy chữ, Thi Hoài nhà thơ, ông giàđánh cá trong Gió không thổi từ biển; Thu Mây ca sĩ, Hai Tính trang trại viên, Chu Thiêntrợ lý trong Chỉ còn một lần,v.v…

Đặc điểm chung của các nhân vật này là dù họ không phải là người lính, nhưng ítnhiều đều bị cuốn hút vào môi trường chiến tranh (dù là chiến tranh trực tiếp hay chiếntranh đã lùi xa) nên có những tính cách và suy nghĩ mà âm hưởng chiến tranh vẫn ít nhiềuvang vọng vào trong cuộc sống của họ, ngôn ngữ của họ

Có thể nhận thấy, thế giới nhân vật trong các tiểu thuyết của Chu Lai như là mộthình ảnh thu nhỏ của xã hội - con người Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử - xã hội đầybiến động: thời chiến và thời hậu chiến Bối cảnh xã hội ấy là nền để các nhân vật bộc lộbản chất, tư tưởng và qua các đoạn hội thoại giữa các nhân vật, làm ta thấy rõ hơn, cụ thểhơn về đặc điểm, tính cách của từng kiểu nhân vật và của từng nhân vật

Trang 37

Bảng 1.1 Thống kê số lượng nhân vật chia theo giới tính và nghề nghiệp chức vụ trong 10

cuốn tiểu thuyết của nhà văn Chu Lai

“Ngôn ngữ nhân vật là một trong các phương tiện quan trọng được nhà văn sử dụngnhằm thể hiện cuộc sống và cá tính nhân vật” [50; tr.183] Ngôn ngữ nhân vật có vai trò rấtquan trọng trong việc liên kết các nội dung và thúc đẩy sự kiện trong tác phẩm vận động vàphát triển; nó còn có vai trò bộc lộ suy nghĩ, tình cảm của nhân vật, thể hiện tư tưởng củatác giả - chủ đề của tác phẩm Có những ý kiến nhà văn không tự nói ra mà mượn lời nhânvật nói thay mình như một sự vô can…

Ngôn ngữ tác giả là ngôn ngữ đơn thoại, còn ngôn ngữ nhân vật là ngôn ngữ đốithoại (các lời thoại nhân vật) “Đối thoại là một dạng thức của lời nói, trong đó có sự hiện

Trang 38

diện của người nghe, mỗi phát ngôn đều hướng đến người tiếp chuyện xoay quanh một chủ

đề hạn chế của cuộc độc thoại” [152, tr.56] Ngôn ngữ nhân vật còn có thể tồn tại ở dạngđộc thoại (thực chất cũng là một dạng đối thoại - nhân vật đối thoại với chính mình)

Ngôn ngữ nhân vật, cùng với ngôn ngữ tác giả làm thành một chỉnh thể, vừa liềnmạch, vừa có những cách quãng; tạo nên tính đa diện, đa thanh, tránh được sự đơn điệumột chiều của tác phẩm tự sự

Trong tác phẩm tự sự và kịch, tác giả rất chú trọng xây dựng ngôn ngữ nhân vật.Bởi vì ngôn ngữ của nhân vật chính là ngôn ngữ, tư tưởng, quan niệm của tác giả Tác giảmách bảo cho người đọc tính cách của nhân vật qua ngôn ngữ hội thoại và các chi tiếtkhác Nhân vật được xây dựng nên bằng ngôn ngữ miêu tả của tác giả và bằng chính lờithoại của nhân vật

Ngôn ngữ nhân vật chính là lời nói trực tiếp của nhân vật trong tác phẩm văn họcđược biểu đạt bằng các tín hiệu ngôn ngữ thông qua sự lựa chọn của nhà văn nhằm mụcđích tái hiện một cách sinh động tính cách đặc điểm của nhân vật Tuy nhiên để thể hiệnđời sống và cá tính nhân vật nhà văn phải “cá thể hóa ngôn ngữ của nó” phải làm cho ngônngữ nhân vật trở thành một hình thái biểu hiện riêng biệt Đây là một luận điểm quan trọngkhi phân tích tìm hiểu ngôn ngữ nhân vật Trong tiểu thuyết, ngôn ngữ nhân vật khôngnhững có vai trò then chốt trong phương thức tự sự mà còn là yếu tố cơ bản thể hiện phongcách nhà văn, truyền đạt cái nhìn, giọng điệu, cá tính của tác giả Ngôn ngữ nhân vật có thểchỉ có một giọng, có thể có hai giọng (lời nhại, mỉa mai, lời nửa trực tiếp, v.v ) thể hiện sựđối thoại với ý thức khác về cùng một đối tượng miêu tả Ngôn ngữ nhân vật dưới hìnhthức lời người kể chuyện còn mang sắc thái, quan điểm bổ sung do lập trường, đặc điểmtâm lý, cá tính của nhân vật mang lại Ngôn ngữ nhân vật tiểu thuyết là một trong cácphương tiện quan trọng được nhà văn sử dụng nhằm thể hiện cuộc sống và cá tính nhânvật Trong tiểu thuyết, nhà văn có thể cá thể hoá ngôn ngữ nhân vật bằng nhiều cách: nhấnmạnh cách đặt câu, ghép từ, cách phát âm đặc biệt của nhân vật, cho nhân vật lắp lại những

từ, câu mà nhân vật thích nói, kể cả từ nước ngoài và từ địa phương, v.v Trong các tácphẩm tiểu thuyết, nhà văn còn thường trực tiếp miêu tả phong cách ngôn ngữ của nhân vật

Trong tiểu thuyết Chu Lai, nhà văn đã dung nạp nhiều dạng thức khác nhau củanhiều kiểu loại nhân vật Ngôn ngữ thật sự được giải phóng, tạo nên giá trị nghệ thuật chotiểu thuyết thông qua đối thoại Nhờ đối thoại mà các vấn đề được xem xét bằng cái nhìn

đa diện Nhân vật được nhìn nhận với tư cách là một chủ thể độc lập Nhân vật có vị thế

Trang 39

ngang bằng và cùng đối thoại với nhà văn Ý thức đối thoại trong tiểu thuyết Chu Lai đượcphát huy mạnh mẽ

Khảo sát tiểu thuyết Chu Lai, có thể nhận thấy, ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyếthầu hết được cá thể hóa cao độ đồng thời lượng thông tin được gia tăng K.Gunnar đã kháiquát: “Chân lí luôn nằm ngoài chúng ta và thay vì lèn chặt đời mình bằng những ngôn từ,chúng ta có thể rút lại, nói ít đi, nhưng hãy làm gia tăng trọng lượng cho mỗi từ, hãy làmmỗi từ chứa đầy sự bí ẩn và niềm kính sợ, ngôn ngữ xứng đáng được như vậy” [76, tr.10]

1.4.2 Từ ngữ, vai trò của từ ngữ trong tác phẩm và định hướng việc nghiên cứu từtrong tác phẩm

1.4.2.1 Từ ngữ và vai trò của từ ngữ trong tác phẩm

Trong giao tiếp, người ta trao đổi thông tin, biểu đạt tình cảm với nhau bằng nhiềuphương tiện, song ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất Đơn vị giao tiếp cơbản có chức năng truyền tải thông tin là ngôn bản và câu Trong câu, từ là “đơn vị ngônngữ mà bắt đầu từ nó ngôn ngữ mới thực hiện chức năng giao tiếp và tư duy” [21, tr.20]

Từ là một đơn vị có nhiều bình diện: ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, phong cách và chứcnăng Ở bình diện chức năng, từ đóng vai trò miêu tả, bộc lộ và tạo lập các hành động phátngôn Khi đi vào giao tiếp, các bình diện ấy được hiện thực hóa một cách sinh động, cónhững biến đổi linh hoạt trong lời nói Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà Việt ngữhọc (Đái Xuân Ninh, 1978; Đỗ Hữu Châu, 1999; Bùi Minh Toán, 1999) đã khẳng định điềunày Các tác giả khẳng định: từ ngữ là đóng vai trò đặc biệt quan trọng; quan trọng khôngchỉ ở việc tạo lập thông tin của câu mà còn biểu hiện tư tưởng, phong cách của chủ thể phátngôn

Do đó, một trong những hướng nghiên cứu đặc trưng của ngôn ngữ nói chung,ngôn ngữ trong hoạt động nói riêng chính là tìm hiểu sự hành chức của từ ngữ trong ngônbản Qua đây, người ta có thể đánh giá được một cách chân xác đặc điểm, vai trò của từngữ thể hiện tính sinh động và linh hoạt như thế nào trong các ngữ cảnh giao tiếp Căn cứvào phạm vi và phong cách sử dụng, người ta chia từ làm hai loại: từ ngữ hội thoại và từngữ sách vở hay còn gọi là từ thuộc phong cách nói và từ thuộc phong cách viết

Từ là chất liệu đầu tiên của tác phẩm văn học Tác phẩm văn học là sản phẩm củanghệ thuật ngôn từ Đó là những luận điểm được khẳng định hiển nhiên, nói lên vai trò của

từ ngữ trong sáng tạo nghệ thuật Từ ngữ tham gia vào trong giao tiếp hàng ngày cũng nhưtrong tác phẩm văn học để tổ chức thành các câu, các đoạn văn và toàn bộ tác phẩm; từ có

Trang 40

mặt trong ngôn ngữ tác giả (thường là những từ thuộc phong cách viết) và ngôn ngữ nhânvật (thường là những từ thuộc phong cách nói)… Đối tượng nghiên cứu của luận án làngôn ngữ nhân vật, tức là tìm hiểu các lời đối thoại trong tác phẩm, mà các quan hệ đốithoại, như M Bakhtin đã chỉ rõ: “có thể đi sâu vào bên trong lời phát ngôn, thậm chí thâmnhập vào từng từ ngữ, nếu trong từ ngữ đó có hai tiếng nói xung đột nhau theo kiểu đốithoại” [2, tr.174].

1.4.2.2 Định hướng việc nghiên cứu từ trong tác phẩm để làm rõ đặc điểm ngônngữ nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai

Khi tìm hiểu ngôn ngữ trong hội thoại, mà cụ thể ở đây là ngôn ngữ nhân vật, đểnhận xét rút ra các đặc điểm về sự hành chức của ngôn ngữ trong đời sống nói chung, tronggiao tiếp nghệ thuật nói riêng thì có nhiều vấn đề, nhiều phương diện có thể khảo sát,nghiên cứu, chẳng hạn như: hành động ngôn ngữ, lập luận, ý nghĩa tường minh và hàm ẩn,các đơn vị hội thoại, v.v… Trước các vấn đề rộng lớn đặt ra như vậy, trong khuôn khổ luận

án, chúng tôi chỉ chọn một trong những phương diện có liên quan đến ngôn ngữ nhân vật,phương diện đó là từ - đơn vị nhỏ nhất - góp phần tạo lập các đơn vị hội thoại trong ngônngữ nhân vật

Cơ sở để lựa chọn từ làm đối tượng và đơn vị khảo sát của luận án là căn cứ vào vaitrò và chức năng hoạt động của từ trong giao tiếp nói chung, giao tiếp nghệ thuật nói riêng,căn cứ vào sự hành chức của từ trong tác phẩm cũng như cách tiếp cận nghiên cứu từ từquan điểm ngữ dụng Cụ thể là:

a) Tác phẩm văn học là sản phẩm của nghệ thuật ngôn từ Từ ngữ tham gia vàotrong giao tiếp hàng ngày cũng như trong tác phẩm văn học có thể có đến hàng vạn từ, vớinhiều đặc điểm về nguồn gốc, cấu tạo, ngữ nghĩa, phong cách, chức năng… hết sức phongphú và đa dạng Để làm sáng tỏ đặc điểm hoạt động và vai trò của ngôn từ trong sáng tácvăn học, cụ thể là làm rõ đặc điểm ngôn ngữ nhân vật, chúng tôi dựa vào chức năng dụnghọc của từ thể hiện ở lời thoại các nhân vật trong tiểu thuyết của Chu Lai

Chức năng dụng học, theo Bùi Minh Toán, “là chức năng “bộc lộ” các nhân vậtgiao tiếp về các mặt tình cảm, thái độ, quan hệ của họ đối với nhau, và thái độ tình cảm của

họ đối với sự vật, sự việc được nói tới hay đối với chính hoạt động giao tiếp họ đang tiếnhành” [136, tr.51]

b) Khi khảo sát các lớp từ từ góc độ chức năng dụng học, chúng tôi nhận thấy cáclớp từ nổi bật nhất trong tác phẩm của Chu Lai gồm: từ xưng hô, từ thông tục, quán ngữ và

Ngày đăng: 13/12/2016, 14:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Thống kê số lượng nhân vật chia theo giới tính và nghề nghiệp chức vụ trong 10 - Luận án Tiến sĩ đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai
Bảng 1.1. Thống kê số lượng nhân vật chia theo giới tính và nghề nghiệp chức vụ trong 10 (Trang 37)
Bảng 2.1. Bảng thống kê tần số sử dụng ĐTNX trong lời thoại nhân vật của tiểu thuyết - Luận án Tiến sĩ đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai
Bảng 2.1. Bảng thống kê tần số sử dụng ĐTNX trong lời thoại nhân vật của tiểu thuyết (Trang 44)
Bảng a. Danh sách tổng hợp các nhân vật trong tiểu thuyết của Chu Lai - Luận án Tiến sĩ đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai
Bảng a. Danh sách tổng hợp các nhân vật trong tiểu thuyết của Chu Lai (Trang 127)
Bảng b. Danh sách tổng hợp các đại từ nhân xưng trong tiểu thuyết - Luận án Tiến sĩ đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai
Bảng b. Danh sách tổng hợp các đại từ nhân xưng trong tiểu thuyết (Trang 132)
Bảng c. Danh sách tổng hợp các từ xưng hô (trừ đại từ nhân xưng) - Luận án Tiến sĩ đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai
Bảng c. Danh sách tổng hợp các từ xưng hô (trừ đại từ nhân xưng) (Trang 135)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w