Thực tiễn công tác giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học trong nhà trường hiện nay chưa được như mong muốn, một trong những nguyên nhân của thực trạng là do việc đổi mói giáo dục chú tr
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
PHẠM THỊ HOA
TÌM HIỂU THỰC TRẠNG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH KHỐI 4 - 5 Ở MỘT SỔ TRƯỜNG TIỂU HỌC KHU Vực THỊ XÃ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục học
Ngưòi hướng dẫn khoa học: ThS DOÃN NGỌC ANH
HÀ NỘI - 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thảnh và sâu sắc tới cô giáo ThS Doãn
Ngọc Anh - người đã tận tâm giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu, thực hiện đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thày cô giáo trong Trường Tiểu học Đồng Xuân, Trường Tiểu học Xuân Hòa, Trường Tiểu học Nam Viêm đã giúp tôi thực hiện khóa luận
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất song do lần đầu được tiếp cận với hoạt động nghiên cứu khoa học, do thời gian
và nhận thức còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô giáo để khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 5 tháng 5 năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Sinh viên
PHẠM THỊ HOA
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự
hướng dẫn khoa học của ThS Doãn Ngọc Anh Các vấn đề trình bày trong đề
tài được nghiên cứu ở ba trường : Trường Tiểu học Đồng Xuân, Trường Tiểu học Xuân Hòa, Trường Tiểu học Nam Viêm là chân thực và không được sao chép ở bất cứ công trình nghiên cứu nào Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 5 tháng 5 năm 2016
Sinh viên
PHẠM THỊ HOA
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu của đề tài 2
3. Mục đích nghiên cứu 5
4. Nhiệm yụ nghiên cứu 5
5. Khách thể, đối tượng nghiên cứu 5
6. Phạm vi nghiên cứu 5
7. Giả thuyết khoa học 5
8. Phương pháp nghiên cứu 6
9. Kế hoạch nghiên cứu 7
10. Dự kiến cấu trúc của đề tài 7
NỘI DUNG 8
Chương 1 Cơ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 8
1.1. Một số vấn đề về đạo đức 8
1.1.1 Khái niệm đạo đức 8
1.1.2 Tính chất của đạo đức 8
1.1.3 Nguồn gốc, chức năng của đạo đức 11
1.2. Một số vấn đề về giáo dục đạo đức 13
1.2.1 Khái niệm quá trình giáo dục đạo đức 13
1.2.2 Đặc điểm của quá trình giáo dục đạo đức 13
1.2.3 Ỷ nghĩa của việc giáo dục đạo đức 14
1.3. Giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học 15
1.3.1 Khái niệm quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học 15
1.3.2 Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học 15
Trang 51.3.3 Hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học 18
1.3.4 Nguyên tắc giáo dục để giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học 21
1.3.5 Phương pháp giáo dục để giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học
26 Tiểu kết chương 1 31
Chương 2 THựC TRẠNG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH KHỐI 4 - 5 Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC KHU vực THỊ XÃ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC 32
2.1. Thực trạng về trình độ đội ngũ giáo viên khối 4 - 5 ở một số trường Tiểu học khu vực thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 32
2.2. Mục đích, đối tượng, nội dung, phương pháp khảo sát thực trạng 33
2.2.1
Mục đích khảo sát thực trạng 33
2.2.2 Đổi tượng khảo sát thực trạng 34
2.2.3
Nội dung khảo sát thực trạng 34
2.2.4
Phương pháp khảo sát thực trạng 34
2.3. Kết quả khảo sát 35
2.3.1 Đối với học sinh 35
2.3.2 Đối với giáo viên 40
Tiểu kết chương 2 54
Chương 3 NGUYÊN NHÂN CỦA THựC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH KHỐI 4 - 5 Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC KHU vực THỊ XÃ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC 56
Trang 63.1.
Nguyên nhân của thực trạng 56
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4-5 khu vực thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 57
3.2.1
Xây dựng kể hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh 57
3.2.2
Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lí 58
3.2.3 Nâng cao trình độ nhận thức về công tác giáo dục đạo đức của giáo viên 58
3.2.4
Đầu tư kinh phí cho giáo dục 59
3.2.5 Vận động mọi lực lượng tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh
59 3.2.6 Tăng cường công tấc kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục 60
Tiểu kết chương 3 60
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63 PHU LUC
Trang 7về đạo đức.Song do sự du nhập của nhiều nền văn hóa không lành mạnh, do cơ chế thị trường chạy theo lọi nhuận, đạo đức của giói trẻ ít nhiều đã chịu những ảnh hưởng tiêu cực, dẫn tới nhiều biểu hiện xấu như: Suy thoái về đạo đức, xuống cấp về lối sống, sống buông thả, thực dụng và thiếu trách nhiệm Trước thực tế này, nhà trường - gia đình - xã hội cần quan tâm giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ Trong đó, việc giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học là rất cần thiết bởi lẽ: Đạo đức không tự hình thành mà nó được hình thành trong quá trình giáo dục của nhà trường - gia đình - xã hội mà giáo dục nhà trường giữ vai trò chủ đạo Do vậy, muốn đạo đức của học sinh phát triển theo chiều hướng tốt càn bắt đầu giáo dục đạo đức ngay từ thuở ấu thơ và coi công tác giáo dục là căn bản, là cần thiết và đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay
Thực tiễn công tác giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học trong nhà trường hiện nay chưa được như mong muốn, một trong những nguyên nhân của thực trạng là do việc đổi mói giáo dục chú trọng tới nội dung, chương trình, phương pháp dạy học mà chưa quán triệt chặt chẽ tới công tác giáo dục đạo đức
Nhận thức rõ việc giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học là vô cùng cần thiết và quan trọng Với tư cách là một giáo viên Tiểu học trong tương lai, cùng
sự hiểu biết về thực tế công tác giáo dục đạo đức ở trường Tiểu học và sự học hỏi, tiếp thu những thành công khác tôi sẽ tiếp tục sự nghiệp “trồng người” để những mầm non tôi ươm sau này sẽ phát triển đầy đủ tài đức như lời Bác dạy:
“Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc
gì cũng khó” Chính vì vậy, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu thực trạng
Trang 82
việc giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4 - 5 ở một sổ trường Tiểu học khu vực thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc” nhằm đưa ra một số giải pháp phù hợp
để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học
2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu thành công vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học như:
- Tác giả Lưu Thu Thủy đã nghiên cứu về: “Đổi mới phương pháp giáo dục đạo đức ở Tiểu học” - [7]
Trong công trình nghiên cứu này, tác giả cho rằng: Phương pháp giáo dục đạo đức là sự tương tác giữa thầy và trò nhằm chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện thái
độ, kĩ năng, hành vi đạo đức theo nhiều cách thức khác nhau Phương pháp giáo dục đạo đức rất phong phú và đa dạng tuy nhiên trong công trình nghiên cứu này tác giả đề cao vai trò giáo dục đạo đức của các phương pháp sau: Phương pháp động não, phương pháp đóng vai, phương pháp ừò chơi, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp kể chuyện Theo tác giả:
+ Phương pháp động não có thể dùng để giải quyết bất cứ vấn đề đạo đức nào song đặc biệt phù họp với các vấn đề đạo đức ít nhiều đã quen thuộc trong thực tế của học sinh
+ Phương pháp đóng vai phù họp với nhiều chủ đề bài học, họp lí với lứa tuổi, trình độ, điều kiện cơ sở vật chất và hoàn cảnh của lớp học
+ Phương pháp trò chơi dễ tổ chức, dễ thực hiện tạo cho học sinh không khí thoải mái “Học mà chơi, chơi mà học”
+ Phương pháp thảo luận nhóm tạo điều kiện để học sinh có thể chủ động, tích cực tham gia đóng góp ý kiến, chia sẻ kinh nghiệm về một vấn đề đạo đức nào đó
+ Phương pháp kể chuyện có ngôn ngữ trong sáng, dễ hiểu, giàu hình ảnh, gợi cảm, tự nhiên, sinh động, phù hợp để giói thiệu cho học sinh một biểu
Trang 93
tượng cụ thể về chuẩn mực hành vi đạo đức
+ Phương pháp giải quyết vấn đề sẽ giúp học sinh có khả năng xem xét, phân tích, từ đó đưa ra cách thức giải quyết cho tình huống cụ thể gặp phải trong đời sống
Ngoài ra, tác giả Lưu Thu Thủy còn tập trung nghiên cứu về: “Giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học qua trò chơi” - [8] Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra những lí lẽ thuyết phục để người đọc, người nghe thấy được tầm quan trọng của trò chơi trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học Theo tác giả, bên cạnh học thì chơi là nhu cầu không thể thiếu của học sinh Tiểu học Dù không phải là hoạt động chủ đạo song vui chơi vẫn giữ một vai trò rất quan trọng trong hoạt động sống của trẻ, vẫn có ý nghĩa lớn lao đối vói trẻ Qua trò chơi, trẻ không những phát triển về trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ mà còn hình thành được nhiều phẩm chất đạo đức tốt và hành vi đạo đức đúng chuẩn mực Chính vì vậy, trò chơi được sử dụng trong giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học với tư cách là một phương pháp dạy học quan trọng vừa để giáo dục hành vi đạo đức, vừa để kích thích hứng thú học tập cho học sinh Nội dung trò chơi sẽ minh họa một cách sinh động cho các mẫu hành vi đạo đức Nhờ vậy, những mẫu hành vi này sẽ tạo được những biểu tượng rõ rệt ở học sinh, giúp các em ghi nhớ dễ dàng và lâu bền
Trò chơi để giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học rất phong phú và đa dạng như: Chơi đố vui, chơi hái hoa dân chủ, chơi tìm đôi, chơi “Nếu - thì”, chơi gắn hoa,
Tóm lại, trong công trình nghiên cứu này, tác giả nhấn mạnh bằng trò chơi việc luyện tập hành vi đạo đức được tiến hành một cách nhẹ nhàng, sinh động, hào hứng, không khô khan, nhàm chán, học sinh được lôi cuốn vào quá trình tập luyện một cách tự nhiên, hứng thú và có tinh thần trách nhiệm
Trang 10và hứng thú riêng của từng cá nhân học sinh được bộc lộ và phát triển Do đó, bằng mọi biện pháp, mọi hình thức giáo viên phải tạo ra hoạt động cho chính bản thân trẻ, hướng dẫn, tổ chức cho trẻ hoạt động có hiệu quả
+ Việc tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là một việc làm khoa học, sáng tạo để giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học Các hoạt động này đòi hỏi ngưòi phụ trách phải kiên nhẫn, bền bỉ và thường xuyên trau dồi kinh nghiệm, đóng góp cho khoa học công tác Đội Vì vậy, mỗi liên đội trong trường Tiểu học phải thường xuyên tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
có tính sáng tạo, phù hợp với lứa tuổi và có hiệu quả
Đồ cập tói vấn đề giáo dục đạo đức, đa phần các tác giả đã nghiên cứu
về nội dung, phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học nói chung
mà chưa đi sâu tìm hiểu thực trạng, cũng chưa tập trung vào một trường hay
một khối cụ thể nào đó Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Tìm hiểu thực trạng việc
giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4 - 5 ở một số trường Tiểu học khu vực thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc” để tìm hiểu và nghiên cứu trong khóa luận
của mình
3 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng việc giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4 - 5 ở một
Trang 115
số trường Tiểu học khu vực thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc và nguyên nhân dẫn tới thực trạng này Trên cơ sở đó, đề ra những giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
học
số trường Tiểu học khu vực thị xã Phúc Yên, tỉnh VTnh Phúc
pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học nói chung và học sinh khối 4-5 nói riêng
5 Khách thể, đối tượng nghiên cứu
a Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học
b Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng việc giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4 - 5 ở một số trường Tiểu học khu vực thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
6 Giói hạn, phạm vi nghiên cứu
khối 4-5
vực thị xã Phúc Yên, tính Vĩnh Phúc: Trường Tiểu học Đồng Xuân, Trường Tiểu học Xuân Hòa, Trường Tiểu học Nam Viêm
7 Giả thuyết khoa học
Việc giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học nói chung và học sinh khối 4-5 nói riêng ở một số trường Tiểu học khu vực thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh
Trang 128 Phương pháp nghiên cứu
thành công của các công trình nghiên cứu khác
+ Phương pháp quan sát:
và Xã hội, Khoa học, Lịch sử và Địa lí, của một số giáo viên khối 4-5
kỉ niệm ngày Quốc tế phụ nữ 8/3, Ngày thành lập Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh 26/3, giao lưu văn nghệ và thể dục thể thao giữa giáo viên và học sinh ba trường Tiểu học Đồng Xuân, Xuân Hòa, Nam Viêm,
vi của học sinh trong học tập và vui chơi
+ Phương pháp điều tra: Dùng câu hỏi đóng và mở để khảo sát thực trạng
+ Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn cán bộ quản lí, giáo viên về công tác giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4-5
+ Phương pháp trò chuyện: Trò chuyện vói giáo viên và học sinh về chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục đạo đức
+ Phương pháp thống kê toán học: Thống kê kết quả tu dưỡng đạo đức của học sinh khối 4-5 trong nhà trường, thống kê trình độ của giáo viên khối 4-
Trang 137
5, thống kê số liệu thu được trong phiếu điều tra học sinh, giáo viên
9 Kế hoạch nghiên cứu
vệ đề tài
10 Dự kiến cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận - kiến nghị và tài liệu tham khảo, nội dung
đề tài gồm 3 chương:
Tiểu học
một số trường Tiểu học khu vực thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4-5 ở một số trường Tiểu học khu vực thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 148
NỘI DUNG Chương 1 Cơ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1.1 Một sổ vấn đề về đạo đức
1.1.1 Khái niêm đao đức
• •
giữa con người với con người, nó có tác dụng điều chỉnh hành vi của con ngưòi
và thông qua đó nó duy trì được trật tự mối quan hệ giữa con người với con ngưòi, duy trì trật tự xã hội, làm cho xã hội loài ngưòi tồn tại và phát triển
giác tuân theo trong mối quan hệ với ngưòi khác và vói xã hội
cơ có ý nghĩa về mặt đạo đức Nó thường được thể hiện trong cách đối nhân xử thế, trong lối sống, trong phong cách, trong lời ăn tiếng nói,
Chuẩn mực đạo đức chi phối và quyết định hành vi đạo đức
1.1.2 Tính chất của đao đức
Đạo đức phản ánh tồn tại xã hội nên nó có tính chất lịch sử Khi điều kiện kinh tế xã hội sinh ra nó thay đổi thì tất yếu các quan hệ xã hội và các quan hệ đạo đức cũng thay đổi theo vừa với tư cách định hướng cho các quan hệ xã hội, vừa với tư cách phản ánh quan hệ đạo đức xã hội thì sớm hay muộn ý thức ðạo ðức cũng thay đổi
Đạo đức là một hiện tượng lịch sử Trải qua mỗi giai đoạn lịch sử sẽ xuất hiện một nền đạo đức tương ứng không giống nhau: Đạo đức của xã hội nguyên thủy, đạo đức của xã hội chủ nô, đạo đức của xã hội phong kiến, đạo đức của xã hội tư sản, đạo đức của xã hội cộng sản Nền đạo đức ra đời sau sẽ kế thừa, phát huy những điều tốt đẹp và loại bỏ những hủ tục của nền đạo đức trước Vì vậy
Trang 159
mà quan hệ giữa người và người ngày càng mang tính nhân đạo Cụ thể là: Trong xã hội nguyên thủy, tục báo thù của thị tộc dần dần mất đi, xuất hiện những hình thức đơn giản của sự tương trợ, không còn ăn thịt ngưòi, xuất hiện liên minh bộ lạc và Nhà nước Xã hội chủ nô coi việc giết nô lệ là việc riêng của chủ nô nhưng đến xã hội phong kiến việc giết chủ nô lại bị lên án Đạo đức phong kiến bóp nghẹt cá nhân dưới uy quyền của tôn giáo và quý tộc thì đạo đức tư sản lại giải phóng cá nhân, coi trọng nhân cách Chuyển sang chế
độ Xã hội cộng sản Chủ nghĩa một nền đạo đức mói thật sự nhân đạo đã xuất hiện Nen đạo đức cộng sản chủ nghĩa kế thừa và phát huy các chuẩn mực đạo đức của loài người, xóa bỏ áp bức, bóc lột, giải phóng con người, tiến tới hòa bình, hữu nghị, họp tác
Sự tiến bộ của đạo đức là do những giá trị đạo đức trong lịch sử phát triển của nó tạo thành Có những giá tri lịch sử chỉ có giá trị thúc đẩy ở một thời điểm nhất định nào đó nhưng cũng có những giá trị lịch sử có giá trị lâu dài đối với sự phát triển của xã hội loài người
Như vậy, cùng với sự phát triển của sản xuất, của tiến bộ xã hội thì những quy tắc, chuẩn mực, phạm trù đạo đức cũng phát triển theo Đạo đức phản ánh đời sống xã hội, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, điều chỉnh hành vi của con người cho phù họp với yêu cầu, chuẩn mực xã hội
- Đạo đức có tính giai cấp
Trong xã hội có sự phân chia giai cấp thì đạo đức luôn mang tính giai cấp
rõ rệt, ứng với mỗi giai cấp khác nhau là một nền giáo dục đạo đức khác nhau, nền giáo dục đạo đức của giai cấp này khác nền giáo dục đạo đức của giai cấp kia về mục đích, nội dung, phương pháp
Khi xã hội phân chia giai cấp thì đạo đức phản ánh quyền lợi của giai cấp thống trị và giải quyết mọi mối quan hệ giữa con ngưòi với con người, giữa cá nhân với xã hội theo quan điểm của giai cấp thống tri Cụ thể là:
+ Đạo đức trong xã hội nguyên thủy: Trong xã hội nguyên thủy không
Trang 1610
có sự phân chia giai cấp, không có hiện tượng người bóc lột người, con người không có đầu óc làm giàu, các quan hệ xã hội được duy trì bằng sức mạnh của phong tục, tập quán, dư luận xã hội, sự uy tín và tôn kính đối với tộc trưởng hay phụ nữ
+ Đạo đức trong xã hội chiếm hữu nô lệ: So với xã hội nguyên thủy thì đạo đức của xã hội chiếm hữu nô lệ tiến hon một bậc Trong xã hội này xuất hiện quan hệ sản xuất mới giữa chủ nô và nô lệ Nhưng cũng chính điều này đã làm xuất hiện hai quan niệm đạo đức đối kháng nhau là đạo đức của chủ nô và đạo đức của nô lệ Đồng thời, cùng với xự xuất hiện của giai cấp phụ nữ mất đi quyền bình đẳng và trở thành nô lệ của ngưòi chồng Điều tiến bộ trong chế độ
xã hội này là quan niệm đạo đức: 1 vợ - 1 chồng Đây được coi là một bước tiến
bộ vượt bậc trong nền đạo đức của nhân loại
+ Đạo đức trong xã hội phong kiến: Xã hội phong kiến đã xóa bỏ giai cấp nô lệ xuất hiện giai cấp nông dân và nhân dân lao động Trong xã hội này tồn tại nhiều kiểu đạo đức, có cả đạo đức của giai cấp phong kiến, có cả đạo đức của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
+ Đạo đức trong xã hội tư bản: Hệ thống đạo đức trong xã hội tư bản lại
là một bước tiến mới trong hệ thống đạo đức xã hội Nó đập tan xiềng xích của chế độ nông nô, xóa bỏ tình trạng cát cứ phong kiến, mở ra thị trường trong nước và thế giới, phát triển sản xuất, thúc đẩy khoa học kĩ thuật tiến lên
+ Đạo đức ttong xã hội cộng sản chủ nghĩa: Đạo đức cộng sản là giai đoạn cao nhất trên con đường tiến lên của đạo đức loài người So với các nền đạo đức trước đây thì đạo đức cộng sản là một thứ chất mới, nó biểu hiện tinh thần mới của những con người đã tiêu diệt sự bất công và lập nên chủ nghĩa cộng sản
Như vậy, khi xã hội phân chia giai cấp thì đạo đức phản ánh quyền lọi của giai cấp thống trị và giải quyết mối quan hệ giữa con người với con người, giữa
cá nhân vói xã hội theo quan điểm của giai cấp thống trị
Trang 1711
Mỗi một đất nước, một dân tộc mang lại những nét văn hóa đặc trưng riêng Những nét văn hóa riêng này ảnh hưởng đến những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực của dân tộc Từ đó, tạo nên tính dân tộc cho đạo đức
Tính dân tộc của đạo đức được thể hiện rõ nhất qua đời sống tâm hồn, tâm
tư, tình cảm, mối quan hệ riêng - chung, lí tưởng, hành động của con ngưòi Việt Nam Trải qua nhiều nền đạo đức khác nhau nhưng những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc luôn tồn tại trong các câu ca dao, tục ngũ như một bài học để mỗi người tự hoàn thiện nhân cách
Tính dân tộc của đạo đức còn được thể hiện qua cách mà nó điều chỉnh xã hội Đạo đức điều chỉnh xã hội thông qua dư luận xã hội Nếu dư luận xã hội chịu ảnh hưởng của các giá tri đạo đức tiến bộ sẽ góp phàn điều chỉnh hành vi của mỗi ngưòi trở nên đúng đắn Ngược lại, nếu dư luận xã hội chịu ảnh hưởng của các giá trị đạo đức lỗi thòi, lạc hậu sẽ tạo ra những nhân cách không phù họp với sự phát triển của xã hội
Như vậy, tính dân tộc của đạo đức đã tạo nên “bản sắc” của mỗi người, mỗi cộng đồng, mỗi vùng miền, mỗi quốc gia, dân tộc
1.1.3 Nguồn gốc, chức năng của đạo đức
Đạo đức là một phạm trù rộng lớn luôn tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn gốc của đạo đức:
Các nhà thần học coi những chuẩn mực đạo đức do thần thánh tạo ra để răn dạy con người Mọi biểu hiện đạo đức của con người đều là sự thể hiện cái thiện tối cao từ đấng siêu nhiên và tiêu chuẩn tối cao để thẩm định thiện - ác chính là sự phán xét của đấng siêu nhiên đó
Những nhà duy tâm khách quan như Platon, Hêghen nhìn nhận đạo đức như là những năng lực “tiên thiên” của lí trí con người Ý chí đạo đức hay
“thiện ý” theo cách gọi của Cantơ là một năng lực có tính nhất thành bất biến,
Trang 18Những người theo quan điểm Đác - Uyn cho rằng: Những phẩm chất đạo đức của con người đồng nhất với bản năng bày đàn của động vật Đối với họ, đạo đức về thực chất cũng chỉ là những năng lực được đem lại từ bên ngoài con người, xã hội
Nhìn chung, những nhà triết học trên đều không thấy được sự quy định của nhân tố kinh tế - xã hội đối với đạo đức Các lý thuyết này coi đạo đức không phản ánh cơ sở xã hội, hiện thực khách quan
Quan niệm khoa học về nguồn gốc của đạo đức là quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin Khác với tất cả những quan niệm trên Mác, Ăngghen đã quan niệm đạo đức nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, là kết quả phát triển của lịch sử Đạo đức là sản phẩm tổng họp của các yếu tố khách quan và chủ quan, là sản phẩm của hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người Những quan hệ: Người - người, cá nhân - xã hội càng có ý thức, tự giác, ý nghĩa và ý nghĩa của chúng càng có tính chất xã hội rộng lớn thì hành động của con người càng có đạo đức “Đạo đức đã là một sản phẩm của xã hội và vẫn như vậy chừng nào còn tồn tại” [12 - trl5]
Như vậy, đạo đức sinh ra trước hết là từ nhu cầu phối họp hành động trong lao động sản xuất vật chất, trong đấu tranh xã hội, trong phân phối sản phẩm để con người tồn tại và phát triển Cùng với sự phát triển của sản xuất, hệ thống các quan hệ xã hội, hệ thống các quan hệ đạo đức, ý thức, hành vi đạo đức cũng theo đó mà ngày càng phát triển, ngày càng nâng cao, phong phú và
đa dạng
- Chức năng của đạo đức:
Trang 1913
Hình thành cho học sinh ý thức về chuẩn mực hành vi đạo đức (tri thức
và niềm tin), từ đó định hướng cho các em những giá trị đạo đức phù họp với chuẩn mực xã hội
Giáo dục cho học sinh những xúc cảm, thái độ, tình cảm đạo đức đúng đắn liên quan đến các chuẩn mực hành vi quy định
Hình thành cho các em kĩ năng, hành vi phù họp với các chuẩn mực và trên cơ sở đó rèn luyện thói quen đạo đức tích cực
1.2 Môt số vấn đề về giáo duc đao đức
1.2.1 Khái niệm quá trình giáo dục đạo đức
Quá trình giáo dục đạo đức là trình tác động có mục đích, xuất phát từ nhu càu của xã hội, yêu cầu của nhà giáo dục để hình thành những suy nghĩ, cử chỉ, hành vi phù họp vói chuẩn mực văn hóa xã hội
Quá trình giáo dục đạo đức mang tính định hướng, dường như nó gợi ý, chỉ bảo con người việc gì nên làm, việc gì không nên làm, việc gì nên tránh, trước một hiện tượng của cá nhân hay xã hội nên tỏ thái độ này hay thái độ khác Dựa vào các chuẩn mực hành vi đạo đức, mỗi cá nhân cần phải đặt ra cho mình một lí tưởng sống cao đẹp để tự giáo dục, tự tu dưỡng, tự rèn luyện đạo đức ở mọi lúc, mọi nơi, ừong suốt cuộc đời
Quá trình giáo dục đạo đức có nhiều nét chung, phù họp với số đông nhưng cũng có những trường họp riêng biệt đòi hỏi giáo dục phải gắn vào đối tượng cụ thể
Trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh phải làm cho hành vi đạo đức của học sinh phù họp với chuẩn mực đạo đức của xã hội chủ nghĩa Việt Nam, kế thừa những nét tốt đẹp trong truyền thống đạo đức của dân tộc, ngày càng thoát khỏi những tàn dư đạo đức của chế độ xã hội cũ
1.2.2 Đặc điểm của quá trình giáo dục đạo đức
Quá trình giáo dục đạo đức là một quá trình có mục đích xuất phát từ nhu càu xã hội, diễn ra lâu dài và liên tục
Quá trình giáo dục đạo đức chịu ảnh hưởng, tác động mạnh mẽ của nhiều
Trang 2014
yếu tố khách quan, chủ quan, bên trong, bên ngoài
Quá trình giáo dục đạo đức mang tính cụ thể với từng tình huống, từng đối tượng nhất định
Quá trình giáo dục đạo đức có sự gắn kết chặt chẽ với quá trình dạy học trên lớp và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Quá trình giáo dục đạo đức phải đi từ giáo dục tri thức và niềm tin đạo đức đến giáo dục động cơ và tình cảm, sau đó mới giáo dục thiện chí và thói quen đạo đức
Như vậy, quá trình giáo dục đạo đức là quá trình lâu dài,liên tục, diễn ra mọi lúc, mọi nơi trong suốt cuộc đòi và chịu ảnh hưởng của yếu tố khách quan, chủ quan trong xã hội
1.2.3 Ỷ nghĩa của việc giáo dục đạo đúc
Giáo dục đạo đức nhằm chuyển hóa những quy tắc, những chuẩn mực đạo đức thành những phẩm chất đạo đức, nhân cách của học sinh, hình thành ở học sinh thái độ đúng đắn trong giao tiếp, ý thức tự giác thực hiện các chuẩn mực xã hội, thói quen chấp hành các quy định của pháp luật
Ngày nay, giáo dục đạo đức cho học sinh có ý nghĩa vô cùng to lớn:
+ Trang bị cho học sinh những hiểu biết về đạo đức của xã hội, các chuẩn mực đạo đức, các quy tắc, nguyên tắc đạo đức, các khái niệm đạo đức, các lí tưởng đạo đức, để học sinh ý thức được ý nghĩa, tính đúng đắn của các tình huống đạo đức trong cuộc sống
+ Hình thành cho học sinh khái niệm đạo đức, thói quen đạo đức bền vững thông qua việc tổ chức cho các em tham gia các hoạt động học tập, lao động, công tác xã hội, sinh hoạt tập thể,
+ Bồi dưỡng cho học sinh ý thức, thái độ, hành vi đúng chuẩn mực trong mối quan hệ với người khác
Tóm lại, qua quá trình giáo dục đạo đức học sinh sẽ có được phương thức
Trang 2115
ứng xử đúng trước các vấn đề xã hội, có khả năng tự kiểm soát được hành vi của bản thân một cách tự giác, có khả năng chống lại những biểu hiện lệch lạc
về lối sống
1.3 Gỉáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học
1.3.1 Khái niệm quá tiình giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học
Quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học là quá trình giúp trẻ biết, hiểu khái niệm đạo đức và những biểu hiện cụ thể của hành vi đạo đức trong quá trình gia nhập vào cuộc sống hiện đại ngày nay
Hiện nay, giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học chính là giáo dục cho các em lòng nhân ái, tình yêu quê hương, đất nước, yêu hòa bình, kính trên nhường dưới, đoàn kết, giúp đỡ bạn bè, có ý thức về bổn phận của mình, chấp hành tốt quy định của địa phương, trường học, pháp luật, sống tự tin, trung thực, có ý chí chống lại cái ác, cái xấu trong cuộc sống
Kết quả của quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học là học sinh biết được những chuẩn mực đạo đức không ghi thành văn bản pháp luật cụ thể, không có tính chất bắt buộc nhưng mỗi cá nhân đều phải nghiêm túc thực hiện
do sự thôi thúc của lương tâm và dư luận xã hội Từ đó, học sinh có được phẩm chất tốt đẹp, bền vững, biết cư xử đúng đắn trong các mối quan hệ xã hội
1.3.2 Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học
Ngày nay, nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học được xây dựng trên nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc tộc theo những chuẩn mực đạo đức rất cơ bản mà Đảng đề ra:
+ Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội
+ Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lọi ích chung
+ Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, càn kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỉ cương phép nước, quy ước cộng đồng, có ý thức cải thiện và bảo vệ môi trường sinh thái
+ Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kĩ thuật sáng tạo,
Trang 2216
năng suất lao động cao, vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội
+ Thường xuyên học tập nâng cao hiểu biết, trình độ, chuẩn mực thẩm
mĩ và thể lực
Đe đạt được những phẩm chất trên Giáo dục Tiểu học đã chia nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học thành ba nội dung lớn sau: Giáo dục ý thức đạo đức, giáo dục thái độ và tình cảm đạo đức, giáo dục thói quen và hành
vi đạo đức
- Giáo dục ý thức đạo đức:
Giáo dục ý thức đạo đức nhằm cung cấp cho học sinh những tri thức đạo đức cơ bản, sơ đẳng về chuẩn mực hành vi, hình thành niềm tin đạo đức cho học sinh Các chuẩn mực hành vi này được thể hiện trong các mối quan hệ hàng ngày của các em Đó là:
+ Quan hệ cá nhân với xã hội: Kính yêu Bác Hồ, biết ơn thương binh liệt sỹ, yêu quê hương, làng xóm, phố phường, yêu mến và tự hào về trường, lớp, giữ gìn môi trường sống xung quanh,
+ Quan hệ cá nhân vói công việc, lao động: Chăm chỉ, kiên trì, vượt khó trong học tập, tích cực tham gia các công việc lao động khác nhau
+ Quan hệ cá nhân với những người xung quanh: Hiếu thảo đối với ông
bà, cha mẹ, quan tâm giúp đỡ anh chị em trong gia đình, giúp đỡ, đoàn kết với bạn bè, với thiếu nhi quốc tế, tôn trọng và giúp đỡ hàng xóm láng giềng, theo khả năng của mình
+ Quan hệ cá nhân với tài sản xã hội, tài sản của người khác: Tôn trọng
và bảo vệ tài sản của nhà trường, của nhà nước và của người khác,
+ Quan hệ cá nhân với thiên nhiên: Bảo vệ môi trường tự nhiên xung quanh nơi học, nơi chơi, bảo vệ cây trồng, cây xanh có ích, động vật nuôi, động vật có ích, diệt trừ động vật có hại, bảo vệ nguồn nước,
+ Quan hệ cá nhân với bản thân: Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm, tự làm lấy công việc của mình,
Trang 2317
Giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức cho học sinh là thức tỉnh ở học sinh những rung động, cảm xúc với hiện thực xung quanh làm cho các em biết yêu ghét rõ ràng, có thái độ đúng đắn đối với các hiện tượng phức tạp trong cuộc sống
Đối với học sinh khối 4-5, càn giáo dục cho các em thái độ, trách nhiệm đối với lòi nói, việc làm của bản thân, tự tin vào khả năng của bản thân, yêu thương ông bà, cha mẹ, anh chị em, yêu trường lớp, biết ơn thầy cô, biết ơn Bác
Hồ và các thương binh liệt sĩ, quan tâm, tôn trọng mọi người, hữu nghị vói thiếu nhi Quốc tế, yêu lao động, ham học hỏi, khiêm tốn, trung thực, có thái độ bảo vệ cây trồng, vật nuôi, giữ gìn môi trường, nghiêm túc bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ của nước Việt Nam xã hội Cộng hòa
Giáo dục hành vi, thói quen hành vi đạo đức cho học sinh là tổ chức cho học sinh lặp đi lặp lại nhiều làn các thao tác hành động đạo đức trong học tập, sinh hoạt, phù hợp với những chuẩn mực hành vi đạo đức và trên cơ sở đó các
em rèn luyện được thói quen đạo đức tích cực Đây chính là kết quả quan trọng nhất của việc giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học bởi các giá trị đạo đức được xã hội công nhận qua hành vi tốt đẹp Đối với học sinh khối 4-5 cần hình thành cho các em những hành vi, thói quen hành vi sau:
+ Kính yêu Bác Hồ, biết ơn thương binh liệt sỹ, yêu quê hương, làng xóm, phố phường
+ Giúp đỡ ông bà, cha mẹ, anh chị em bằng những việc làm vừa sức, lịch sự với người lớn tuổi, nhường nhịn em nhỏ
+ Yêu mến, tự hào về trường lớp, lễ phép với thầy cô, đoàn kết, giúp đỡ bạn bè, chăm chỉ học tập, tích cực lao động
+ Không vứt rác bừa bãi, không viết bậy, không trèo cây, bẻ cành, hái quả, tôn trọng tài sản công cộng
Trang 2418
+ Giúp đỡ đồng bào gặp thiên tai, bão lụt, người khuyết tật, người nghèo khổ bằng những việc làm cụ thể
1.3.3 Hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học
Mục đích cuối cùng của việc giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học là hình thành hành vi, thói quen hành vi phù họp vói chuẩn mực đạo đức xã hội
Vì vậy, giáo dục đạo đức cần kết họp cân đối, chặt chẽ giữa lí thuyết và thực hành Để đảm bảo học sinh Tiểu học có thể vận dụng tốt lí thuyết vào thực hành nhà trường Tiểu học cần tiến hành giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua hai hình thức chính, đó là: Giáo dục đạo đức thông qua dạy học và giáo dục đạo đức thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp
- Giáo dục đạo đức thông qua dạy học:
Bản thân quá trình dạy học và ngay trong các nhiệm vụ dạy học là nhằm góp phàn giáo dục đạo đức, nhân cách cho học sinh
Trước hết phải nói tới quá trình dạy học môn Đạo đức ở trường Tiểu học Thông qua môn học này, học sinh có được một hệ thống khái niệm, tri thức đạo đức Nhờ đó, học sinh có thể hiểu được mục đích hành động, phân biệt được cái tốt - cái xấu, cái đạo đức và cái vô đạo đức, Trên cơ sở đó, các em có cách cư
xử đúng trong các hiện tượng phức tạp trong cuộc sống và có được tính tự giác trong quá trình học tập
Ví dụ:
Khi dạy bài: “Lịch sự khi đến nhà người khác” - (Đạo đức 5) trong tiết thực hành giáo viên có thể tổ chức cho các em sắm vai để giải quyết các tình huống trong bài tập 5 - (SGK) Ngoài ra, giáo viên có thể tự tạo thêm các tình huống giáo dục khác như: “Trong buổi hoạt động ngoài giờ lên lớp Nam vô ý
xô ngã một bạn nữ Nếu em là Nam em sẽ làm gì trong tình huống đó? Vì sao?” Khi các em được trải nghiệm trực tiếp nâng bạn dậy, nói lời xin lỗi bạn
và trả lời được câu hỏi của cô giáo là các em đã được thực hành rèn luyện hành
Trang 25Ví dụ:
Khi dạy bài: “Đảng cộng sản Việt Nam ra đời” - (Lịch sử và Địa lí lớp 5) ngoài việc hướng dẫn cho học sinh biết được: “Ngày 3-2-1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời” giáo viên có thể tổ chức thêm nhiều hoạt động học tập khác
để các em có cơ hội tìm hiểu về lí tưởng cao đẹp, những thành công to lớn mà Đảng mang lại cho Tổ quốc Từ đó,hình thành ở các em lòng tin đối với Đảng cộng sản Việt Nam, giáo dục các em luôn sống và học tập theo phương châm của Đảng
Bộ môn Tiếng việt với những câu chuyện kể, các bài văn, bài thơ có nội dung phong phú, sinh động đã ca ngọi vẻ đẹp của đất nước, ca ngợi văn hóa, phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc Tất cả những điều này sẽ góp phần giáo dục, bồi dưỡng cho học sinh tình yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc
và các chuẩn mực trong giao tiếp ứng xử
Ví dụ:
Khi dạy bài: “Kéo co” - (Tiếng Việt 4 - tập 1) không chỉ giúp học sinh biết được ừò chơi kéo co thường tổ chức ở hai tỉnh Bắc Ninh và Vĩnh Phúc, giáo viên còn có thể giới thiệu cho học sinh biết kéo co là một ừò chơi dân gian, đây
là một nét văn hóa đẹp để thể hiện tinh thần thượng võ của dân tộc Việt Nam ta Ngoài những bộ môn trên, các bộ môn Tự nhiên và Xã hội, Toán đều có khả năng tiềm tàng hướng vào việc giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học Chẳng hạn, ở môn Toán nhờ vận dụng phương pháp dạy học từ dễ đến khó, từ
Trang 2620
đơn giản đến phức tạp và nâng cao dàn sẽ luyện tập cho học sinh thói quen vượt khó khăn hoàn thành nhiệm vụ học tập, hình thành phẩm chất đạo đức chăm chỉ, cần cù, kiên trì, ý chí, nghị lực vươn lên trong cuộc sống
Ngoài ra, giáo viên có thể lồng ghép giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh Tiểu học bằng kho tàng ca dao, tục ngữ nói về điều hay lẽ phải trong tất cả hoạt động học tập
Không những thế, trong quá trình tham gia học tập tinh thần đoàn kết gắn
bó vì lợi ích chung cũng sẽ phát triển và nâng cao dần Đó là cơ sở để xây dựng nên ý thức của học sinh về nghĩa vụ, trách nhiệm, bổn phận của mình với gia đình, xã hội
- Giáo dục đạo đức thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp:
Hoạt động ngoài giờ lên lớp thường được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hóa ở trên lớp Với hoạt động này, các em nhỏ được thể hiện những điều đã được học trong cuộc sống Đây là hành động nối tiếp và thống nhất hữu cơ vói các hoạt động học tập trong giờ học, là con đường gắn lí thuyết vói thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa hình thức và hành động, góp phần quan trọng vào sự hoàn thiện nhân cách của trẻ
Để bồi dưỡng, hình thành nhân cách của người công dân tương lai giáo viên cần tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường Tiểu học phong phú và đa dạng để học sinh tham gia như:
+ Tổ chức các buổi sinh hoạt dưới cờ vào sáng thứ hai hàng tuần, khen ngợi các tập thể, cá nhân đạt thành tích cao, có việc làm tốt, uốn nắn những thiếu sót, định hướng nội dung giáo dục cho học sinh trong tuần tới
+ Tổ chức cho học sinh được phát biểu cảm nghĩ của mình về những ngày lễ lớn của dân tộc, giáo dục truyền thống cách mạng, lòng tự hào dân tộc,
ý chí quật cường và tình yêu quê hương đất nước cho học sinh thông qua các
Trang 2721
buổi lễ mít tinh kỉ niệm: Ngày 20/11: Ngày nhà giáo Việt Nam, ngày 8/3: Ngày Quốc tế phụ nữ, ngày 26/3: Ngày thành lập Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, 1/6: Ngày Quốc tế Thiếu nhi, 27/7: Ngày thương binh liệt sĩ,
+ Tổ chức cho học sinh tham quan lao động và các hoạt động xã hội như: Tham gia các buổi vệ sinh quanh trường, lớp, địa phương, trồng cây xanh, quyên góp ủng hộ đồng bào gặp thiên tai, bão lụt, người khó khăn, người khuyết tật, đến thăm các gia đình thương binh liệt sĩ,
+ Tổ chức các hoạt động đền ơn đáp nghĩa,văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao theo các chủ đề: Nhớ ơn Bác Hồ, mừng Đảng mừng xuân, hướng về ngày 20/11, ngày 8/3,
1.3.4 Nguyên tắc giáo dục để giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học
Bất cứ một tổ chức hay tập tập thể nào muốn có hiệu quả cao trong hoạt động đều phải tuân theo những nguyên tắc nhất định Và giáo dục cũng không ngoại lệ, nó có những nguyên tắc riêng mà nhà giáo dục muốn thu được thành quả to lớn càn phải tuân theo
“Nguyên tắc giáo dục là những luận điểm cơ bản có tính quy luật của lí luận giáo dục, có tác dụng chỉ đạo mọi hoạt động của thầy và trò trong quá trình giáo dục nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quả giáo dục, từ đó đạt được mục đích giáo dục đề ra.” [2-tr38]
+ Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích
Nguyên tắc này đòi hỏi giáo dục đạo đức phải hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen hành vi phù hợp với chuẩn mực đạo đức của xã hội và thông qua đó đạt được mục tiêu giáo dục đạo đức
Trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học giáo viên đã tổ chức nhiều hình thức giáo dục khác nhau nhưng đều tập trung vào mục đích, đó
Trang 2822
là: Đào tạo thế hệ ttẻ thành những người công dân, những người lao động giàu lòng nhân ái, năng động, sáng tạo, biết sống và làm việc có trách nhiệm theo hiến pháp và pháp luật, có tiềm năng thích ứng vói cuộc sống xã hội đang đổi mói toàn diện và sâu sắc
Để đảm bảo mục đích này, giáo viên cần quan tâm những mặt như:
họp được các giá ttị truyền thống, tinh hoa văn hóa đạo đức của dân tộc và nhân loại, có cuộc sống vật chất và tinh thần hài hòa, phong phú, có năng lực giải quyết đúng đắn các mối quan hệ giữa giá trị truyền thống và hiện đại
với sự tham lam độc ác, đồng tình và khen ngợi điều hay lẽ phải, học hỏi lòng nhân ái, khiêm tốn, trung thực, biết giúp đỡ người khác, góp phần xây dựng một xã hội văn minh
với năng lực và lứa tuổi như: Giúp bạn vượt khó, ủng hộ người tàn tật, đồng bào gặp thiên tai bão lụt, giúp đỡ người già neo đơn, thăm hỏi và giúp đỡ các gia đình thương binh liệt sỹ, bà mẹ Việt Nam anh hùng
bước hình thành cho các em những suy nghĩ đúng đắn, tư tưởng đúng đắn
+ Nguyên tắc gẳn giáo dục với thực tiễn lao động, đấu tranh xây dựng
bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nhân dân lao động
Thực hiện giáo dục lao động cho học sinh trước hết nhằm hình thành ở các
em thái độ đúng đắn với lao động, yêu lao động, kính trọng người lao động, quý
Trang 2923
trọng sản phẩm lao động
Nhà giáo dục cần tổ chức cho học sinh tìm hiểu về thực tế cuộc sống để các em có cơ hội vận dụng lí thuyết vào trong đòi sống lao động sản xuất Thực tiễn giáo dục cho thấy rằng hiệu quả giáo dục phụ thuộc vào kiến thức và sự trải nghiệm của bản thân học sinh nên muốn có kiến thức và kinh nghiệm học sinh phải tham gia hoạt động trong các môi trường, hoàn cảnh và tình huống sống khác nhau Ngoài việc lao động tự phục vụ và lao động giúp đỡ gia đình, học sinh cần quét dọn sân trường, lau chùi bàn ghế, cửa kính, bảng đen, trang trí lớp học một cách tự giác, tích cực, sáng tạo Thêm vào đó, giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh tham gia vào các cuộc vận động, lao động công ích để các em
có cách cư xử đúng đắn, hiểu thêm về ý nghĩa và giá trị của đạo đức trong cuộc sống
+ Nguyên tắc giáo dục trong lao động và bằng lao động
Nguyên tắc này đòi hỏi quá trình giáo dục phải được tiến hành ngay trong hoạt động lao động của học sinh trong và ngoài nhà trường, lấy lao động làm phương tiện để hình thành ở học sinh những phẩm chất đạo đức của con người mới (yêu lao động, yêu người lao động, quý trọng con người lao động, sản phẩm lao động, )
+ Nguyên tẳc giáo dục trong tập thể và bằng tập thể
Nguyên tắc này đòi hỏi quá trình giáo dục phải được tiến hành ngay trong tập thể học sinh - nơi diễn ra cuộc sống thực của học sinh trong nhà trường và lấy tập thể làm phương tiện để giáo dục
Trong tập thể, học sinh được cùng nhau học tập, cùng nhau vui chơi, cùng nhau hoạt động để tạo dựng lên cùng một thành công Đe lợi ích chung của tập thể được đảm bảo mỗi học sinh cần phải tự phấn đấu, tự thay đổi bản thân, ham học hỏi và giúp đỡ bạn bè Một môi trường tập thể lành mạnh, đoàn kết gắn bó thì mỗi cá nhân cần sống theo nguyên tắc “Một cây làm chẳng nên non - Ba cây
Trang 3024
chụm lại nên hòn núi cao” hay “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”
Để đảm bảo nguyên tắc này càn xây dựng các mối quan hệ đứng đắn giữa
cá nhân, mỗi cá nhân có trách nhiệm và quyền lợi như nhau, không kết bè kết phái, tự giác tích cực hợp tác, cân đối hài hòa giữa lọi ích cá nhân - tập thể
+ Nguyên tẳc đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò chỉ đạo của nhà giáo
dục với việc phát huy vai trò tự giác, tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh trong quá trình giáo dục
Đây là nguyên tắc biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục
Để thực hiện nguyên tắc này cần có sự phối hợp chặt chẽ, ăn ý giữa chủ thể giáo dục và khách thể giáo dục Người giáo viên cần kiên trì theo dõi quá trình và kết quả học tập của học sinh để làm cơ sở tổ chức, lãnh đạo, điều khiển, điều chỉnh hoạt động giáo dục của mình Người học sinh cần tự giác, tích cực,
tự lực, năng động, sáng tạo trong khi tiếp thu tri thức
Nguyên tắc giáo dục này đòi hỏi giáo viên phải thực hiện những yêu cầu sau:
tạo, sáng kiến trong học tập của học sinh
+ Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tôn trọng nhân cách của học
sinh với việc thường xuyên đưa ra yêu cầu hợp lí
Tôn trọng nhân cách của học sinh là thường xuyên đưa ra những yêu càu hợp lí và buộc học sinh phải thực hiện, là không được sử dụng những biện pháp gây ra những đau đớn về cả thể xác lẫn tâm hồn học sinh
Yêu cầu hợp lí là yêu càu phù hợp với mục đích, nội dung giáo dục, phù hợp với năng lực và đặc điểm tâm lí của học sinh
Tôn trọng phẩm giá, lòng tự trọng, trí tuệ, tài năng, tự do của học sinh là điều kiện quan trọng để dẫn tới sự thành công trong quá trình giáo dục đạo đức
Trang 3125
Bởi lẽ, tình cảm tin yêu nhà giáo dục, tự tin, tự hào về bản thân chính là chất men kích thích các em vươn lên khẳng định bản thân mình, hoàn thiện nhân cách Tuy nhiên, tôn trọng không có nghĩa là tôn ừọng cái hư, cái xấu của học sinh mà cần có thái độ đứng mực, tế nhị, có tình, có lí đối với những sai lầm, thiếu sót của học sinh, cần dựa vào mặt tốt, mặt tích cực để khắc phục mặt tiêu cực, mặt yếu kém trong nhân cách của các em
+ Nguyên tẳc đảm bảo tính hệ thống, thường xuyên, liên tục trong quá
trình giáo dục
Nguyên tắc này đòi hỏi giáo dục đạo đức phải được tiến hành có hệ thống
về nội dung, phương pháp, đồng thời được tiến hành thường xuyên, liên tục cả
về không gian và thòi gian, kết hợp chặt chẽ trên lớp và ngoài lớp, trong trường
và ngoài trường, gia đình và xã hội
+ Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức trong giáo dục
Nguyên tắc này đòi hỏi giáo dục phải phù họp vói khả năng, năng lực của học sinh
Khi tiến hành quá trình giáo dục đạo đức, giáo viên cần nắm vững đặc điểm tâm sinh lí của học sinh để lựa chọn nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức quá trình giáo dục phù họp với tập thể và với mỗi cá nhân
+ Nguyên tắc đảm bảo tính cá biệt trong quá trình giáo dục
Nguyên tắc này đòi hỏi quá trình giáo dục phải gắn với mỗi cá nhân cụ thể, gắn với mỗi tình huống cụ thể Mỗi học sinh có nhu cầu, động cơ, nguyện vọng, vốn kinh nghiệm, trình độ nhận thức khác nhau Vì vậy, giáo viên phải khéo léo quan sát để nắm vững học sinh một cách toàn diện để có thể lựa chọn
và linh hoạt về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức quá trình giáo dục
+ Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa giáo dục nhà trường, gia đình
và xã hội
Trang 32Hệ thống các nguyên tắc giáo dục trên có mối quan hệ biện chứng với nhau Trong quá trình giáo dục đạo đức mỗi giáo viên càn kết hợp, lồng ghép một cách nhuần nhuyễn, khéo léo, linh hoạt sao cho phù họp vói yêu cầu và nội dung giáo dục để đạt được thành công to lớn
1.3.5 Phương pháp giáo dục để giáo dục đạo đức cho học sình Tiểu học
- Khái niệm phương pháp giáo dục:
Theo Nguyễn Hữu Họp, phương pháp giáo dục được hiểu theo hai nghĩa: + Thứ nhất: Phương pháp giáo dục là một khoa học giáo dục về dạy học môn học mà người ta thường gọi là “Lí luận dạy học môn học ” hoặc “Giáo dục học môn học” - [3-tr3]
+ Thứ hai: Phương pháp giáo dục là những cách thức, những con đường dạy học môn học nhằm đạt được mục tiêu của môn học - [3-tr3]
Trong đề tài này, phương pháp giáo dục được hiểu theo nghĩa hẹp, tức là: Phương pháp giáo dục là một khoa học về giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học
- Hệ thống phương pháp giáo dục để giáo dục đạo đức cho học sinh
Tiểu học:
Trang 33Đe giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học giáo viên có thể sử dụng một
số phương pháp giáo dục sau:
thuật lại một câu chuyện có ý nghĩa giáo dục Thông qua nội dung câu chuyện, hành vi của những nhân vật trong câu chuyện học sinh sẽ nắm vững tri thức về chuẩn mực đạo đức
Những câu chuyện mà giáo viên kể cho học sinh nghe có thể là những câu chuyện về lòng nhân ái, những câu chuyện về tấm gương người tốt việc tốt, cũng có thể là những câu chuyện về sự tích, truyền thuyết
Phương pháp này có tác dụng to lớn trong giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học Những câu chuyện hấp dẫn, sinh động sẽ tạo cho các em những ấn tượng khó quên, những cảm xúc sâu sắc Giáo viên cần lựa chọn những câu chuyện có giá trị giáo dục đạo đức phù hợp, kể lại cho các em nghe một cách đầy biểu cảm và đưa ra bài học đạo đức sau mỗi câu chuyện
viên và học sinh về các chủ đề dựa ưên hệ thống câu hỏi nhất định Dựa vào nội dung bài học giáo viên khéo léo đặt ra câu hỏi đạo đức, tình
huống đạo đức để học sinh có cơ hội thảo luận làm sáng tỏ vấn đề, tìm ra những tri thức đạo đức mới, củng cố, mở rộng, đào sâu những tri thức đạo đức đã tiếp thu được
học sinh nắm vững những tri thức về chuẩn mực đạo đức bằng cách tổ
Trang 34Cuối buổi thảo luận nhiệm vụ của giáo viên là nhận xét, bổ sung, định hướng đúng vấn đề, ghi nhận đóng góp của mỗi nhóm
để trình bày, giải thích, chứng minh cho một chuẩn mực đạo đức nào đó
sinh những tấm gương ngưòi tốt, việc tốt, những tấm gương người thực, việc thực Thông qua hành vi của những tấm gương đó mà học sinh nắm được những tri thức về chuẩn mực đạo đức
Đối vói học sinh Tiểu học tấm gương tốt nhất là bạn bè cùng lớp, cùng trường, là thầy cô đang trực tiếp giảng dạy các em, sau đó là các hình tượng nhân vật văn học, cuộc đời, tuổi trẻ, sự nghiệp của các danh nhân văn hóa
+ Nhóm các phương pháp tổ chức các hoạt động thực tiễn cho học sinh:
Nhóm các phương pháp này nhằm hình thành ở học sinh những hành vi, thói quen hành vi phù họp với các chuẩn mực đạo đức xã hội Bao gồm các phương pháp sau:
hỏi về mặt sư phạm, các yêu càu về mặt giáo dục đạo đức đối với người được giáo dục để các em thực hiện hành vi, công việc cụ thể phù họp với các chuẩn mực xã hội
Khi sử dụng phương pháp này giáo viên cần đưa ra những yêu cầu vừa sức, phù hợp với năng lực, trình độ nhận thức của học sinh Học sinh phải thực hiện và coi đó là phương hướng, nội dung để tự giáo dục, tự rèn luyện
sinh những công việc cụ thể Nhờ hoàn thành công việc được giao mà học
Trang 3529
sinh có được kinh nghiệm ứng xử trong các mối quan hệ đa dạng, hình thành được những hành vi phù họp vói chuẩn mực đạo đức Khi sử dụng phương pháp này giáo viên cần quan tâm đến lứa tuổi, đặc
điểm, nhu cầu, năng khiếu, hứng thú của học sinh để giao công việc phù họp Đồng thời, giáo viên phải hướng dẫn, giúp đỡ học sinh hoàn thành công việc được giao, hiểu được ý nghĩa xã hội của công việc đó
sinh các hoạt động phong phú, tạo cho các em điều kiện ứng xử phù họp với các chuẩn mực đạo đức, từ đó hình thành kĩ năng càn thiết
Khi sử dụng phương pháp này giáo viên cần tận dụng những tình huống
tự nhiên xảy ra trong quá trình học tập, vui chơi, giải trí của học sinh trong trường học
sinh thực hiện một cách đều đặn và có kế hoạch các hành vi đạo đức nhất định nhằm biến hành động đó thành thói quen ứng xử
Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên càn tạo điều kiện cho học sinh được tập luyện thường xuyên, liên tục để hình thành được hành vi, thói quen hành vi
• Phương pháp tạo tình huống giáo dục: Là phương pháp mà giáo viên
phát hiện ra các tình huống giáo dục hoặc tạo ra các tình huống giáo dục
và đưa học sinh vào trong các tình huống đó Nhờ việc học sinh thường xuyên xử lí các tình huống giáo dục mà hành vi, thói quen hành vi đạo đức được hình thành
+ Nhóm các phương pháp khuyến khích và điều chỉnh hành vi:
Nhóm các phương pháp này nhằm kích thích, thúc đẩy, điều chỉnh, ức chế các hành vi của học sinh sao cho phù hợp với các chuẩn mực đạo đức của xã hội
Trang 3630
tiêu, chỉ tiêu kích thích học sinh đua tài, gắng sức, hăng hái để đạt được những thành tích cao trong cá nhân và tập thể
Phương pháp này có tác động mạnh mẽ tới tâm lí học sinh, tạo cho học sinh tâm ttạng hồ hởi, phấn khởi, có ý chí, nghị lực vượt khó khăn để đạt được thành tích cao
Khi sử dụng phương pháp thi đua, giáo viên cần đưa ra mục tiêu rõ ràng, hình thức thi đua phải mới mẻ, hấp dẫn để lôi cuốn học sinh tham gia
và điều chỉnh hành vi của học sinh bằng cách khen và thưởng khi học sinh đạt thành tích cao trong học tập và tu dưỡng đạo đức
Nhờ khen thưởng mà học sinh biết được hành vi của mình là đúng đắn, phù họp với chuẩn mực đạo đức, từ đó củng cố ở học sinh niềm tin đạo đức, kích thích các em tiếp tục duy trì và phát triển hành vi tích cực
Giáo viên có thể sử dụng một số biện pháp khen thưởng như: Đồng tình, ủng hộ, khen ngọi, biểu dương, khen thưởng,
sự phản đối, phê phán những hành vi sai trái vói chuẩn mực đạo đức đã được quy định
Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên cần thẩn trọng, tránh sự khiển trách gay gắt vì nó sẽ ảnh hưởng tới lòng tự trọng của các em, khiến các em tự
ti về bản thân, cần khéo léo, tế nhị khiển trách học sinh để các em thấy được lỗi lầm của mình, từ đó sẽ thay đổi thái độ, hành vi của bản thân cho phù họp với chuẩn mực đạo đức
Tiểu kết chương 1
Như vậy, ở chương 1 chúng ta đã tìm hiểu về khái niệm, nguồn gốc, chức năng của đạo đức, các đặc điểm, các nguyên tắc, các phương pháp, các hình
Trang 3731
thức để giáo dục đạo đức và kết quả cần đạt được trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học Đe đạt được thành công là hình thành hành vi, thói quen hành vi phù họp với chuẩn mực đạo đức xã hội đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường - gia đình - xã hội và sự nỗ lực, phấn đấu không ngừng của bản thân học sinh
Trang 3832
Chương 2 THựC TRẠNG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH KHỐI 4 -
5 Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC KHU vực THỊ XÃ PHÚC YÊN,
TỈNH VĨNH PHÚC
Đe tìm hiểu thực ttạng việc giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4-5 khu vực thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tôi đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp như: Phương pháp quan sát, phương pháp trò chuyện, phương pháp điều tra, phương pháp phỏng vấn sâu và một số phương pháp khác trong hoạt động giáo dục đạo đức ở ba trường Tiểu học khu vực thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc: Trường Tiểu học Đồng Xuân, Trường Tiểu học Xuân Hòa, Trường Tiểu học Nam Viêm Đối tượng điều tra: Giáo viên chủ nhiệm và học sinh khối 4-5
Thời gian tiến hành: Từ ngày 22/2/2016 - 28/3/2016
2.1 Thưc trang về trình đô đôi ngũ giáo viên khối 4 - 5 ở môt sổ trường Tiểu hoc khu vưc thi xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Qua tìm hiểu và nghe báo cáo chung về nhà trường, tôi đã thu được kết quả
về trình độ đội ngũ giáo viên dạy khối 4 - 5 ở cả ba trường Tiểu học khu vực thị
xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc như sau:
Bảng 1 Thưc trang về trình đô đôi ngũ giáo viên khối 4 - 5 ở môt số trường Tiểu học khu vực thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 3933
Bảng trên cho thấy:
Trình độ đội ngũ giáo viên dạy khối 4 - 5 ở các trường Tiểu học khu vực thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã đạt chuẩn Giáo viên dạy khối 4-5 đều đạt trình độ Đại học và Cao đẳng, không có giáo viên nào trình độ Trung cấp, đây là điều kiện thuận lọi trong việc nâng cao kết quả giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức nói riêng cho học sinh ở các trường Tiểu học
Hiện nay, một số giáo viên ở các trường cũng đã theo học các lớp chuyên
đề nâng cao trình độ hiểu biết của bản thân để có thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về trình độ đào tạo cũng như năng lực giảng dạy Đây là biện pháp rất hiệu quả mà Ban giám hiệu của mỗi trường đã đưa ra để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên ừong trường và cũng là một trong những điều kiện quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của bậc Tiểu học hiện nay và phương pháp dạy học của giáo viên Có trình độ cao, giáo viên mới nắm vững tri thức, phương pháp dạy học, từ đó giúp giáo viên yêu nghề và có tâm huyết vói nghề
2.2 Mục đích, đối tượng, nội dung, phương pháp khảo sát thực trạng
2.2.1 Mục đích khảo sát thực trạng
Thu thập số liệu, thông tin chính xác, cụ thể về thực trạng giáo dục đạo đức
Trình độ Trường Tiểu học