Thực trạng nhận thức của giáo viên Tiểu học về việc lồng ghép giáo dục kĩ năng sống của các môn học trong trường Tiểu học...40 2.3.. Thực ttạng của việc sử dụng các phương pháp dạy học t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TlỂu HỌC
Trang 2Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tói thầy giáo Trần
Thanh Tùng về sự định hướng trong khoa học và sự giúp đỡ, hướng dẫn tận
tình trong suốt quá trình tôi thực hiện khóa luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu và các giáo viên khối 2, đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm lớp 2A, lớp 2D trường Tiểu học Nhân Hậu, giáo viên chủ nhiệm lớp 2A trường Tiểu học Tiến Thắng thuộc huyện Lý Nhân - tỉnh Hà Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi, để tôi có thể hoàn thành tốt khóa luận này
Đây là bước đầu tiên tôi làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên không tránh khỏi sự thiếu sót Tôi mong sẽ nhận được sự góp ý của các thầy cô
và toàn thể bạn đọc để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 01 tháng 5 năm 2016 Sinh
viên
Trần Thị Ngọc
Trang 3Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tôt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Đề tài: Tìm hiểu thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 2
thông qua dạy học môn Đạo đức ở một so trường Tiếu học thuộc huyện Lý
thày giáo Trần Thanh Tùng không trùng khớp với kết quả nghiên cứu nào
khác
Các số liệu, kết quả thu thập được trong khóa luận là: Trung thực, rõ ràng, chính xác, chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu nào
Neu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, ngày 01 tháng 5 năm 2016
Trang 4Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tôt nghiệp
UNESCO : Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên Họp Quốc UNICEF : Quỹ cứu trợ Nhi đồng Liên Họp Quốc LHQ : Liên Họp Quốc
Trang 5Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tôt nghiệp
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
4. Giả thuyết khoa học 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6. Giói hạn, phạm vi nghiên cứu 3
7. Phương pháp nghiên cứu 3
8. Kế hoạch triển khai nghiên cứu 4
9. Cấu trúc đề tài 5
CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 2 THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC 6
1.1.
Sơ lược lịch sử nghiên cứu 6
1.1.1. Nghiên cứu trên thế giói 6
1.1.2. Nghiên cứu ở Việt Nam 7
1.2 Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học 10
1.2.1. Kĩ năng sống 10
1.2.1.1.
Khái niệm kĩ năng sống 10
1.2.1.2.
Phân loại kĩ năng sống 12
1.2.2 Khái niệm giáo dục kĩ năng sống 14
1.2.3. Tầm quan trọng của giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học 15
1.2.3.1.
Trang 6Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tôt nghiệp
Sự càn thiết của giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học 15
1.2.3.2. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông 17
1.2.4. Các nguyên tắc giáo dục kĩ năng sống 18
1.2.4.1. Tương tác 18
1.2.4.2. Trải nghiệm 19
1.2.4.3. Tiến trình 19
1.2.4.4. Thay đổi hành vi 19
1.2.4.5. Thòi gian - môi trường giáo dục 20
1.2.5 Các con đường giáo dục kĩ năng sống 20
1.2.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục kĩ năng sống 20
1.3 Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 2 thông qua dạy học môn Đạo đức 23 1.3.1. Mục tiêu chương trình môn Đạo đức lớp 2 23
1.3.1.1. Kiến thức 23
1.3.1.2. Kĩ năng 23
1.3.1.3. Thái độ 23
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 2 thông qua dạy học môn Đạo đức 23
1.3.2.1. Kĩ năng sống thúc đẩy sự phát triển của cá nhân và xã hội 23
1.3.2.2. Giáo dục kĩ năng sống nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông 24
1.3.2.3. Giáo dục kĩ năng sống trong nhà trường là xu thế chung của nhiều nước trên thế giói 24
1.3.3 Chương trình môn Đạo đức lớp 2 vói việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh 24
Trang 7Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tôt nghiệp
1.4 Những đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 2 ảnh hưởng đến việc rèn
luyện kĩ năng sống 27
1.4.1. về thể chất 27
1.4.2. về nhận thức 27
1.4.2.1. Nhận thức cảm tính 27
1.4.2.2. Nhận thức lí tính 28
1.4.3. về tình cảm 30
1.4.4. về nhân cách 30
Kết luận chương 1 31
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 2 THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC KHU vực LÝ NHÂN - HÀ NAM 33
2.1. Giói thiệu về khảo sát 33
2.1.1 Mục đích 33
2.1.2 Nội dung 33
2.1.3 Phương pháp, đối tượng khảo sát 33
2.1.3.1.
Phương pháp khảo sát 33
2.1.3.2.
Đối tượng khảo sát 34
2.1.4 Địa bàn khảo sát 34
2.1.4.1. về trường khảo sát 34
2.1.4.2. về lớp khảo sát 35
2.1.5.
Thực trạng về trình độ giáo viên các lớp khối 2 35
Trang 8Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tôt nghiệp
2.2 Thực trạng nhận thức của giáo viên về giáo dục kĩ năng sống 36 2.2.1 Thực trạng hiểu biết của giáo viên Tiểu học về khái niệm kĩ năng sống
37
2.2.2 Thực trạng nhận thức của giáo viên Tiểu học về tầm quan trọng của giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học 38 2.2.3 Thực trạng nhận thức của giáo viên Tiểu học về việc lồng ghép giáo dục kĩ năng sống của các môn học trong trường Tiểu học 40 2.3 Thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 2 thông qua dạy học môn Đạo đức 41
2.3.1 Thực trạng thực hiện nhiệm vụ giáo dục kĩ năng sông cho học sinh lớp
2 thông qua dạy học môn Đạo đức 41 2.3.2 Thực ttạng đảm bảo nội dung giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 2 thông qua dạy học môn Đạo đức 43 2.3.3 Thực ttạng của việc sử dụng các phương pháp dạy học trong môn Đạo đức để lồng ghép giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 2 46 2.3.4 Thực trạng của việc sử dụng các hình thức tổ chức dạy học trong môn Đạo đức để lồng ghép giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 2 48 Kết luận chương 2 49 CHƯƠNG 3 NGUYÊN NHÂN CỦA THựC TRẠNG VÀ MỘT SỐ BỆN PHÁP NÂNG CAO KẾT QUẢ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 2 THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC Ở MỘT SỐ
TRƯỜNG TIỂU HỌC KHU vực LÝ NHÂN - HÀ NAM 50
3.1. Nguyên nhân của thực trạng 50 3.2. Đề xuất biện pháp 51 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 9Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tôt nghiệp
PHỤ LỤC
Trang 10Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế kỷ XXI là thế kỷ hội nhập và phát triển không chỉ ừên lĩnh vực kinh
tế, chính trị mà còn ảnh hưởng sâu sắc tói nền giáo dục của các quốc gia trên thế giói Cả thế giới đều hướng loài ngưòi tói một tương lai tươi sáng hơn, việc đẩy mạnh hoạt động giáo dục cho thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước là một yếu tố vô cùng quan trọng không thể thiếu được ở mỗi quốc gia Bởi thế việc giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp là rất quan trọng
Hiện nay, nội dung giáo dục kỹ năng sống đã được nhiều quốc gia trên thế giới đưa vào giảng dạy cho học sinh các trường phổ thông, dưới nhiều hình thức khác nhau Tuy nhiên muốn giáo dục kỹ năng sống được cho học sinh thì cần phải có thòi gian, cần phải có một chương trình dài hạn cụ thể Việc giáo dục trước hết phải đi từ nguyên tắc, nguyên lý hay định nghĩa trước, từ đó hình thành kỹ năng kỹ xảo và ứng dụng được vào thực tiễn Hay nói cách khác trách nhiệm đặt ra cho mỗi quốc gia là phải đảm bảo cho ngưòi học được tiếp cận với chương trình giáo dục kỹ năng sống phù hợp và kỹ năng cần được coi như nội dung của chất lượng giáo dục
Ở Việt Nam, nhất là trong xu thế hội nhập với một xã hội không ngừng biến đổi hiện nay đòi hỏi con người phải thường xuyên ứng phó với những thay đổi hàng ngày của cuộc sống, mục tiêu giáo dục không chỉ giúp con người học
Trang 11Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Là một sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, một giáo viên tương lai, bản thân rất hưởng ứng việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, tôi quyết định thực hiện đề tài: “ Thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 2 thông qua dạy học môn Đạo đức ở một số trường Tiểu học thuộc huyện Lý Nhân - tỉnh Hà Nam”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 2 thông qua dạy học môn Đạo đức ở một số trường Tiểu học thuộc huyện Lý Nhân - tỉnh Hà Nam Từ đó, chúng tôi đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao kết quả của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua dạy học môn Đạo đức
3 Đổi tượng và khách thể nghiên cứu
Thực ttạng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lóp 2
Thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 2 thông qua dạy học môn Đạo đức tại một số trường tiểu học thuộc huyện Lý Nhân - tỉnh Hà Nam
4 Giả thuyết khoa học
Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 2 thông qua dạy học môn Đạo đức đã được chú trọng nhưng hiệu quả của nó chưa được cao Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng nói trên : do nhận thức của giáo viên, do nội
Trang 12Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
dạy học môn Đạo đức lớp 2
thông qua dạy học môn Đạo đức
sống cho học sinh lớp 2 thông qua dạy học môn Đạo đức
6 Giói hạn, phạm vi nghiên cứu
Vì hạn chế về thời gian nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 2 thông qua dạy học môn Đạo đức
Đề tài được tiến hành nghiên cứu vói học sinh lớp 2 thông qua dạy học Đạo đức tại một số trường tiểu học sau đây: Trường Tiểu học Nhân Hậu, trường Tiểu học Tiến Thắng
7 Phương pháp nghiền cứu
Sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng họp, khái quát hóa các tài liệu lí luận đề làm rõ các khái niệm có liên quan đến đề tài, và các luận điểm, làm điểm tựa cho nghiên cứu này
Trang 13Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
- Mục đích: Nhằm thu thập thông tin về tình trạng kĩ năng sống của học sinh, đồng thời thông qua quan sát để thu thập được các biện pháp mà giáo viên áp dụng để giáo dục kĩ năng sống vào các môn học
- Cách tiến hành: Quan sát học sinh và giáo viên trong các hoạt động như: hoạt động học tập, hoạt động vui chơi, hoạt động ngoài giờ lên lớp
- Mục đích: Nhằm thu thập các thông tin về tình trạng kĩ năng sống của học sinh, về các biện pháp mà giáo viên đang áp dụng để giáo dục kĩ năng sống cho các em
- Cách tiến hành: Phỏng vấn trực tiếp và thông qua các hoạt động dạy học và giáo dục khác (trong và ngoài giờ lên lớp)
- Mục đích: Nhằm thu thập được thông tin, số liệu về thực trạng kĩ năng sống của học sinh, về các biện pháp mà giáo viên đang áp dụng để giáo dục kĩ năng sống cho các em
Cách tiến hành : Điều tra thông qua các hoạt động dạy học và giáo dục
Xử lí số liệu bằng phương pháp toán thống kê các kết quả điều tra được
và thể hiện trên các bảng biểu
8 Kế hoạch triển khai nghiên cứu
- Tháng 11/2015 - 12/2015: Nhận đề tài và hoàn thành đề cương
- Tháng 12/2015 - 1/2016: lìm hiểu cơ sở lý luận
- Tháng 2/2016 - 4/2016: Tìm hiểu thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 2 thông qua môn Đạo Đức ở một số trường thuộc huyện Lý Nhân- tỉnh Hà Nam
Trang 14Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Trang 15Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
Cơ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
LỚP 2 THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu
Từ những năm 90 của thế kỉ XX, thuật ngữ “ Kĩ năng sống” đã xuất hiện trong một số chưcmg trình giáo dục của UNICEF, trước tiên là chương trình “ Giáo dục kĩ năng sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ [11] Những nghiên cứu về kĩ năng sống trong giai đoạn này mong muốn thống nhất một quan niệm chung về kĩ năng sống cũng như đưa ra được một bảng danh mục các kĩ năng sống cơ bản mà thế hệ trẻ cần có Phần lớn các công trình nghiên cứu về kĩ năng sống giai đoạn này quan niệm về kĩ năng sống theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với các kĩ năng xã hội [10] Dự án do UNESCO tiến hành tới một số nước, trong đó có các khu vực Đông Nam Á là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho hướng nghiên cứu về kĩ năng sống nêu trên [5]
Do yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội và xu thế hội nhập cùng phát triển của các quốc gia nên hệ thống giáo dục của các nước đã và đang thay đổi theo định hướng khơi dậy và phát huy tối đa các tiềm năng của người học; đào tạo một thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của xã hội Theo đó, vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho thế hệ trẻ nói chung, cho học sinh phổ thông nói riêng được đông đảo học sinh các nước quan tâm Kế hoạch hành động DaKar về giáo dục cho mọi người (Senegal - 2000) yêu cầu mỗi quốc gia cần đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục kĩ năng sống phù họp [11].
Trang 16Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tôt nghiệp
Mặt khác, ngay trong một quốc gia, nội dung giáo dục kĩ năng sống trong lĩnh vực giáo dục chính quy và không chính quy cũng có sự khác nhau Trong giáo dục không chính quy ở một số nước, những kĩ năng cơ bản như: nghe, nói, đọc, viết được coi là những kĩ năng sống cơ sở; trong khi trong giáo dục chính quy, các kĩ năng sống cơ bản lại được xác định phong phú hơn theo các lĩnh vực quan hệ cá nhân Do phần lớn các quốc gia đều mới triển khai giáo dục kĩ năng sống trong vài năm gần đây nên những nghiên cứu về vấn đề này mặc dù khá phong phú song chưa thật toàn diện và sâu sắc
Trong lịch sử giáo dục Việt Nam quan điểm học để làm người, nghĩa là biết ứng xử với đời đã được coi như một ừong những mục tiêu quan trọng của giáo dục Cho nên, giáo dục đã quan tâm cung cấp cho người học những kiến thức, thái độ và kĩ năng cần thiết để chuẩn bị cho người học gia nhập cuộc sống
xã hội Tuy nhiên, những nội dung đó chưa được gọi tên là giáo dục kĩ năng sống
Thuật ngữ kĩ năng sống được người Việt Nam biết đến bắt đầu từ chương trình của UNICEF (1996) “Giáo dục kĩ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” Quan niệm
về kĩ năng sống được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồm những kĩ
Trang 17Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
năng sống cốt lõi như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng kiên định, kĩ năng đặt mục tiêu, do các chuyên gia úc tập huấn Tham gia chương trình này đàu tiên gồm các ngành Giáo dục và Hội chữ thập đỏ
Sang giai đoạn 2, chương trình này mang tên: “Giáo dục sống khỏe mạnh
và kĩ năng sống” Trong giai đoạn này, nội dung của khái niệm kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống đã được phát triển sâu sắc hơn
Khái niệm kĩ năng sống thực sự được hiểu vói nội hàm đầy đủ và đa dạng sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và kĩ năng sống”do UNESCO tài trợ được tổ chức từ 23-25 tháng 10 năm 2003 tại Hà Nội.Từ đó, những người làm công tác Giáo dục ở Việt Nam đã hiểu đầy đủ hơn về khái niệm kĩ năng sống
Cùng với việc triển khai các chương trình về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống, vấn đề kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống cho học sinh đã được quan tâm nghiên cứu Những nghiên cứu về các vấn đề trên ở giai đoạn này có
xu hướng xác định những kĩ năng cần thiết ở các lĩnh vực hoạt động mà thanh thiếu niên tham gia và đề xuất các biện pháp để hình thành những kĩ năng này cho thanh thiếu niên (trong đó có học snh Tiểu học) Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là: “Cẩm nang tổng họp kĩ năng hoạt động thanh thiếu niên”, của tác giả Phạm Văn Nhân (1999) [9]
Một trong những người đầu tiên có nghiên cứu mang tính hệ thống về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình Với một loạt các bài báo, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ và giáo trình,
tài liệu tham khảo như: Chuyên đề cao học Giảo dục kĩ năng sổng (2006, ĐHSP
Hà Nội); Giáo trình dành cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm Giáo dục kĩ năng
sống (2007, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội); Đồ tài cấp Bộ mã số B
2007-17-57 “ Xây dựng và thực nghiệm một số chủ đề giáo dục kĩ năng sống cơ bản cho học sinh Trung học phổ thông”; “Những nghiên cứu và thực hiện chương trình
Trang 18Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam” (đồng tác giả Nguyễn Kim Dung, Lưu Thu Thủy, Vũ Thị Sơn, 2003, Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục) Tác giả Nguyễn Thanh Bình đã góp phần đáng kể vào việc tạo ra những hướng nghiên cứu về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam
Nghiên cứu về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam được thực hiện theo các hướng chính sau:
+ Xác định những vấn đề lí luận cốt lõi về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống Theo hướng nghiên cứu này có một số công trình nghiên cứu như:
“Kĩ năng sống cho tuổi vị thành niên” của tác giả Nguyễn Thị Oanh (2005,NXB Trẻ); Bài viết cho đề tài cấp Bộ mã số B 2007-17-57 “ Một số cơ sở tâm lý của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh” của tác giả Đào Thị Oanh (2008)
+ Nghiên cứu so sánh giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam với một số quốc gia khác Kết quả của hướng nghiên cứu này cho thấy, nghiên cứu về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam xuất phát từ yêu càu của xã hội đối với giáo dục trong thời kì công nghiệp hóa - hiện đại hóa; từ nhiệm vụ triển khai chiến lược đổi mới giáo dục phổ thông; từ xu thế giáo dục thế giới và từ sự phát triển nội tại của khoa học giáo dục nói chung và bước đầu đã đạt được những thành tựu nhất định [11]
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Bình và cộng sự “Những nghiên cứu và thực hiện chương trình giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam” (đồng tác giả Nguyễn Kim Dung, Lưu Thu Thủy,Vũ Thị Sơn, 2003, Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục) đã mô tả sinh động, đầy đủ, hệ thống về tiếp cận và thực hiện giáo dục kĩ năng sống cho học sinh do Ngành Giáo dục thực hiện
Ngành Giáo dục đã triển khai chương trình đưa giáo dục kĩ năng sống vào hệ thống chính quy và không chính quy Nội dung giáo dục của nhà trường phổ thông được định hướng bởi mục tiêu giáo dục kĩ năng sống Theo đó, các nội giáo dục kĩ năng sống cụ thể đã được triển khai ở các cấp bậc học,trong đó
Trang 19Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
có bậc Tiểu học Giáo dục kĩ năng sống ở bậc Tiểu học tập trung vào các kĩ năng chính, kĩ năng cơ bản như: đọc, viết, tính toán, nghe, nói; coi trọng đúng mực các kĩ năng sống trong cộng đồng, thích ứng với những thay đổi diễn ra hàng ngày trong xã hội hiện đại; hình thành các kĩ năng tư duy sáng tạo, phê phán, giải quyết vấn đề, ra quyết định, trí tưởng tượng
Quá trình đưa giáo dục kĩ năng sống vào chương trình giáo dục học đường, đặc biệt là chương trình giáo dục phổ thông được thực hiện dựa trên những kết quả nghiên cứu về vấn đề này đồng thời cũng tạo điều kiện để các nghiên cứu
về đưa giáo dục kĩ năng sống vào chương trình giáo dục phổ thông ngày càng phát triển
1.2 Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học
Kĩ năng sống (life skills) là khái niệm được sử dụng rộng rãi nhằm vào mọi lứa tuổi trong lĩnh vực hoạt động thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống
xã hội Ngay những năm đầu của thập kỉ 90, các tổ chức Liên Họp Quốc (LHQ) như WHO (Tổ chức Y tế Thế giới), UNICEF (Quỹ cứu ừợ nhi đồng LHQ), UNESCO (Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của LHQ) đã chung sức xây dựng chương trình giáo dục kĩ năng sống cho thanh thiếu niên Tuy nhiên cho đến nay, khái niệm này vẫn nằm trong tình trạng chưa có một định nghĩa rõ ràng và đầy đủ
* Quan điểm của Tồ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên Họp Quốc (UNESCO)
Kĩ năng sống là năng lực của mỗi cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày [4]
Với quan điểm như vậy thì kĩ năng sống chính là những kĩ năng tâm lý
xã hội liên quan đến tri thức, giá trị và thái độ Đó cũng là sự kết họp các kĩ
Trang 20Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
năng tâm lí xã hội như: Học để biết, Học để làm, Học để tự khẳng định và học
để cùng chung sống
* Quan điểm của Tổ chức Y tế Thế giói (WHO)
Kĩ năng sống là những kĩ năng thiết thực mà con người cần để có cuộc sống an toàn, khỏe mạnh Đó là những kĩ năng mang tính tâm lý xã hội và kĩ năng giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hàng ngày để tương tác một cách có hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề những tình huống của cuộc sống hàng ngày [4]
* Quan niệm của Quỹ cứu trợ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF)
Kĩ năng sống là kĩ năng phân tích tình huống và ứng xử, khả năng phân tích cách ứng xử và khả năng tránh được các tình huống Các kĩ năng sống nhằm giúp chúng ta chuyển dịch kiến thức “Cái chúng ta biết” và thái độ, giá trị
“Cái chúng ta nghĩ, cảm thấy, tin tưởng” thành hành động thực tế “Làm gì và làm cách nào” là tích cực nhất và mang tính chất xây dựng
* Theo thuyết hành vi
Kĩ năng sống là kĩ năng tâm lý xã hội liên quan đến những tri thức, những giá trị và những thái độ - là những hành vi làm cho các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống [4]
Kĩ năng sống không phải là năng lực cá nhân bất biến trong mọi thời đại
mà là những năng lực thích nghi cho mỗi thời đại mà cá nhân đó sống Bởi vậy,
kĩ năng sống vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính dân tộc - quốc gia, vừa mang tính xã hội - toàn cầu
Từ những khái niệm trên, kĩ năng sống ừong phạm vi lứa tuổi học sinh Tiểu học thường gắn liền với phạm trù kiến thức, kĩ năng và thái độ mà học sinh được rèn luyện trong quá trình giáo dục Tổng họp các kết quả giáo dục từ bài học trên lớp và từ những hoạt động ngoài giờ lên lớp, học sinh hình thành được
Trang 21Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
một số kĩ năng sống cơ bản phù họp như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xác định giá trị, lã năng ra quyết định, kĩ năng kiên định, kĩ năng đặt mục tiêu,
Kĩ năng sống được phân loại thành những kĩ năng chung và những kĩ năng chuyên biệt (kĩ năng trong các lĩnh vực cụ thể) Trong đó:
* Nhóm các kĩ năng chung bao gồm:
+ Nhóm kĩ năng nhận thức, gồm các kĩ năng cụ thể như: tư duy phê phán, giải quyết vấn đề, nhận thức hậu quả, ra quyết định, khả năng sáng tạo, tự nhận thức về bản thân, đặt mục tiêu, xác định giá trị,
+ Nhóm kĩ năng đương đầu với cảm xúc, gồm: động cơ, ý thức trách nhiệm, kiềm chế căng thẳng, kiểm soát được cảm xúc, tự quản lí, tự giám sát và
tự điều chỉnh,
+ Nhóm kĩ năng xã hội hay kĩ năng tương tác, gồm: kĩ năng giao tiếp, tính quyết đoán, kĩ năng thương thuyết, kĩ năng từ chối, kĩ năng họp tác, lắng nghe tích cực, sự thông cảm, nhận biết sự thiện cảm của người khác,
* Các kĩ năng chuyên biệt
Ngoài những kĩ năng chung như 3 nhóm nêu trên, kĩ năng sống còn thể hiện trong những vấn đề cụ thể khác nhau trong đời sống xã hội như: các vấn đề
về giới, giới tính, sức khỏe sinh sản; vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh sức khỏe, vệ sinh dinh dưỡng; gia đình và cộng đồng; ngăn ngừa thiên tai, bạo lực rủi ro; đề phòng tai nạn thương tích; hòa mình và giải quyết xung đột; bảo vệ thiên nhiên và môi trường; vãn hóa; ngôn ngữ; công nghệ,
Điều này có nghĩa là bên cạnh những kĩ năng sống chung thì còn có những kĩ năng sống riêng trong từng lĩnh vực của đời sống con nguời
Trang 22Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Theo cách phân loại, kĩ năng sống được chia thành 3 loại chính:
+ Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với chính mình, gồm : kĩ năng tự nhận thức, lòng tự trọng, sự kiên định, kĩ năng đương đầu với cảm xúc, đương đầu với căng thẳng,
+ Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với người khác, gồm : kĩ năng quan
hệ, tương tác liên cá nhân, sự cảm thông, kĩ năng đứng vững trước áp lực của bạn bè hoặc của người khác, kĩ năng thương lượng, kĩ năng giao tiếp có hiệu quả,
+ Nhóm kĩ năng ra quyết định một cách có hiệu quả, gồm: kĩ năng tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, kĩ năng ra quyết định, giải quyết vấn đề,
Những cách phân loại nêu trên đã đưa ra bản danh mục các kĩ năng sống
có giá trị trong nghiên cứu phát triển lí luận về kĩ năng sống và chỉ có tính chất tương đối Trên thực tế, các kĩ năng sống có mối quan hệ mật thiết với nhau bởi khi tham gia vào một tình huống cụ thể, chúng ta cần phải sử dụng rất nhiều kĩ năng khác nhau Ví dụ khi cần quyết định một vấn đề nào đó, cá nhân phải sử dụng kĩ năng như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng tư duy sáng tạo và kĩ năng kiên định,
Kết quả nghiên cứu về kĩ năng sống của nhiều tác giả đã khẳng định: “Dù phân loại theo hình thức nào thì một số kĩ năng vẫn được coi là kĩ năng cốt lõi như: kĩ năng các định giá trị; kĩ năng giao tiếp; kĩ năng đương đầu với cảm xúc, căng thẳng kĩ năng; kĩ năng giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực, kĩ năng tự nhận thức; kĩ năng ra quyết định, kĩ năng đặt mục tiêu; ” [4],
Khái niệm giáo dục cũng được hiểu theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau ở cấp
độ xã hội và cấp độ nhà trường[2;6;8] Ở cấp độ nhà trường khái niệm giáo dục chỉ quá trình giáo dục tổng thể “dạy học và giáo dục theo nghĩa hẹp” được thực hiện thông qua các hoạt động giáo dục
Trang 23Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Hoạt động giáo dục là những hoạt động do các cơ sở giáo dục (trường học và các cơ sở giáo dục khác) tổ chức thực hiện theo kế hoạch chương trình giáo dục trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệm về chúng Trong các hoạt động giáo dục, hoạt động dạy học là nền tảng và chủ đạo không chỉ trong các môn học mà ở tất cả các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường Nó là hoạt động giáo dục cơ bản nhất, có vị trí nền tảng và chức năng chủ đạo trong hệ thống các hoạt động giáo dục.Hoạt động giáo dục được tổ chức có định hướng về mặt giá trị nhằm tạo ra những môi trường hoạt động và giao tiếp có định hướng của người học Khi tham gia các hoạt động giáo dục, người học tiến hành các hoạt động của mình theo những quy tắc, những mục tiêu chung, những chuẩn mực giá tri chung và những biện pháp chung Như vậy, họ được giáo dục theo những tiêu chí chung (tùy hoạt động của mọi người luôn diễn ra ở cấp độ cá nhân)
Kĩ năng sống được hình thành thông qua quá trình xây dựng những hành
vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng thích họp Do vậy, kĩ năng sống phải được hình thành cho học sinh thông qua con đường đặc trưng - hoạt động giáo dục Theo UNICEF, giáo dục dựa ừên những kĩ năng sống cơ bản là
sự thay đổi trong hành vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến thức, thái độ, hành vi
Từ nội hàm của khái niệm kĩ năng sống và quan niệm về hoạt động giáo dục đã trình bày ở ừên, có thể hiểu giáo dục kĩ năng sống là một quá trình với những hoạt động giáo dục cụ thể nhằm tổ chức, điều khiển để học sinh biết cách chuyển dịch kiến thức (cái học sinh biết) và thái độ, giá trị (cái học sinh nghĩ, cảm thấy, tin tưởng) thành hành động thực tế (làm gì và làm bằng cách nào) một
cách tích cực và mang tính chất xây dựng Giảo dục ìã năng sống cho học sinh
là giáo dục cho các em cách sổng tích cực trong xã hội hiện đại; là xây dựng hoặc thay đổi ở các em các hành vỉ theo hướng tích cực, phù hợp với mục tiêu
Trang 24Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Giáo dục kĩ năng sống còn làm thay đổi những thói quen, hành vi tiêu cực, hình thành những hành vi thói quen tích cực, nhằm xây dựng nâng cao chất lượng cuộc sống Chất lượng đó được thể hiện thông qua việc các cá nhân giải quyết các vấn đề của mình một cách có hiệu quả
Ở độ tuổi từ 6-7 tuổi đến 11-12 tuổi, mỗi học sinh tiểu học là một thực thể hồn nhiên với một nhân cách đang hình thành, đang phát triển Mỗi em đều
có những đặc điểm chung của lứa tuổi tiểu học, nhưng cũng có những đặc điểm riêng, từ cá tính, tâm lí, trí tuệ, thể chất, cho đến những nhu cầu và khả năng tiềm ẩn Ở lứa tuổi này, hành vi của các em dễ có tính tự phát, tính cách của các
em thường có biểu hiện thất thường, bướng bỉnh Phàn lớn các em có nhiều phẩm chất tốt như: vị tha, ham hiểu biết, hiếu học, hồn nhiên, chân thật, Các
em hồn nhiên và cả tin ừong các mối quan hệ với bạn bè đồng ừang lứa, với người lớn đặc biệt là với những thầy cô giáo
Ở các em cũng đang có sự thay đổi và phát triển nhanh chóng về môi trường sống tự nhiên, về tính chất các mối quan hệ trong nhà trường, gia đình và
xã hội, về hoạt động chủ đạo là học tập Việc thực hiện những yêu cầu mới, những quan hệ mới đã tạo cho các em tính tích cực trong xã hội, tính kỉ luật cao trong hoạt động nhóm, tập thể, tinh thần trách nhiệm trong công việc thái độ rõ ràng đối với các hành vi mang tính xã hội, cộng đồng và nhiều phẩm chất nhân cách khác Sự thành công hay thất bại ở giai đoạn tiếp theo
Trang 25Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay, các em thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn được đặt vào hoàn cảnh phải lựa chọn các giá trị, phải đương đầu với các khó khăn, thách thức, những áp lực tiêu cực Nếu không được giáo dục kĩ năng sống, nếu thiếu kĩ năng sống, các em sẽ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực, lối sống ích kỉ, lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở lứa tuổi này sẽ định hướng cho các
em những con đường sống tích cực ừong xã hội hiện đại: từ việc trang bị những kiến thức cơ bản, những kĩ năng cơ bản để học sinh có thể tự tin học lên, tự tin bước vào đòi nhằm thích ứng sự phát triển nhanh như vũ bão của khoa học công nghệ cho đến việc quan tâm, chú trọng phát triển những kĩ năng sống có liên quan đến sự hình thành phát triển toàn diện con người khỏe mạng về cả thể chất lẫn tâm hồn Cụ thể là:
Trong quan hệ với chính mình, giáo dục kĩ năng sống giúp học sinh biết
gieo những kiến thức vào thực tế để gặt hái những hành động cụ thể và biến hành động thành thói quen, rồi lại gieo hạt những thói quen tích cực để tạo ra số phận cho mình
Trong quan hệ với gia đình, giáo dục kĩ năng sống giúp học sinh biết
kính trọng ông bà, hiếu thảo với cha mẹ, quan tâm chăm sóc người thân khi ốm đau, động viên an ủi khi gia quyến có chuyện chẳng lành,
Trong quan hệ với xã hội, giáo dục kĩ năng sống giúp học sinh biết cách
ứng xử thân thiện với môi tường tự nhiên, với cộng đồng: chấp hành luật giao thông; giữ vệ sinh đường làng, ngõ xóm, đường phố; bảo vệ môi trường thiên nhiên; Từ đó, góp phần làm cho môi trường sống trở nên trong sạch, lành mạnh, bớt đi những tai nạn xã hội, những bệnh tật do chính hiểu biết của chính con người gây nên, thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực ngày một lan rộng hom, có chiều sâu hom để giải quyết những mối quan hệ giữa nhu
Trang 26Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
cầu, nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng
Do những ý nghĩa đặc biệt nêu trên, việc giáo dục hình thành nhân cách nói chung và giáo dục kĩ năng sống nói riêng cho học sinh tiểu học ngày càng trở nên có vai trò quan trọng và cấp thiết
đổi mới giáo dục phổ thông
Luật Giáo dục năm 2005, Điều 2 đã xác định: Mục tiêu của giáo dục phổ thông là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu càu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc [2]
Như vậy, mục tiêu giáo dục phổ thông đã chuyển từ chủ yếu là trang bị kiến thức cho học sinh sang trang bị những năng lực cần thiết cho các em, đặc biệt là năng lực hành động, năng lực thực tiễn Phưomg pháp giáo dục phổ thông cũng đã được đổi mới theo hướng “Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” [2]
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh với bản chất là hình thành và phát triển cho các em khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù họp với những người khác và với xã hội khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống rõ ràng là phù họp với mục tiêu giáo dục phổ thông, nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông
Giáo dục kĩ năng sống là thực hiện quan điểm hướng vào người học, một mặt đáp ứng nhu càu của người học có năng lực để đáp ứng những thách thức của cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân Mặt khác, thực hiện giáo dục kĩ năng sống thông qua những phương pháp và kĩ thuật tích cực hướng đến người học (lấy học sinh làm trung tâm) như : hoạt động nhóm,
Trang 27Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
giải quyết vấn đề, nghiên cứu trường họp điển hình, đóng vai, trò chơi, dự án, tranh luận, động não, hỏi chuyên gia, Đe cao vai trò tham gia chủ động, tự giác của người học và vai trò chủ đạo của người dạy sẽ có những tác động tích cực đối với những mối quan hệ giữa người dạy và người học, người học với người học Đồng thời người học cảm thấy họ được tham gia vào các vấn đề có liên quan đến cuộc sống của bản thân, sẽ thích thú và học tập tích cực hơn
Tóm lại, việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong các trường phỏ thông nói chung và các trường tiểu học nói riêng là rất cần thiết để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông
Kĩ năng sống không thể được hình thành qua việc nghe giảng và tự đọc tài liệu Việc nghe người khác giảng và tự đọc tài liệu chỉ giúp học sinh thay đổi nhận thức về một vấn đề nào đó, chứ không chỉ nói về việc đó Nhiều kĩ năng sống được hình thành trong quá trình người học tương tác với người lớn hoặc bạn cùng học Trong khi tham gia các hoạt động, học sinh có dịp thể hiện các ý tưởng của mình, được trải nghiệm, được đánh giá, xem xét lại những kinh nghiệm sống của mình trước đây dưới một cách nhìn nhận khác Vì vậy, việc tổ chức hoạt động có tính chất tương tác cao cho học sinh tham gia là nguyên tắc quan trọng đảm bảo giáo dục kĩ năng sống đạt hiệu quả
Kĩ năng sống chỉ được hình thành khi người học được trải nghiệm qua các tình huống thực tế Kinh nghiệm được hành động trong các tình huống đa dạng giúp trẻ dễ dàng dịch chuyển các kĩ năng đó trong các tình huống phù họp, biết điều chỉnh kĩ năng phù họp với điều kiện thực tế
Giáo dục kĩ năng sống không thể hình thành trong “Ngày một, ngày hai”
Trang 28Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
mà đòi hỏi cả quá trình: Nhận thức - hình thành thái độ - thay đổi hành vi Đây
là một quá trình mà mỗi yếu tố có thể là khởi đầu của một chu trình mới, do đó nhà giáo dục có thể tác dộng lên bất kì mắt xích nào ừong chu trình trên: thay đổi thái độ dẫn đến mong muốn thay đổi nhận thức và hành vi hoặc hành vi thay đổi tạo nên sự thay đổi nhận thức và thái độ
Mục đích cao nhất của giáo dục kĩ năng sống là giúp người học thay đổi hành vi theo hướng tích cực Giáo dục kĩ năng sống thúc đẩy người học thay đổi các giá trị, các thái độ hành vi trước đó, thay đổi hay định hướng lại các giá trị, thái độ và hành động của mình Thay đổi hành vi, thái độ và giá trị ở từng con người là một quá trình khó khăn, không đồng thời Có thời điểm người học lại quay ừở lại những thái độ, hành vi và giá trị trước Do đó, các nhà giáo dục cần kiên trì chờ đợi và tổ chức các hoạt động để đến thời điểm người học biết thay đổi hành vi và hành vi đó trở thành kĩ năng của trẻ
Giáo dục kĩ năng sống cần giáo dục ở mọi noi, mọi lúc và thực hiện càng sớm càng tốt đối với trẻ em Môi trường giáo dục được tổ chức nhằm giáo dục được tổ chức nhằm tạo cơ hội cho học sinh áp dụng kiến thức và kĩ năng vào các tình huống “thực” trong cuộc sống
Giáo dục kĩ năng sống được thực hiện ừong gia đình, trong nhà trường và cộng đồng Người tổ chức giáo dục kĩ năng sống có thể là bố mẹ, là thầy cô, là bạn cùng học hay các thành viên cộng đồng Trong nhà trường phổ thông, giáo dục kĩ năng sống được thực hiện trên các giờ học, trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp, các hoạt động lao động và các hoạt động giáo dục khác
Quá trình giáo dục kĩ năng sống cho học sinh được thực hiện thông qua 2 con đường chính sau:
Trang 29Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
+ Thông qua dạy học các môn học
+ Thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp
Thứ nhất, người dạy
Giáo viên là yếu tố quan ừọng nhất cho chất lượng giảng dạy bởi vì giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn, dẫn dắt người học tiếp cận các tri thức, kiến thức lý luận chính trị theo mục đích của chương trình học Do đó giáo viên phải trang bị chuẩn về chuyên môn Giáo viên không chỉ nắm vững nội dung một bài học mà mình truyền đạt mà phải nắm được kiến thức của cả chương trình môn học, phần học, có như vậy giáo viên mới liên kết, hệ thống hoá kiến thức cần thiết giúp người học dễ nắm bắt những nội dung chính của bài học, môn học, phần học Khi giáo viên chuẩn về kiến thức chuyên môn tạo sự tự tin trong quá trình truyền thụ, tránh được sự phụ thuộc vào giáo án, chủ động dẫn dắt người học tiếp cận kiến thức theo mục đích của mình
Ngoài việc ừang bị kiến thức chuyên môn, giáo viên cần phải có kinh nghiệm thực tiễn và kiến thức thực tiễn Giàu kiến thức thực tiễn giúp giáo viên làm sinh động bài giảng, gắn kết giữa nội dung bài giảng với thực tiễn thông qua những minh hoạ, ví dụ từ thực tiễn; từ đó người học dễ tiếp thu bài, dễ nhớ bài và điều quan trọng là người học thấy nội dung bài giảng gắn liền với cuộc sống chứ không phải xa ròi, khó hiểu
Một yêu càu không thể thiếu, đó là giáo viên còn phải có kỹ năng sư phạm Kỹ năng sư phạm là một yếu tố góp phần quan ừọng cho giờ giảng thành công hay thất bại Kỹ năng sư phạm giúp giáo viên có phương pháp truyền thụ tốt, linh hoạt ừong việc phối họp các phương pháp, phương tiện giảng dạy, nắm bắt được tâm lý người học một cách nhanh chóng từ đó thu hút được người học một cách có hiệu quả Trong giảng dạy có nhiều phương pháp truyền thụ kiến thức, phần lớn giáo viên thường sử dụng phương pháp thuyết trình, vì phương
Trang 30Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
pháp này có nhiều ưu điểm, người dạy chủ động quá trình giảng dạy cả về tri thức và thời gian Tuy nhiên, phương pháp này cũng dễ dẫn tới sự tiếp thu thụ động, buồn chán cho người học Do đó, trong quá trình giảng dạy, đòi hỏi phải
có sự lựa chọn, phối họp sử dụng các phương pháp giảng dạy phù họp với từng nội dung kiến thức, từng đặc điểm của lớp học
Kiến thức chuyên môn vững kết họp với kỹ năng sư phạm giúp giáo viên chủ động trong quá trình truyền tải và nắm bắt thông tin từ người học từ đó có
sự điều chỉnh hợp lý việc phối họp các phương pháp giảng dạy
Phong cách giáo viên cũng giữ vai ừò quan ừọng, từ phong thái, tác phong, tư cách, tâm tư, tình cảm của người thầy mà người học thích học hay không thích học, bị lôi cuốn hay không bị lôi cuốn vào môn học Khi người giảng nhiệt huyết, “thổi hồn” được môn học sẽ thu hút được người học Do đó, người thầy bao giờ cũng phải chuẩn về phong cách, từ giọng nói, điệu bộ, tâm trạng, xúc cảm,
Thứ hai, người học
Dạy học là quá trình tác động biện chứng giữa người dạy và người học, người học là đối tượng tiếp nhận thông tin mà người dạy hướng đến, do đó, người học có tác động đến chất lượng hoạt động của người dạy
Trong quan niệm mới về giáo dục, người học là trung tâm của quá trình giảng dạy, người học tiếp nhận kiến thức không phải một cách thụ động mà là chủ thể của quá trình nhận thức, chủ động ừong việc tiếp nhận thông tin Do đó, chất lượng giảng dạy phải được xét đến việc tỷ lệ tri thức mà người học tiếp nhận được
Mặt khác, sự tham gia các hoạt động của người học trong quá trình tiếp nhận tri thức có ảnh hưởng đến tâm lý người dạy, tạo sự hưng phấn, khoi sự nhiệt huyết của người dạy hay không?
Thứ ba, cơ sở vật chất, phương tiện dạy học
Trang 31Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Phương tiện dạy học tốt, đặc biệt là phương tiện hiện đại giúp giáo viên tăng thêm sự hấp dẫn của bài học, lôi cuốn học viên qua những hình ảnh, phim minh hoạ hoặc những sơ đồ hoá kiến thức nội dung bài giảng giúp học viên dễ nhớ bài, nhớ lâu hơn Tuy nhiên, việc sử dụng các phương tiện hiện đại cũng có nhược điểm khi giáo viên sử dụng nó để thay thế từ hình thức ghi
bảng sang hình thức trình chiếu hoặc khi người sử dụng chưa biết phát huy hết công dụng của các phương tiện hiện đại
Tóm lại, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy học, tuy nhiên, tối thiểu cần chú ý đến các yếu tố người dạy, người học, cơ sở vật chất và phương tiện dạy học
1.3 Giáo dục kĩ năng sổng cho học sinh lớp 2 thông qua dạy học môn Đạo đức
Có hiểu biết ban đầu về một số chuẩn mực hành vi đạo đức và pháp luật phù họp với lứa tuổi trong các mối quan hệ của các em với bản thân, gia đình, nhà trường, cộng đồng, môi trường tự nhiên và ý nghĩa của việc thực hiện các chuẩn mực đó
Từng bước hình thành kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân và những người xung quanh theo chuẩn mực đã học; kĩ năng lựa chọn và thực hiện
Trang 32Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
thông qua dạy học môn Đạo đức
+ Kĩ năng sống chính là nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh
+ Giáo dục kĩ năng sống sẽ thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống, giải quyết nhu cầu và quyền con người, quyền công dân được ghi ừong pháp luật Việt Nam và quốc tế
thông
+ Đảng ta xác định con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển xã hội
+ Giáo dục kĩ năng sống với bản chất là hình thành và phát triển cho các
em khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù họp vói những người khác
và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực phù họp với các tình huống của cuộc sống, rõ ràng là phù họp với mục tiêu giáo dục phổ thông và rất càn thiết để đáp ứng yêu càu đổi mới giáo dục phổ thông
nước trên thế giới
* Hiện nay đã có hơn 155 nước trên thế giới đã quan tâm đến việc đưa kĩ năng sống vào nhà trường, trong đó có 143 nước đã đưa vào chính khóa
Trang 33Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
* Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở các nước được thực hiện qua 3 hình thức:
+ Kĩ năng sống là một môn học riêng biệt
+ Kĩ năng sống được tích họp vào một vài môn học chính
+ Kĩ năng sống được tích hợp vào nhiều hoặc tất cả các môn học trong chương trình
hoc sinh
Chương trình môn Đạo đức lóp 2 với việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh được thể hiện qua bảng 1:
Bảng lĩ Chương trình môn Đạo đức lớp 2 với việc giáo dục kĩ năng sống
cho hoc sinh
Trang 34Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Tên bài dạy Các kĩ năng sống cơ bản được giáo dục
Bài 1
Học tập, sinh hoạt đúng giờ.
+ Kĩ năng quản lí thời gian để học tập, sinh hoạt đúng giờ
+KĨ năng lập kế hoạch để học tập sinh hoạt đúng giờ
+ Kĩ năng tư duy phê phán đánh giá hành vi sinh hoạt, học tập đúng giờ và chưa đúng giờ
Trang 35Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Bài 8 + Kĩ năng họp tác với mọi người ừong việc giữ
Giữ trật tự về sinh nơi gìn trật tự, vệ sinh nơi công cộng
công cộng
+ Kĩ năng đảm nhiệm ừách nhiệm để giữ gìn ừật
tự vệ sinh nơi công cộng
Bài 9 + Kĩ năng xác định giá trị bản thân (giá trị của
Trả lại của rơi
sự thật thà)
+ Kĩ năng giải quyết vấn đề trong tình huống nhặt được của rơi
Bài 10
Biết nói lời yêu cầu, đề nghị
+ Kĩ năng nói lời yêu cầu, đề nghị lịch sự trong giao tiếp với người khác
+ Kĩ năng thể hiện sự tôn trọng và tôn trọng người khác
Bài 11
+ Kĩ năng giao tiếp lịch sự khi nhận và gọi điện
Lịch sự khi nhận và gọi điện